Các loài chim di thú vị nhất thế giới

Họ Chim di (Estrilidae) gồm những loài chim nhỏ có hình dạng mỏ phù hợp cho việc ăn hạt, thường có màu sặc sỡ, tính bầy đàn cao, phân bố ở khu vực nhiệt đới Á – Phi – Astralia.

Ảnh: eBird.

Chim di vằn (Taeniopygia guttata) dài 10 cm, là loài chim bản địa ở các vùng khí hậu khô của Australia. Sinh trưởng tốt trong môi trường nhân tạo, chúng đã trở thành một loài chim cảnh phổ biến trên thế giới.

Sẻ Java (Lonchura oryzivora) dài 16 cm, có nguồn gốc từ đảo Bali và Java, Indonesia. Dù được nuôi làm cảnh ở nhiều nơi, loài chim này đang rơi vào tình trạng nguy cấp trong thiên nhiên do tình trạng săn bắt quá độ và bị nông dân tiêu diệt để bảo vệ mùa màng.

Chim mai hoa lam tía (Uraeginthus ianthinogaster) dài 14 cm, phân bố ở Đông Phi. Loài chim ưa sống trong rừng khô này thuộc một chi gồm những loài chim di có màu lam ấn tượng.

Chim di bụng đốm lưng xanh (Mandingoa nitidula) dài 10 cm, phân bố từ miền Tây đến miền Nam Java. Loài chim cư trú ở các bụi cây này có lối sống kín đáo, khó bắt gặp hơn các loài chim di khác.

Chim mai hoa gợn sóng (Estrilda astrild) dài 10 cm, phổ biến toàn châu Phi. Cũng như các họ hàng trong chi Estrilda, loài chim này sống thành đàn, hoạt động không ngừng nghỉ ở các vùng đất trống, chuyên ăn hạt cỏ.

Chim di bụng vảy cánh xanh (Pytilia melba) dài 12 cm, phân bố ở châu Phi. Con trống ở loài chim này có màu sắc rực rỡ hơn chim mái. Chúng thường bị chim chàm thiên đường (Vidua paradisaea) ký sinh tổ.

Chùm ảnh: Điểm danh các loài chim di thú vị nhất thế giới

Chim di xanh họng đỏ (Erythrura psittacea) dài 12 cm, phân bố từ Đông Nam Á đến các đảo Thái Bình Dương. Môi trường sống ưa thích của loài chim có màu sắc nổi bật này là các đồng cỏ.

Chim di ngũ sắc (Erythrura gouldiae) dài 14 cm, phân bố ở miền Bắc Australia. Loài chim  màu sắc rực rỡ, đang nguy cấp này có lối sống du cư. Chim trống có mặt màu đỏ hoặc màu đen.

Chi di họng đỏ (Amadina fasciata) dài 12 cm, phổ biến ở các khu rừng khô châu Phi. Con trống của loài chim này có mảng màu đỏ như máu dưới cổ. Chúng thường xuất hiện gần khu dân cư.

Chim di đá (Lonchura punctulata) dài 12 cm, phổ biến ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Chim trống và chim mái của loài này rất khó phân biệt do giống nhau về hình thái bên ngoài.

Theo TRI THỨC & CUỘC SỐNG 

Lịch sử văn hóa hình xăm: Có nơi xăm hình tôn vinh phụ nữ, nơi thì phủ mực lên người để tránh nóng

Hình xăm (tattoos) đang trở nên phổ biến, ngay cả những nước phương Đông với tư tưởng truyền thống kín đáo cũng đang dần tiếp nhận loại hình nghệ thuật này một cách rộng rãi. Thế nhưng ít ai biết được hình xăm có vị trí đặc biệt trong lịch sử.

Liệu hình xăm có còn là điều cấm kỵ ở Olympic?

Hình xăm được coi là một trong những khía cạnh được quan tâm trước khi đại dịch Covid-19 thay đổi mạnh mẽ câu chuyện của Thế vận hội. Liệu khi không có khán giả hoặc khách du lịch quốc tế ở Nhật Bản, các VĐV mang hình xăm, mà điều này vốn bị cấm kỵ trong văn hóa Nhật Bản hiện đại, có gây sự chú ý một cách tiêu cực?

Trong một số nền văn hóa, xăm hình lên người bị nghiêm cấm.
Trong một số nền văn hóa, xăm hình lên người bị nghiêm cấm.

Trong một số nền văn hóa, xăm hình lên người bị nghiêm cấm. Song ở nhiều văn hóa khác, chúng là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ thiêng liêng và để ghi lại dấu ấn những sự kiện đặc biệt trong cuộc đời.

Văn hóa xăm hình hiện đại của Mỹ có thể bắt nguồn từ những năm 1700, nhưng việc xăm hình lên cơ thể nói chung có từ xa hơn rất nhiều – khoảng năm 3300 TCN.

Mặc dù xu hướng hình xăm phổ biến ngày nay bao gồm vô vàn kiểu dáng và thiết kế khác nhau, nhiều người có thể xăm một hay nhiều hình lên cơ thể với ý nghĩa của riêng họ, một số người xăm hình chỉ mang tính chất “chạy theo trào lưu” hoặc “chỉ vì thấy đẹp” chứ không có bất kỳ ý nghĩa nào.

Nhưng hình xăm truyền thống của các dân tộc cổ đại trên khắp Polynesia, Nhật Bản, Ai Cập và Ấn Độ chứa đựng ý nghĩa văn hóa xã hội và tâm linh sâu sắc.

Hình xăm là một cách thể hiện địa vị, đề cao truyền thống, tôn vinh các hình tượng tôn giáo và kể chuyện.

Cuốn sách “Tattooed Skin and Health” của Lars Krutak có thể hiện: “Trong nhiều xã hội cổ, không phải ai cũng có thể tùy tiện xăm hình cho người khác. Quá trình thực tế thường được thực hiện bởi những người cầm đầu, có chức vụ đặc thù trong cộng đồng”.

Trong cuốn sách “The History of Tattoos and Body Modification”, tác giả Nicholas Faulkner và Diane Bailey đã viết: “Xăm hình lên cơ thể không chỉ là một tập tục cổ xưa, mà còn phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Các bằng chứng về việc xăm hình được tìm thấy ở tất cả các nền văn hóa trên thế giới. Bên cạnh việc nhiều người xăm hình với những lý do không giống nhau, họ làm điều này để kết nối với cộng đồng và thế giới bằng cách nào đó”.

Lịch sử hình xăm trong những nền văn hóa cổ đại Bắc Mỹ

Văn hóa xăm hình của người Alaska cổ, Inuit và Métis có niên đại ít nhất hơn 3.000 năm.
Văn hóa xăm hình của người Alaska cổ, Inuit và Métis có niên đại ít nhất hơn 3.000 năm. (Ảnh minh họa).

Các khu vực của Alaska và Canada có nhiều nền văn hóa và lịch sử cổ đại bao gồm hình xăm thuộc nhiều loại khác nhau, cụ thể là hình xăm trên khuôn mặt. Văn hóa xăm hình của người Alaska cổ, Inuit và Métis có niên đại ít nhất hơn 3.000 năm.

Bằng chứng được phát hiện cho thấy những họa tiết hình xăm thể hiện trên khuôn mặt phụ nữ. Tục xăm mặt này đã biến mất một thời gian ngắn vào khoảng cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900 vì bị thực dân châu Âu nghiêm cấm, nhưng sau đó đã được phục hồi.

Những thiết kế hình xăm ở các khu vực này thường có dạng hình học, dấu chấm và đường thẳng. Chúng được xăm lên người vào những dịp đặc biệt. Holly Mititquq Nordlum, nghệ nhân xăm hình gốc Iñupiaq, đã nói với POPSUGAR rằng: “Chúng là những thành tựu cá nhân và là dấu ấn của cuộc đời một người phụ nữ”.

Lịch sử hình xăm ở Polynesia


Hình xăm Maori nổi bật bởi thẩm mỹ cao.

Polynesia được hình thành từ một nhóm đa dạng các dân tộc bản địa sinh sống trên hơn 1.000 hòn đảo ở Đông và Nam Thái Bình Dương. Khu vực này kéo dài từ New Zealand đến quần đảo Hawaii và đảo Phục sinh. Tuy nhiên, vào thế kỷ 21, “khoảng 70% tổng dân số Polynesia cư trú ở Hawaii”. Dân cư Polynesia có những nét tương đồng về nền văn hoá, ngôn ngữ và tín ngưỡng.

Theo thạc sĩ khảo cổ học Arthur Grainger chia sẻ với tạp chí The Collector, xăm hình ở Polynesia là một phong tục có từ 2.000 năm trước, bao gồm 5 phong cách chính: Maori, Samoan, Marquesan, Hawaii và Tahitian. Nhưng mỗi vùng ở Polynesia lại có những tập tục riêng biệt.

Theo truyền thống, những hình xăm này là thiết kế hình học bằng mực đen và thể hiện mọi thứ từ thứ bậc xã hội cho đến niềm tin tâm linh.

Krutak cho biết: “Xăm hình chiến binh trong truyền thống văn hóa là được trao tặng từ chiến tích hay công trạng nào đó, chứ không phải tự nhiên mà có, phổ biến khắp châu Á, châu Phi, Melanesia, Nam Mỹ và Polynesia”.

Hình xăm Maori nổi bật bởi thẩm mỹ cao với các đường nét mảnh hơn và hình xoắn ốc phức tạp. Hình xăm Marquesan có những hình khối mực đen lớn. Hình xăm Samoan có thiết kế lặp đi lặp lại và đối xứng. Hình xăm Tahitian thiên về chủ nghĩa tự nhiên, có các đường nét và hình dạng tròn trịa hơn. Hình xăm Hawaii truyền thống có các hình học lặp đi lặp lại như hình tam giác, sóng, mũi tên và hình chữ nhật.

Lịch sử hình xăm ở Ai Cập

Lục địa châu Phi sở hữu lịch sử về hình xăm vô cùng phong phú.

Xác ướp Ai Cập là những minh chứng sớm nhất về hình xăm trên người có niên đại khoảng năm 3932 đến 3030 TCN.

Hình xăm truyền thống ở Ai Cập cổ đại thường bao gồm chữ tượng hình, là hình thức giao tiếp chính của người Ai Cập vào thời điểm đó. Điều thú vị là, trái ngược với một số nền văn hóa khác vốn dùng hình xăm cho nam chiến binh, hình vẽ cổ đại được tìm thấy chủ yếu cho thấy phụ nữ Ai Cập có hình xăm nhiều hơn nam giới.

Joann Fletcher, nhà nghiên cứu khoa khảo cổ học tại Đại học York ở Anh, chia sẻ với tạp chí Smithsonian: “Hầu hết các hình xăm trên xác ướp chủ yếu là các nét chấm và hoa văn kim cương, đôi khi còn có hình ảnh tự nhiên như động vật, cây cỏ”.

Hình xăm truyền thống ở Ai Cập cổ đại thường bao gồm chữ tượng hình
Hình xăm truyền thống ở Ai Cập cổ đại thường bao gồm chữ tượng hình.

Thần Bes
Vị thần hộ mệnh Ai Cập cổ đại – Bes

Faulkner và Bailey cho biết: “Trong số những bằng chứng đầu tiên về hình xăm bằng hình ảnh là hình dáng của vị thần hộ mệnh Ai Cập cổ đại – Bes”.

Bes (hay còn được gọi là Bisu hoặc Aha) là một vị thần lùn trong tôn giáo Ai Cập cổ đại. Ông vừa là thần chiến tranh, bảo trợ các pharaoh ra trận, vừa là thần sinh đẻ, tình dục và có liên quan đến âm nhạc và vũ hội. Các thiết kế chủ yếu được thực hiện bằng mực đen.

Lịch sử hình xăm ở Nhật Bản

Cho đến hiện tại, sự kỳ thị đối với hình xăm vẫn còn tồn tại.
Cho đến hiện tại, sự kỳ thị đối với hình xăm vẫn còn tồn tại.

Văn hóa hình xăm ở Nhật Bản phát triển không nhanh bằng những khu vực khác nhưng đã có từ rất sớm. Song, xăm hình vẫn bị nhiều người xem là điều cấm kỵ. Điều này xuất phát từ việc hình xăm từ lâu đã được gắn liền với tội phạm có tổ chức, băng nhóm xã hội đen ở đất nước mặt trời mọc.

Vào những năm 1600, chính phủ Nhật Bản bắt đầu xăm hình lên cơ thể của những tên tội phạm với dấu hiệu vĩnh viễn được gọi là “bokkei”, xem như là một loại hình phạt. Cách thức này được duy trì cho đến những năm 1800, sau đó việc xăm hình lên người không còn là cách thức “độc quyền” của chính phủ, mà dần trở thành phong cách nghệ thuật do ảnh hưởng bởi văn hóa du nhập vào Nhật Bản.

Cho đến hiện tại, sự kỳ thị đối với hình xăm vẫn còn tồn tại. Một số khu vực, dịch vụ ở Nhật Bản thậm chí còn đặt biển cấm hoặc không cho phép người có hình xăm tiếp cận.

Giờ đây, các hình xăm truyền thống của Nhật Bản được gọi là “Irezumi”, được dịch là “chèn mực”, thường có hình thực vật, động vật và các sinh vật thần thoại như rồng, cá koi, hổ…

Lịch sử hình xăm ở Ấn Độ

Ấn Độ sở hữu lịch sử hình xăm vô cùng rộng lớn và phức tạp, bao gồm các bộ tộc khác nhau trong hàng nghìn năm.

Nói đến Ấn Độ, chúng ta thường nghĩ ngay đến nghệ thuật vẽ hình trên cơ thể – henna. Mặc dù không được xem là xăm, nhưng hình thức nghệ thuật cơ thể này được biết đến rộng rãi nhất và liên quan đến việc nhuộm da tạm thời bằng thuốc nhuộm màu đỏ hoặc màu đất sét.

Henna đã trải qua quá trình phát triển khá mạnh mẽ ở Ấn Độ. Các thiết kế được thể hiện bằng nghệ thuật henna đa phần tượng trưng cho tình yêu, may mắn và thịnh vượng. Đó là lý do tại sao người Ấn Độ thường vẽ henna trên tay của các cô dâu trong lễ cưới.

Người Ấn Độ thường vẽ henna trên tay của các cô dâu trong lễ cưới.
Người Ấn Độ thường vẽ henna trên tay của các cô dâu trong lễ cưới.

Tuy nhiên, đó không phải là mục đích chính của henna. Nghệ thuật Henna được gọi là mehndi trong tiếng Hindi và Urdu, đã được phổ biến ở Pakistan, Ấn Độ, châu Phi và Trung Đông trong hơn 5000 năm. Ban đầu nghệ thuật này được sử dụng để làm mát tự nhiên cho người sống ở vùng khí hậu sa mạc nóng bức”, theo một bài báo từ Đại học St. Thomas.

Tóm lại, đây chỉ là sự khởi đầu của lịch sử hình xăm đa dạng trên toàn cầu. Quá khứ thịnh vượng của mỗi nền văn hóa đã góp phần ảnh hưởng đến văn hóa xăm hình như chúng ta biết ngày nay.

Theo Thể thao-Văn hóa

10 điều phải buông bỏ nếu muốn có một cuộc sống viên mãn

Người xưa có câu: “Cầm lên được, hạ xuống được”. Có những điều, học được cách buông bỏ là tự cho mình cơ hội để được sống hạnh phúc, thấy cuộc đời ý nghĩa.

10 điều phải buông bỏ nếu muốn có một cuộc sống viên mãn

Hạnh phúc của đời người được xây dựng trên nền tảng bình an và tự tại. Hạnh phúc là ước mơ mà cả đời con người hướng đến.

Thế nhưng, càng lăn lộn, càng tranh đấu để có được hạnh phúc, thì hạnh phúc càng xa tầm tay con người. Có rất nhiều người giàu sang, đạt được những gì mình mong muốn nhưng vẫn không cảm nhận được hạnh phúc. Bởi họ luôn gặp phải căng thẳng, đấu tranh để giữ vững những gì mà mình đang có. Sân si càng nhiều thì lòng người càng không tịnh.

Vì thế, có những thứ nhất định phải buông thì cuộc đời mới an nhàn, phú quý.

Buông bỏ oán giận

Oán giận sẽ làm giảm nhân cách, làm giảm nhiệt huyết và tiêu diệt ý chí của con người. Đời người sẽ không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, có bầu trời trong xanh, cũng sẽ có bầu trời u ám đầy mây, có thuận cảnh cũng có nghịch cảnh. Bất kể điều gì không hài lòng thì đều là một loại khảo nghiệm, thử thách, một cách tôi luyện. Oán giận không thể giải quyết được vấn đề, chỉ làm tăng thêm phiền não mà thôi. Thay vì oán giận chi bằng hãy thay đổi!

Buông bỏ quá khứ

Chúng ta biết điều đó là rất khó khăn, đặc biệt là khi quá khứ dường như tốt hơn nhiều so với hiện tại và tương lai lại có vẻ đáng sợ. Thế nhưng, hãy suy nghĩ, hiện tại là tất cả những gì mà bạn có và nó chỉ tồn tại duy nhất một lần. Bạn mơ ước khao khát quá khứ trong khi bỏ qua hiện tại của chính mình. Bạn hãy ý thực được mọi việc mình đang làm và hãy tận hưởng cuộc sống, bởi vì cuộc sống là một hành trình mà không phải là một điểm đến. Sẽ rất tốt nếu bạn có một tầm nhìn rõ ràng về tương lai và bạn chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó, nhưng luôn luôn hãy là chính mình ở đây và ngay bây giờ.

Buông bỏ lo âu thường nhật

Đây chính là một trong những lý do ngăn cản bạn chạm tay vào hạnh phúc.

Buông bỏ tự ngã

Phàm là những người luôn lấy mình làm trung tâm thì là người ích kỷ. Những điều họ muốn đều là vì bản thân họ, không bận tâm đến cảm nhận của những người khác. Họ luôn cảm thấy bản thân mình là đúng, không muốn nghe người khác góp ý. Hãy buông bỏ tự ngã, buông bỏ tư thái, đứng vào vị trí của người khác, hoán đổi suy nghĩ, bạn sẽ nhận thấy rằng tâm của bạn càng ngày càng lớn, con đường đời càng ngày càng rộng mở.

Buông bỏ việc sống theo mong đợi người khác

Nhiều người sống cuộc sống của mình theo những gì người khác nghĩ là tốt nhất cho họ, mà bỏ qua những mong muốn thật sự của bản thân. Họ cố gắng sống theo sự mong đợi của người khác chỉ để làm hài lòng những người này, họ tự đánh mất bản thân mình và cũng không kiểm soát được cuộc sống của mình. Bạn có một cuộc đời, bạn phải sống cuộc đời của mình, đừng để cho những ý kiến của người khác lôi kéo bạn khỏi đường đời của mình.

Buông bỏ đố kỵ, ghen ghét

Đố kỵ, ghen ghét là một loại độc dược có thể khiến con người đánh mất bản tâm của mình, thậm chí rồn con người đến chỗ chết. Chứng kiến người khác sống tốt thì liền nghĩ “xem họ sống tốt được đến lúc nào?”, nhìn thấy người khác xuất sắc thì ở đằng sau nói xấu, thậm chí âm thầm hãm hại. Đố kỵ sẽ gặm nhấm dần bản tính của một người khiến người đó trong đầu tràn ngập ác niệm, trong nội tâm không an định, người khác cũng thời khắc đề phòng, lánh xa. Kỳ thực, mỗi người đều có con đường của riêng mình, không cần phải ghen ghét đố kỵ, cũng không cần phải “ao ước thèm muốn” được như họ, cố gắng làm tốt bổn phận của mình thì những gì nên được có sẽ có.

Buông bỏ sợ hãi vô hình

Loại bỏ cảm giác sợ hãi những thứ vô hình, như kiểu sợ tai nạn giao thông, sợ những sự cố khi đi chơi xa.. Hãy bỏ hết đi những ý nghĩ ấy là thực sự sống một cách tự do, duy ý chí.

Buông bỏ dục vọng, tham niệm

Con người thường sẽ có rất nhiều dục vọng, tham niệm. Tham của cải tiền tài, ham mê sắc dục, cái đẹp, ham hưởng thụ, thậm chí ngày ngay người ta còn mong muốn được nhận nhiều của cải phi nghĩa khiến đạo đức ngày càng tiêu vong. Người có nhiều tham niệm thì trong lòng sẽ bất an. Người xưa nói: “Tâm túc tắc vật thường hữu dư, tâm tham tắc vật thường bất túc.” Chỉ khi biết đủ, thì con người mới sống được hạnh phúc, mới cảm nhận được vẻ đẹp của vạn vật trong cuộc đời!

Buông bỏ so sánh trong tâm

Loại bỏ đi suy nghĩ những người khác luôn hạnh phúc hơn, giàu có hơn, thành đạt hơn bạn. Mỗi người có một lối đi riêng, không việc gì bạn phải so sánh mình với những người không cùng chí hướng.

Buông bỏ tiêu cực

Người có tư tưởng bi quan thì tinh thần sẽ sa sút, nhìn vấn đề sẽ luôn nhìn thấy mặt không tốt, nghĩ sự việc gì cũng nghĩ đến mặt không thành công, thường tự cảm thấy bản thân không bằng người khác. Người xưa có câu rằng, ông trời sinh ra ai thì người đó tất sẽ có hữu dụng. Mỗi người đều có ưu điểm nổi trội của riêng mình. Phát huy ưu điểm của bản thân, thực sự đặt tâm vào làm những việc mình có khả năng, sau một thời gian sẽ có thể thành công!

Theo KHỎE & ĐẸP

Một cái nhìn về 20 thói hư tật xấu của người Việt Nam

Dân tộc nào cũng có cái hay, cái đẹp nhưng cũng có những cái xấu, cái chưa hợp lý… Vấn đề quan trọng là biết hư thì sửa, biết xấu thì làm cho đỡ xấu và tiến tới làm cho đẹp hơn.

Một cái nhìn về 20 thói hư tật xấu của người Việt Nam

Người nước ngoài nhìn ta

1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.

2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.

3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).

4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.

5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê)

6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền.

7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).

8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.

9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục.

10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (Cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng).

Ta tự nhìn ta

1. “Giờ cao su”: Nhìn chung, ý thức giờ giấc của người Việt Nam rất kém. Nhiều bạn đi du học ở các nước phát triển lúc đầu rất hay bị bỡ ngỡ. Họ dễ bị trễ tàu, lỗi hẹn nhưng dần dần họ cũng khắc phục được. Ðến khi về nước họ lại khó chịu với “giờ cao su” của chúng ta.

2. Thiếu tự tin và óc phê phán: Ðây cũng là nhược điểm của văn hoá phương Ðông có lối sống khép kín. Nhiều bạn sinh viên năm thứ ba, thứ tư Ðại học mà vẫn ngại phát biểu ý kiến hoặc trình bày vấn đề trước đám đông vì thiếu tự tin, thiếu thói quen suy nghĩ, đi học chỉ biết “chép chính tả”. Kiểu giáo dục thụ động luôn tỉ lệ thuận với sức ì của tư duy và tỉ lệ nghịch với óc phê phán (critical thinking) của thanh niên.

3. Bệnh hình thức: Có bạn trong cơ quan hay công ty mình làm việc đang chẳng đâu vào đâu thì lại đi học master. Có bạn tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được việc làm cũng đi học master. Tư duy nặng về “điểm chác”, bằng cấp rất phổ biến. Không xác định tư tưởng học để làm việc mà học để lấy bằng. Người Mỹ có quan điểm: to learn is to change. Còn chúng ta ra sức theo học rất nhiều lớp học nhưng rốt cuộc cách làm việc không thay đổi gì cả, điều khác là chúng ta có thêm mấy cái bằng bổ sung vào hồ sơ cá nhân.

4. Không tiết kiệm: hay tâm lí thích tiêu xài phung phí. Ðây là virus đang rất phổ biến và rất dễ lây lan trong giới trẻ. Họ quan tâm đặc biệt đến quảng cáo, thích xem các loại tem nhãn quần áo, nhận xét, đánh giá người khác qua tài sản, thấy thèm muốn, thán phục nếu ai đó có nhiều quần áo, xe, điện thoại, nhà…”xịn” hoặc tiêu xài sang hơn mình. Chúng ta đang tiêu dùng nhiều hơn chúng ta kiếm được.

5. Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể: Nói chung trong những người bình thường, chúng ta thường hay đùn đẩy trách nhiệm, bất kỳ việc gì chuyển được sang cho người khác cũng đều thấy nhẹ cả người. Khi xảy ra sai phạm đó sẽ là lỗi chung của cả tập thể chứ không của riêng cá nhân nào. “Sẵn sàng” nhận cả “phần” không phải của mình…

6. Thể lực kém: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế độ dinh dưỡng, chương trình học quá tải, học lệch, tâm lí lười vận động… Và hậu quả là khi làm việc với các đồng nghiệp nước ngoài, mặc dù rất cố gắng nhưng người Việt trẻ vẫn rất hay bị hụt hơi và cảm thấy khó có thể theo được cường độ làm việc của họ.

7. Thiếu thực tế: Ông Kim Woo Choong – Chủ tịch Công ty Deawoo viết: “tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ… lịch sử thuộc về những người biết ước mơ”. Nhưng đó là những ước mơ hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Chúng ta thường hay suy nghĩ viển vông, thiếu suy nghĩ thực tế và chưa có suy nghĩ học là để làm việc.

8. Tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế. Thế kỷ 21 là thế kỷ làm việc theo nhóm vì tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ngay cả văn học và nghệ thuật, một cá nhân cũng không thể đảm đương được. Mạnh ai nấy sống…

9. Tác phong công nghiệp: Ðây là điểm rất quan trọng, có thể bao hàm một vài điểm đã nêu trước. Một nhà xã hội học Mỹ nói về nguồn gốc của cách làm việc tiểu nông như sau: “Anh nông dân sau khi gieo lúa xong có thể nhậu lai rai, ngủ dài dài và chờ đến thời điểm nhổ cỏ, bón phân mới làm tiếp. Mà việc này có làm muộn vài ngày cũng chẳng sao, không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới. Nhưng một người công nhân đứng máy luôn luôn phải đúng giờ, có thao tác chính xác tuyệt đối và tinh thần kỷ luật cao. Một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tác hại đến cả dây chuyền.”

10. Thích đi trên lối đi có sẵn – Lối mòn, không thích tự mình mở ra một lối đi mới cho riêng mình.

S.T / Red VN

Nhận diện hiện tượng ‘tham nhũng tinh thần’ ở Việt Nam

Tham nhũng tinh thần đã trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” ở Việt Nam, hủy hoại nhân cách con người.

Nhận diện ‘tham nhũng tinh thần’ ở Việt Nam

Lâu nay khi nhắc tới tham nhũng, người ta sẽ nghĩ ngay tới việc lạm dụng chức quyền lấy của công, của nhân dân (thiên về vật chất). Nhưng có lẽ khi xã hội hiện đại hơn, tham nhũng sẽ “đa phương diện hơn”.

Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế chưa phát triển, quản lý kinh tế, xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.

Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Tuy hình thức của tham nhũng là khác nhau, nhưng bản chất tham nhũng thì giống nhau.

Ở Việt Nam, theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, tính nan giải, khó trị của tham nhũng được lý giải từ sự yếu kém của thể chế, tính nửa vời trong chỉ đạo thực hiện và sự thoái hóa của không ít quan chức, công chức trong bộ máy, thậm chí tham nhũng có cả trong hoạt động tư pháp, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tình trạng pháp luật có, pháp chế cũng có nhưng pháp trị thì không hoặc yếu kém và hình thức, là một thực tế phổ biến hiện nay ở Việt Nam.

Tham nhũng trên đây có thể nói đó là hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít.

Tuy nhiên, những năm gần đây, một loại tham nhũng mới xuất hiện, đó là tham nhũng tinh thần. Tham nhũng tinh thần trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia khác trên thế giới.

Có thể chia tham nhũng tinh thần thành tham nhũng thế tục và tham nhũng tâm linh. Tham nhũng thế tục là tham nhũng sử dụng những cái không thuộc về mình (giả bằng cấp, đạo văn, ăn cướp ý tưởng…) thành cái của mình. Tham nhũng tâm linh là tham nhũng lợi dụng những yếu tố tâm linh để phục vụ mục đích riêng của mình hay có thể nói đơn giản hơn là “vụ lợi tâm linh”.

Ở Việt Nam loại tham nhũng này chưa được gọi là tham nhũng, nhưng trên thực tế nó ăn sâu vào đời sống, tư duy của một số cá nhân, đôi khi nó trở thành phong trào làm biến đổi giá trị truyền thống, tạo ra những thứ vô giá trị nhưng được một số người chấp nhận và đề cao nó. Đây là loại tham nhũng làm hủy hoại dần nhân cách con người, làm mục ruỗng xã hội. Khi nhân cách con người hết, nghĩa là con người đó cũng sẽ chết.

Thật dễ hiểu khi có cả những quan chức cao cấp đại diện cho cả địa phương lớn, một lĩnh vực lớn rất “vô tư” dùng bằng cấp giả, không chỉ bằng đại học mà cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Còn chuyện đạo văn, “vô tình, không cố ý” tham khảo đôi chút về ý tưởng, đoạn văn, thậm chỉ cả luận văn, luận án cũng đã trở thành việc không phải hiếm, nếu như không muốn nói là tràn lan.

Nên thế không phải ngẫu nhiên người ta nói “thạc sĩ, tiến sĩ trở thành mác làm sang, làm đẹp lý lịch khi thăng quan tiến chức”. Với lý do đó, chẳng hơi đâu mà học. Tiền mua được cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Những người “chủ” thực sự của những tấm bằng đó mặc dù có đôi chút ngậm ngùi, nhưng cũng tạm vừa lòng với số tiền hoặc được lợi ích nào đó (thăng chức…). Rõ ràng kiểu tham nhũng này được thỏa thuận, luật pháp cũng khó lòng xử lý.

Ở loại tham nhũng này còn được thể hiện ở chỗ đối tượng này không thừa nhận năng lực thật, giá trị thật, thậm chí phủ nhận sạch trơn năng lực và giá trị thật của đối tượng khác. Không ít người đã bị hủy hoại cả cuộc đời, đau đớn hơn là không thể tự hiểu mình là ai, nghi ngờ chính bản thân. Năng lực của họ, giá trị của họ bị những người phủ nhận tùng xẻo mỗi ngày một ít, vừa đau đớn, vừa muốn tồn tại, nhưng không được tồn tại, tồn tại nhưng trở nên vô nghĩa.

Đó có thể tạm gọi là kiểu tham nhũng thế tục. Còn tham nhũng tâm linh có thể nói là loại tham nhũng vô cùng phức tạp, bởi nó động chạm tới tinh thần, sự tự trọng, lương tâm của mỗi cá nhân. Tâm linh có sức ảnh hưởng tự nhiên, nó lan đi rất nhanh chóng.

Nhà nước ta luôn coi trọng tới việc phát triển hệ thống tôn giáo, xây dựng lòng tin lành mạnh cho toàn xã hội. Tuy nhiên, một số quan chức đã lợi dụng việc này, biến nó trở thành cái riêng của mình. Họ dùng tiền “công đức” xây dựng chùa, nhà thờ, làm từ thiện…mong muốn “thế lực vô hình” tạo ra sức mạnh, mang lại may mắn cho họ về công danh và tiền bạc.

Tham nhũng tâm linh thường được dùng đối với những người có chức, quyền, có nhiều tiền lợi dụng tôn giáo, dùng tôn giáo thực hiện mục đích của mình. Mục đích đó có thể là mong muốn thần linh, thế lực siêu nhiên “phù hộ độ trì” để thăng quan tiến chức, kiếm nhiều tiền, mong cho những người mình “ghét” bị “trời tru đất diệt”.

Trên thực tế chúng ta khó có thể định nghĩa rõ thế nào là tham nhũng tâm linh bởi nó là thứ không hiện hữu, mà tồn tại ngay chính trong tư duy của mỗi cá nhân mà chúng ta không kiểm soát được. Chính vì vậy loại tham nhũng này phát triển rất dễ dàng, khó có thể ngăn chặn.

Loại tham nhũng này không chỉ những quan chức có tiền mới tham nhũng mà ngay cả những người “kiết xác”, lợi dụng lòng tin của người khác kiếm tiền rất dễ dàng. Thế mới có chuyện tưởng xương lợn là xương người đem về nhà cúng, một kẻ vô học, nói không ra lời chỉ tay năm ngón xỉa xói những vị quan to, kẻ lắm tiền chê “người trần mắt thịt”. Và thế người ta sợ quá, vái lấy vái để mong “Ngài rủ lòng thương, chỉ lối đưa đường”.

Yếu tố tâm linh rất dễ làm con người ta tin tưởng. Chỉ cần một câu nói liên quan tới thần thánh, linh hồn của những người đã khuất… cũng khiến người ta có thể làm tất cả trong trạng thái tinh thần gần như mất lý trí. Tham nhũng tâm linh sẽ làm xã hội rối loạn, con người trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, tinh thần rệu rã, hành động vô thức, mù quáng.

Thế mới biết tham nhũng tinh thần còn khủng khiếp hơn cả tham nhũng vật chất. Chống tham nhũng về vật chất đã khó, chống tham nhũng tinh thần càng khó hơn. Quả thật sống sao cho đúng, thật là khó.

Theo BÙI HÙNG / VOV