ĐIỀU GÌ LÀM MỘT QUỐC GIA TRỞ NÊN GIÀU CÓ?[1]

 Daron Acemoglu

 Nếu bạn là lãnh đạo và bạn muốn đất nước trở nên giàu có hơn thì bạn phải làm gì? Theo ý kiến của Daron Acemoglu, nhà kinh tế được Huy chương Clark từ Học viện công nghệ Massachusetts (MIT)[2] có một giải pháp đơn giản: đó là bầu cử tự do

 Chúng ta (nước Mỹ-ND) là những người giàu có, những người giàu, đã phát triển. Trong khi hầu hết phần còn lại của thế giới – Châu Phi, Nam Á và Nam Mỹ, những người Somali, Bolivia và Bangladesh– là những người nghèo. Thế giới đã luôn bị chia tách thành người giàu và người nghèo, những người khỏe mạnh và ốm yếu, những người no đủ và đói ăn. Tuy nhiên, tầm mức của sự bất bình đẳng giữa các quốc gia như ngày nay là chưa từng xảy ra: tính trung bình, một người Mỹ giàu gấp 10 lần một người Guatemala, giàu hơn 20 lần so với một người Bắc Triều tiên và hơn 40 lần so với một người sống ở Mali, Ethiopia, Congo hay Sierra Leone.

 Câu hỏi mà các nhà khoa học xã hội đã vật lộn hàng thế kỷ mà không giải đáp thành công là: tại sao lại như vậy? Nhưng lẽ ra câu hỏi cần được đặt ra là: làm cách nào để thay đổi điều đó? Bởi vì sự bất bình đẳng không phải đã được quyết định từ trước. Một quốc gia không giống một đứa trẻ – nó không được sinh ra đã giàu hay nghèo. Chính là chính phủ của nó đã làm quốc gia đó trở nên như thế.

 Vào giữa thế kỷ 18, nhà khoa học chính trị người Pháp là Montesquieu đã đưa ra một cách giải thích vô cùng đơn giản về sự bất bình đẳng giữa các quốc gia: người dân ở xứ nóng vốn đã lười từ trong bản chất. Một số người khác cũng đưa ra cách giải thích của mình, chẳng hạn: Đạo đức trong công việc của người theo đạo Tin lành có lẽ là động lực chính cho thành công của những nền kinh tế tư bản theo như quan điểm của Max Weber? Hoặc có lẽ những nước giàu nhất là những quốc gia trước đó là thuộc địa của Anh? Hoặc có thể chỉ đơn giản như quốc gia đó có phần đông dân số là hậu duệ của người châu Âu? Vấn đề đối với tất cả các lý thuyết này là trong khi nó rất phù hợp với một số các trường hợp cụ thể, các trường hợp khác lại chứng tỏ nó hoàn toàn không đúng.

 Điều đó cũng đúng với những lý thuyết hiện đang được truyền bá. Chẳng hạn nhà kinh tế Jeffrey Sachs, giám đốc Viện Địa Cầu ở Đại học Columbia (Earth Institute, Columbia University), đã gán sự thành công tương đối của những quốc gia cho địa lý và khí hậu. Theo ông, ở những vùng nghèo nhất thế giới, đất đai bạc màu ở những vùng nhiệt đới làm cho canh tác nông nghiệp trở nên khó khăn. Khí hậu ở đây đã kích thích bệnh tật, đặc biệt là sốt rét. Nếu chúng ta có thể sửa chữa những vấn đề đó, dạy người dân ở những vùng này các kỹ thuật canh tác tốt hơn, loại trừ bệnh sốt rét hoặc ít nhất trang bị cho họ thuốc artemisinin (một loại thuốc chống sốt rét hiệu quả-ND) để chống lại căn bệnh chết người này thì chúng ta có thể loại trừ được nghèo đói. Hoặc tốt hơn nữa, có lẽ chúng ta nên di chuyển những người này đi nơi khác và từ bỏ những vùng đất khắc nghiệt của họ.

 Jared Diamond, nhà sinh học nổi tiếng và là tác giả của những quyển sách bán rất chạy có cách lý giải khác: cội nguồn của sự bất bình đẳng trên thế giới bắt nguồn từ lịch sử thuần hóa những loài thực vật, động vật và tiến bộ công nghệ. Trong câu chuyện của Diamond, những nền văn hóa đầu tiên học được cách trồng trọt cũng là những người đầu tiên đã học được cách làm sao để sử dụng cái cày và sau đó cũng là những người đầu tiên chấp nhận các công nghệ khác, là động lực của mọi thành công về kinh tế[3].

  Nếu như vậy thì có lẽ giải pháp cho sự bất bình đẳng trên thế giới nằm ở công nghệ – nối kết các nước đang phát triển bằng Internet và điện thoại di động

 Trong khi Sachs và Diamond đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc vào một số khía cạnh của nghèo đói, họ cũng chia sẻ một số điểm chung với Montesquieu và những lý thuyết đã nói ở trên: họ đã bỏ qua động cơ (incentives). Con người cần động cơ để đầu tư và trở nên giàu có hơn. Họ cần biết là nếu họ làm việc chăm chỉ, họ có thể làm ra tiền và thực sự giữ được những đồng tiền đó. Chìa khóa để đảm bảo những động cơ đó là những thể chế tốt – luật pháp, an ninh và hệ thống chính quyền, tạo ra các cơ hội để con người có thể đổi mới và thành công. Đó chính là cái quyết định sự phân hóa giàu-nghèo – chứ không phải là địa lý, khí hậu, công nghệ, bệnh tật hay chủng tộc.

 Một cách đơn giản: hãy sửa chữa các cơ chế khuyến khích động cơ và bạn sẽ xóa được nghèo đói, và nếu bạn muốn sửa chữa thể chế, bạn phải sửa chữa chính quyền.

 Làm sao chúng ta biết được là các thể chế là là lý do chính dẫn tới sự giàu có và nghèo đói của các quốc gia? Hãy bắt đầu bằng Nogales, một thành phố bị chia đôi bởi biên giới Mexico và Mỹ. Không có sự khác biệt về địa lý giữa 2 phần của Nogales. Thời tiết giống nhau, gió giống nhau, đất cũng giống nhau. Các loại bệnh tật thông thường trong khu vực với cùng địa lý và khí hậu này là giống nhau, cũng như chủng tộc, văn hóa và nền tảng ngôn ngữ của các cư dân. Bằng suy luận logic, cả 2 nửa thành phố phải có tình trạng kinh tế giống nhau.

 Nhưng hiện tại chúng lại hoàn toàn khác xa nhau.

 Một bên của biên giới, ở hạt Santa Cruz, bang Arizona (Mỹ), thu nhập trung bình của một người là 30.000 USD/năm. Chỉ cách đó vài mét bên phía Mexico là 10.000USD/năm. Một bên, hầu hết các trẻ vị thành niên học ở trường trung học công và đa số người trưởng thành tốt nghiệp trung học (lớp 12-ND). Bên kia, chỉ một số ít cư dân học tới trung học và hầu như không có ai học đại học. Người dân phía Arizona có sức khỏe tương đối tốt và có bảo hiểm y tế Medicare cho những người trên 65 tuổi. Họ không cần quan tâm tới hiệu quả của mạng lưới đường sá, điện, dịch vụ điện thoại, hệ thống nước thải và hệ thống y tế công cộng. Tất cả những điều này lại không có bên kia biên giới Mexico. Ở đó, đường sá thì xấu, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, dịch vụ điện thoại và điện thì giá cao và không ổn định.

 Sự khác biệt quan trọng nhất ở phía bắc của biên giới (phía Mỹ-ND) là họ có hệ thống luật pháp, luật lệ và các dịch vụ đáng tin cậy của chính phủ – họ có thể tiến hành các hoạt động hàng ngày và đi làm mà không sợ hãi cho cuộc sống, sự an toàn hoặc tài sản của mình. Bên kia, những cư dân phía Mexico có một thể chế đã giúp kéo dài tội ác, hối lộ và thiếu an ninh.

 Nogales có thể là ví dụ hiển nhiên nhất, nhưng không phải là duy nhất. Hãy nhìn Singapore,  một vùng đất bạc màu vùng nhiệt đới đã trở nên một quốc gia giàu có nhất ở Châu Á sau khi chế độ thực dân Anh mang tới quyền tư hữu và khuyến khích ngoại thương. Hoặc Trung Quốc, nơi hàng thập kỷ trì trệ và đói kém đã bị đảo ngược chỉ sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu áp dụng quyền sở hữu tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và sau đó trong công nghiệp. Hoặc ở Botswana, nền kinh tế của nó đã vận hành rất tốt trong 40 năm qua nhờ ờ thể chế bộ lạc mạnh và những lãnh đạo dân cử thời kỳ đầu đã có tầm nhìn xa trông rộng, trong khi phần còn lại của Châu Phi vẫn đang tàn tạ.

 Giờ chúng ta hãy xem các quốc gia đã thất bại về kinh tế và chính trị. Bạn có thể bắt đầu ở Sierra Leone, nơi hiện nay các thể chế chính phủ hoạt động rất tồi nhưng lại dồi dào kim cương đã cung cấp nguồn lực cho nội chiến, xung đột và tham nhũng đến mức không thể kiểm soát được. Hoặc ở Bắc Triều Tiên, nơi các điều kiện về địa lý, chủng tộc và văn hóa rất tương đồng với quốc gia tư bản ở phía nam, nhưng lại nghèo hơn gấp 10 lần. Hoặc ở Ai Cập, tuy từng là cái nôi của một trong những nền văn minh lớn nhất thế giới nhưng kinh tế vẫn trì trệ kéo dài từ thời kỳ thực dân bởi đế chế Ottomans và sau đó là các nước Châu Âu tới hiện tại. Sau khi giành được độc lập tình hình còn trở nên tồi tệ hơn bởi chính phủ đã hạn chế mọi hoạt động kinh tế và thị trường. Trên thực tế, lý thuyết về vai trò của thể chế trong phát triển có thể được sử dụng để soi sáng vào các hình mẫu của sự bất bình đẳng ở nhiều phần của thế giới.

 Nếu chúng ta biết tại sao các quốc gia nghèo, câu hỏi đặt ra là nước Mỹ có thể làm gì để giúp đỡ họ? Việc áp đặt các thể chế từ bên ngoài luôn bị giới hạn. Các kinh nghiệm của Mỹ mới đây ở Afghanistan and Iraq chứng minh điều đó. Nhưng chúng ta không vô dụng và trong nhiều trường hợp, có thể làm nhiều điều có ích. Thậm chí trong cả những chế độ áp bức nhất, người dân cũng sẵn sàng đứng lên đối đầu với bạo chúa nếu có cơ hội.  Chúng ta đã thấy điều đó mới đây ở Iran và vài năm trước đây ở Ukraine trong cuộc Cách mạng Cam.

 Nước Mỹ không được giữ một vai trò thụ động trong việc khuyến khích sự thay đổi. Chính sách ngoại giao của Mỹ cần trừng phạt các chế độ độc tài thông qua các biện pháp ngoại giao và cấm vận thương mại. Việc giúp đỡ những chế độ độc tài bởi vì chúng hỗ trợ các mục tiêu ngoại giao ngắn hạn của Mỹ như sự ủng hộ ngầm với chế độ độc tài quân sự của Muhammad Zia-ul-Haq ở Pakistan vào đầu những năm 70 hay các thỏa thuận trái phép với chế độ tham nhũng của Mobutu ở Congo từ năm 1965-1997 cần chấm dứt. Lý do là vì những hậu quả dài hạn của nó rất tồi tệ – bần cùng hóa toàn bộ người dân, làm trẻ em bị đói và suy dinh dưỡng, đẩy những thanh niên bất mãn về phía chủ nghĩa khủng bố. Mỹ cần thúc đẩy những quốc gia như Pakistan, Georgia, Saudi Arabia, Nigeria và vô số các quốc gia ở Châu Phi trở nên minh bạch hơn, cởi mở hơn, nhiều dân chủ hơn bất chấp việc họ đang là đồng minh ngắn hạn của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.

 Ở mức độ vi mô, chúng ta có thể giúp đỡ các công dân nước ngoài bằng cách giáo dục và trang bị cho họ những phương pháp hiện đại để đứng lên đấu tranh, nhất là Internet và thậm chí các công nghệ mã hóa cùng điện thoại di động để vượt qua tường lửa cùng sự kiểm duyệt của các chế độ chuyên chế như Trung Quốc và Iran, vì họ sợ quyền lực của thông tin.

 Đương nhiên việc xóa bỏ sự bất bình đẳng trên qui mô toàn cầu, điều đã kéo dài cả thiên niên kỷ và hiện đang mở rộng ở tầm mức chưa từng có trong hơn 1 thế kỷ nay là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, bằng việc thừa nhận rằng nguyên nhân chính của nghèo đói là do sự thất bại của chính phủ và thể chế, chúng ta có cơ hội để đảo ngược tình thế.

  [1] Daron Acemoglu, What Makes a Nation Rich? One Economist’s Big Answer, Esquire, November 18, 2009.

 [2] Huy chương John Bates Clark là giải thưởng danh giá nhất do Hiệp hội Kinh tế Mỹ trao 2 năm một lần cho những nhà kinh tế tuổi dưới 40, có những đóng góp có ý nghĩa cho kiến thức kinh tế (ND).

 [3] Có thể tham khảo một quyển sách của Jared Diamond đã được dịch ra tiếng Việt: Súng, vi trùng và thép: định mệnh của các xã hội loài người. Hà Nội, NXB Tri thức, 2007 (ND).

@ Viet-Studies


Iran có thể bất ngờ làm phức tạp chính trường biển Đông ra sao

Nguồn: Adam Bray - blog Cây Trứng cá

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

Tuần trước Việt Nam đã đưa ra một tuyên bố “tái khẳng định chủ quyền” đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; là những khu vực biển đang tranh chấp phần lớn đang bị Trung Quốc kiểm soát. Báo chí nói rằng tuyên bố này là để phản ứng lại những thông báo mà Trung Quốc vừa đưa ra về những dự định phát triển những quần đảo trên.

Tuần trước tôi đã có nhận định với bạn bè cũng như trên mạng rằng mỗi khi Việt Nam làm điều này, có nghĩa là hai quốc gia đang có một đụng độ bí mật trên biển.

Vài ngày sau, Việt Nam đã công bố một câu chuyện quái dị trên truyền thông nhà nước rằng họ vừa kế thúc một cuộc hội thảo hữu nghị với Trung Quốc và đã đi đến một thoả thuận chung về những vấn đề liên quan đến biển Đông. Những gặp gỡ loại này luôn mang dấu hiệu cảnh giác.

Rồi hôm nay Việt Nam rốt cuộc lại thông báo rằng những tuyên bố của chính phủ tuần trước thật sự là để phản ứng lại những chiếc thuyền đánh cá Việt Nam bị hải quân Trung Quốc bắt giữ và đánh đập những ngư dân Việt trên thuyền.

Cũng nên lưu ý rằng “ngư dân” Việt Nam thật sự có nghĩa là những sĩ quan hải quân Việt Nam cải trang. Những tình báo, công an và quân đội Cộng sản ở Việt Nam dường như luôn ăn mặc thường phục để hoạt động bí mật thường xuyên như họ mặc đồng phục. Tìm kiếm trên Google và bạn sẽ tìm thấy rằng trước mỗi cuộc trao đổi về vấn đề biển Đông (tích cực hay tiêu cực), luôn có một sự kiện đầy bí ẩn liên quan đến “ngư dân” Việt Nam bị mất tích trên biể hoặc “bị hải tặc tấn công” gần những hòn đảo do Trung Quốc kiểm soát.

Vậy điều này có liên quan gì đến Iran, bạn hỏi? Hãy bước qua một sự kiện khác trong tuần này.

Hoa Kỳ vừa thông báo rằng Bắc Hàn đã đồng ý đình chỉ những hoạt động và thử nghiệm vũ khí hạt nhân để đổi lấy viện trợ lương thực từ Hoa Kỳ. Bắc Hàn là đồng minh chủ chốt và người hậu thuẫn cho chương trình hạt nhân của Iran và chắc chắn rằng thoả thuận mới này với Hoa Kỳ sẽ giới hạn sự hợp tác giữa Bắc Hàn và Iran.

Các quan chức Hoa Kỳ tuần này đã bất ngờ tố cáo Ả Rập Saudi có liên quan đến cuộc tấn công 11/9 vào Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã có được thông tin này trong khoảng một thập niên. Tại sao đến giờ mới công bố? Hoa Kỳ đang gây áp lực lên Ả Rập Saudi để nó ủng hộ Hoa Kỳ chống lại Iran. Nếu nó không chịu hợp tác, tôi chắc chắn rằng chúng ta sẽ còn thấy thêm những tiết lộ về Ả Rập Saudi trong những tuần kế tiếp.

Hoa Kỳ đang đi kêu gọi khắp thế giới để áp lực các quốc gia giúp chính phủ Hoa Kỳ kềm chế Iran – trước khi một cuộc chiến tranh thế giới nổ ra – một sự kiện giờ đây dường như có nguy cơ xảy ra. Tuy nhiên, những nhân vật chính trong trò chơi này, ngoài Hoa Kỳ, lại chính là Trung Quốc và Nga.

Ta có thể tưởng tượng rằng Hoa Kỳ và Nga đang thảo luận về việc gì – có lẽ là một lời hứa sẽ không có những nhận định xúc phạm từ bà Clinton đối với Putin trong giai đoạn nước Nga đang bầu cử và biểu tình này.

Rõ ràng những điều kiện Trung Quốc đưa ra cho Hoa Kỳ sẽ là: Nếu các anh (Hoa Kỳ) muốn được ủng hộ trong vấn đề Iran, thì phải để chúng tôi (Trung Quốc) sở hữu biển Đông.

Đây là cái giá rất đắt, và không rõ là Hoa Kỳ có sẵn sàng trả nó hay không, nhưng việc này cũng không ngăn Trung Quốc làm phép thử. Năm ngoái, sau vài sự kiện bạo lực giữa Trung Quốc và Việt Nam, truyền thông Việt Nam đã thông báo rằng Hoa Kỳ vừa gửi tàu chiến đến khu vực. Hoa Kỳ không luôn tự đưa ra thông báo và cũng không xác nhận những công bố của chính quyền Việt Nam (và thông tin này cũng không thường được truyền thông bên ngoài Việt Nam nhắc đến). Tuy nhiên điều rõ ràng là Việt Nam đã gửi một thông điệp đến Trung Quốc. Nếu Hoa Kỳ nhượng bộ Trung Quốc trong cuộc tranh chấp mới nhất này, chúng ta có thể thấy Hoa Kỳ đứng bên lề lần này trong khi Việt Nam bị thất thế trên biển.

Cho đến hiện tại Hoa Kỳ đã vẫn tìm cách giữ vùng biển mở cửa, không chỉ như là phương tiện giao thông và thương mại ở Đông nam Á, mà còn bởi vì nguồn dầu dự trữ dồi dào trong khu vực. Hoa Kỳ đã nhanh chóng củng cố quan hệ với Việt Nam trong một thập niên qua, bao gồm việc hỗ trợ Việt Nam tham gia WTO, những chuyến viếng thăm thường xuyên của các quan chức cao cấp Hoa Kỳ, nguồn viện trợ nhân đạo và giúp đỡ kinh tế dồi dào, và thậm chí có những tin đồn về những thoả thuận quân sự. Tất cả những điều này cho thấy một nỗ lực muốn làm ồng minh với Việt Nam nhằm kềm chế người láng giềng phương bắc.

Như tôi đã đề cập đến những dự đoán cho năm 2012, năm nay sẽ có những căng thẳng tăng cao giữa Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong vấn đề biển Đông. Tuy nhiên câu hỏi là liệu biển Đông hay Iran sẽ thúc đẩy chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ mạnh hơn – và Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao, đặc biệt là đối với những nhân vật chủ chốt khác trong khu vực tranh chấp, bao gồm Đài Loan, Philippine và Việt Nam.

Đồng quê Châu Âu

This slideshow requires JavaScript.

Cười chút chơi

Cái L…vợ bằng cái mả cha

Đi đặt khung tranh, nhìn những chiếc bánh bột lọc tôm thịt căng tròn, trong veo mà thèm. Còn vài đồng lẻ trong túi, liền ngồi xuống xin cụ bà một dĩa, vừa ăn vừa bắt chuyện.

-Cụ bao nhiêu tuổi rồi ạ?
– Hơn tám mươi, mà sống lâu làm gì cho mệt, CHẾT TRẺ KHOẺ MA, CHẾT GIÀ MA MỆT_ Cụ vừa cười vừa trả lời

Hình chỉ có tính chất minh họa

Anh hàng xóm đi ngang qua nói to: ” Bột lọc ế đây”_ Cụ đáp trả ” Tổ cha mi cái thằng ế vợ”. Mọi người vừa ăn bánh vừa cười vui vẻ.

Cụ tiếp tục kể chuyện, cụ có 8 người con trai và 2 người con gái. Đã lập gia đình con cái cả rồi, có đứa làm công an, đứa làm ngân hàng, đứa làm văn phòng uỷ ban… Tôi hỏi:

- Sao cụ còn bán buôn làm gì cho mệt?
CÁI L.. VỢ BẰNG CÁI MẢ CHA, sau này cậu sẽ hiểu điều đó. Cụ trả lời rồi phá lên cười, té người ra sau…

Tôi đang nuốt cái bánh bột lọc, có lẻ, đó là cái bánh bột lọc dai nhất mà tôi từng ” thưởng thức” …

MP

@Phuocbeo Blog

Bắc Kinh ‘mềm’ hơn về biển Ðông vì phản ứng của Hoa Kỳ

Nhà cầm quyền Bắc Kinh nói lập trường cũng như cách hành xử của họ đối với vấn đề Biển Ðông “không mạnh mẽ hơn hay yếu đi”.

Chiến hạm Quảng Châu, một trong những chiến hạm lớn nhất, tối tân nhất của Trung Quốc

thuộc hạm đội Nam Hải đang tập trận trên biển Ðông ngày 9 Tháng Giêng, 2012. Cuộc tập trận

này gồm nhiều chiến hạm của hạm đội này kéo dài sang tới Tháng Hai 2012. (Hình: Eng.Chinamil.com)

Ðây là phản ứng của Trung Quốc sau lời nhận định của Ðô Ðốc Robert Willard trong cuộc điều trần ở Ủy Ban Quân Vụ Thương Viện Hoa Kỳ mới đây.

Vào lúc này, Bắc Kinh tiếp tục đe dọa Manila sau khi Philippines loan báo không lùi bước trong kế hoạch mời thầu quốc tế dò tìm và khai thác dầu khí ở biển Tây (mà Việt Nam gọi là biển Ðông).

“Tôi cho rằng Trung Quốc tiếp tục khẳng định chủ quyền của họ trên biển Ðông, nhưng trong cách hợp lý hơn”.

Ngày Thứ Ba 28 Tháng Hai 2012, Ðô Ðốc Willard nói như vậy trong cuộc điều trần. Theo ông, những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton và nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates trong các phiên họp ASEAN liên quan tới biển Ðông về lập trường của Hoa Kỳ “chắc chắn có ảnh hưởng đến phía Trung Quốc”.

Bà Clinton tuyên bố ở Hội Nghị Ngoại Trưởng ASEAN ở Hà Nội năm 2010 là Koa Kỳ “có quyền lợi quốc gia trên biển Ðông”. Hoa Kỳ mong muốn các nước tranh chấp chủ quyền biển đảo giải quyết vấn đề bằng thương nghị và hòa bình.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền chiếm đến 80% biển Ðông dù họ nằm hoàn toàn về hướng Bắc nên các nước chung quanh gồm cả Việt Nam, Philippines, Indonesia bị đường “Lưỡi Bò” mà họ ngang nhiên vẽ lấn sâu vào cả vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của mình theo công ước quốc tế UNCLOS.

Tàu Trung Quốc cản trở tàu thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam và Philippines. Ngư dân Việt Nam đánh cá gần quần đảo Hoàng Sa bị họ bắt giữ, đâm chìm tàu, cướp đoạt tài sản, ngư cụ, trang bị hải hành.

Theo cuộc điều trần của Ðô Ðốc Willard, vùng biển Ðông có một lượng hàng hóa đi qua lên đến $5.3 ngàn tỉ đô la, trong đó có $1.2 ngàn tỉ đô la liên quan đến thương mại Hoa Kỳ.

“Quân đội Hoa Kỳ phải hiện diện nơi đây để bảo đảm an toàn cho đường thông thương”. Ông nói.

Phản ứng lại nhận định của Ðô Ðốc Willard, phát ngôn viên Hồng Lỗi nói hôm Thứ Tư ở Bắc Kinh rằng hải hành trên biển Ðông “chưa bao giờ bị trở ngại”.

“Sự tự do và an toàn hải hành trên biển Ðông chưa bao giờ có vấn đề và cũng chưa bao giờ bị ảnh hưởng bởi các cuộc tranh chấp chủ quyền.” Hồng Lỗi nói trong cuộc họp báo.

“Chúng tôi hy vọng các bên liên quan, kể cả các nước không tuyên bố chủ quyền, làm nhiều hơn để có lợi cho hòa bình và ổn định cho khu vực”.

Không kể những lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí hay bắt giữ ngư dân Việt Nam, Trung Quốc đã nhiều lần tổ chức tập trận hải quân bắn đạn thật quy mô trên biển Ðông. Ngay trong Tháng Giêng và Tháng Hai năm nay, Trung Quốc đã nhiều lần tập trận trên vùng biển này không ngoài mục đích đe dọa các nước nhỏ phía Nam.

Theo nhận định của ông Willard, Trung Quốc sẽ tiếp tục đe dọa các tàu thăm dò dầu khí ở trong vùng họ tuyên bố chủ quyền và sẽ “vẫn hung hãn”.

* Tiếp tục đe dọa Philippines: ‘Không có mềm hay cứng hơn’

Trong khi đó, Hồng Lỗi khua trống tuyên truyền trong cuộc họp báo là “Trung Quốc nhấn mạnh đến các chính sách phát triển hòa bình và thân hữu, nhằm đến hòa bình và ổn định, giải quyết các tranh chấp với các bên liên quan qua đàm phán thân hữu dựa trên các chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế.”

Hồng Lỗi gián tiếp nhắc đến những tuyên bố một chiều rằng họ có bằng chứng lịch sử cả ngàn năm tại các vùng tranh chấp dù họ mới mang súng đi cướp mới mấy chục năm gần đây. Dịp này, Hồng Lỗi còn nói rằng không nước nào, kể cả Trung Quốc “tuyên bố chủ quyền toàn thể biển Ðông”. Lời nói này mơ hồ không xác nhận hay phủ nhận những lời tuyên bố “Lưỡi Bò” trước đây.

Cùng ngày phát ngôn viên Hồng Lỗi phát biểu ở Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, tờ Nhân Dân Nhật Báo, tiếp tục đe dọa Philippines rằng “Nên nhớ, bất cứ hành động đơn phương vô trách nhiệm nào để giải quyết tranh chấp sẽ chỉ cho kết quả ngược lại”.

Hôm đầu tuần, bộ trưởng Bộ Năng Lượng Philippines, Jose Rene D. Almendras loan báo Philippines sẽ mời các nhà thầu quốc tế tham dự đấu thầu dò tìm và khai thác 15 lô dầu khí tại Philippines.

Trong đó, có 3 lô nằm ở khu vực Bãi Rong (Reed Bank) chỉ cách tỉnh Palawan của Philippines từ 72 hải lý đến 80 hải lý. Nhưng Bắc Kinh lại tuyên bố khu vực này là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, dù nó cách bờ đất gần nhất của Trung Quốc hơn 500 hải lý.

@ Người Việt

Chuyện bỏ đảng chạy lấy người

Kami/RFA Blogs

Hơn một năm nay, vì lý do sức khỏe cá nhân, chả làm gì được nên tôi cũng có nhiều thời gian để lên mạng internet hơn, nhiều lần tôi nhận được các tin nhắn trên mạng xã hội Facebook của bạn bè (ảo) những lời đề nghị được trao đổi một số vấn đề liên quan đến nhận thức chính trị của cả đôi bên. Hình như những người bạn đó nghĩ tôi viết blog nghĩa là tôi làm chính trị hay tham gia một tổ chức gì đó nên họ quan tâm muốn chia sẻ. Đáng chú ý trong các đối tượng trao đổi với tôi nói trên thường rất trẻ, họ là sinh viên hay học sinh, cá biệt có những bạn đang học phổ thông Trung học.

Không hoàn toàn như nhiều người đánh giá cho rằng các bạn trẻ bây giờ chỉ mải lo kiếm tiền để đua đòi ăn diện và chơi bời. Tôi cũng gặp không ít các bạn trẻ, đang là sinh viên hay mới tốt nghiệp Đại học, hay các doanh nhân với các chính kiến chính trị khác nhau. Nhưng đa số là những điều họ được giáo dục trên ghế nhà trường XHCN, nghĩa là họ luôn nghĩ nói khác với truyền thông của đảng, của nhà nước nói là phản động, là chống lại tổ quốc. Cách đây ít lâu, cũng trên mạng Facebook tôi gặp một anh bạn trẻ sinh năm 1989, đang là sinh viên năm cuối của một trường Đại học ở Hà nội. Chắc anh bạn trẻ này cũng mê chuyện chính trị, có hỏi tôi đại ý rằng“Anh được nhà nước nuôi dạy, cho ăn học, vậy lý do nào làm cho anh phản bội dân tộc, phản bội đảng mà mình phấn đấu chí chết mới vô được, và phản bội lại một thời oai hùng mà mình đã sống, đã cảm nhận. Để ngày nay đi theo phe lề trái?“ với lý do nghe chừng rất thuyết phục “Khối XHCN ở Đông Âu và Liên xô sụp đổ một phần cũng do đài Châu Âu Tự do, nay anh viết bài cho đài Á Châu Tự do (RFA) phải chăng cũng vì mục đích đó?”.

Thú thực trước một câu hỏi đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều và nghĩ rằng mình với tư cách đã từng là một cựu đảng viên đảng CSVN phải có trách nhiệm trả lời những thắc mắc của họ. Chuyện tôi có phản bội dân tộc, phản bội đất nước hay phản bội đảng hay chống lại chính quyền nhà nước hiện nay ở Việt nam hay không là hai vấn đề khác biệt, không thể coi hay đánh đồng giữa đảng, chính quyền với Tổ quốc với dân tộc. Nhưng phải thừa nhận sự chuyển hóa tư tưởng của tôi dẫn tới việc tôi quyết định bỏ sinh hoạt đảng, phần lớn là do tôi hiểu được sự thật qua các thông tin trong sách vở báo chí, internet và những gì tôi cảm nhận được trong những chuyến đi hay trong cuộc sống thực tế mà tôi có điều kiện tiếp xúc và cảm nhận ở xứ người trong thời gian học tập và làm việc. Để qua đó rút ra cho mình một kết luận đã được người ta đã khẳng định thành chân lý đại ý là “Đừng nghe đảng nói và hãy xem đảng làm”.

Nói thật trước đây đối với tôi, đảng CSVN chính đảng từng được ông tôi, cha mẹ tôi và thế hệ anh em chúng tôi theo đuổi và ủng hộ hết lòng. Chúng tôi từng coi đảng CSVN là đảng cách mạng của những đại diện ưu tú của mọi tầng, mọi giới với lý tưởng đấu tranh xây dựng một xã hội công bằng, mà xã hội đó nhân dân sẽ làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Với mong ước đem lại cho nhân dân Việt nam được sống trong ấm no, hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn, áo mặc và ai cũng được học hành. Cần phải hiểu Đảng CSVN nói chung và cá nhân đảng viên nói riêng xưa và nay về bản chất không còn giống nhau, nếu không nói là thay đổi gần như hoàn toàn tới 180 độ. Những đảng viên đảng CSVN cách đây không lâu, chỉ từ năm 1990 trở về trước họ là những người có tinh thần vì nước quên thân vì dân phục vụ. Là những người luôn tiên phong đi đầu trong mọi công việc, không quản ngại khó khăn, không vụ lợi theo phương châm đảng viên luôn gương mẫu đi trước, để làng nước theo sau.

Khi ấy những người đảng viên là tấm gương cho quần chúng noi theo, bất kể hành động gì đều phải suy nghĩ vì sợ động chạm tới danh dự của người đảng viên cộng sản. Cái mà mỗi đảng viên chúng tôi luôn gìn giữ như con ngươi của mắt mình. Trong cuộc sống đời thường hay trong những ngày ở nơi chiến trận lủa đạn cũng thế, những người đảng viên cộng sản như chúng tôi luôn đặt trách nhiệm, nghĩa vụ của mình lên trên quyền lợi hay kể cả sự sống của bản thân mình. Trong mỗi trận đánh, khi khẩu lệnh xung phong vang lên thì những người đảng viên cộng sản chúng tôi phản ứng tự bật dậy xông lên phía trước một cách tự nhiên, bất chấp mưa bom bão đạn hay sự đối mặt với tử thần. Chỉ đơn giản vì khi ấy chúng tôi luôn tâm niệm mình là đảng viên cộng sản, mình không xông lên trước thì đồng đội của mình ai sẽ dám tiến lên theo. Lúc ấy không ai còn được phép nghĩ mình sẽ sống hay chết, sau những trận đánh ai còn sống là do may mắn, ai nằm xuống cũng là điều phải chấp nhận, để rồi đánh mãi thành quen, mọi chuyện trở thành là chuyện bình thường. Đám lính trẻ ra trận lần đầu ra trận, nghe tiếng súng chưa quen khi nghe khẩu lệnh xung phong thì nhiều cậu nằm bẹp không dám ngóc đầu lên vì sợ, nhiều cậu sợ đái cả ra quần. Sau những trận đánh có nhiều cậu lính trẻ hỏi tôi “Sao thủ trưởng máu thế, không sợ chết à?”.

“Là con người hay con vật cũng thế có ai không sợ cái chết, nhưng trách nhiệm của người lính là trên hết, dẫu chết chúng mình cũng phải biết chấp nhận” – tôi thường bảo anh em như vậy để động viên họ, khi ấy mình nói rất thật không hề lên gân, lên cốt. Có lẽ vì trong hoàn cảnh giữa cái sống và cái chết cách nhau gang tấc, nên anh em chúng tôi dù lính trơn hay sĩ quan, đảng viên hay không đảng viên thương yêu quý mến nhau như ruột thịt, sống không tính toán thiệt hơn hay lợi hại cho cá nhân mình.

Đó là những cái chỉ còn trong dĩ vãng của đảng CSVN, bao nhiêu ý nghĩ tốt đẹp của tôi đối với đảng CSVN dần đã mất hết, không chỉ là con số không mà giờ nó còn là con số âm. Nhiều lúc tôi thầm nghĩ may mà mình đã sớm bỏ cái đảng này, nếu không thì chết vì nhục vì làm đồng chí với bọn họ, đồng chí với một bầy sâu khổng lồ nhân danh đảng cộng sản để lừa bịp quần chúng nhân dân, hòng đục khoét tài sản quốc gia làm giàu cho cá nhân mình trên mồ hôi và nước mắt của những người lao động. Biến quân đội nhân dân với phương châm trung với nước, hiếu với dân thành lực lượng quân đội trung với đảng, coi nhân dân và những người lính cựu binh như chúng tôi, như anh Đoàn Văn Vươn là kẻ thù. Tại sao lại như thế, không có lẽ trong chiến tranh những người lính như chúng tôi xả thân cho dân cho nước để cho một xã hội băng hoại như hiện tại hay sao?

Quyết định bỏ sinh hoạt đảng của tôi cách đây hơn 10 năm, khi ấy chỉ xuất phát từ cảm tính cá nhân, tôi cảm nhận ban lãnh đạo đảng CSVN và chính quyền của họ ngày càng tha hóa, biến chất, ngày càng có nhiều biểu hiện phản bội lợi ích của nhân dân. Và dần dần họ càng biểu hiện tha hóa do được quyền tự cho mình là lực lượng chính trị duy nhất, có quyền đứng trên Hiến pháp và luật pháp của đất nước. Từ đó dẫn tới sự lạm quyền, coi thường dân chúng, bịa đặt vu khống cho các cá nhân hay tổ chức trái ý của họ khi cần thiết. Tóm lại là họ không bao giờ nói thật bất cứ điều gì, nói một đằng rồi làm một nẻo. Họ luôn luôn nhân danh lý tưởng cộng sản, nhưng trên thực tế họ đã hình thành các nhóm lợi ích, tham nhũng cắt xén chia chác ngân khố và tài nguyên, đất đai của quốc gia chưa đủ. Họ quay sang dùng bạo quyền để cướp đất đai, nhà cửa ruộng vườn của nông dân với chiêu bài dự án đầu tư, phát triển để là giàu cho nhóm lợi ích – các đại gia tư bản đỏ. Rồi cha truyền con nối, cất nhắc con cái vào ghế lãnh đạo chưa đủ, họ còn đưa các đại gia là lớp tư bản đỏ bóc lột nhân dân vào ngồi trong cơ quan quyền lực cao nhất – Quốc hội của nhà nước XHCN. Tình trạng vô lý này ngày càng phổ biến trên diện rộng và không có biểu hiện chấm dứt, thể hiện sự coi thường lực lượng đảng viên trong đảng và quần chúng nhân dân của ban lãnh đạo đảng CSVN.

Điều đó dẫn tới hậu quả như đã thấy trong thời điểm hiện tại, lúc này uy tín của đảng CSVN trong dân chúng đã không còn như trước đây. Bây giờ thì hầu như tất cả mọi người dân đã mất lòng tin vào Đảng, mất lòng tin ở đảng viên. Ngay trong nội bộ của đảng cũng thế, một số đông đảng viên kể cả cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu hay đang tại chức cũng không tin vào sự lãnh đạo của đảng CSVN, người ta gọi họ là thành phần đảng viên chán Đảng. Bằng chứng là trong video clip Bí thư thành ủy Hải phòng trong buổi gặp gỡ các vị lão thành cách mạng là cán bộ trung cao cấp ở Hải phòng, đã bị la ó phản đối quyết liệt như một cái chợ vỡ. Cũng bởi cái đảng CSVN hiện nay không còn chút gì là đảng cộng sản. Đảng CSVN giờ chỉ còn cái tên để lừa bịp, còn bây giờ đảng CSVN đang theo chủ nghĩa nào, đường lối nào, không ai biết. Kể cả chính những người lãnh đạo của đảng CSVN cũng vậy, nhưng họ cứ vờ vịt, à ơi để lừa những người nhẹ dạ.

Do đó không phải ngẫu nhiên mà gày 16/1/2012, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Và rồi ngày thứ hai, 27 tháng 2, 2012 vừa qua, hơn 1000 đại biểu, gồm toàn bộ thành viên Bộ chính trị, Ban bí thư, Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa XI, cán bộ chủ chốt ở trung ương và 63 tỉnh, thành phố về dự hội nghị “lớn chưa từng có” ba ngày về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lý do cũng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận “… ở một bộ phận không nhỏ các đảng viên có chức, có quyền, cả trong một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, đương chức, hoặc thôi chức thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên; sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Đây không phải là chuyện mới, vì từ tháng tháng 5/1999 cũng đã từng có Quy Định 55“Những điều đảng viên không được làm”. Rồi tháng 12/2007 có Quy định 115 về những điều đảng viên không được làm, rồi tháng 11/2011 lại có Quyết định 45 tương tự, chưa kịp “quán triệt” thì đã có cái Quy định 47 cũng không hơn gì. Tất cả cũng vẫn loanh quanh 19 điều, nội dung vẫn y như thế và rồi chắc kết quả lại vẫn như thế không có gì thay đổi. Vì như theo lời ông Lê Khả Phiêu , nguyên TBT đảng CSVN khẳng định “Thực trạng suy thoái trong đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư. Thực ra, thực trạng này Đảng đã thường xuyên ngăn chặn nhưng làm không đến nơi đến chốn khiến căn bệnh ngày càng trở nên trầm trọng.”. Nghĩa là bệnh của đảng CSVN là trầm trọng lắm, hết thuốc trị, hết phương cứu chữa rồi.

Trong bất kỳ một xã hội nào cũng thế, luật pháp phải đảm bảo sự công bằng trong khuôn khổ của Hiến pháp và chính quyền nhà nước đã nói thế nào phải làm đúng như vậy, lời nói phải đi đôi với việc làm. Chứ không thể chấp nhận một chính quyền nhân danh của dân, do dân và vì dân nhưng thực tế lại là một xã hội vô luật pháp, nơi mà luật pháp bị một nhóm người ngang nhiên chà đạp, đứng trên luật pháp để thao túng xã hội bằng biện pháp như một băng đảng mafia. Điều đó đã tạo nên xã hội ở Việt nam hiện nay băng hoại, nền tảng đạo đức xã hội bị phá vỡ trở nên mang tính chất xô bồ, mạnh ai nấy sống. Đó chính là nguy cơ dẫn tới sự sụp đổ của đảng CSVN và chế độ của họ, do căn bệnh ví như ung thư giai đoạn cuối, mà đã là bệnh ung thư thì không có thuốc chữa, chỉ còn nước chết là cái chắc.

Đó chính là nguyên nhân để cho – như đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc nói “Đất nước chúng ta đang đi trên một cỗ xe mà người lái xe không biết lùi, và trên cỗ xe phanh hỏng. Và chúng ta chỉ băm băm lao về phía trước, đầy những rủi ro”. Nghĩ lại điều đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc nói làm cá nhân tôi cảm thấy mình là người may mắn.

May mắn cho tôi vì đã biết trước cái tất yếu sẽ xảy ra như ngày hôm nay và đã biết để nhanh chân rời khỏi chuyến xe bão táp này. Chỉ tiếc cho những ai còn đang u mê tưởng rằng dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng CSVN đang đưa những hành khách trên chuyến xe phanh hỏng băm băm lao về cán đích CNXH. Chỉ khi xe lật nhào mới biết cái CNXH là chữ cái đầu viết tắt của Cả Nước Xuống hố.

Tôi không phải là người lạc quan tếu, từ trước đến nay tôi vẫn không tin đảng CSVN sẽ sụp đổ vì bất cứ lý do gì về kinh tế hay xã hội. Nhưng đây là mâu thuẫn nội bộ trong đảng CSVN, giữa đảng CSVN và nhân dân đã ở mức quá sâu sắc, mà chính họ thừa nhận là “Thực trạng suy thoái trong đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư”. Vậy có lẽ đã bắt đầu đến lúc chúng ta có thể đếm lùi giờ tận thế của họ – đảng CSVN, vì bây giờ dẫu họ muốn hối cải cũng là quá muộn.

Ngày 02 tháng 03 năm 2012

Nguồn: RFA Blog

Lai rai cuối tuần : Bánh mỳ của VN: Món ăn đường phố ngon nhất thế giới

 Theo Richard Johnson (Anh), tác giả của cuốn sách “Lonely Planet’s The World’s Best Street Food”,  súp mì Mohinga của Myanmar, bánh mỳ Việt Nam, bánh kẹp của Mexico,… là những món ăn đường phố ngon nhất thế giới.

Bánh mỳ Việt Nam
 

Theo Richard Johnson, bánh sandwich ngon nhất thế giới không phải ở Rome, Copenhagen, New York mà là ở trên đường phố Việt Nam. 

Bánh mỳ ở Việt Nam được nướng nóng trên bếp than. Sau đó, người ta kẹp pa- tê, thịt, rau sống, nước sốt mayonnaise, vài giọt nước tương ớt và gia vị cay.

Món súp mì Mohinga, Myanmar

 

Món Mohinga hoặc mỳ gạo ăn với súp cá là món mà người Myanmar yêu thích nhất. Món ăn này được người Myanmar chủ yếu sử dụng vào bữa ăn sáng và trong những dịp đặc biệt.

Người ta còn dùng Mohinga kết hợp với một loại bún được gọi là “bún tươi mỏng” của người Thái, ăn cùng hẹ tây, lõi chuối, rau mùi thái nhỏ.

Mohinga được bán ở khắp nơi trên đất nước Myanmar, từ các xe đẩy di động đến những nhà hàng. 

Món Daulat ki chaat, Ấn Độ

 
 

Đây là món ăn phổ biến ở Old Delhi, Ấn Độ nhưng chỉ có vào mùa đông.. Món Daulat ki chaat có màu sắc đặc biệt, nhìn giống như ánh trăng. 

Daulat ki chaat là một loại kem tươi trộn váng sữa, đường, ăn cùng quả hồ trăn, rưới nước mật và đựng trong khuôn thiếc. Món này còn được trang trí bằng nghệ tây, tạo cho món ăn có màu trắng-cam hấp dẫn. Đôi khi, người ta còn dùng thêm một lớp lá bạc – được gọi là varq.

Món Phat Kaphrao, Thái Lan

Kaphrao có nghĩa là húng quế thánh, thành phần thiết yếu trong món ăn này. Lá húng quế thánh được chiên với thịt heo băm, thịt gà hoặc hải sản, cùng với tỏi băm nhỏ, ớt hoặc đậu dài xắt nhỏ. Món ăn được nêm với nước mắm và ít đường. Phat Kaphrao sau đó được dùng với cơm, hoặc với trứng rán.

Bánh Burek, Bosnia-Herzegovina

 

Đây là một loại bánh ngọt kẹp thịt băm, rau bina, pho mát và các loại thảo mộc, sau đó cuộn lại, thêm bơ, dầu ô liu và nướng cho tới khi bánh chuyển sang màu vàng.

Loại bánh này có thể ăn bất cứ giờ nào: dùng cho bữa sáng và uống kèm với trà đen hay ăn đêm ở các quán bar.

Bánh Sfenj, Morocco

Món này giống như bánh sừng bò người Pháp. Đây là loại bánh ngọt được chiên kĩ, có hình vòng tròn, được làm từ bột nấm men dính, không đường, không sữa, không bơ. Người ta thường dùng món ăn này vào buổi sáng và lúc chiều muộn.

Chân gà nướng, Nam Phi

 

Gà được luộc trước, sau đó cắt thành từng khúc nhỏ và chế biến theo khẩu vị.

Bánh kẹp của Mexico

 
 

Món này dùng cho bữa sáng hay dùng để ăn nhẹ lúc cuối chiều. Loại bánh này được kẹp thịt lợn hoặc gà, ớt và pho mát, sau đó được bọc trong vỏ ngô hoặc lá chuối và hấp cho tới khi chín.

Món đậu đỏ, Ghana

Đây là món ăn rất nóng, ngọt và cay, được làm từ đậu đỏ với chuối chiên và dầu cọ đỏ.

Món Currywurst, Đức

 
Đây là món xúc xích xắt nhỏ, tưới nước sốt cà chua cay, có thể dùng thêm khoai tây chiên, bánh mì…

Huyền My (Theo Guardian)

Đối tượng tác chiến đáng gờm của Trung Quốc là ai?

Lê Ngọc Thống

Một câu hỏi đặt ra mà câu trả lời lại mang tính bí mật, không thể công khai ở cấp Nhà nước vì có nhiều vấn đề tế nhị trong ngoại giao.

Tuy nhiên trong công tác quốc phòng, căn cứ vào mối hiểm nguy, thách thức an ninh để xác định đối tượng tác chiến cho quân đội cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó là điều mà bất cứ quốc gia nào bị nguy cơ xâm lược cũng phải làm. Nhưng Trung Quốc, có quốc gia nào dám tấn công xâm lược Trung Quốc? Không có. Cho nên đối tượng tác chiến của Trung Quốc chỉ là những quốc gia cản trở lại ý đồ chiến lược của họ mà thôi. Chẳng hạn như quốc gia nào cản trở “Chuỗi đảo thứ nhất, thứ hai…. Nếu như theo Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đã đăng tải không cần úp mở thì dư luận quá rõ đối tượng tác chiến của Trung Quốc là bao gồm những quốc gia nào rồi. Có điều ai là đáng gờm mới là quan trọng.  Vậy quốc gia nào là đối tượng tác chiến đáng gờm của Trung Quốc?

Biển Đông đối với Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc.

Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.  Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama.

Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai – Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz).

Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa – chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông.

Với Trung Quốc, chỉ có duy nhất Biển Đông có thể được coi là cửa ngõ nối liền biển của Trung Quốc. Hướng đông là hai đồng minh Nhật-Hàn của Mỹ, Trung Quốc muốn khiêu chiến với hai quốc gia này vô cùng khó. Ấn Độ Dương thuộc về Ấn Độ nhưng giữa Trung Quốc và Ấn Độ Dương lại không hề có bất cứ một thông lộ trực tuyến nào, hiện tại có thể thông qua Myanmar để hướng tới Ấn Độ Dương, tuy nhiên quan hệ giữa Myanmar và Mỹ lại đang dần chuyển biến tốt đẹp. Biển Đông là cửa ngõ nối liền biển duy nhất, thông thoáng và nuốt dễ dàng của Trung Quốc. Bởi vì các nước có lợi ích, chủ quyền quanh khu vực đó nghèo và yếu hơn nhiều. Báo chí, các học giả Trung quốc cho rằng Biển Đông là “sinh mệnh của Trung Quốc”, rằng còn quan trọng hơn lợi ích cốt lõi, rằng “nếu không có Biển Đông Trung Quốc thành một nước bị phong tỏa”…Đó chẳng qua chỉ là một cách nói để kích động dân tộc, che đậy bản chất của sự việc mà thôi. Thử hỏi hơn 30 năm nay, Trung Quốc làm gì với Biển Đông và Biển Đông đã như thế nào với Trung Quốc mà Trung Quốc vẫn trỗi dậy thành cường quốc kinh tế, quân sự? Thực ra khi Trung Quốc đã như bây giờ thì Trung Quốc muốn cả thế giới mà trước tiên là Biển Đông.

Trung quốc rêu rao ở Biển Đông có nhiều tài nguyên, có trữ lượng dầu hàng trăm tỷ thùng để đánh lạc hướng dư luận và Mỹ về mục đích tranh chấp Biển Đông. Trung quốc cần Biển Đông không phải lý do kinh tế, năng lượng mà chủ yếu là về quân sự. Không có Biển Đông các hạm đội tàu ngầm tấn công mang đầu đạn hạt nhân chiến lược của Trung quốc như “cá nằm trên cạn”. Khi Trung Quốc chiếm trọn Biển Đông thì các tàu ngầm chiến lược mang đầu đạn hạt nhân của họ tha hồ vùng vẫy ở những độ sâu Mỹ khó phát hiện và theo dõi. Biển Đông là căn cứ, là nơi trú ẩn, xuất phát để tấn công hạt nhân hiệu quả nhất mà Trung Quốc muốn, là điều duy nhất có thể răn đe được Mỹ.

Trong khi đó, với Mỹ, lợi ích quốc gia, không những thế mà ngay cả an ninh quốc gia của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đương nhiên là Mỹ không muốn điều này.

Chiến lược của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương là hành động kiềm chế, phòng ngừa sự thách thức vị trí bá chủ thế giới của Mỹ trước sự đang lên của Trung Quốc. Do không muốn đối đầu trực tiếp với Trung Quốc nên Mỹ có sách lược riêng của mình.

Khi cần thiết Mỹ sẽ không ngại ngần vũ trang cho các nước trong khu vực với một mũi tên trúng hai đích: Vừa được sự ủng hộ, mang ơn của những quốc gia mà bị Trung Quốc bắt nạt chèn ép trong vấn đề biển Đông, vừa tạo nên một tuyến phòng thủ chống Trung Quốc chiếm trọn biển Đông của Mỹ mà Mỹ không cần trực tiếp đối đầu với Trung Quốc về quân sự.

Còn Biển Đông đối với Nhật Bản thì sao? Nếu như Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông thì hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản cũng được vận chuyển qua Biển Đông.

Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông là rõ ràng. Thông qua “đường lưỡi bò” thì 80% điện tích Biển Đông là thuộc họ. Ý muốn này được thực hiện thì Trung Quốc phải vượt qua Việt Nam, Philipin và Nhật rồi sau đó thanh toán tiếp Mỹ. Việt Nam, Philipin, Indonexia…, nói chung, tất cả các nước phản đối đường lưỡi bò, thì Trung Quốc coi như con muỗi nhưng còn Nhật Bản???

Việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, Nhật Bản đã nhận thức rõ cách hành xử của Trung Quốc sẽ như thế nào. Trung Quốc sẵn sàng làm mọi thứ để tấn công vào chỗ hiểm của Nhật như cắt nguồn cung đất hiếm… và nếu như Trung Quốc độc chiếm Biển Đông thì Trung Quốc cũng không ngại ngần gì phong tỏa yết hầu giao thông của Nhật Bản trên Biển Đông khi cần thiết để có lợi thế trong việc giải quyết tranh chấp với Nhật ở vùng biển phía đông. Đương nhiên Nhật Bản làm sao lại ngồi nhìn lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia bị thách thức như vậy.

Trung Quốc mới đuổi kịp Nhật từ năm 2010 nhưng Nhật đã như thế hơn nửa thế kỷ nay rồi. Điều này có nghĩa nội lực của Nhật được “tu luyện” rất nhiều năm và rất mạnh. Việc trở lại châu Á-TBD của Mỹ nhằm khống chế ngăn chặn Trung Quốc là rất khó khăn nếu chỉ một mình trong khi ngân sách quốc phòng bị cắt giảm. Vì thế, tăng cường lực lượng bằng cách tạo điều kiện cho đồng minh, cho các nước trong khu vực hành động theo mối quan tâm chung là sách lược khôn ngoan và hợp lý nhất của Mỹ. Và Nhật là quốc gia đầu tiên mà Mỹ quan tâm, là quốc gia mà có thể giảm gánh nặng cho Mỹ, là quốc gia có đối trọng so với Trung Quốc. Vì vậy khi Mỹ nới lỏng thì việc tái vũ trang của Nhật Bản chỉ là vấn đề thời gian, tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.

Với nền công nghiệp hiện đại, Nhật Bản chắc chắn đã chuẩn bị sẵn sàng (những thứ mà Mỹ không thể biết) để khi cần thiết chuyển nền công nghiệp này sang phục vụ cho chiến tranh thì ngay cả Mỹ cũng không lường hết được sự hiện đại như thế nào.. Người Nhật có hàng chục nhà máy điện hạt nhân, còn bom , vũ khí hạt nhân…thì sao?

Cỡ như Việt Nam công nghệ lạc hậu mà sản xuất tàu pháo TT400TP bắn thử 1 lần là đạt yêu cầu ngay thì Nhật Bản không cần phải thử.Tất cả mọi thứ đã sẵn sàng, chỉ cần ráp vào là dùng ngay. Hiện tại Nhật Bản đã có trong tay gần như toàn bộ khí tài quân sự để thành lập một quân đội hiện đại và quy mô lớn. Nhật có số tàu chiến hơn gấp đôi Hải quân Hoàng gia Anh và tàu ngầm gấp đôi Hải quân Pháp. Nhật có một lực lượng Hải quân được trang bị khả năng chống tàu ngầm vô địch châu Á. Việc chọn mua máy bay F35A của Nhật không phải là không tính toán. Khi cần F35A sẽ biến thành F35B và ngay lập tức Nhật sẽ có ngay 3 tàu sân bay tấn công dạng Hyuga. Và đặc biệt, kinh nghiệm cho một cuộc chiến tranh lớn trên biển thì người Nhật có thừa.

Bất kỳ một dân tộc nào khi bị chèn ép, đe dọa thì họ sẽ làm tất cả mọi thứ. Đã qua rồi thời người Nhật chỉ biết được che chở để yên ổn làm ăn. Ngày nay Nhật phải biết tự bảo vệ mình. Người Mỹ đời nào chịu đối đầu trực tiếp với Trung Quốc cho người Nhật có thể dùng tiền đổi mạng. Đã đến lúc Nhật phải xông lên tuyến đầu nếu như không muốn Trung Quốc thực hiện xong chiến lược chuỗi đảo thứ hai. Tướng Nga từng tuyên bố: Nếu cần, sau 20 phút, Nhật Bản sẽ đi tong. Trung Quốc cũng có thể tuyên bố với Nhật Bản đại loại như vậy nếu chiến lược chuỗi đảo thứ 2 của họ thành công.

Ngài Alex Pherguson có nói một câu nổi tiếng: “Phong độ thì nhất thời nhưng đẳng cấp thì mãi mãi”. Về đẳng cấp, so với Nhật Bản, Trung Quốc chưa là gì. Trong thế chiến thứ 2 Trung Quốc là cái gi? Trong khi Châu Á là Nhật Bản. Trân Châu Cảng gắn liền với tên tuổi Nhật Bản. Nhật Bản là như thế đó.

Trên thực tế đang diễn ra sự khôi phục sức mạnh hải quân của Nhật bản và có thể không phải nghi ngờ là người Nhật chẳng quên cái gì và chẳng sợ bất kỳ ai. Chẳng qua là họ đã thấu hiểu chuyện đời, họ hiểu cái giá phải trả là gì khi xưng hùng xưng bá. Nhưng, cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng. Họ không thể giấu mình, gác kiếm được nữa.

Trong tương lai gần chắc chắn không có sự đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ. Sách lược của Trung Quốc là luôn né tránh đối đầu với Mỹ. Vì thế Mỹ chưa phải là đối tượng tác chiến trực tiếp, nguy hiểm mà Trung Quốc xác định. Do đó những nước có tranh chấp trên biển với Trung Quốc như Nhật, Việt Nam, Philipin…được coi là đối tượng tác chiến. Nhưng Việt Nam, Philipin thì Trung Quốc coi như “con muỗi” thì Nhật Bản, Trung Quốc coi như cái gì? Trung quốc sẽ dùng chiến thuật “Giết gà dọa khỉ”, nhưng khi con khỉ đã thành “tinh” thì giết con gà là con Hổ thì nó vẫn không sợ huống chi đó chỉ là con cáo

Cựu cố vấn cấp cao Singapore Lý Quang Diệu từng nói: Chẳng lực lượng Hải quân châu Á nào có thể đọ nổi với Hải quân Nhật!. Đó là điều không sai và như vậy chắc chắn Nhật Bản là đối tượng tác chiến đáng gờm nhất mà Trung Quốc phải tính đến khi thực hiện “giấc mơ Trung Quốc” của mình.

@ Viet-Studies


Kinh hoàng heo siêu nạc – “Thần dược” là chất độc bị cấm!

Sau nhiều ngày thu thập chứng cứ ở các trại chăn nuôi và nơi cung cấp thuốc cho heo, PV TS đã mang “thần dược siêu tạo nạc” đi kiểm nghiệm. Kết quả cho thấy trong thuốc này có chất họ β- agonist – một loại chất độc cấm sử dụng trong chăn nuôi trên toàn thế giới.

Tại huyện Trảng Bom, Đồng Nai, sau khi nghe bà chủ cửa hàng Duy Hào quảng cáo “thần dược siêu tạo nạc” là thuốc kích thích tăng trưởng, hàng ngoại nhập; được lấy từ công ty ra cả bao 50 kg, sau đó phân ra bán lẻ cho người chăn nuôi, và “đây là loại thuốc mới dành cho heo, rất công dụng, lại hoàn toàn không độc hại”, PV Thanh Niên đã quyết định mua 1/2 kg với giá 250.000 đồng đem về trạm chẩn đoán xét nghiệm và điều trị, thuộc Chi cục Thú y TP.HCM, nhờ kiểm nghiệm làm rõ.

Sau 3 ngày gửi mẫu, chiều 28.2, bác sĩ Đặng Thị Hoàng Thẩm, Phó trưởng trạm đã chính thức ký thông báo kết quả kiểm nghiệm loại thuốc chúng tôi chuyển tới có chất họ β-agonist – một loại hoóc môn kích thích tăng trưởng – cấm sử dụng trong chăn nuôi.

Kinh hoang heo sieu nac Than duoc la chat doc bi cam

                                                                                                                                                                                                  Một con heo có hiện tượng sụm chân sớm

Tôi đã trực tiếp nghe những người nuôi heo cho biết, để chiều lòng các thương lái, để heo nhanh lớn, siêu nạc, dễ bán, họ thường dùng các chất clenbuterol và salbutamol. Hai chất này thuộc nhóm beta agonist có tác dụng làm giãn phế quản, được dùng làm thuốc chữa bệnh hen suyễn ở người
Bác sĩ Trần Văn Ký - Hội Khoa học kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm VN

Theo tài liệu khoa học, họ β-agonist gồm 2 nhóm. Nhóm β1-agonist: như Dobutamine, Isoproterenol, Xamoterol, Epinephrine… có tác dụng kích thích tim, được dùng để điều trị sốc tim, suy tim cấp tính. Nhóm β2-agonist: như Salbutamol (Albuterol), Clenbuterol, Epinephrine… làm giãn cơ, được dùng để điều trị hen suyễn, bệnh phổi mãn tính. Trong những chất kể trên thì Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine là ba chất đứng đầu trong danh mục 18 chất kháng sinh, hóa chất bị cấm sử dụng trong chăn nuôi ở VN và hầu hết các nước trên thế giới.

Ăn thịt siêu nạc bị loạn nhịp tim, run cơ, rối loạn tiêu hóa…

Trao đổi với PV, bác sĩ Trần Văn Ký, Hội Khoa học kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm VN, nói: “Tôi đã trực tiếp nghe những người nuôi heo cho biết, để chiều lòng các thương lái, để heo nhanh lớn, siêu nạc, dễ bán, họ thường dùng các chất clenbuterol và salbutamol. Hai chất này thuộc nhóm beta agonist có tác dụng làm giãn phế quản, được dùng làm thuốc chữa bệnh hen suyễn ở người. Tác dụng phụ của hai chất này làm cho heo nở nang, tăng trọng nhanh, nhất là tăng lượng nạc. Những chất này không khó mua, thậm chí có người đem đến bán tận nhà”.

Bác sĩ Ký phân tích, khi heo được cho ăn các chất trên thì sẽ siêu nạc, tiêu lượng mỡ, và nếu không bán nhanh thì heo sẽ chết. Do vậy, thường người ta chỉ cho dùng các chất trên khi heo gần đến ngày xuất chuồng. Nếu người tiêu dùng ăn thịt heo có tồn dư hai chất nói trên thì lâu dần sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng xấu lên tim mạch, làm cho tim đập nhanh, tăng huyết áp, run cơ, rối loạn tiêu hóa… và có thể là nguy cơ cho những căn bệnh khác.

Với thuốc salbutamol (dùng ở người), các chuyên gia khuyến cáo phải thận trọng khi dùng cho người đang có bệnh tim mạch như tăng huyết áp, bệnh tiểu đường và phụ nữ đang mang thai. “Gần 10 năm trước, người ta đã cảnh báo về việc tồn dư hai chất clenbuterol và salbutamol trong thịt của gia súc, gia cầm sẽ ảnh hưởng xấu cho người dùng. Do vậy, Mỹ, các nước châu Âu và VN cũng đã cấm dùng các chất thuộc nhóm beta agonist trong thức ăn chăn nuôi”, bác sĩ Ký nói.

Về nhận diện heo bị cho dùng chất “siêu nạc”, bác sĩ Ký phân tích, nếu để nguyên cả thịt lẫn da thì có thể nghi ngờ khi thấy miếng thịt có nạc thật nhiều lên đến tận da, lớp mỡ dưới da rất mỏng như tờ giấy (hoặc không thấy mỡ). Còn nếu lóc nạc riêng ra khỏi da thì khó nhận biết heo siêu

@Thanhnien


Quan chức thời nay

Thanh Quang, phóng viên RFA

Cách nay chưa lâu, khi lên tiếng với cử tri tại Saigòn hồi tháng 5 năm ngoái, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mạnh mẽ cảnh báo thẳng thừng rằng “ “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm.

Chủ tịch nước Trương Tấn SangNghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này !”
Một bầy sâu

Theo nhận xét của nhà thơ Nguyễn Duy Xuân qua bài “Quan chức thời nay”, được blog Quê Choa và nhiều mạng nhật ký khác phổ biến, thì ông Chủ tịch nước nói như thế chẳng phải ngẫu hứng khi “có lẽ chưa bao giờ hình ảnh quan chức lại rớt giá trong lòng dân như bây giờ”, khi trên mặt báo ngày càng xuất hiện “chân dung khái quát về quan chức ngày nay: Hối lộ, tham nhũng, hạch sách, đấu đá, ăn chơi…”. Hay nói cách khác,

“ Gương mặt méo mó của quan chức đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mặt báo” khiến nhà thơ Nguyễn Duy Xuân không khỏi thốt lên rằng “ Than ôi ! Quan chức thời nay”.

Nếu nhà thơ Nguyễn Duy Xuân có phản ứng bất an như vậy trước tâm trạng “thấy xấu hổ” vì “nhiều con sâu lắm” của Chủ tịch Trương Tấn Sang, thì blogger Huỳnh Ngọc Chênh không khỏi kêu “Anh Tư ới, anh Tư à!” cũng vì lời cảnh báo đó của “anh Tư” – tức Chủ tịch nứơc Trương Tấn Sang. có lẽ chưa bao giờ hình ảnh quan chức lại rớt giá trong lòng dân như bây giờ”, khi trên mặt báo ngày càng xuất hiện “chân dung khái quát về quan chức ngày nay: Hối lộ, tham nhũng, hạch sách, đấu đá, ăn chơi…

Các bị cáo trong vụ PMU 18.
Các bị cáo trong vụ PMU 18. RFA file

Qua bài “Độc thoại với anh Tư về bầy sâu”, blogger Huỳnh Ngọc Chênh kể lại rằng từ hồi nghe “anh Tư nói bầy sâu như trên”, tác giả mới “tò mò tìm lại những vụ lùm xùm trong quá khứ để xem chân dung của bầy sâu ấy ra sao và việc xử lý chúng như thế nào”. Nhưng rồi tác giả thất vọng. Tại sao ? Tại vì từ vụ PMU18 “nổi đình nổi đám với 1 bầy sâu bị bắt”, vụ đại lộ đông tây TP HCM, vụ tập đoàn Vinashin làm thất thoát nhiều tỷ đô la cho tới những vụ xảy ra gần đây “cở như Lèo cờ đánh bạc tiền tỷ, viện trưởng VKS huyện dẫn gái đi chơi thuyền” khiến một người đẹp chết chìm,  “chưa thấy đâu có sâu lớn bị bắt hoặc thấy có cả bầy sâu làm ‘chết’ đất nước này như anh Tư nói”.

Giữa lúc tác giả thắc mắc “ chẳng lẽ anh Tư vì quá bi quan mà nói sai?”, thì bỗng “có 1 bầy sâu to đùng xuất hiện…công khai trỗi dậy, bò lổn ngổn, kết bè với nhau tàn phá cả 1 vùng đất nước”. Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh giải thích:

Đó là bầy sâu mà đến hôm nay không cần nói ra nhưng ai cũng biết: Bầy sâu ở Hải Phòng. Từ những con sâu rất bé là bọn đầu gấu xã hội đen cướp giật tôm cá trong đầm anh em Đoàn Văn Vươn, ngăn cản hành hung báo chí vào đầm tìm hiểu. Tiếp theo là các con sâu cấp xã như Hoan, Liêm, rồi đến những con sâu to hơn ở cấp huyện như Nghĩa, Hiền, Khanh, Mải…Mới chừng ấy đã thấy một bầy rồi. Nhưng chưa hết, những con sâu cấp cao hơn vì muốn bao che, chống chế cho đàn em, dần dần lộ mặt.

Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT Vinashin. RFA file
Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT Vinashin. RFA file

Ban đầu là sâu Thoại, sâu Ca và mới đây nhất con sâu to nhất ở Hải Phòng lộ diện: Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành. Đến đây và đến hôm nay đã có một bầy sâu xuất hiện nguyên hình. Chúng cấu kết với nhau từ cấp xã hội đen lên cấp xã, cấp huyện rồi đến cấp thành… Lâu nay chúng đã ngang nhiên đục khoét, tàn phá địa phương này, gây hại người dân qua biết bao nhiêu vụ việc.  Bây giờ bị phát hiện chúng tiêp tục cọ quậy, tìm cách chống trả. Không biết bên trên còn con sâu nào nữa chống lưng cho chúng mà chúng chẳng tỏ ra chút nào sợ sệt.
“Anh Tư” còn chờ gì nữa

Tác giả hối thúc “anh Tư” là còn chờ gì nữa mà không nhanh chóng ra tay “xịt liền cho chúng một bình thuốc rầy”, vì càng để lâu chúng sẽ lây lan ra khắp nơi và không khéo dự báo của anh Tư  “ tất cả thành sâu hết” sẽ trở thành hiện thực thì đúng là “chết cái đất nước nầy”.
Trong khi Chủ tịch nước lo ngại “nhiều con sâu lắm”, thì nhà văn Trần Kỳ Trung nêu lên câu hỏi rằng “ Vì sao ở VN ‘quan’ xấu không từ chức?”. Theo nhận xét của tác giả thì không đâu sướng bằng làm quan ở nước ta: “Bổng lộc nhiều, được cống nạp dưới mọi hình thức”, rồi nhà văn Trần Kỳ Trung“ những quan đầu tỉnh trong cả nước ông nào cũng có biệt thự, ô tô riêng, con cái đi học nước ngoài…Nên chuyện vi phạm khuyết điểm buộc phải từ chức để mất ‘lộc’ là việc vô cùng khó, không thể có”. Nhất là trong bối cảnh các quan nằm trong lợi ích nhóm, liên kết ‘chằng chịt về quyền lợi” từ trung ương xuống địa phương nên họ bảo vệ nhau, cùng lắm “giơ cao đánh khẻ” , không để “bứt dây động rừng”.

Ông Huỳnh Ngọc Sĩ, nguyên phó giám đốc sở Giao thông vận tải TP.HCM - vụ hối lộ trong Dự án đại lộ Đông - Tây
Ông Huỳnh Ngọc Sĩ, nguyên phó giám đốc sở Giao thông vận tải TP.HCM – vụ hối lộ trong Dự án đại lộ Đông – Tây

Đó là chưa kể “có đủ ngàn cách bao biện, cãi chày cãi cối để tại vị”, viện dẫn tới “nghị quyết”, “chỉ thị”, “luật”, “thường vụ” để né trách nhiệm cá nhân. Một lý do nữa khiến “quan mình sướng” là “không chịu sự giám sát của nhân dân, rõ hơn là sự giám sát của Quốc Hội”. Nhà văn Trần Kỳ Trung cho biết thêm:

…Tất nhiên không phải tất cả, nhưng trong những người làm “quan” ở nước ta văn hóa nhân bản, thẩm thấu vào bản lĩnh con người rất kém. Kém từ cách ăn nói ( như bài phát biểu của ông Bí thư Thành ủy Hải Phòng trước hơn năm trăm cán bộ hưu trí ở Câu Lạc Bộ Bạch Đằng là một ví dụ) đến kém cả nhận thức, không thấy khuyết điểm, không thấy những hạn chế của mình. Đặc biệt rất kém về kiến thức quản lý, kiến thức lãnh đạo. Ăn nói ngạo mạng, kiêu căng, không coi dân ra gì, tự mình đứng trên tất cả, tự mình có thể “đưa đường, dẫn lối”, không cho ai phản biện lại.
Nghĩ như thế, làm sao mà “ từ chức”!  Một điều nguy hại nữa, những kẻ bất tài, suy đồi đạo đức mà làm “quan”, một cái “phao” họ bám khỏi “ chết đuối” là luôn nhân danh Đảng, Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa! Nếu dư luận báo chí phê phán thì rất dễ bị họ quy vào tội : “có các thế lực phản động đứng đằng sau kích động, phá hoại làm giảm uy tín Đảng nhằm chống phá chế độ…” giống y như bài nói chuyện của ông Trưởng ban tuyên giáo huyện Tiên Lãng trước ba trăm cán bộ cốt
cán Đảng viên khi ông ta giải thích vụ cưỡng chế đất đai của anh Đoàn Văn Vươn.
Trở lại bài “Quan chức thời nay”, tác giả Nguyễn Duy Xuân nhắc lại câu nói của các cụ ta ngày xưa rằng “quan nhất thời, dân vạn đại”, bởi “quan chức thì gắn liền với chế độ, còn dân thì gắn liền với quốc gia, dân tộc”,

Vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng - Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành. RFA file
Vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng – Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành. RFA file

nên dân lâu dài, còn quan cùng chế độ chỉ nhất thời mà thôi – một đặc trưng văn hoá, thể hiện tinh thần dân chủ ngay trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Đó là chưa kể, theo nhà thơ Nguyễn Duy Xuân, các cụ xưa xem chuyện treo ấn từ quan “nhẹ tựa lông hồng”, “thà vui thú điền viên mà giữ được thanh sạch còn hơn làm quan ô trọc”. Đó là lý do các đại thần Nguyễn Trải, Nguyễn Khuyến “treo ấn từ quan”, thậm chí vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng để nương náu chốn thiền môn sau 2 lần đại phá Nguyên Mông, khiến các vị tiền nhân ấy lưu danh muôn thuở. Còn bây giờ thì sao ? Nhà thơ Nguyễn Duy Xuân nhận thấy:

Người ta bảo hậu sinh khả úy. Đúng thật ! Con cháu bây giờ vượt xa tiền nhân nhiều. Cái câu “quan nhất thời dân vạn đại” xem ra không còn hợp thời nữa rồi. Vị thế quan-dân ngày nay đã đảo chiều cho nên câu nói ấy phải sửa lại, thành ra “dân nhất thời, quan vạn đại” ?…

Cho nên đánh giá lại một đời làm “công bộc” dân của các quan, thành tích to nhất là lo giữ ghế và giành ghế, không phải bằng năng lực, đức độ mà bằng…tiền và vân vân… Than ôi ! Quan chức thời nay !

Nhắc tới quan chức thời nay, giới bloggers trong mấy ngày nay đề cập tới “đảng Hải Phòng” cùng tình trạng “cát cứ quyền lực” ở địa phương này sau khi tạo ra “biến cố Đoàn Văn Vươn” khiến các nạn nhân bị lâm vào bước đường cùng.

Giữa lúc công luận trong và ngoài nước nôn nóng theo dõi sát xem biến cố ấy – từ gia đình nạn nhân Đoàn Văn Vươn cho tới “bầy sâu ở Hải Phòng” – nói theo lời blogger Huỳnh Ngọc Chênh – đi về đâu, thì tác giả Đồ Lão sáng tác “Tiên Lãng Huyện Sử Diễn Ca” được xem như một “kiệt tác”, khiến vô số ý kiến xem Đồ Lão như một “Tiểu Nguyễn Du”, “Dễ sau Đồ Chiểu nay mới có Đồ Lão”, giúp “hậu thế biết được XHVN có một thời nhiễu nhương tao loạn như thế ở Tiên Lãng”, “đánh dấu 1 thời lịch sử bi hài của dân tộc”…