Những con vật trông giống hệt giun nhưng lại là ếch chính hiệu

Ếch giun, hay lưỡng cư không chân, là những con vật khiến nhiều người bối rối khi có ngoại hình rất giống giun đất nhưng lại là họ hàng của các loài ếch nhái quen thuộc. Cùng điểm qua một số loài ếch giun tiêu biểu.

Ếch giun đảo Koh Tao (Ichthyophis kohtaoensis) dài 33 cm, được ghi nhận tại nhiều sinh cảnh khác nhau ở Đông Nam Á. Thuộc nhóm ếch giun có sọc vàng đặc trưng, loài này đẻ trứng trên cạn nhưng ấu trùng lại sống trong nước, thở bằng mang. Con mẹ cuộn tròn quanh trứng để bảo vệ.

Ếch giun Naraya (Uraeotyphlus narayani) dài 19-24 cm, là loài đặc hữu cùa vùng Tây Ghat của Ấn Độ. Loài này và các họ hàng có xúc tu ở phía dưới mũi để hỗ trợ cho việc kiếm ăn.

Ếch giun Congo (Herpele squalostoma) dài 65 cm, phân bố ở Tây và Trung Phi. Loài này thuộc nhóm ếch giun có trứng nở và phát triển trong cơ thể con cái, khi sinh ra có hình dạng giống cá thể trưởng thành thu nhỏ.

Ếch giun mảnh (Dermophis parviceps) dài 22 cm, hiện diện tại những vùng rừng ẩm ướt của Trung và Nam Mỹ. Như nhiều loài ếch giun khác, ban ngoài chúng trú ẩn trong lòng đất, đêm đến mới ra ngoài kiếm ăn.

Chùm ảnh: Những con vật trông giống hệt giun nhưng lại là ếch chính hiệu

Ếch giun đồi Taita (Boulengerula taitanus) dài 35 cm, là loài đặc hữu của vùng đồi Taita, phía Đông Nam Kenya.  Chúng thuộc nhóm ếch giun có tập tính nuôi con kỳ lạ: Khi con non mới nở, con mẹ phát triển một lớp da dày và bổ dưỡng để con non ăn.

Ếch giun vòng (Siphonops annulatus) dài 28-45 cm, được ghi nhận tại các sinh cảnh đa dạng ở phía Bắc của Nam Mỹ. Đây là một trong số ít loài ếch giun có tuyến nọc độc ở miệng. Con non cũng có tập tính ăn da mẹ.

Ếch giun Thompson (Caecilia thompsoni) dài 1,5 mét, là loài đặc hữu của Colombia. Là loài ếch giun lớn nhất thế giới, cá thể trưởng thành của chúng có thể nặng tới 1 kg.

Ếch giun Bassler (Oscaecilia bassleri) dài 60 cm, được ghi nhận ở các sườn núi thấp của rừng Amazon và phía Tây lưu vực sông Amazon thuộc Ecuador và Peru. Ngoài rừng rậm, chúng cư trú cả ở khu vực canh tác của con người như đồn điền, vườn nông thôn.

Ếch giun Sao Tome (Schistometopum thomense) dài 30 cm, là đặc hữu ở đảo Sao Tome và Ilhéu das Rolas, vùng biển xích đạo phía Tây châu Phi. Loài ếch giun màu vàng tươi này hiện diện ở tất cả các sinh cảnh có đủ độ ẩm cần thiết tại khu vực phân bố.

Ếch giun Cayenne (Typhlonectes compressicauda) dài 30-55 cm, được tìm thấy ở vùng rừng Amazon thuộc Brazil, Peru, Colombia, Guyana và Guiana thuộc Pháp. Đây là loài thủy sinh, cư trú ở các sông và đầm lầy. Đôi khi người ta thấy chúng được nuôi trong các bể cảnh.

Theo TRI THỨC & CUỘC SỐNG 

Các phát hiện mới về tình yêu “gây kinh ngạc” cho con người

Những nghiên cứu thú vị dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về các vấn đề trong tình yêu.

Albert Einstein từng cho rằng, mối tình đầu là một hiện tượng sinh học mà con người không thể giải thích được dưới góc nhìn của khoa học và hóa học. Và không ai trong chúng ta khẳng định rằng, họ hiểu rõ được tình yêu.

Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn cố gắng đi tìm lời giải cho những khái niệm về tình yêu dưới góc nhìn khoa học thần kinh.

1. Con người dễ bị “nghiện” yêu như khi sử dụng ma túy đá
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người

Mỗi khi nghĩ về “người ấy” – đặc biệt là khi mới yêu – vùng chỏm não (ventral tegmental area – VTA) của con người sẽ hoạt động mạnh và tiết ra một lượng lớn chất dẫn truyền thần kinh có tên gọi dopamine (một loại chất tạo khoái cảm).

Kết quả là người đang yêu luôn cảm thấy “bay bay” giống như mình đang sử dụng thuốc gây mê và họ bị nghiện cảm giác mơ màng này.

Trong khi đó, lượng hormone norepinephrine trong não bộ của người đang yêu cũng tăng lên đáng kể, gây ra cảm giác stress, làm tăng huyết áp và nhịp tim, những phản ứng này không khác gì khi con người sử dụng những chất kích thích như ma túy đá.

2. Thay vì hạnh phúc, tình yêu gây ra đau khổ

Một nghiên cứu tại Ý đã chỉ ra rằng, những người mới yêu có dấu hiệu của rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive Compulsive Disorder – OCD).

Đây là chứng rối loạn tâm lý có tính chất mãn tính, dấu hiệu phổ biến nhất là người bệnh thường có suy nghĩ ám ảnh về một điều gì đó và phải thực hiện các hành vi có tính chất ép buộc để giảm bớt căng thẳng. Người mắc phải OCD có thể rửa tay liên tục hoặc không ngừng kiểm tra xem cửa đã đóng chưa để cảm thấy đỡ lo lắng.
Thay vì mang tới cảm giác vui sướng hạnh phúc, tình yêu thực chất lại khiến bạn càng thêm đau khổ. Biểu hiện đặc trưng của OCD là chất dẫn truyền thần kinh serotonin của não bộ bị giảm.
Các đối tượng nghiên cứu có mức serotonin thấp hơn 40% so với những người bạn độc thân cùng lứa. Serotonin vốn là chất giúp con người kiểm soát bản thân khỏi nỗi lo sợ về những điều không chắc chắn và thiếu ổn định.
Khi chất này giảm, khả năng làm chủ tình hình của chúng ta bị kém đi rõ rệt, ta dễ dàng cảm thấy hoang mang, bất an. Mà tình yêu lại vốn không thể đoán trước được, chính vì vậy khi yêu, con người dễ lâm vào trạng thái ám ảnh.
3. Tình yêu khiến con người “làm liều”
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người
Hẳn nhiều người biết rằng, vùng vỏ não trước trán đảm nhiệm vai trò điều khiển lập luận, lý lẽ và là trung tâm kiểm soát của con người. Tuy nhiên, vùng não này sẽ hoạt động kém hẳn đi khi chúng ta yêu.
Đồng thời, hạch hạt nhân amygdala nằm ở tâm của não, đóng vai trò kiểm soát phản ứng của bộ não mỗi khi gặp phải nguy hiểm cũng bớt nhanh nhạy hơn trước. Kết quả là con người sẵn sàng liều mình làm những việc nguy hiểm mà bình thường vốn không bao giờ làm.
4. Đàn ông có thể yêu một người, nhưng lại ham muốn lên giường với người khác
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người
Tình yêu và ham muốn tình dục tưởng chừng không liên quan nhưng lại có nhiều điểm giống nhau trong phản ứng thần kinh của não bộ. Chúng đều mang tới cảm giác sung sướng, dễ gây nghiện và ảnh hưởng tới nhiều phần của bộ não. Tuy nhiên, chúng lại đủ khác biệt để khiến chúng ta yêu một người nhưng lại muốn quan hệ với một người khác.
Theo thời gian, sự khác biệt giữa tình yêu và ham muốn lại càng trở nên rõ ràng. Vùng ventral pallidum ở những người đã yêu nhau lâu hoạt động tích cực hơn. Vùng não bộ này chứa rất nhiều Oxytocin và Vasopressin – hai chất quyết định sự gắn bó và chung thủy, yêu nhau dài lâu.
5. Đàn ông không chỉ yêu bằng mắt

Vùng vỏ não thị giác của đàn ông khi đang yêu hoạt động mạnh hơn hẳn phụ nữ. Chính vì vậy, phái mạnh lúc yêu mắt thường “hoạt động” tích cực hơn mức bình thường.

Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người

Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, tần suất đàn ông “yêu từ cái nhìn đầu tiên” nhiều hơn hẳn phụ nữ vì đàn ông thường nghe theo những dấu hiệu của cơ thể còn phụ nữ cần thời gian để xây dựng niềm tin về một nửa còn lại.

Tuy nhiên, một khảo sát ở Israel cho thấy chỉ 10% số người được hỏi cho biết mối quan hệ dài lâu của họ được bắt đầu theo cách này vì ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ. Các nhà khoa học cho rằng, tình yêu có nghĩa là hai người cần có thời gian tìm hiểu và biết rõ về người kia thay vì bị “hút” lấy nhau ngay lập tức.

Chính vì vậy đừng vội thất vọng nếu buổi hẹn hò đầu tiên không được thành công. Các nhà tâm lý học tin rằng, khi hai người tương tác nhiều hơn, họ sẽ cảm thấy đối phương thu hút và thông minh hơn. Chính vì vậy nên dành cho tình yêu nhiều hơn một cơ hội để có thể hiểu rõ về nửa kia.

6. Phụ nữ ghi nhớ tiểu tiết tốt hơn khi yêu
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người
Hồi hải mã hippocampus là vùng não trước có liên hệ mật thiết với ký ức của con người. Khi phụ nữ yêu, vùng não này sẽ hoạt động mạnh hơn hẳn đàn ông. Không chỉ có vậy, diện tích của vùng hồi hải mã ở phái yếu lớn hơn hẳn so với phái mạnh. Chính vì vậy, phụ nữ thường để ý và ghi nhớ những tiểu tiết tốt hơn hẳn khi đang yêu.
7. Nhìn nhau đắm đuối là phép thuật của tình yêu
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người
Trẻ sơ sinh và phụ nữ có cùng một điểm chung: cả hai đều coi ánh mắt là phương tiện kết nối cảm xúc tốt nhất. Khi những đôi tình nhân đang yêu, họ thường trao nhau những ánh nhìn say đắm, hành động này không đơn thuần chỉ là yếu tố lãng mạn của tình yêu đôi lứa mà còn có cơ sở sinh học. Ánh mắt và nụ cười chính là cặp đôi hoàn hảo trong tình yêu.
Giọng nói có sức mạnh thứ nhì đứng sau ánh mắt. Giọng nói của con người truyền tải nhiều thông tin hơn là chúng ta vốn nghĩ và có khả năng tạo cầu nối cảm xúc giữa hai người.
8. Chung thủy hơn nhờ tiêm thuốc
Các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu chế độ một vợ một chồng và chế độ đa thê của loài chuột đồng vì chúng phản ánh gần như chính xác các mối quan hệ của con người.
Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người
Kết quả là các nhà nghiên cứu phát hiện, chuột đồng chỉ sống duy nhất với một bạn đời, trong khi đó loại chuột sống ở núi lại theo chế độ “đa thê” hoặc “đa phu”. Điểm quan trọng tạo nên khác biệt giữa hai loài này nằm ở gene và điểm đáng ngạc nhiên hơn là chúng có bộ gene giống nhau tới 99%.
Khi các nhà nghiên cứu tiêm chất oxytocin và vasopressin vào chuột núi, từ chế độ sống chung nhiều bạn tình, chúng chuyển sang chung thủy với duy nhất một đối tượng.

Hiện khoa học vẫn chưa chắc chắn về hiệu quả liệu có xảy đến tương tự với con người hay không, nhưng bước đầu đã đạt được khả quan nếu chỉ áp dụng trong thời gian ngắn. Hai nghiên cứu khác đã chỉ ra, những người đàn ông được tiêm oxytocin sẽ tạm thời trở nên dễ đồng cảm, nhạy cảm và hiền hơn.

9. Phụ nữ và đàn ông có thể làm bạn

Nghiên cứu mới đây cho thấy, đàn ông và phụ nữ có thể làm bạn nhưng khả năng cảm xúc vượt lên trên mức tình bạn luôn rình rập và sẵn sàng đe dọa mối quan hệ giữa hai người khác giới.

Các phát hiện mới về tình yêu "gây kinh ngạc" cho con người

Để kiểm định khả năng tồn tại của tình bạn giữa nam – nữ, các nhà nghiên cứu đã mời 88 cặp đôi và tiến hành theo dõi. Kết quả là các chuyên gia phát hiện ra một sự khác biệt lớn giữa cách nhìn nhận của phụ nữ và đàn ông về tình bạn khác giới.

Đàn ông thường bị người bạn của mình thu hút và tin tưởng mù quáng rằng người kia cũng có cảm xúc tương tự. Trong khi đó, phụ nữ cũng mù quáng tin tưởng rằng đối phương có thể giữ được tình bạn trong sáng với mình vì thông thường, phái yếu không cảm thấy xao động trước những bạn nam mà họ đã xếp vào “vùng tình bạn” (friendzone).

Kết quả này cho thấy so với phụ nữ, đàn ông thường gặp khó khăn hơn trong việc “chúng ta chỉ làm bạn”. Lý do xuất phát từ việc hai bên có quan điểm khác nhau về tình bạn giữa nam và nữ.

Theo Trí Thức Trẻ

8x vừa học vừa rửa bát thuê ở Pháp, 31 tuổi trở thành giáo sư người Việt trẻ nhất ĐH Trent

Vừa học vừa rửa bát, du học sinh người Việt tại Pháp nay đã trở thành nhà khoa học hàng đầu thế giới trong lĩnh vực ô nhiễm môi trường ở tuổi 31.

18 tuổi mang theo ước nguyện trước khi mất của bố sang Pháp học chỉ với vỏn vẹn 2.500 đô tiền vay mượn, chàng trai trẻ Đặng Đức Huy (sinh năm 1988) đã trở thành giáo sư trợ lý khoa Hóa trẻ nhất tại ĐH Trent vào năm 31 tuổi và đảm nhận vị trí phó tổng biên tập tạp chí Archives of Environmental Contamination and Toxicology (chuyên về độc học và ô nhiễm môi trường) của nhà xuất bản danh tiếng Springer.

Hiện nay, giáo sư người Việt đang là một trong những chuyên gia hàng đầu trong những nghiên cứu về môi trường.

Khoản vay 2.000 Euro và những đêm rửa bát thuê để thực hiện giấc mơ du học Pháp

Anh Đặng Đức Huy lớn lên với một tuổi thơ không trọn vẹn khi suốt 8 năm trời phải chứng kiến người bố giành giật sự sống mỗi ngày trên giường bệnh. Bố anh từng làm việc tại Pháp, nhưng từ năm 1996, ông không may bị ung thư máu. Sau 8 năm chống chọi với bệnh tật, bố anh ra đi để lại ước nguyện muốn con trai có thể sang Pháp du học.

Hai năm sau khi bố mất, anh Huy khi ấy mới 18 tuổi đã sang Pháp với hành trang là 2.000 Euro vay mượn. Huy chọn ngành Sinh học và khoa học sự sống tại ĐH Toulon (Pháp) với mong muốn tìm hiểu về các cơ chế sinh học tế bào và miễn dịch để tìm ra phương pháp kiểm soát ung thư.

Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên hầu hết thời gian rảnh, anh Huy đều tranh thủ đi làm để trang trải học phí và sinh hoạt phí. Anh phải đi rửa bát thuê ở các nhà hàng. Thời gian biểu một ngày của Huy dường như không có giờ nghỉ, từ 8 giờ sáng đến 5 rưỡi chiều học trên trường; từ 6 giờ tối đến 11 giờ đêm rửa bát thuê. Hai ngày cuối tuần, anh thường làm thêm kín lịch từ sáng đến tối. Có đêm anh phải rửa  hàng nghìn cái bát đến rã rời chân tay nhưng buổi sáng anh vẫn luôn đi học đúng giờ và đạt được thành tích vô cùng xuất sắc.

“Ở Pháp, điểm thi cuối kỳ rất quan trọng. Mỗi ngày thi tới 2 – 3 môn. Vì vậy, lúc đi làm thêm, tôi mang sách vở tranh thủ học để hôm sau đi thi. Nhờ vậy, kỳ học nào tôi cũng đạt kết quả top đầu của lớp, đặc biệt ở môn khoa học như toán học đại cương, tôi đạt điểm tuyệt đối 20/20. Trong quá trình học, tôi cũng rất hay giúp đỡ bạn bè quốc tế lúc học nhóm hay làm thí nghiệm. Khi ấy, ai biết đến thời gian biểu của tôi, đặc biệt là bạn bè thì đều gọi tôi là “quái vật”!”, anh Huy nhớ lại những ngày tháng khó khăn mà vô cùng đáng nhớ.

Với kết quả học tập xuất sắc, sau khi hoàn thành bằng cử nhân, Huy tiếp tục học thạc sĩ tại ĐH Toulon, ngành Hoá học môi trường. Năm 2011, Huy tốt nghiệp với vị trí thủ khoa và nhận được học bổng tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo Pháp.

Trở thành nhà khoa học hàng đầu thế giới trong lĩnh vực môi trường

Năm 21 tuổi, anh Huy hoàn thành bằng cử nhân với kết quả xuất sắc. Ngay sau khi giành được tấm bằng cử nhân trong tay, chàng trai trẻ người Việt đã có một bước ngoặt lớn trong cuộc đời: chuyển hướng nghiên cứu về ngành hóa học môi trường.

8x vừa học vừa rửa bát thuê ở Pháp, 31 tuổi trở thành giáo sư người Việt trẻ nhất ĐH Trent  - Ảnh 1.

Anh Huy làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh: VTC.

“Ở ĐH Toulon không có ngành thạc sĩ về sinh học, nên tôi lựa chọn học ngành hóa học môi trường. Tuy hoàn toàn thay đổi hướng nghiên cứu nhưng cuối cùng, mối quan tâm của tôi vẫn không thay đổi. Thay vì nghiên cứu tìm ra cách chữa bệnh thì tôi hiện đang nghiên cứu tìm cách phòng bệnh. Bởi lẽ một trong những nguồn gốc trực tiếp gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đó chính là ô nhiễm môi trường”, anh chia sẻ trong một bài phỏng vấn.

Trong quá trình nghiên cứu, anh Huy đã công bố 21 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học thế giới, đều thuộc danh mục Q1. Trong đó 12 bài anh là tác giả chính. Trong đó điểm hình là công bố quốc tế năm 2015 của anh trên tạp chí hàng đầu Environmental Science & Technology về đồng vị chì (Pb) trong môi trường trầm tích, nước và sinh vật biển. Nghiên cứu ấy đã gây tiếng vang lớn, góp phần thúc đẩy chính quyền vùng PACA (Pháp) chi 93 triệu euro để nghiên cứu phục hồi môi trường biển ở cảng Toulon, nhằm giảm thiểu tác động của ô nhiễm do hậu quả Chiến tranh thế giới thứ hai.

Đầu năm 2015, Huy muốn thay đổi để thử thách bản thân khi chọn nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Trent (Canada). Giữa năm 2019, ở tuổi 31, anh trở thành giáo sư trẻ nhất của Đại học Trent – trường đại học đứng đầu bang Ontario ở mảng giáo dục đại học. Tại đây, Huy được sở hữu một phòng thí nghiệm riêng về địa hóa môi trường và đang dẫn dắt một nhóm nghiên cứu về lĩnh vực này.

javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2010495);}else{parent.admSspPageRg.draw(2010495);}

Anh luôn để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng các đồng nghiệp, cấp trên. Thậm chí, Giám đốc Khoa Môi Trường của đại học Trent còn coi anh như một cầu nối trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và giới khoa học ở Pháp.

“Các lĩnh vực nghiên cứu của tiến sĩ Đặng Đức Huy đều là những lĩnh vực chiến lược của đại học Trent và Khoa học môi trường. Huy có hướng nghiên cứu rất đa dạng, chủ yếu trong lĩnh vực địa hoá và ô nhiễm môi trường. Trong đó nghiên cứu về đất hiếm của Huy đặc biệt có tính đột phá bởi những nguyên tố này đang được biết đến như một nguồn ô nhiễm mới trên thế giới. Huy đang trở thành một trong những nhà khoa học dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này.

Anh luôn phát triển các chương trình hợp tác quốc tế, đặc biệt với giới khoa học ở Pháp và Việt Nam”, Gs Shaun Watmough bày tỏ sự đánh giá cao với giáo sư trẻ nhất tại trường đại học.

Dùng tài năng đóng góp cho đất nước

GS.TS Đặng Đức Huy luôn trăn trở về trách nhiệm của bản thân không chỉ đối với nền khoa học thế giới mà còn đối với niềm tự tôn dân tộc. Tháng 11/2020, tiến sĩ Đặng Đức Huy (sinh năm 1988) được trao tặng giải thưởng Quả cầu vàng ở hạng mục Khoa học công nghệ trẻ.  “Tôi cho rằng vinh dự luôn đi kèm với trách nhiệm. Vinh dự càng lớn thì trách nhiệm cũng sẽ càng lớn. Mỗi chúng tôi khi được xướng tên “tài năng” thì cũng cần phải có trách nhiệm với tài năng đó để đóng góp cho đất nước”, anh nói.

8x vừa học vừa rửa bát thuê ở Pháp, 31 tuổi trở thành giáo sư người Việt trẻ nhất ĐH Trent  - Ảnh 2.

Ảnh: Phapluatmoitruong

Dẫn đầu trong những nghiên cứu về ô nhiễm môi trường trên thế giới, anh Huy luôn hướng đến áp dụng “khoa học ứng dụng” để giải quyết những vấn đề tại quê nhà. Chia sẻ về hướng nghiên cứu trong 5 năm tới, GS.TS Huy cho biết sẽ hướng đến các vấn đề ô nhiễm của tương lai.

Trong thời gian tới, tôi cùng các đồng nghiệp ở Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động môi trường ở vùng duyên hải phía Bắc của Việt Nam, đặc biệt là vùng cảng Hải Phòng có các trung tâm công nghiệp, công nghệ cao. Mong muốn của chúng tôi là đánh giá một cách toàn diện các tác động từ con người lên môi trường biển, đa dạng sinh học biển, tài nguyên thiên nhiên và quan trọng nhất là giảm thiểu ảnh hưởng đến tài nguyên quốc gia, chính là sức khỏe của con người Việt Nam“, anh chia sẻ.

Anh cũng sẽ liên kết với các đồng nghiệp ở Đại học Bách khoa TPHCM và Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam để nghiên cứu các hệ sinh thái ở miền Nam; nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tìm ra những phương án tối ưu để quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, mong muốn của vị giáo sư trẻ là có thể đào tạo được một thế hệ tài năng trẻ cho quốc gia trong lĩnh vực phân tích, môi trường và chính sách môi trường. Vì vậy, anh đang xúc tiến kết nối với các trường ĐH VN để trao đổi sinh viên và các nhà nghiên cứu trẻ với ĐH Trent, và Viện Nghiên cứu quốc tế về môi trường (IIES). Qua đó, bạn trẻ Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các phòng thí nghiệm hiện đại và những phương pháp nghiên cứu hàng đầu thế giới, để trở thành nòng cốt đóng góp cho nước nhà.

Theo Shoha VN

Cuộc đời vì trách nhiệm và phụng sự của Nữ hoàng Anh Elizabeth II (1926-2022)

Nữ hoàng Anh Elizabeth II năm 1966
Chụp lại hình ảnh,Nữ hoàng Anh Elizabeth II năm 1966

Thời kỳ cai trị lâu dài của Nữ hoàng Elizabeth II được đánh dấu bằng ý thức nghĩa vụ mạnh mẽ và quyết tâm dâng hiến đời mình cho ngai vàng và nhân dân.

Với nhiều người, bà trở thành điểm tựa trong một thế giới thay đổi nhanh chóng: ảnh hưởng của Anh quốc suy giảm, xã hội thay đổi chóng mặt và vai trò của chế độ quân chủ bị nghi ngờ.

Thành công của bà khi duy trì nền quân chủ qua những thời gian biến động càng đáng khâm phục hơn khi ta biết, vào lúc bà sinh ra, không ai dự đoán ngai vàng sẽ là định mệnh của bà.

Elizabeth Alexandra Mary Windsor sinh ngày 21/4/1926 trong ngôi nhà không xa Quảng trường Berkeley, London. Bà là con đầu của Albert, Công tước xứ York (con trai thứ hai của Vua George V) và Elizabeth Bowes-Lyon.

Elizabeth và em gái, Margaret Rose, sinh năm 1930, được dạy ở nhà, lớn lên trong môi trường gia đình thương yêu. Elizabeth rất gần gũi với cha và ông, Vua George V.

Em bé Elizabeth và bố mẹ trong lễ rửa tội
Chụp lại hình ảnh,Em bé Elizabeth và bố mẹ trong lễ rửa tội

Bà được cho là có ý thức trách nhiệm cao ngay từ khi còn bé. Winston Churchill, thủ tướng tương lai, được dẫn lời nói rằng Elizabeth “có phong thái lãnh đạo thật đáng kinh ngạc cho một đứa trẻ”.

Dù không đến trường, Elizabeth giỏi ngôn ngữ và nghiên cứu kỹ cả lịch sử hiến pháp.

Khi Vua George V qua đời năm 1936, con trai cả, David, trở thành Vua Edward VIII.

Nhưng việc ông chọn vợ, bà Wallis Simpson người Mỹ hai lần ly hôn, không được chấp nhận vì lý do tôn giáo và chính trị. Đến cuối năm đó, ông từ ngôi.

Công tước xứ York miễn cưỡng trở thành Vua George VI. Ngày đăng quang của ngài cho Elizabeth nhìn thấy phần nào những gì chờ cô phía trước. Sau này bà viết mình thấy buổi lễ “rất tuyệt vời”.

Công chúa Elizabeth, cùng bố mẹ và em gái Margaret, tại lễ đăng quang của bố
Chụp lại hình ảnh,Công chúa Elizabeth, cùng bố mẹ và em gái Margaret, tại lễ đăng quang của bố

Trong bối cảnh căng thẳng tăng cao ở châu Âu, vị tân vương, cùng vợ, Hoàng hậu Elizabeth, muốn phục hồi niềm tin của người dân vào nền quân chủ. Hình mẫu của họ hẳn được con gái chú ý.

Năm 1939, công chúa 13 tuổi đi theo Vua và Hoàng hậu đến Trường Hải quân Hoàng gia ở Dartmouth. Cùng em gái Margaret, công chúa có sự tháp tùng của người anh em họ ba đời, Hoàng tử Philip xứ Hy Lạp.

Trở ngại

Đó không phải lần đầu họ gặp mặt, nhưng là lần đầu tiên cô chú ý anh. Đến năm 1944, khi cô 18 tuổi, Elizabeth rõ ràng đã yêu anh. Cô giữ hình anh trong phòng và họ trao đổi thư từ.

Cô công chúa tham gia Lực lượng Hỗ trợ mặt đất (ATS) vào lúc chiến tranh sắp hết, học lái xe tải.

Trong ngày Chiến thắng, cô cùng hoàng gia có mặt ở Điện Buckingham, cùng hàng ngàn người dân chào mừng ngày kết thúc chiến cuộc ở châu Âu.

Sau chiến tranh, việc cô muốn cưới Philip gặp nhiều trở ngại.

Nhà vua không muốn con gái mà ông yêu quý, và Philip phải vượt qua thành kiến của giới quý tộc không chấp nhận nguồn gốc nước ngoài của ông.

Công chúa Elizabeth (phải) và Margaret phát thanh tới nhân dân trong Thế chiến Hai
Chụp lại hình ảnh,Công chúa Elizabeth (phải) và Margaret phát thanh tới nhân dân trong Thế chiến Hai

Nhưng ý muốn của cặp đôi đã chiến thắng. Ngày 20/11/1947, họ kết hôn ở Tu viện Westminster.

Philip trở thành Công tước xứ Edinburgh tiếp tục là sĩ quan phục vụ trong hải quân. Ít nhất trong thời gian ngắn, việc ông ở Malta giúp cặp đôi trẻ có cuộc sống tương đối bình thường.

Con trai đầu, Charles, sinh năm 1948, theo sau là em gái chào đời năm 1950.

Nhưng nhà vua, đã bị căng thẳng trong những năm chiến tranh, bị ung thư phổi, do cả đời hút thuốc.

Tháng Giêng 1952, Elizabeth, khi đó 25 tuổi, và Philip có chuyến đi nước ngoài. Nhà vua, không nghe bác sĩ, đã ra phi trường tiễn họ. Đó là lần cuối Elizabeth nhìn thấy cha.

Elizabeth nghe tin cha mất khi đang ở Kenya và ngay lập tức về lại London trong tư cách Nữ hoàng.

Sau này bà nhớ lại: “Phần nào đó tôi không kịp học việc. Cha tôi qua đời quá trẻ, nên bỗng dưng tôi lãnh nhận trách nhiệm và đã cố gắng làm sao cho tốt.”

Công chúa Elizabeth làm lễ cưới với Philip Mountbatten
Chụp lại hình ảnh,Công chúa Elizabeth làm lễ cưới với Philip Mountbatten
Australia và New Zealand

Lễ đăng quang tháng Sáu 1953 được truyền hình, bất chấp phản đối của Thủ tướng Winston Churchill. Hàng triệu người quây quần quanh máy truyền hình, với nhiều người đây là lần đầu tiên, theo dõi Nữ hoàng Elizabeth II tuyên thệ.

Đây là lúc Anh quốc vẫn đang thắt lưng buộc bụng sau chiến tranh, và nhiều nhà bình luận xem lễ đăng quang mở đầu cho thời đại Elizabeth.

Thế chiến Hai làm sự kết liễu của Đế chế Anh xảy ra nhanh hơn. Đến khi tân Nữ hoàng có chuyến công du dài ngày tới Khối thịnh vượng chung tháng 11/1953, nhiều cựu thuộc địa như Ấn Độ đã giành lại độc lập.

Elizabeth trở thành nhà vua đương kim đầu tiên thăm Australia và New Zealand. Ước tính ba phần tư dân Úc khi đó ra đường để nhìn thấy nữ hoàng.

Trong thập niên 1950 thêm nhiều nước giã từ lá cờ liên hiệp. Các cựu thuộc địa nay trở thành cộng đồng các nước tự nguyện.

Nhiều chính khách cảm thấy Khối thịnh vượng chung có thể là đối trọng của Cộng đồng Kinh tế châu Âu mới thành lập. Ở một mức nào đó, chính sách của Anh tách ra khỏi Lục địa.

Lễ đăng quang là dịp đầu tiên truyền trực tiếp trên tivi Anh
Chụp lại hình ảnh,Lễ đăng quang là dịp đầu tiên truyền trực tiếp trên tivi Anh
Công kích cá nhân

Nhưng sự đi xuống ảnh hưởng của Anh quốc bị đẩy nhanh vì biến cố kênh đào Suez năm 1956. Khi đó rõ là Khối thịnh vượng chung không có ý chí tập thể để hợp tác trong lúc khủng hoảng.

Quyết định gửi quân Anh vào Ai Cập để ngăn đe dọa quốc hữu hóa kênh đào Suez rốt cuộc chỉ dẫn đến việc rút lui nhục nhã, khiến Thủ tướng Anh Anthony Eden phải từ chức.

Nữ hoàng Anh dính vào khủng hoảng chính trị. Đảng Bảo thủ không có cơ chế bầu lãnh đạo mới và sau một loạt tham vấn, Nữ hoàng mời Harold Macmillan thành lập chính phủ mới.

Nữ hoàng cũng bị Lord Altrincham chỉ trích cá nhân. Trong một bài báo, ông nói triều đình “quá Anh” và “thượng lưu”, cáo buộc bà không biết nói chuyện mà không cần văn bản.

Bình luận của ông gây giận dữ trên báo chí, và ông bị đánh trên đường phố.

Tuy vậy, vụ việc cho thấy xã hội và thái độ của người Anh với nền quân chủ đang thay đổi nhanh chóng, và những sự chắc chắn cũ đang bị đặt dấu hỏi.

Được chồng khuyến khích, Nữ hoàng bắt đầu thích ứng với trật tự mới. Chữ “nền quân chủ” dần dần được thay bằng “gia đình hoàng gia”.

Chuyến công du đến Mỹ năm 1957 của Nữ hoàng
Chụp lại hình ảnh,Chuyến công du đến Mỹ năm 1957 của Nữ hoàng

Năm 1963 khi Harold Macmillan từ chức thủ tướng, Nữ hoàng một lần nữa ở trong trung tâm tranh cãi chính trị. Đảng Bảo thủ vẫn chưa lập ra hệ thống chọn tân lãnh đạo, Nữ hoàng nghe lời khuyên của ông và bổ nhiệm Alec Douglas-Home thay thế.

Đó là thời điểm khó khăn cho Nữ hoàng. Dấu ấn chung của thời kỳ bà cai trị là tuân thủ hiến pháp, và tách nền quân chủ ra khỏi chính phủ.

Đây là lần cuối bà ở trong tình trạng này. Đảng Bảo thủ sau đó xóa bỏ truyền thống để lãnh đạo mới “tự hiện ra” và lập nên một hệ thống chính thức.

Việc Harold Macmillan từ chức gây ra khủng hoảng hiến pháp
Chụp lại hình ảnh,Việc Harold Macmillan từ chức gây ra khủng hoảng hiến pháp

Đến cuối thập niên 1960, Điện Buckingham thấy cần có bước đi tích cực để chứng tỏ Hoàng gia không xa cách.

Kết quả là có một phim tài liệu đặc biệt, phim ‘Hoàng gia’. Đài BBC được phép quay hoàng gia tại nhà. Có hình ảnh họ ăn uống ở vườn, trang trí cây Noel, lái xe đưa con đi chơi – những hoạt động bình thường nhưng chưa từng cho ai thấy.

Những người chỉ trích cho rằng bộ phim này của Richard Cawston phá hủy sự huyền nhiệm của hoàng gia khi cho thấy họ cũng chỉ là người bình thường.

Nhưng bộ phim phản ánh không khí thay đổi của thời đại và góp phần giúp khôi phục sự ủng hộ của công chúng dành cho nền quân chủ.

Đến năm 1977, người dân nhiệt tình đón mừng lễ kỷ niệm 25 năm nữ hoàng tại vị, qua các lễ hội đường phố và buổi lễ khắp vương quốc. Nền quân chủ có vẻ yên tâm được công chúng yêu chuộng, và vai trò lớn phải kể là nhờ Nữ hoàng.

Phim tài liệu Royal Family
Chụp lại hình ảnh,Phim tài liệu Royal Family

Hai năm sau, Margaret Thatcher trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Anh. Quan hệ giữa nữ nguyên thủ và người phụ nữ đứng đầu chính phủ được cho là có lúc không thoải mái.

Bê bối và tai họa

Một lĩnh vực khó khăn là tình cảm của Nữ hoàng dành cho Khối Thịnh vượng chung, mà bà đứng đầu. Bà biết các lãnh đạo châu Phi và có thiện cảm với họ.

Bà được cho là “khó hiểu” về thái độ và phong thái đối đầu của bà Thatcher, trong đó có sự phản đối của thủ tướng đối với các biện pháp trừng phạt Nam Phi dưới chế độ apartheid.

Năm tháng qua đi, các nghĩa vụ chính thức của Nữ hoàng vẫn tiếp tục. Sau Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, bà thăm Mỹ, trở thành người đứng đầu hoàng gia đầu tiên của Anh phát biểu trước lưỡng viện Mỹ.

Lâu đài Windsor bị cháy
Chụp lại hình ảnh,Lâu đài Windsor bị cháy

Tuy nhiên, một năm sau, một loạt bê bối và tai họa bắt đầu ảnh hưởng đến Hoàng gia.

Con trai thứ hai của Nữ hoàng, Công tước xứ York, và vợ Sarah ly thân. Cuộc hôn nhân của Công chúa Anne với Mark Phillips cũng kết thúc bằng cuộc ly hôn. Rồi con trai trưởng của bà, Charles cùng vợ, Công nương Diana, hóa ra cũng không hạnh phúc và chia tay.

Năm đó còn có đám cháy lớn tại Lâu đài Windsor, dinh thự được Nữ hoàng ưa thích nhất. Đó dường như là biểu tượng thích hợp cho hoàng gia đang gặp khó khăn.

Định chế quân chủ ở trong thế phòng thủ. Điện Buckingham được mở cho khách vào thăm để có tiền sửa Windsor. Nữ hoàng Anh và Thái tử cũng loan báo sẽ đóng thuế trên thu nhập đầu tư.

Hy vọng vào Khối Thịnh vượng chung, từng rất cao khi bà mới lên ngôi, đã không được như ý. Anh quốc có những quan hệ mới tại châu Âu.

Nữ hoàng vẫn thấy Khối Thịnh vượng chung nhiều giá trị và rất hài lòng khi Nam Phi xóa bỏ chế độ apartheid. Tháng Ba 1995, bà thăm nước này.

Ở trong nước, Nữ hoàng cố gắng giữ uy tín của nền quân chủ trong lúc công chúng tranh luận liệu định chế này có tương lai không.

Nữ hoàng bị chỉ trích sau cái chết của Công nương Diana
Chụp lại hình ảnh,Nữ hoàng bị chỉ trích sau cái chết của Công nương Diana
Cái chết của Công nương Diana

Hoàng gia bị rúng động và Nữ hoàng bị chỉ trích bất thường sau cái chết của Công nương Diana trong tai nạn ô tô ở Paris tháng 8/1997.

Trong lúc công chúng tụ họp ở các cung điện ở London, đặt hoa tưởng nhớ, Nữ hoàng dường như miễn cưỡng không muốn làm tâm điểm như bà vẫn làm trong những khoảnh khắc quan trọng của quốc gia.

Nhiều người chỉ trích bà không hiểu rằng bà thuộc thế hệ dội lại trước cơn bộc lộ thương đau của quần chúng, gần như kích động, thể hiện sau khi công nương mất.

Bà cũng cảm thấy mình là người bà cần an ủi các con trai của Diana trong vòng gia đình riêng tư.

Cuối cùng bà phát biểu truyền hình trực tiếp, tôn vinh người con dâu và cam kết nền quân chủ sẽ thích ứng với thời đại.

Nữ hoàng Elizabeth II tại một buổi lễ mừng sinh nhật 80 của bà
Chụp lại hình ảnh,Nữ hoàng Elizabeth II tại một buổi lễ mừng sinh nhật 80 của bà
Mất mát, và đón mừng

Cái chết của Mẹ Nữ hoàng và Công chúa Margaret, trong năm 2002 (đánh dấu 50 năm trị vì), phủ bóng lên các lễ ăn mừng trên toàn quốc.

Dù vậy, và dù vẫn còn tranh cãi về tương lai nền quân chủ, một triệu người đã có mặt ở khu trước Điện Buckingham, vào buổi tối đánh dấu 50 năm trị vì của bà.

Tháng Tư 2006, hàng ngàn người có mặt trên đường phố Windsor khi Nữ hoàng xuất hiện đánh dấu sinh nhật 80.

Và tháng 11/2007, bà cùng chồng ăn mừng 60 năm hôn nhân, với buổi lễ có 2.000 người dự tại Tu viện Westminster.

Tháng Tư 2011, bà lại dự lễ cưới của cháu trai, William, cùng Catherine Middleton.

Trưng cầu dân ý

Trưng cầu dân ý độc lập của Scotland tháng Chín 2014 là lúc thử thách cho Nữ hoàng.

Ít ai lại quên diễn văn của bà trước Quốc hội năm 1977, là lúc bà bày tỏ cam kết về một vương quốc thống nhất.

Khi nói chuyện với người dân ở Balmoral ngay trước lúc diễn ra trưng cầu dân ý, mà rõ ràng cố tình để nghe được, bà nói bà hy vọng người dân nghĩ rất cẩn thận về tương lai.

Sau khi có kết quả, tuyên bố công khai của bà bày tỏ sự an lòng rằng vương quốc vẫn thống nhất, dù thừa nhận không gian chính trị đã thay đổi.

Tháng Chín 2015, bà trở thành nhà cai trị lâu nhất trong lịch sử Anh quốc.

Tháng Tư 2016, bà đón mừng sinh nhật 90.

Mặc dù nền quân chủ có thể không còn mạnh như lúc bà mới lên ngôi, bà quyết tâm làm sao định chế này vẫn giữ được sự yêu kính trong trái tim người Anh.

Vào dịp đánh dấu 25 năm cai trị, bà nhắc lại lời cam kết bà từng nói khi năm Nam Phi 30 năm trước.

“Khi tôi 21, tôi hiến đời mình cho nhân dân và tôi nhờ Thượng đế giúp hoàn thành lời thề. Mặc dù lời thề nói ra lúc tôi còn thanh xuân, tôi không hối hận hay rút lại một chữ nào.”

Sau khi bổ nhiệm bà Liz Truss làm thủ tướng thứ 15 của mình hôm đầu tuần này, Nữ hoàng tạ thế chiều thứ Năm, 08/09/2022, để lại niềm thương tiếc cho người dân toàn nước Anh.

Equanimity / Queen Elizabeth II by Chris Levine (artist), Rob Munday (holographer) © Jersey Heritage Trust 2004
Ảnh chân dung Nữ hoàng Elizabeth II của nghệ sĩ Chris Levine và Rob Munday

Theo BBC

Lý do Nga không bao giờ chấp nhận nền độc lập của Ukraine

Tám giờ tối Chủ nhật, ngày 08/12/1991, Mikhail Gorbachev, Tổng thống Liên Xô, nhận được một cuộc điện thoại bằng đường dây tối mật. Người ở đầu dây bên kia là Stanislav Shushkevich, một giáo sư vật lý khiêm tốn, người mà vài tháng trước đó, trong công cuộc cải tổ của Gorbachev, đã được giao đảm nhận chức vụ lãnh đạo Cộng hòa Belarus thuộc Liên Xô. Shushkevich gọi từ một cabin đi săn trong khu rừng Belovezh tươi đẹp để nói với nhà cải cách vĩ đại rằng, ông đã ‘mất việc’: Liên Xô đã kết thúc rồi.
Nhìn lại, dấu hiệu cáo chung đã xuất hiện từ tháng 8, khi KGB, những nhân vật Cộng sản cứng rắn và quân đội đã buộc Gorbachev chịu quản thúc tại gia, và tiến hành một cuộc đảo chính. Sau ba ngày kháng cự hòa bình, dẫn đầu bởi Boris Yeltsin, Tổng thống Cộng hòa Xô viết Nga, họ đã rút lui. Sự kiện đó đã loại trừ mọi khả năng quay trở lại một Liên Xô trong quá khứ. Nhưng Gorbachev vẫn nuôi hy vọng về một người kế nhiệm hậu Xô Viết theo chủ trương tự do, như một cách để có thể giữ, chí ít là, một số nước cộng hòa liên kết với nhau. Cuộc gọi của Shushkevich đã giết chết hy vọng cuối cùng đó.

Một trong những nguyên nhân là sự sụp đổ của nền kinh tế Nga. Như Yegor Gaidar, nhà cải cách kinh tế hàng đầu của Yeltsin, sau này đã viết, đó là mùa thu của “những hàng thực phẩm ôi thiu…những cửa hiệu trống rỗng… những người phụ nữ lang thang tìm kiếm thức ăn, bất cứ thứ gì có thể ăn được… mức lương trung bình là bảy đô la một tháng.” Để thực hiện thành công những cải cách sâu rộng mà Gaidar đề xuất, Yeltsin cần một nước Nga có khả năng kiểm soát tiền tệ của chính mình. Điều đó có nghĩa là phải rời khỏi Liên bang Xô viết.

Chính Shuskevich cũng bị thúc đẩy bởi nền kinh tế suy sụp. Ông mời Yeltsin đến cùng mình trong căn nhà nghỉ dưỡng ở rừng sâu, với hy vọng rằng, nếu làm hài lòng vị tổng thống thì khí đốt và điện của Nga sẽ tiếp tục được chuyển tới Belarus. Mùa đông sẽ vô cùng khó khăn nếu không có chúng. Địa điểm Shuskevich chọn là một nhà nghỉ có tên Viskuli, nơi Leonid Brezhnev và Nikita Khrushchev từng giải trí với trò bắn bò rừng và nhiều trò tiêu khiển khác (đây là lý do nó có đường dây điện thoại nối với Moscow).

Yeltsin đề nghị Leonid Kravchuk, Tổng thống Cộng hòa Ukraine, tham gia cùng họ. Chủ nhật trước đó, người dân Ukraine đã bỏ phiếu áp đảo để phê chuẩn tuyên bố độc lập, rời khỏi Liên bang Xô viết. Tuyên bố đó đã được Quốc Hội của họ, Rada, thông qua ngay sau cuộc đảo chính tháng 8.

Yeltsin muốn những gì Kravchuk đạt được ở Ukraine không đơn thuần chỉ vì lý do kinh tế. Ông tin rằng độc lập sẽ là yếu tố quan trọng để củng cố quyền lực của mình, và để theo đuổi nền dân chủ tự do. Ukraine, cho đến tận thế kỷ 19, chưa bao giờ là một lãnh thổ được xác định rõ ràng, đồng thời vẫn luôn là nơi cư trú của nhiều dân tộc khác nhau, với sự chia rẽ văn hóa sâu sắc. Việc nước này trở thành một quốc gia đơn nhất, độc lập, trong phạm vi biên giới cũ của Liên Xô đã tạo tiền lệ cho nước Nga đi theo cách tương tự, và bác bỏ nền độc lập của các lãnh thổ nổi loạn như Chechnya. Đó là lý do tại sao Cộng hòa Nga là một trong ba chính thể đầu tiên trên thế giới công nhận Ukraine là một quốc gia độc lập.

Dù một thế giới nơi Ukraine, Nga và Belarus hoàn toàn độc lập khỏi Liên Xô nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng một thế giới nơi ba nước này không ràng buộc với nhau theo bất kỳ cách thức nào sẽ là điều đáng lo ngại đối với một người Nga như Yeltsin. Vấn đề không chỉ ở việc Ukraine là quốc gia đông dân thứ hai, và có sức mạnh kinh tế cũng đứng thứ hai trong số các nước cộng hòa còn lại, mà các ngành công nghiệp của nước này còn tích hợp chặt chẽ với các ngành công nghiệp Nga. Câu hỏi cũng không phải chỉ nằm ở việc điều gì sẽ xảy ra với các lực lượng hạt nhân đặt tại Ukraine nhưng lại nằm dưới sự chỉ huy của chính quyền Liên Xô ở Moscow. Vấn đề đi sâu hơn nhiều.

Một năm trước, trong “Tái thiết nước Nga” (Rebuilding Russia), một bài luận đăng trên tờ báo được lưu hành rộng rãi nhất Liên Xô, Alexander Solzhenitsyn đã hỏi “Nước Nga chính xác là gì? Hôm nay, ngay lúc này đây? Và – quan trọng hơn – ngày mai thì sao?… Bản thân người Nga nghĩ rằng ranh giới vùng đất của mình là ở đâu?” Sự cần thiết phải để các nước Baltic ra đi là rõ ràng – và khi họ rời Liên Xô vào năm 1990, Solzhenitsyn, Yeltsin, và phần lớn nước Nga đã cùng nhau ngăn chặn nỗ lực của nhóm theo chủ nghĩa phục thù muốn giữ các nước này ở lại liên bang. Điều này cũng đúng với vùng Trung Á và Caucasus; những khu vực vốn dĩ là thuộc địa. Nhưng Belarus và Ukraine là một phần của ‘vùng lõi đô thị.’ Solzhenitsyn lập luận rằng mối quan hệ gắn kết giữa “Tiểu Nga” (tức Ukraine), “Đại Nga,” và Belarus với nhau cần phải được bảo vệ bằng mọi cách, trừ chiến tranh.

Suốt hàng thế kỷ, Ukraine đã định hình bản sắc Nga. Là trung tâm của một đại công quốc thời Trung cổ có tên gọi Kyivan Rus, kéo dài từ Biển Trắng ở phía bắc, đến Biển Đen ở phía nam, Kyiv được coi là cái nôi của văn hóa Nga và Belarus, đồng thời là nền tảng của đức tin Chính thống giáo của họ. Thống nhất với Ukraine là điều kiện cơ bản giúp người Nga cảm thấy mình là người châu Âu. Trong cuốn “Vương quốc đã mất” (Lost Kingdom, 2017), Serhii Plokhy, một sử gia người Ukraine, mô tả cách “huyền thoại về nguồn gốc của người Kyiv … đã trở thành nền tảng trong hệ tư tưởng của Đại Công quốc Moskva (Muscovy), khi chính thể này chuyển từ thần phục Mông Cổ thành một quốc gia có chủ quyền, và sau đó là một đế chế.” Đế chế Nga cần phải có Ukraine; và Nga không có lịch sử nào khác ngoài lịch sử một đế chế. Ý tưởng rằng Kyiv chỉ là thủ đô của một quốc gia láng giềng là điều không thể tưởng tượng đối với người Nga.

Nhưng với người Ukraine, chuyện không phải như vậy. Vào bữa tối đầu tiên ở Viskuli, khi Yeltsin và Kravchuk ngồi đối diện nhau, những ly rượu mừng đã giúp tình bạn chớm nở. Tuy nhiên, tình bạn mà Kravchuk mong muốn là loại thân tình đi kèm với một tấm séc cấp dưỡng đàng hoàng, chứ không phải loại đi kèm với những lời hứa suông.

Kravchuk sinh năm 1934 tại tỉnh Volhynia, miền tây Ukraine – khi đó là một phần của Ba Lan, nhưng đã được nhượng lại cho Liên Xô theo một điều khoản trong hiệp ước bất tương xâm mà nước này ký với Đức vào năm 1939. Tuổi thơ chìm trong cảnh thanh trừng sắc tộc, đàn áp, và chiến tranh đã dạy cho Kravchuk, như lời chính ông, “đi giữa những giọt mưa” [nghĩa là tránh được những khó khăn – ND]. Đó là một kỹ năng khiến ông trở thành một thành viên lý tưởng cho bộ máy cộng sản, sau đó là trở thành một người đấu tranh cho nền độc lập của Ukraine – không phải vì bất kỳ lý tưởng cao siêu nào, mà đơn giản là vì ông muốn có cơ hội điều hành đất nước của chính mình.

Trưng cầu dân ý đã trao cho ông cơ hội ấy, khi nền độc lập được đa số dân cư ở mọi vùng khắp đất nước tán thành, kể cả vùng phía tây trước đây thuộc về Áo-Hung, với các nhà thờ và quán cà phê theo lối kiến trúc Baroque, lẫn phía đông Xô viết hóa và công nghiệp hóa, nơi phần lớn 11 triệu dân Ukraine gốc Nga sinh sống. Kravchuk cần nhiều đáp ứng thiết thực từ Nga, nhưng ông cũng thừa nhận những lợi ích mà người Nga nhắm đến. Ông muốn có một mối quan hệ tốt đẹp với Yeltsin, và vì vậy đã quyết định đến buổi gặp mặt trong rừng. Nhưng ông không chủ tâm trao cho Nga một lối thoát khỏi liên minh theo bất kỳ cách nào sẽ làm tổn hại đến nền độc lập của Ukraine.

Thỏa thuận, ở dạng dự thảo, vào lúc 4 giờ sáng ngày Chủ nhật, đã đạt được những mục tiêu đó bằng một phương cách khá gọn gàng. Việc nước Nga đơn giản theo chân Ukraine tuyên bố độc lập sẽ tự nó giải quyết câu hỏi về các nước cộng hòa còn lại của Liên Xô. Vì vậy, thay vào đó, họ đã bãi bỏ chính Liên Xô.

Liên bang Xô viết được thành lập vào năm 1922, thông qua một tuyên bố chung của bốn nước cộng hòa Xô viết – Cộng hòa Liên bang Ngoại Kavkaz (TSFSR), Nga, Ukraine và Belarus. Với việc TSFSR đã bị chia cắt từ lâu, các tổng thống theo đó cũng xóa bỏ những gì mà các tiền bối của họ đã ràng buộc với nhau. Họ sử dụng từ Cộng đồng Các Quốc gia Độc lập (Commonwealth of Independent States, CIS) thay cho từ “liên minh” (union)– Kravchuk không cho phép sử dụng từ “liên minh”. Khối này chỉ có một vài thẩm quyền được xác định rõ ràng, và bất kỳ quốc gia hậu Xô viết nào cũng được hoan nghênh tham gia khối. Không có mối quan hệ đặc biệt nào giữa ba nước vùng Slavơ được đề cập.

Chiều hôm đó, ba vị lãnh đạo đã ký thỏa thuận, theo đó tuyên bố rằng “Liên Xô với tư cách là một chủ thể của luật pháp quốc tế, và thực thể địa chính trị, đã không còn tồn tại.” Công việc tiếp theo thuộc về người trẻ nhất trong số ba tổng thống – cũng là người kém nhiệt tình nhất với những gì họ vừa làm – đó là thông báo cho Moscow về những gì đã xảy ra.

Gorbachev đã nổi giận. Tầm quan trọng của Ukraine không phải là một vấn đề trừu tượng đối với ông. Giống như Solzhenitsyn, ông là con của một người mẹ Ukraine và một người cha Nga. Ông lớn lên cùng những khúc hát Ukraine và đọc sách của Nicolai Gogol, người đã biến những câu chuyện dân gian của quê hương mình thành một kho tàng thơ văn phong phú sau khi chuyển đến St. Petersburg. Sự ra đời của Liên Xô có nghĩa là Gorbachev và những người giống như ông, dù có nguồn gốc lai lịch ra sao, đều mang trong mình hai bản sắc: Nga và Ukraine.

Quan trọng hơn, dù cuộc đảo chính thất bại đã khiến việc tan rã ít nhiều là không thể tránh khỏi, nhưng việc giải thể một đế chế đa sắc tộc với 250 triệu dân vẫn là một chủ đề gây chấn động. Như Solzhenitsyn đã viết trong bài “Tái thiết nước Nga”, “Chiếc đồng hồ chủ nghĩa cộng sản đã ngừng chạy. Nhưng tòa tháp bằng bê tông của nó vẫn chưa sụp đổ. Và chúng ta phải cẩn thận để không bị đè bẹp bên dưới đống đổ nát, thay vì giành được tự do.” Thực tế là trong đống đổ nát đó, nếu quả thật có một đống đổ nát, tồn tại một kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, nằm rải rác giữa bốn quốc gia riêng biệt (ba nước Slavơ và Kazakhstan), và điều này khiến các chính khách trên khắp thế giới lo sợ. Khi kinh tế rơi vào suy thoái, Gorbachev đã đến gặp Tổng thống George Bush để vay 10 đến 15 tỷ đô la, và lúc ấy mối quan tâm hàng đầu của Bush là mối đe dọa hạt nhân. Lo lắng tương tự đã khiến Gorbachev phản đối sự ly khai của Ukraine trong một bài phát biểu được đưa ra ngay trước cuộc đảo chính vào tháng 8. “Anh có nhận ra mình đã làm gì không?” Gorbachev hỏi Shushkevich. “Nếu Bush phát hiện ra chuyện này thì sao?”

Câu hỏi đó thật ra đang được trả lời trên một trong những đường dây điện thoại khác của cabin. Andrei Kozyrev, bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của Nga, đã gặp chút khó khăn khi tìm cách gọi cho Bush. Một nhân viên lễ tân của Bộ Ngoại giao Mỹ (do Kozyrev không có số trực tiếp của Nhà Trắng nên phải gọi qua Bộ Ngoại giao) nói với người đàn ông có chất giọng Nga, đang yêu cầu cô kết nối một người tên Yeltsin với Tổng thống Mỹ, rằng cô ấy “không có tâm trạng tham gia mấy trò chơi khăm.” Kozyrev cũng không thể cho số để Bộ Ngoại giao Mỹ liên hệ lại, để có thể chứng minh sự thành thật của bản thân: vì ông không biết số điện thoại của cabin nơi ông đang gọi đi. Tuy nhiên, cuối cùng thì ông cũng được kết nối, và trở thành phiên dịch viên trong lúc Yeltsin giải thích với Bush rằng kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới hiện nằm trong tay một thứ gọi là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập.

Gorbachev không rõ Bush sẽ phản ứng như thế nào, và bản thân Bush cũng vậy. Đoạn nhật ký thu âm mà Tổng thống Mỹ ghi lại vào ngày hôm sau đã tràn ngập những câu hỏi đầy lo lắng: “Đêm thứ Hai này, tôi chợt thấy mình lo nghĩ nhiều về hành động quân sự. Quân đội [Liên Xô] ở đâu – họ đang rất im ắng. Chuyện gì sẽ xảy ra? Liệu nó có vượt khỏi tầm kiểm soát? Gorbachev sẽ từ chức? Hay ông ta sẽ cố gắng chống trả? Yeltsin có cẩn trọng suy xét mọi chuyện chưa? Đây quả là một tình huống khó khăn – rất khó khăn.” Mối nghi ngờ tương tự cũng len lỏi trong tâm trí của ba vị tổng thống trong rừng. Khi Yeltsin và đoàn tùy tùng quay trở lại Moscow, họ nói đùa về việc máy bay của mình bị bắn rơi. Tiếng cười không hoàn toàn che giấu được nỗi lo.

Thế nhưng, những vụ bắn hạ máy bay, cùng với sự vi phạm chủ quyền của Ukraine, việc chiếm đóng Crimea, cùng sự tái khẳng định rằng di sản của Kyivian Rus có nghĩa là các quốc gia phải bị ‘xích’ lại chung với nhau, và sự đảo ngược của Belarus sang chế độ độc tài – tất cả các sự kiện này đều đã lần lượt xảy ra, dẫn đến việc vào một tháng 12 của 30 năm sau đó, ít nhất 70.000 quân Nga đã tiến gần đến biên giới Ukraine và, trong một diễn biến khác, hàng nghìn người tị nạn Trung Đông đã mắc kẹt trong chính khu rừng Belovezh. Câu hỏi từng có vẻ đã được giải quyết về mối quan hệ thời hậu Xô Viết giữa ba quốc gia lại một lần nữa trở thành mối quan tâm địa chính trị lớn.

Tuy nhiên, ngày trước, khi đứng giữa những cây thông phủ đầy tuyết, sau khi rời cuộc họp, Yeltsin đã ngập trong cảm giác nhẹ nhàng và tự do. Ông hồi tưởng “khi ký thỏa thuận này, Nga đã chọn một con đường khác, con đường phát triển nội bộ hơn là trở thành một đế chế… Đất nước đang vứt bỏ hình ảnh truyền thống là ‘cường quốc của một nửa thế giới,’ hình ảnh về cuộc xung đột vũ trang với các nền văn minh Tây phương, và vai trò cảnh sát trong việc giải quyết các xung đột sắc tộc. Giờ khắc cuối cùng của đế chế Xô Viết đã điểm.” Có thể sự phụ thuộc lẫn nhau một cách phức tạp giữa Nga và Ukraine không quan trọng nhiều như chúng ta nghĩ; một quốc gia dân chủ thôi là đủ rồi. Có thể vấn đề chính là trí tưởng tượng của chúng ta đã sai lầm.

Nguồn: Why Russia Has Never Accepted Ukrainian IndependenceThe Economist, 18/12/2021

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng / Nghiên cứu Quốc Tế