
Quá ẩu hay là sự ngây thơ đầy toan tính

Hiện đang có thêm các ý kiến từ bên ngoài lên án các vụ bắt và xử người bất đồng chính kiến diễn ra liên tiếp gần đây ở Việt Nam và cả lời lý giải có phải các vụ án là dấu hiệu chuyển hướng ngoại giao của Việt Nam.
Sau khi Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vừa bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về vụ kết án và bỏ tù 14 người ở Vinh, Nghệ An tuần qua, báo Mỹ, tờ Bấm Washington Post có riêng một bài xã luận về tình hình Việt Nam hôm 12/1.
Về phía mình, chính quyền Việt Nam luôn bác bỏ sự can thiệp từ bên ngoài và báo chí trong nước nói vụ xử 14 người về tội ‘hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân’ tại Nghệ An trong hai hôm 8 và 9/1 và phán quyết của tòa là ‘chính xác’
Nhưng theo Washington Post trong bài đặt các vụ xử này trong quan hệ Mỹ – Việt, bài báo viết rằng “các nhà lãnh đạo ở Việt Nam phạm lỗi có nỗi sợ phi lý trước tự do ngôn luận, đa nguyên và cuộc cách mạng số”.
Trong một bài cũng vào tháng này, nhà quan sát Carl Thayer đặt câu hỏi vì sao chính quyền Việt Nam lại liên tiếp trấn áp giới bất đồng chính kiến và hỏi điều này có liên hệ gì đến quan hệ với Hoa Kỳ hay không.
Giáo sư Bấm Carl Thayer từ Úc đưa ra ba cách giải thích trong bài ‘Vietnam Trial Slams Door on Dissidents – Why?’ hôm 10/1/2013:
Lý do đầu có thể chỉ là thủ tục đã định, vì theo Bộ Cộng an nói, họ “theo dõi và thu thập bằng chứng, rồi buộc các bị cáo nhận tội”.
“Cuối cùng thì Bộ Công an đã đạt được điều họ muốn và phiên xử được lên lịch.”
Lý do thứ nhì có thể là mọi vụ xử đều mang tính trình diễn chính trị, và thời điểm được quyết định vì mục tiêu chính trị.
“Năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết có hành động nhằm vào các blogger và vụ xử này là nhằm để chứng minh lời nói của ông,”
“Ông Dũng cũng sẽ phải ra trước hội nghị trung ương tới nay và cần chứng tỏ ông đã có hành động đối với những kẻ khiếu nại về ông.”
“Cần nhắc lại rằng tại hội nghị trung ương trước, khi Đảng Cộng sản quyết định không kỷ luật ông Dũng, họ nói là họ làm như vậy để ngăn không cho ‘các thế lực thù địch’ lợi dụng đấu đá nội bộ.
Cách giải thích thứ ba là phái bảo thủ trong Đảng thấy có thể giải quyết được tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình với Trung Quốc vì Trung Quốc cũng là nước xã hội chủ nghĩa.
“Phe bảo thủ chống lại những ai trong Đảng muốn tăng cường quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và làm xấu đi quan hệ với Trung Quốc.”
“Họ lập luận rằng Hoa Kỳ đứng đằng sau ‘âm mưu diễn biến hòa bình’, điểm hội tụ của các ‘thế lực thù địch bên ngoài’ và các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền và tôn giáo trong nước, nhằm lật đổ thể chế xã hội chủ nghĩa.”
Phái này, theo Giáo sư Carl Thayer, cũng muốn Hoa Kỳ bỏ lệnh hạn chế bán vũ khí cho Việt Nam.
Nhưng vì điều kiện để Washington làm việc đó là Việt Nam phải cải thiện về tình hình nhân quyền nên câu hỏi là vì sao Hà Nội lại “tự làm hại mình” qua các vụ xử?
GS Carl Thayer lý giải:
“Phe bảo thủ trong Đảng đang dùng các vụ xử nhà báo và blogger này để phá hoại mọi nỗ lực nhượng bộ với Hoa Kỳ,”
“Hiện Việt Nam đang xem lại Nghị định 8 thông qua năm 2003 để cải thiện quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ.”
“Nghị định này xác định lại đường hướng ngoại giao, đồng ý cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ ở những khu vực nào quyền lợi hai bên gặp nhau,”
“Nay, các lãnh đạo Đảng đang bàn thảo có phải Việt Nam đã đi quá xa trong quá trình hợp tác với Mỹ và chống lại Trung Quốc hay không.”
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã từng bày tỏ mong muốn được mua vũ khí từ Mỹ.
Tuy vậy, hiện cũng không rõ nhu cầu này thực sự lớn đến đâu khi mà Hà Nội vẫn mua đều các loại vũ khí hiện đại từ Nga, một đồng minh từ thời Chiến tranh Lạnh nay đang quay trở lại Đông Nam Á.
Thời gian qua, thái độ của các nhà lãnh đạo Việt Nam với hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc có sự thay đổi đáng kể.
Với Trung Quốc, như một nhà ngoại giao đã nghỉ hưu từ Hà Nội nói với BBC, nhà chức trách Việt Nam đang tỏ ra “nhường nhịn quá mức”.
Một số lễ kỷ niệm của quân đội Việt Nam liên quan đến các liệt sỹ bị Trung Quốc giết trong các cuộc chiến 1979 và 1988 nhưng không dám nêu tên Trung Quốc.
Vẫn theo nhà ngoại giao xin phép được giấu tên, về phía họ, “Trung Quốc nói thoải mái về cuộc chiến năm 1979. Quan điểm chính thức của họ coi cuộc chiến đó là chính nghĩa”.
Ngược lại, các quan chức của nhà nước và đảng cầm quyền ở Việt Nam lại tỏ ra cứng rắn về các vấn đề liên quan đến Hoa Kỳ.
Nhân kỷ niệm 40 năm chiến dịch Linebacker II, tức ‘Điện Biên phủ trên không’ năm 1972, Việt Nam cho tổ chức đại lễ cấp nhà nước để nêu bật lại ‘tinh thần chống đế quốc Mỹ’, và mời các khách Nga, Trung Quốc tham gia.
Trong một sự việc liên quan đến cách thuyết trình nội bộ về ngoại giao của Việt Nam, hồi cuối năm qua, dư luận trong và ngoài nước chú ý đến phát biểu của Đại tá quân đội Trần Đăng Thanh với ngành giáo dục.
Theo đánh giá của ông David Brown, một cựu nhân viên ngoại giao Mỹ đăng trong bài tiếng Anh trên Asia Times hôm 22/12, thì phát biểu của Đại tá Thanh đã làm lộ ra nhiều “bí mật quốc gia” của hệ thống ở Việt Nam.
Chẳng hạn ông Thanh tuyên bố “người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả”.
“Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện ‘thả con săn sắt, bắt con cá rô’.”
Nói về quan hệ với Trung Quốc, vị đại tá nói:
“Ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta.”
“Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên.”
Ông đại tá Trần Đăng Thanh cũng ca ngợi Bắc Triều Tiên thử tên lửa, đã làm “tất cả các nước lớn mất ăn mất ngủ”.
Trở lại ý kiến của Washington Post, bài xã luận cho rằng trong những năm qua, “Hoa Kỳ và Việt Nam đã tăng cường gắn kết kinh tế và các mối quan hệ khác nhưng nhân quyền vẫn là hòn đá cản đường”.
Chính giới Mỹ đã lên án các vụ bắt bớ gần đây là “gây quan ngại sâu sắc” và “không nhất quán” với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Nhưng nay, báo Washington Post thúc dục, “Hoa Kỳ cần phải làm hơn thế để thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam thay đổi cách thói quen đàn áp của họ”.
Sau khi thắng cử nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Barack Obama đã bổ nhiệm hai nhân vật mới vào chức bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Hoa Kỳ.
Báo chí Mỹ cũng bắt đầu có các bài phân tích, gợi ý về chính sách ngoại giao và quân sự của Mỹ dù các vị trí mới này hiện còn cần Thượng viện thông qua.
Hồi cuối tháng 12/2012, báo Anh, tờ Bấm The Economist có bài cho rằng với tân ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry, việc vận động để Hà Nội thả luật sư Lê Quốc Quân là một phép thử về chính sách của Mỹ với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
@bbc
Tôi đã có dịp lang thang cả chục ngàn km trên đất Mỹ và Canada trong nhiều ngày và chỉ một lần duy nhất nhìn thấy cảnh sát hỏi giấy tờ của một người lái xe. Không thấy bóng cảnh sát giao thông ở đâu cả, ở trong phố lẫn ở cạnh hay trên đường, nhưng theo những người địa phương cảnh sát sẽ rất nhanh chóng có mặt để giải quyết các vụ va chạm hay mất trật tự.
Đi từ Hồ Chí Minh, qua Tây Ninh, sang Campuchia, lên Phnông Pênh bằng xe bus. Rồi lấy xe 16 chỗ đi Siem Reap cùng nhiều nơi khác và về lại Phnông Pênh. Lại lấy xe bus về Sài Gòn. Suốt hành trình ấy tôi thấy cảnh sát ở ta nhiều hơn bên đất Chùa Tháp khá nhiều.
Tôi đã sống ở Đông Âu “xã hội chủ nghĩa” hơn chục năm, lang thang ở Liên Xô nhiều tháng trời. Cảnh sát ở đó cũng đông nhưng sao sánh được với Việt Nam.
Cảnh sát đứng gác trên đường phố Hà Nội
Có lẽ không đâu trên thế giới này có nhiều cảnh sát, công an như ở nước ta. Con số cụ thể là bao nhiêu? Ngân sách hàng năm cho lực lượng công an và “cộng tác viên” là bao nhiêu? Chắc đấy là bí mật quốc gia nên khó mà biết được! Thực ra rất nhiều nước công bố số liệu như vậy.
Tài liệu Thống kê Quốc tế về Tội phạm và Công lý do UNODC (Cục Ma Túy và Tội Phạm của Liên Hợp Quốc) công bố số cảnh sát trên 100 ngàn dân của 130 nước (bảng 1, tr. 135) trong đó không có Việt Nam. Con số mới nhất (tại các thời điểm khác nhau) của vài nước trong khu vực Malasia (354,0), Myamar (145,6), Philippines (131,9), Hàn Quốc (195,1), Singapore (396,4), Thái Lan (321,0), trung bình của các nước (341,8). Trung Quốccó 1,6 triệu cảnh sát hay 120 cảnh sát trên 100 ngàn dân.
Do Việt Nam không công bố số liệu đó, hãy thử ước lượng xem nó lớn đến đâu. Chắc Việt Nam có số cảnh sát trên 100 ngàn dân cao hơn con số trung bình nêu trên. Tính với số trung bình 341,8 ta có thể ước lượng tổng số cảnh sát lớn hơn 300.000 người. Có lẽ tổng quân số của ngành công an phải hơn gấp đôi con số này, tức là cỡ hơn 0,6 triệu người.
Hãy kiểm tra con số ước lượng này bằng cách khác. Theo Tổng Cục Thống Kê tổng số người làm việc trong khu vực nhà nước tại thời điểm 1-7-2011 là 5.250,6 ngàn người trong đó có 1.541,2 ngàn người làm việc trong lĩnh vực “hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị – xã hội; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng; đảm bảo xã hội bắt buộc”. “Đảm bảo xã hội bắt buộc” chắc là trại giam và nhà tù. Có khoảng 350-400 ngàn người làm trong bộ máy quản lý nhà nước, hoạt động đảng và các tổ chức chính trị-xã hội. Như thế còn khoảng 1,1 đến 1,2 triệu người trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội bắt buộc. Theo đánh giá của International Institute of Strategic Studies (trong The Military Balance 2009, tr.415‐417) quân số bộ binh, hải quân, tăng thiết giáp, không quân và biên phòng của Việt nam là 0,522 triệu người. Như thế chúng ta cũng có con số ước lượng về quân số của ngành công an cỡ 0,678 triệu người. Nếu tính cả các cộng tác viên nữa thì con số có thể còn lớn hơn nhiều.
Những con số ước lượng trên giải thích vì sao chúng ta cảm thấy có quá nhiều cảnh sát. Cảnh sát nhan nhản ở mỗi góc phố và trên đường. Cánh lái xe sợ nhất các nơi cảnh sát hay “nấp” để đo tốc độ hoặc bất thần xuất hiện phạt chẳng hiểu vì lý do gì. Đó là chưa kể đến cảnh sát khu vực, chưa kể đến công an không mang sắc phục. Nhìn bề ngoài chẳng thể phân biệt ai là công an, ai là “côn đồ” khiến người dân lo nơm nớp. Cũng chưa kể đến không ít công an định kỳ đến thăm hỏi các công ty, xin hỗ trợ vào những dịp lễ tết, ngày truyền thống, ngày nhận huân chương, ngày động thổ xây dựng trụ sở, ngày khánh thành, ngày cưới xin, dịp ma chay của tứ thân phụ mẫu, thậm chí nhờ doanh nghiệp hỗ trợ mua vé xem kịch mà vợ của thủ trưởng cấp cao là tác giả, vân vân và vân vân.
Báo chí Việt Nam nêu nhiều trường hợp công an hành hung người, thậm chí đánh chết người. Lực lượng công an cũng được huy động trong nhiều vụ cưỡng chế thu hồi đất mà nổi cộm là các vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng và Văn Giang, Hương Yên và nhiều vụ khác đã gây bức xúc trong dư luận. Vụ phóng viên báo Dân Việt bị những người mặc thường phục hành hung khi chụp ảnh chiếc xe mang biển số BKS 65E-8999 của công an Cần Thơ gây tai nạn giao thông ngày 24-11-2012 cũng đã gây sự phẫn nộ không kém trong dư luận. Rồi hóa ra kẻ hành hung đó là một trung úy công an. Và còn có thể kể ra vô vàn chuyện tương tự khác mà báo chí Việt Nam đã loan tải. Tất cả những loại ứng xử ấy tạo ra một văn hóa cảnh sát thật không hay.
Sứ mạng của lực lượng cảnh sát là thực thi luật pháp, bảo vệ tài sản, giữ gìn trật tự hay hạn chế mất trật tự dân sự. Chẳng ở đâu trên thế giới cảnh sát được coi là lực lượng vũ trang. Nó thuộc lĩnh vực dân sự. Thế nhưng ở nước ta người ta coi cảnh sát là lực lượng vũ trang. Một nét văn hóa “đậm đà bản sắt Việt Nam”?
Do sứ mạng nêu trên lực lượng công an có “quyền lực” lớn và thường xuyên tiếp xúc với dân. Quyền lực không bị kiểm soát chặt rất dễ dẫn đến lạm dụng và tha hóa, dẫn đến nhũng nhiễu, tham nhũng như báo chí đã đưa là điều không khó hiểu.
Ai cũng cảm thấy tình trạng công an hóa bộ máy nhà nước. Rất nhiều quan chức cấp cao ngành công an đã trở thành các bí thư, chủ tịch tỉnh, các cán bộ cao cấp của các bộ ngành khác. Cấp huyện cũng thế. Bên trong bộ máy nhà nước, bộ máy đảng của nhiều địa phương tỷ lệ các quan chức nguyên là công an cũng đáng kể.
Và văn hóa làm việc của nhiều cơ quan nhà nước trung ương, địa phương cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa công an.
Phải kiểm soát chặt quyền lực rất dễ bị lạm dụng của lực lượng công an và xây dựng văn hóa cảnh sát theo tinh thần phục vụ dân và khắc phục các nét xấu của văn hóa công an nêu trên, để cho chúng đừng lan sang các tổ chức nhà nước khác, để tránh cảnh sát hóa nhà nước.
N.Q.A
Nguồn Basamnews
Minh Diện
@ Bùi Văn Bồng Blog
Mái tóc bạch kim rạch đường ngôi thẳng thớn tạo bờm, cái trán ngắn có hai nếp nhăn mờ song song không đứt khúc, đôi mắt hẹp núp dưới cặp lông mày chim trĩ, nhân trung khá sâu, hai đường pháp quyền hình cánh cung ôm lấy miệng, một gương mặt rất dễ dung hòa, dễ thăng tiến trong quan trường. Đó cũng là một con người rất chỉn chu giữ nếp nhà đồng thời rất bảo thủ, ít nhu cầu sáng tạo, không muốn thay đổi những gì đã có, không bứt phá…
Người sở hữu gương mặt ấy là ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hơn một năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng bí thư, dù chả bất ngờ, và cũng chẳng kỳ vọng, nhưng nhiều nhà báo đã nịnh hót thô thiển.
Một tờ báo đưa lời cô giáo Đặng Thị Phúc, rằng cách đây 56 năm, khi cô 22 tuổi và trò Trọng đang học lớp 4, cô đã “rất tinh tế và chuẩn xác khi đánh giá trò Trọng rất có tài có đức, triển vọng làm lãnh đạo”. Cũng tờ báo đó, dẫn lời thầy giáo Nguyễn Gia Quế, chủ nhiệm lớp 9B, ca ngợi Nguyễn Phú Trọng là người có năng khiếu lãnh đạo tập thể rất tốt, ông nói: “Tôi rất nhàn khi trò Trọng làm bí thư chi đoàn kiêm trưởng lớp. Trong những buổi sinh hoạt lớp, tôi chỉ ngồi nhìn Trọng điều khiển!”.
Một thầy giáo khác ở trường phổ thông trung học Nguyễn Gia Thiều: “Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy Uỷ viên bộ chính trị, Bí thư thành ủy Nguyễn Phú Trọng đi xe máy về dự buổi hợp mặt của trường !”.
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng thì bốc thơm tài, đức Nguyễn Phú Trọng khi ông làm Chủ tịch Quốc hội: “Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII là nhiệm kỳ thành công nhất, công đó có vai trò rất quan trọng của chủ tịch Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù ngày 20-6-2006, người đứng đầu Quốc hội phát biểu rất khiêm nhường, là chưa hiểu biết nhiều về công tác lập pháp và hoạt động nói chung của Quốc hội! Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng rất khiêm nhường, dù ngồi trên ghế chủ tọa, nhưng Chủ tịch nhường cho các phó chủ tịch điều khiển, khi ở ngoài hành lang hội trường, Chủ tịch rất giản dị chan hòa với các đại biểu”.
Đại văn hào Uyliam Sechxpia nói: “Sự giản dị và khiêm tốn là thứ xa xỉ nhất của bậc trưởng giả!”. Ông Nguyễn Phú Trọng đã biết sử dụng thứ xa xỉ ấy đúng lúc, đúng chỗ.
Chuyện các thầy cô giáo già hoài niệm về người học trò thành đạt của mình không nói làm gì, nhưng một trí thức bậc thầy và là đại biểu Quốc mấy khóa liền, như giáo sư Nguyễn Lân Dũng lại khen nịnh như thế mà không biết ngượng mồn thì kể cũng lạ?
Ai cũng biết, người thổi luồng gió mới vào Quốc hội, làm cho nghị trường có không khí dân chủ, những cuộc chất vấn nhiều người muốn theo dõi là ông Nguyễn Văn An. Luồng gió mới ấy, ông Nguyễn Phú Trọng đã ngăn lại, như ông Dũng nói, là “ tiết chế căng thẳng” trong những phiên chất vấn.
Ấn tượng Nguyễn Phú Trọng để lại sâu đậm nhất trong nhiệm kỳ làm chủ tịch Quốc hội là, khi Trung Quốc cắt cáp ngầm tàu thăm dò địa chấn, đâm tàu cá, bắt ngư dân Việt Nam, vẽ bản đồ đường lưỡi bò trùm lên biển đảo Việt Nam và các nước khu vực… làm biển Đông sôi sùng sục, đại biểu Quốc Hội đề nghị đưa vấn đó vào thảo luận, thì ông cười, thản nhiên: “ Tình hình biển Đông không có gì mới, nói biển Đông mà không phải Biển Đông!”.
“Nói biển Đông mà không phải biển Đông” là nói cái gỉ? Ông Nguyễn Phú Trọng không nói ra, bỏ lửng một câu đầy ẩn dụ, đến nay vẫn chưa có lời giải! Phải chăng cái không phải biển Đông là 16 chữ vàng, là 4 tốt, là đụng chạm tới “Tình đồng chí môi hở răng lạnh” (!?).
Nguyễn Phú Trọng nhảy lên Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, vinh quang tột đình sau 39 năm, kể từ ngày đầu tiên đặt chân vào chốn quan trường, không một lần bị va vấp. Quãng thời gian bằng hơn nửa một đời người đó, hầu như ông chìm ngập trong đống sách vở lý luận chủ nghĩa Max-Lê: Phóng viên, biên tập viên, phó trưởng ban, trưởng ban rồi Tổng biên tập tờ Tạp chí cộng sản, cơ quan nghiên cứu lý luận độc nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Khi đã làm phó bí thư, rồi bí thư thành ủy Hà Nội, ông vẫn là cây lý luận số một, tác giả của Nghị quyết đại hội Đảng IX, X. Người ta nói, ông là một lý thuyết gia thuần túy không phải là một nhân vật từng trải thực tế, ông vẫn tin vào chủ nghĩa xã hội, tin vào lý tưởng, là sẽ xây dựng được một nhà nước ưu việt thuần túy cộng sản ?
Về đời tư, Nguyễn Phú Trọng phần nào còn giữ được cái thanh liêm của những người cộng sản đi trước, giữ được nếp nhà không để vợ con gây tai tiếng. Đó là lợi thế của ông trong không khí ngột ngạt bất mãn cao độ của nhân dân, trước thực trạng cán bộ, đảng viên, trong đó một bộ phận không nhỏ là lãnh đạo lao vào hưởng thụ, bị những cám dỗ vật chất làm sa đọa.
Những ngày đầu làm Tổng bí thư, Nguyễn Phú Trọng tỏ thái kiên quyết làm trong sạch nội bộ đảng. Ông tạm gác khẩu hiệu: “Đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng lòng” (Nói chuyện với cán bộ cao cấp nghỉ hưu Hà Nội 9-2-2012) để “loại trừ những cán bộ đảng viên hư hỏng ra khỏi đội ngũ”.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Một bộ phân không nhỏ trong đảng, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp thoái hóa hư hỏng đe dọa sự tồn vong của đảng và chế độ”. Ông có một câu rất nổi tiếng “Đảng viên nhan nhản, cộng sản mấy người!”. Thực ra, câu nói này không phải là phát kiến của ông, mà ông nhắc lại một luồng dư luận như thế đang rất phổ biến trong xã hội, để thể hiện TBT dám “nói thẳng nói thật”. Câu nói này mà phát ra từ miệng người nảo đó, thỉ chắc chắn sẽ bị chụp ngay cái mũ “Thế lực thủ địch!”. Nhưng đó là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông bày tỏ sự bức xúc thực tâm, và nó đã thành nội dung cốt lõi trong Nghị quyết trung ương 4: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay!”. Ông cùng không quên những câu nói thẳng nói thật khác trước đông đảo cử tri Hà Nội: “Tiêu cực, tham nhũng nhìn đâu cung xthấy, sờ vào đâu cũng có, Trung ương cũng sốt ruột lắm”. Nhưng rồi cái máu nghề nghiệp của thầy giáo triết học – đường lối, của nhà Tuyên giáo, của ông Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương năm nào lại xen vào: “Tuy vậy, xem xét, giải quyết phải hết sức khách quan, biện chứng”! Và quả nhiên điều đó là tất yếu đối với ông, chủ thể nếp tư duy vốn đã mặc định của nhà chuyên nghiệp phản ánh luận mácxít-lêninnít.
Chưa có nghị quyết nào của đảng được dân kỳ vọng đến thế và thất vọng đến thế, thất vọng ê chề!
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá rất cao Nghị quyết trung ương 4. Ông ví Nghị quyết trung ương 4 như một “cuộc tắm rửa vĩ đại nhất” trong lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Ông hạ quyết tâm phải làm thật kỹ lưỡng, thật cụ thể, không xuê xoa, không bênh che, nể nang, phải “loại trừ những cán bộ, đảng viên hư hỏng ra khỏi đội ngũ!”. Và ông đặt Đảng cộng sản lên thớt: “Đợt này mà không làm đến nơi đến chốn, không thành công thì không còn cơ hội nào nữa để đảng lấy lại hình ảnh và niềm tin trước dân!”.
Một cuộc vân động rầm rộ, hơn 700 tờ báo chính thống cất lên một bản đồng ca, một cuộc thanh lọc nội bộ được nguyên Thượng tướng Tổng bí thư Lê Khả Phiêu ví như một chiến dịch cực lớn, huy động đủ các loại xe tăng đại bác!
Không biết trong chiến dịch này, ngoài công sức, Đảng cộng sản Việt Nam ngốn hết bao nhiêu tiền của dân, nhưng kết quả cuối cùng là một gương mặt méo mó, một giọng nói nghẹn ngào như bật khóc: “Bộ Chính trị đã thống nhất 100% xin được nhận một hình thức kỷ luật, và xin hình thức kỷ luật một đồng chí. Nhưng 100% Ủy viên Trung ương bỏ phiếu không kỷ luật Bộ chính trị và đồng chí X”. Thật bi hài!
Ba cuộc hội nghị liên tiếp, các cuộc họp của Bộ chính trị, Ban bí thư, Ban chấp hành trung ương, rồi hội nghị cán bộ toàn quốc…, cuộc “tắm rửa” kéo dài gần một năm trời, với khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật, không giấu giếm loanh quanh, vạch mặt chỉ tên, không phân biệt bất kỳ ai”, kết quả là một dãy số không: Không chỉ ra được bộ phận phận nào thoái hóa biến chất? Không vạch được nhóm lợi ích nào? Không biết bầy sâu nào? Không chỉ ra đồng chí X là ai? Không kỷ luật Bộ chính tri! Không kỷ luật đồng chí X, dù hình thức nhẹ hều chỉ là khiển trách cho có, mà cũng không có! …
Nguyễn Phú Trọng đã có thể rực lên như một ngôi sao sáng, nhưng ông đã để vuột mất cơ hội! Bây giờ uy tín của ông thấp hơn nhiểu so với lúc xuất phát.
Phải nói thẳng, đây là việc ngoài ý muốn của Nguyễn Phú Trọng, không như người ta nói ông không muốn làm. Tương quan lực lượng không cho phép ông làm. Và cái đống rác Nông Đức Mạnh bỏ bê, dồn đống mười năm để lại quá to!
Giá như Nguyễn Phú Trọng mở lòng nói thật, chắc chắn nhân dân thông cảm cho ông. Nhưng hình như cái tuổi Giáp Thân cầm tinh con khỉ, quá khôn ngoan và có đặc tính loanh quanh, nên ông không thừa nhận thất bại mà xuê xoa trám nhét, như người ta dùng bao bố trám nhét thủy điện Sông Tranh! Năm Nhâm Thìn 2012 được coi là “năm Tam hạp Thân – Tý – Thìn của ông, thế mà hầu như ông bị thiếu chí quyết, kém bản lĩnh, thiếu nhạy bén chớp thời cơ, nên vẫn ít được mỹ mãn? Cơ hội thì không thể đến hai lần.
Trước kia ông riết róng bao nhiêu, giờ xuê xoa bấy nhiêu. Ông dùng cách chẻ chữ để ‘mềm hóa’, ‘đảo chiều’ những khái niệm chính ông nêu lên rồi chính ông phủ định!
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Nghị quyết trung ương 4 ban hành trước hết là cảnh tỉnh với những người đang ngủ quên. Bên cạnh đó là răn đe, ngăn chặn những suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống”. Rồi ông hỏi và tự trả lời: “Vừa rồi chúng ta răn đe được chưa? Khối anh sợ đấy!”. Ông nói: “Lấy cảnh báo, cảnh tỉnh, giáo dục, răn đe ngăn chặn, trên tinh thần đồng chí thương yên nhau là chính” và “Không phải cứ kỷ luật là tốt. Kỷ luật mà không tính kỹ thì lại rối, mai kia là ân oán, thù hằn, đối phó, thành phe phái rối nội bộ, phải khoan dung, đó là phần nhân văn đặc thù của Việt Nam!”.
Từ sự giải thích vòng vèo như vậy, nhà lý luận ‘Mácxít’ số 1 Việt Nam đưa ra cái “Triết lý nhóm lò” khi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 1/12/2012, biện minh cho sự bất thành sau Hội nghị Trung ương 6: “Làm sao cố gắng để với tinh thần nhân văn của Bác Hồ. Kỷ luật sắt nhưng với tinh thần tự giác. Ví như nhóm một cái lò, có củi khô, có củi tươi, có củi vừa vừa. Nhưng quan trọng nhất là bước đầu phải nhóm được cái lò lên, tạo thành hơi ấm thì khi đó củi khô, củi tươi đưa vào cũng phải cháy hết. Sâu xa là như thế. Phải đồng lòng, nhất trí hết, nhóm lò lên”.
Đưa ra để luận giải triết lý này, chắc ông đã đọc kỹ truyền ngắn ‘Nhóm lửa’ (Tiếng gọi nơi hoang dã) của nhà văn Jack London. Và chắc chắn ông đã thuộc bài thơ ‘Nhóm lửa’ của Cụ Hồ đăng trên báo ‘Việt Nam Độc lập’ ngày 1/8/1942: “Lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa / Biết bao nhiêu là sự khó khăn? / Chỉ đìu hiu một mảy gió xuân / Cũng lo sợ lửa khi tắt mất…. / Việc cách mạng cũng là như thế / Bước ban đầu là bước gian nan… / Hở một chút, tức là thất bại / Sai một li là hại cho dân”. Dù nói vậy, nhưng bao nhiêu củi khô ngon lành ông thứ thì bị mất cắp, thứ thì ông ‘đem cho’ người ta hết rồi, lấy gì nhóm? Mà nếu có thì ngay đến củi khô ông cũng đâu có dùng đúng lúc, dùng khi cần để ‘nhóm lò’? Nhưng trong bài thơ “Nhóm lửa” thì Bác Hồ không dạy cái “tinh thần nhân văn”, Bác nhấn mạnh về sự kiên trì, khéo léo, nhưng đừng để hở, đừng làm sai, dù chỉ hở một chút, sai một li là thất bại, lửa bị tắt ngóm. Cơ hội giành thắng lớn Nghị quyết TW 4 đã đến, như lửa đã cháy lên, nhưng ông lại chần chừ, xao nhãng, để mất cơ hội từ trước Hội nghị Trung ương 6. Ai cũng biết khi đó, ông và số đông trong Bộ Chính trị đã để ‘hở một chút” và quyết định “sai một li”. Đã biết chắc chắn rằng ‘một bộ phận không nhỏ’ tất yếu là bỏ phiếu sẽ chiếm tỉ lệ cao, mà còn sơ sẩy như vậy, quả là đáng tiếc cho ‘người nhóm lò”. Một cuộc cách mạng mà gom luôn người xấu người tốt vào một rọ như thế tính triệt để và minh bạch ở đâu hở ông …trời. Cho nên, bạn đọc Huỳnh Văn Úc đã viết trên blog Nguyễn Tường Thụy: “Bỗng dưng từ đâu ào ào nước đổ / Người buồn, lửa tắt, sâu cười”.
Trong khi xuê xoa với đồng chí mình, Nguyễn Phú Trọng riết róng với dân. Ông ngăn chặn tức thì việc quyền tư hữu của người dân trong sửa Luật đất đai, cứ khư khư giữ “sở hữu toàn dân” một cách chung chung, tưởng ai cũng có phần trong đó, nhưng không ai có quyền gì về sử dụng đất; và thẳng thừng bác bỏ việc sửa đổi điều 4 Hiến pháp. Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn giữ nếp cũ là nghĩ thay, nói thay dân. Ông nói: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử!” ( Phát biểu ở trường đảng cao cấp Nico Lopez, Cu Ba)
Một kiểu lý luận giáo điều như thế mà sang rao giảng ở trường đảng cao cấp Nico Lopez, Cu Ba, để đến nỗi, phải chăng vì thế, bà Tổng thống Brazil Dima Rouseeff phải từ chối đón tiếp vào phút chót, gây ra vụ scandal chưa từng có trong ngành ngoại giao Viết Nam, gười ta nói “Trước kia các lãnh tụ Việt Nam hình như chơi trò giấu bài kín đáo và khôn ngoan hơn!”.
Ông Nguyễn Phú Trọng bây giờ hay dùng hình thức số hóa và quy nhóm kiểu Trung Quốc. Nói chuyên ở Hội nghị tổng kết công tác tuyên giáo ngày 9-1-2013, ở Hà Nội vừa qua ông nói: “Công tác tuyên giáo vừa qua 8 ưu điểm, 10 hạn chế, 5 nguyên nhân, 7 nhiêm vụ, 6 giải pháp” và ông đổ cho “thế lực thù địch làm giảm niềm tin của nhân dân vào đảng, âm mưu “Làm xanh hóa cái đầu đỏ!”. Ông Trọng nói: “Bây giờ các thế lực bên ngoài thấy chúng ta chăm chút công tác tư tưởng, uốn nắn những tư tường lệch lạc, thì họ bảo là bất đồng chính kiến chúng ta lại đi trừng trị, vi phạm quyền con người!”.
Không biết Nguyễn Phú Trọng ám chỉ cái “Thế lực bên ngoài” là bọn nào, nhưng dứt khoát không phải Trung Quốc, ví ông đã khẳng định “Tiếp tục vun đắp quan hệ láng giềng tốt, xây dựng hòa bình và hữu nghị, chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài, ổn định hợp tác phát triển cùng nước bạn!” (Phát biểu trong chuyến thăm Lào Cai).
Ông Nguyễn Phú Trọng có một câu nói rất đúng: “Mỗi người nghĩ một khác, mỗi người thích đi một hướng thì làm sao chở được con đó sang sông!?”.
Một hệ thống chính trị quyền lực thuộc về nhân dân, do dân, phụng sự lợi ích của dân chứ không phục vụ lợi ích một đảng phái, một số ngưới giàu có, thì chính thể đó, dù như con thuyền chẳng may mắc cạn, dân cũng chung tay chèo chống qua sống. Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân! Hình như Nguyễn Trãi nói như vậy!
M.D