Nhà ống cũ thành biệt thự sau cải tạo

HÀ NỘI – Căn nhà ống kiểu cũ với diện tích nhỏ hẹp được cải tạo theo phong cách Indochine, thường áp dụng cho biệt thự rộng lớn.

Ngôi nhà ống kiểu cũ cao 3,5 tầng, diện tích mặt sàn 50 m2 nằm sâu trong ngõ nhỏ ở phố Nghĩa Dũng, Hà Nội. Nhà đã xây nhiều năm nên gia chủ muốn đập đi xây lại hoặc cải tạo để có không gian sinh hoạt rộng rãi, thoải mái hơn.

Ưu điểm của căn nhà trước đây khá thông thoáng, tuy nhiên tường bị thấm, nhà lại chếch hướng Tây chưa có biện pháp chống nắng vào buổi chiều, cây ở sân sau thiếu sáng nên tỷ lệ chết cao.

Sau khi tham khảo và bàn bạc với các kiến trúc sư, gia chủ nhận thấy tổng mức đầu tư giữa hai phương án chênh nhau khoảng 25-30% nên quyết định cải tạo. Khung nhà cũ được giữ lại, gia chủ xây thêm một căn nhà mới trên phần đất 29 m2 mới mua bên cạnh, kết hợp hai căn rồi cùng nâng thêm 4,5 tầng để tăng diện tích sử dụng.

Do gia chủ tự nhận tính cách trầm, già hơn tuổi nên đã chọn phong cách Indochine, vừa mang nét phương Đông lại có nét kiến trúc sang trọng châu Âu. Theo kiến trúc sư phụ trách, lựa chọn này không lỗi mốt, không nhàm chán theo thời gian và sự ấm cúng luôn hiện hữu.

Vì nhà có diện tích không lớn, nhóm kiến trúc sư đã tiết chế chi tiết, sắp xếp mặt bằng phù hợp với nhu cầu hàng ngày nhưng vẫn đảm bảo tinh thần của phong cách chủ đạo.

Dấu ấn phong cách này thể hiện rõ nhất ở các không gian như phòng khách, phòng ăn và phòng ngủ master với chi tiết ốp gỗ trần, nội thất mây tre đan cùng họa tiết trang trí truyền thống. Gạch bông sàn, giấy dán tường, họa tiết hình vảy cá màu xanh ở tường bếp… cũng góp phần tạo nên phong cách đặc trưng Indochine.

Về mặt tổng thể, căn nhà chia bốn phần trước sau. Khu trước nhà tiếp cận nhiều ánh sáng tự nhiên và thông gió từ ngõ nhỏ phía trước nên dành cho không gian ngủ và học tập. Khu giữa nhà phía trước gồm lõi thang máy và nhà vệ sinh, khu giữa nhà phía sau là giếng trời. Khu sau nhà là các không gian phụ trợ nhằm tăng chất lượng cuộc sống như phòng đọc sách, phòng nghệ thuật, khu giặt phơi.

Cách thiết kế này khiến tất cả không gian sau cải tạo đều có ánh sáng và gió tự nhiên.

Giếng trời ở khu vực giữa nhà kết hợp với khoảng không phía sau là nơi lưu thông, trung chuyển khí, giúp gió và ánh sáng tự nhiên len lỏi vào mọi không gian chức năng.

Phòng ngủ master được đưa lên tầng 4, ưu tiên góc nhìn phía ngoài không bị che khuất bởi những nhà đối diện.

Căn phòng này nằm ở không gian phía trước nhà với ánh sáng từ mặt tiền, lại được tiếp cận với giếng trời qua lưng thang máy nên lúc nào cũng ngập tràn nắng gió.

Các họa tiết hoa văn trở thành nét đặc trưng của phong cách Indochine trong thiết kế nội thất, tạo nên chất riêng khi ứng dụng vào các chi tiết tường, trần, vật dụng trang trí…

Phòng tắm master được xử lý để bồn tắm đặt cạnh khoảng xanh nhỏ ngoài ban công, nhưng vẫn kín đáo với cách bố trí gạch thông gió tại mặt tiền.

Việc bố trí hệ thống cửa kính lớn cạnh bồn tắm còn giúp lấy thêm ánh sáng vào ban ngày và tận hưởng những vì sao đêm vào những buổi tối.

Gia chủ là một người ưa thích thư pháp, được bố trí phòng làm việc riêng với nội thất gỗ mang đậm chất hoài cổ.

Cửa sổ với chức năng xoay tròn tạo điểm nhấn, phá vỡ sự đơn điệu cho không gian.

Hành lang được sử dụng gạch bông cổ điển, kết hợp với hệ tranh thư pháp, giúp không gian vừa mang nét truyền thống, vừa mang nét hiện đại.

Thư viện của gia đình thông thoáng, tràn ngập gió và ánh sáng. Đây cũng là nơi các thành viên có thể ngồi quây quần đọc sách, thư giãn và trò chuyện cùng nhau.

Khu vực giặt ủi được kết nối với giếng trời cùng không gian xanh mát của cây xanh qua khung cửa sổ xoay tròn. Tầng 2 trước nhà cũng bố trí sẵn khu vực để trồng cây leo lên lam thép mặt tiền, về lâu dài sẽ phủ 40-50% mặt tiền phía trước.

Công trình hoàn thiện năm 2022. Tổng chi phí 4,3 tỷ đồng.

Trang Vy Thiết kế và Xây dựng: KAHN Atelier

Cơ thể của người uống nước lọc hay người uống trà khỏe mạnh hơn?

NƯỚC LỌC KHÔNG PHẢI LÀ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐỂ CUNG CẤP NƯỚC CHO CƠ THỂ.
CƠ THỂ ĐƯỢC LỢI GÌ KHI UỐNG TRÀ VÀ NƯỚC THƯỜNG XUYÊN?
TRÀ

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Milan (Italy) đã tiến hành phân tích dữ liệu và so sánh giữa những người có và không uống trà, kết quả mới đây được công bố trên tạp chí British Journal of Cancer. Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng so với những người không uống trà thường xuyên, nguy cơ ung thư dạ dày ở những người uống trà thấp hơn.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu do nghiên cứu sinh Cheng Pengfei (Bệnh viện Nankai thuộc Đại học Y Thiên Tân – Trung Quốc) đứng đầu đã phân tích dữ liệu của 720.000 người. Họ phát hiện rằng việc tiêu thụ nhiều trà hơn có liên quan đến việc giảm 34% nguy cơ xuất huyết não.

Giáo sư Chen tại Viện nghiên cứu trà cho biết trà chứa nhiều loại nguyên tố cần thiết cho cơ thể, giúp tăng cường thể chất, cải thiện khả năng miễn dịch…

Cơ thể của người uống nước lọc hay người uống trà khỏe mạnh hơn? - Ảnh 1.

Trà có nhiều nguyên tố cần thiết cho cơ thể. Ảnh: iStock.

NƯỚC

Nước là một phần quan trọng và chiếm 70% trọng lượng cơ thể con người. Việc uống nhiều nước giúp bổ sung lượng nước cần thiết, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, có lợi cho tất cả cơ quan trong cơ thể…

Song theo khảo sát, 65,9% người uống nước khi khát, chỉ 5% người uống nước thường xuyên và đủ định lượng. Trong khi đó, cơ thể thường xuyên bị mất nước, dễ tiềm ẩn hàng loạt nguy cơ về sức khoẻ.

Nếu không uống đủ nước, bạn có thể đối mặt với tình trạng táo bón, chức năng thận suy giảm, tim hoạt động kém… Thói quen ít uống nước còn có liên quan đến các bệnh về huyết khối, gút, khối u ác tính…

NƯỚC HAY TRÀ TỐT HƠN?

Cả trà và nước đều là lựa chọn tốt để bổ sung nước. Song nhiều chuyên gia cho rằng nước tốt hơn trà. Bởi nước không chứa caffein, đường hay các chất phụ gia khác. Nước giúp cơ thể hấp thụ các khoáng chất cần thiết, ngăn ngừa sỏi thận…

Các chuyên gia khuyên mọi người nên tiêu thụ 8-12 ly nước mỗi ngày. Song thực tế, lượng nước cụ thể tuỳ thuộc vào cân nặng, hoạt động thể chất và môi trường xung quanh.

Cơ thể của người uống nước lọc hay người uống trà khỏe mạnh hơn? - Ảnh 2.

Trà không nên là thức uống thay thế nước. Ảnh: ClassPass.

Nếu là người thường xuyên tiêu thụ trà, bạn vẫn có thể dùng loại thức uống này và tăng lượng nước trong cơ thể. Tuy nhiên, trà không nên thay thế hoàn toàn nước bởi nhiều loại trà có thể được bổ sung thêm hương vị và đường. Điều quan trọng là cần kết hợp nước vào lượng thức uống hàng ngày.

Theo Healthline, trà xanh là loại đồ uống bổ dưỡng có chứa lượng caffein an toàn, nhưng ít hơn so với trà đen. Song trà xanh đem lại nhiều lợi ích cho cơ thể, như chất chống oxy hoá, ngăn ngừa bệnh tiểu đường và tim mạch…

Trà đen mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe vì chứa chất chống oxy hóa và các hợp chất có thể giúp giảm viêm trong cơ thể.

Trà thảo mộc nói chung có nhiều tác động tích cực tới cơ thể. Tuy nhiên, tuỳ từng loại cụ thể (trà rooibos, trà hoa cúc, trà gừng…) mà trà thảo mộc có những tác dụng khác nhau. Bạn nên chú ý thời gian và liều dùng, bởi một số có thể gây tác dụng phụ nếu sử dụng trong thời gian dài hoặc dùng với hàm lượng quá nhiều.

Cơ thể của người uống nước lọc hay người uống trà khỏe mạnh hơn? - Ảnh 3.

Tuỳ cân nặng, hoạt động thể chất và môi trường, mỗi người có lượng nước tiêu thụ khác nhau. Ảnh: Health Digest.

2 LOẠI ĐỒ UỐNG NÊN TRÁNH CÀNG XA CÀNG TỐT
BIA

Bia chứa ít ethanol hơn rượu vang đỏ và trắng. Song dù chỉ là lượng nhỏ ethanol cũng có thể gây co mạch, ảnh hưởng đến tuần hoàn máu, tăng cân, tăng nguy cơ trầm cảm, mắc bệnh gan và thậm chí là nguy cơ tử vong.

ĐỒ UỐNG CÓ ĐƯỜNG VÀ GA

Đồ uống chứa đường có thể khiến cơ thể hấp thụ quá nhiều calo và tăng cân. Đồng thời làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như béo phì, đái tháo đường loại 2, tim mạch và các bệnh mạn tính khác. Đặc biệt, việc tiêu thụ nhiều đồ uống có đường có thể làm tăng nguy cơ tử vong sớm.

Ngoài ra, bạn cũng nên tránh xa đồ uống có ga do những tác hại chúng gây ra cho cơ thể. Do hàm lượng đường, muối natri và caffein trong đồ uống có ga cao, thức uống này có thể khiến cơ thể mất nước. Đồ uống có ga có thể gây ra mảng bám tích tụ trên răng, dẫn đến sâu răng và bệnh nướu. Ngoài ra, thức uống này còn có thể khiến bạn tăng cân, phát triển bệnh đái tháo đường.

Lam Phương / Trí thức trẻ

Khuôn mặt của con người nếu được tiến hóa từ những loài vật khác mà không phải là vượn!

Hãy cảm ơn vì tổ tiên của chúng ta là vượn. Bởi vì nếu tiến hóa từ những loài động vật này thì khuôn mặt con người sẽ rất xấu!

Theo thuyết tiến hóa của Darwin thì con người được tiến hóa từ loài vượn cổ. Kể từ thời điểm học thuyết này ra đời, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những nét tương đồng của loài người so với rất nhiều loài động vật khác. Tuy nhiên, sẽ như thế nào nếu tổ tiên của loài người là hổ hay là loài cú?

Một họa sĩ người pháp, đồng thời cũng là nhà lý luận nghệ thuật và nhà tâm lý học Charles Le Brun đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về nhân tướng học (physiognomy), chẳng hạn như nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đặc điểm trên khuôn mặt và tính cách. Trong dự án có tên “Treatise on facial expression” (Tạm dịch: Lý luận về biểu hiện trên khuôn mặt), ông đã mô tả những hình ảnh thú vị về việc con người sẽ trông như thế nào nếu chúng ta tiến hóa từ những loài động vật khác mà không phải là vượn. Mặc dù các kết quả này thực sự có phần “quái dị” nhưng đừng bỏ lỡ nếu bạn không muốn để trí tưởng tượng bay xa!

Con hổ

Nếu chúng ta được tiến hóa từ hổ, khuôn mặt sẽ… nhiều râu hơn và lông cũng dài hơn

Con cú

Nếu chúng ta được tiến hóa từ cú, mắt sẽ to hơn

Gấu trúc Mỹ
Nếu chúng ta được tiến hóa từ gấu trúc Mỹ thì khuôn mặt sẽ “V-line” hơn


Nếu chúng ta được tiến hóa từ đại bàng thì khuôn mặt sẽ “sát thủ” hơn

Cừu đực
Nếu chúng ta được tiến hóa từ cừu đực thì mái tóc sẽ xoăn hơn

Bò đực
Nếu chúng ta được tiến hóa từ bò đực thì đôi môi sẽ trở nên “quyến rũ” hơn

Lạc đà
Nếu chúng ta được tiến hóa từ lạc đà thì khuôn mặt sẽ có nhiều lông hơn

Dê núi
Nếu chúng ta tiến hóa từ dê núi thì khuôn mặt sẽ trở nên “già” hơn


Nếu chúng ta tiến hóa từ gấu thì khuôn mặt sẽ trở nên “dị” hơn

Lợn lòi đực
Nếu chúng ta tiến hóa từ lợn lòi đực, khuôn mặt sẽ trở nên “cớm” hơn

Thỏ
Nếu chúng ta tiến hóa từ loài thỏ, khuôn mặt sẽ trở nên “nhẵn nhụi” hơn


Nếu chúng ta tiến hóa từ lừa thì tai sẽ dài hơn

Theo Brightside / Khoa học TV

Có phải Liên Xô vẫn đang trên đà tan rã?

Tin ông Mikhail Gorbachev qua đời, thọ 91 tuổi vẫn đang tiếp tục chia rẽ dư luận Việt Nam.
Phái ‘hoài niệm Liên Xô’ thì ấm ức cho rằng ông đã làm Tổ quốc của phong trào XHCN quốc tế tan rã, khiến Việt Nam mất đi chỗ dựa trên trường quốc tế, phải xoay sở, đi dây, lèo lái trong một thế giới phân liệt, bất an.

Những người ủng hộ các nền dân chủ dân tộc Đông Âu (cộng chút hy vọng cho Việt Nam) thì ca ngợi vai trò kiến tạo môi trường hòa bình, hòa hoãn Đông Tây để thế giới chấm dứt Chiến tranh Lạnh của Mikhail Gorbachev.

Ở một góc độ nào đó thì cả hai nhóm này đều có lý do, hoặc cảm xúc chính đáng để lên tiếng.

Theo quan sát của tôi, những người hoài niệm Liên Xô không hẳn vì đầu óc bảo thủ, hay hoang tưởng mong phục hồi thể chế Xô Viết đã một đi không trở lại.

Điều họ luyến tiếc là một đế quốc đã có những giờ phút huy hoàng của nó. Trên thực tế, so với Trung Quốc thì Liên Xô được nhìn nhận như đại cường từng giúp miền Bắc Viêt Nam và nước Việt Nam thống nhất sau 1975 tận tâm hơn.

Những người bạn tôi ở Ba Lan, Đức, CH Czech, Hungary thì ngược lại, họ tin rằng sự tan vỡ của Đế chế Đỏ là cơ hội tuyệt vời cho các dân tộc bị trị ở Đông Âu, mà văn hóa gốc vốn cao hơn ở Nga, được trở về ngôi nhà quốc gia,độc lập, tự do, dân chủ của họ, để phát triển hết tiềm năng vốn có.

Nhưng trên thực tế, như ta đã thấy, dù có truyền thống công nghệ cao (Đông Đức, Tiệp), có văn học, công nghệ hàng hải, toán học giỏi (Ba Lan, Hungary)…các nước này đều vươn lên từ đống tro tàn của khối Xô Viết bằng cách dựa vào một mô hình đế chế khác, giàu mạnh và an ninh vững vàng: Liên minh châu Âu và khối quân sự Nato. Đồng vốn, thị trường EU và các điều khoản đảm bảo an ninh chung của Nato đã tạo ra ba thập niên vàng cho Đông Âu.

Người Đông Âu đã dịch chuyển từ quỹ đạo của một đế quốc đổ vỡ sang quỹ đạo của một mô hình có tầm vóc siêu quốc gia (supranational dimension), của EU và Nato, cho dù chúng ta tạm chưa gọi EU là một đế quốc.

Đây cũng là các chuyển biến rất logic với người châu Âu, vì họ, từ Hungary, Czech, Slovakia tới Phổ (Đông Đức), Slovenia, Romania…̣đều có thời không thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh, thì thuộc các đế quốc nhỏ hơn, hoặc là liên minh, đồng minh nhỏ của chúng.

Việc tan ra, tụ lại của các ‘gia đình dân tộc’ châu Âu đã có từ rất lâu, nên câu chuyện khác hẳn Việt Nam, điều mà tôi sẽ nói sau.

Giải thích địa chính trị bằng ‘cái nhìn đế chế’

Lý thuyết về đế chế xem ra có thể giúp chúng ta hiểu hơn phần nào sự vận hành của chính trị quốc tế hiện nay, với các lực hút, lực đẩy vừa mang tính địa chính trị, vừa có tính mô hình, và trọng lượng riêng, khi các mảng, các khối to lớn va đập.

Nhìn từ góc độ đế chế thì cuộc chiến của Nga ở Ukraine hiện nay cũng có thể hiểu như xung lực còn lại của quá trình tan rã thời Liên Xô.

Hồi 2016, nhân 25 năm Liên Xô sụp đổ trên trang Foreign Policy có loạt bài nói “The Soviet Union is gone, but it’s still collapsing” (Liên Xô đã biến mất, nhưng nó vẫn đang tan rã).

Các tác giả tham gia viết bài đánh giá rằng cuộc chia tay của Liên Xô năm 1991 “yên lặng quá”, thậm chí không thành sự kiện (no event).

Đáng chú ý có bài của tác giả Ukraine, Serhii Plokhy cho rằng “Sự tan rã của Liên Xô giống như việc đổ vỡ của các đế quốc trong quá khứ [ông trích phần nói về đế chế Ottoman, đế quốc Áo-Hung], luôn không phải là một sự kiện, mà là một quá trình.”

Plokhy nêu ra cuộc chiến từ 2014 ở Đông Ukraine như một ví dụ rằng Nga không chịu chấp nhận trật tự hậu Xô-Viết và ví Ukraine với Ba Lan, Tiệp Khắc lúc vừa có độc lập năm 1918, sau Thế Chiến I.

Xin nhắc  lại Thế Chiến I chấm dứt với sự sụp đổ của ba đế quốc: Nga, Đức và Áo-Hung, thay đổi bản đồ châu Âu và cho ra đời một loạt quốc gia độc lập ở Đông Âu, Baltic và Balkans.

Năm 1918, các nước đó đều yếu, chính thể chưa hoàn thiện, và muốn làm đồng minh của Phương Tây (Anh, Pháp) để có chỗ dựa trước sự đe dọa của Đức và Liên Xô. Vì cả Berlin và Moscow, tuy đã theo chủ nghĩa khác, nhưng tinh thần phục thù, đòi lại các vùng đế chế tiền thân của họ “bị tước mất”, vẫn còn rất cao.

Plokhy nêu ra vấn đề dân tộc ở các quốc gia bị Đức và Liên Xô tấn công trong thập niên 1930s:

“Vấn đề sắc tộc trong xã hội của họ đã là cái cớ để láng giềng hùng mạnh, hung hăng can thiệp.”

Lý cớ thì chỉ là chuyện nhỏ để gây chiến.

Ví dụ Đức đánh Tiệp Khắc để “giải phóng người Đức vùng núi Sudet”.

Liên Xô tấn công Ba Lan (09/1939) để “bảo vệ giai cấp công nông Bạch Nga ở phía đông bị bọn địa chủ Ba Lan đè nén”. Cuối cùng, nước cộng hòa Ba Lan đa sắc tộc cùng lúc bị Đức đánh từ phía Tây và Nam để “giành lại lãnh thổ truyền thống của người Đức” (hành lang Gdansk, vùng núi Silesia).

Việc quân Hitler bắt hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi đưa vào lò thiêu là một phần khác của ý thức hệ phát-xít khát máu nhưng không nằm ngoài một “logic ghê rợn” của đế chế Đức Quốc xã: xóa sổ người Do Thái khỏi châu Âu, chứ không chỉ trên đất Đức. Mục tiêu này mang tính đế quốc, vượt khỏi phạm vi quốc gia.

Mặt trái của chủ nghĩa đế quốc là thế. Tương tự như Stalin nhân danh giai cấp thẳng tay đàn áp các dân tộc thuộc Liên Xô.

Prokhy nhắc rằng chủ nghĩa phục thù Đại Nga nay hoàn toàn có thể làm tương tự với Ukraine: tấn công nhân danh bảo vệ “thiểu số”, “giành lại lãnh thổ lịch sử”.

Và điều đó đã xảy ra năm nay, 2022.

Nga
Chụp lại hình ảnh,Bản đồ Đế chế Nga năm 1800

Nước Nga sẽ đi về đâu sau cuộc chiến Ukraine?

Câu hỏi tiếp theo trong dòng thời sự là Nga, hậu thân của Đế chế Liên Xô, có đang tiếp tục tan rã?

Trang Geopolitical Futures ở Hoa Kỳ hôm 01/09/2022 vừa công bố nghiên cứu đặc biệt mang tựa đề “Will Russia Collapse Again?” (Nước Nga sẽ lại tan rã?).

Do GS George Friedman, một người Do Thái gốc Hungary sang Mỹ từ nhỏ (vẫn thạo tiếng Hung) làm chủ biên, công trình này đánh giá rằng hơn 30 năm sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga của ông Putin lại rơi vào vị thế có quá nhiều “vùng đệm” đang bị teo lại (Ukraine), bị hở sườn (Phần Lan), hở bụng (Biển Đen với yếu tố Thổ Nhĩ Kỳ), và hở lưng (Trung Á).

Về kinh tế, Nga thực chất là các vùng kinh tế khác nhau gộp lại. Vùng Viễn Đông có logic kinh doanh, hoạt động khác vùng châu Âu của Nga. Vùng Caucasus và biển Caspi có các quan tâm năng lượng khác, và vùng Biển Đen có những nguồn lợi và mối đe dọa khác.

Một khi Moscow có quyền lực mạnh, bao trùm (như thời đế chế Nga, hoặc Liên Xô) thì Nga có an ninh tốt.

Nhưng ngày nay, theo công trình nói trên, các ưu thế của những vùng khác nhau ở Nga không ứng cứu cho vùng gặp nạn được, vì chính quyền thực ra bất lực.

Một ví dụ: các mỏ khí đốt ở Viễn Đông không bơm sang châu Âu được mà chỉ có thể bán cho Nhật, Trung Quốc, với số lượng nhỏ bằng ¼ sản lượng Nga bán cho “kẻ thù” là EU hiện nay.

Về nhân lực, nếu Putin không khéo thì việc huy động lính từ các cộng  hòa ở vùng châu Á sang đánh giúp “nước mẹ” ở Ukraine có thể gây nội loạn. Các cuộc bầu cử thống đốc vùng từ 2012 cho thấy dân Nga ở các vùng xa có xu hướng không tin tưởng Moscow.

Kết luận, Geopolitical Futures cho rằng Nga tung ra cuộc chiến Ukraine để đẩy xa các vùng đệm phía Tây và nhằm tỏ ra còn mạnh, che đậy thực lực đã yếu hơn trước rất nhiều.

“Nga phải cùng lúc tỏ ra có sức mạnh hơn nó vốn có và phải dùng quyền lực thực sự nó có thật tinh tế. Nhưng các ảo tưởng thì lại rất dễ tan biến, vì chỉ có quyền lực, sức mạnh thực mới bền vững. Hành động do các quốc gia yếu tạo ra nhằm tỏ ra là họ mạnh hơn thực luôn gần như luôn luôn dẫn tới thất bại thảm hại.”

Nếu chúng ta tin vào đánh giá trên thì cơ hội phục hồi đế chế của ông Vladimir Putin xem ra không cao. Liên bang Nga thậm chí có nguy cơ tan rã tiếp.

Sài Gòn
Chụp lại hình ảnh,Biểu hiện của kinh tế tư bản tại Việt Nam

Việt Nam và di sản của các đế chế

Đối với một bộ phận người Việt Nam vẫn còn hoài niệm Liên Xô, theo tôi cũng cần ghi nhận cảm xúc của họ mong muốn có một ‘anh cả’ làm chỗ dựa, vì lịch sử thế kỷ 20 đã tỏ ra quá khắc nghiệt với Việt Nam.

Xứ sở này mất 900 năm theo mô hình Trung Hoa để tạo ra một đế quốc riêng- Đại Nam, với đỉnh cao đạt tới khi làm chủ lãnh thổ rộng lớn trên bờ Đông bán đảo Đông Dương, quá rộng khiến trình độ tư duy, công nghệ và kinh tế trung cổ hậu kỳ không kham nổi khi thế giới bước vào kỷ nguyên hiện đại.

Đại Nam cuối cùng bị một đế quốc khác là Pháp khuất phục, đưa vào quỹ đạo Âu hóa cưỡng bức, gây phản kháng mạnh, 80 năm bài ngoại, di chứng đến nay.

Thế Chiến II kết thúc không đem lại giải pháp gì cho xứ Đông Pháp và hai phần của nó này bị kéo vào hai khối Đế chế đối đầu: Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Kể từ khi Liên Xô tan rã, tình hình quốc tế và khu vực xung quanh Việt Nam đã thay đổi rất nhiều.

Nhưng có một vấn đề không thể né tránh được.

Xét cho cùng, vì cũng từng là phụ thuộc sâu nặng vào Liên Xô, là thành viên COMECON và Khối Hiệp ước quân sự Warsaw CHXHCN Việt Nam nay vẫn phải đối mặt với hội chứng “di sản của đế chế tan rã”. Chưa kể bản thân người Việt Nam cũng có tinh thần đế quốc của riêng họ.

Nỗ lực phục hồi vị thế cường quốc vùng ở Đông Dương (khống chế Lào, Campuchia) trong thập niên 1980s, với sự hỗ trợ của Liên Xô đã không thành, vì bản thân Moscow trên đà xuống dốc và mô hình kinh tế hậu chiến ở Việt Nam quá tệ. Ba mươi năm qua là quá trình vừa tìm đường đi mới, vừa nuối tiếc quá khứ.

Cái chết của ông Gorbachev, với tang lễ hôm nay 03/09, lạ thay, cũng đúng vào dịp 77 năm VNDCCH tuyên bố độc lập mà không được Liên Xô công nhận, dù sao cũng khép lại vĩnh viễn một mô hình. Còn nước Nga của ông Putin thì như đã thấy, đang sa lầy vào các vấn đề di sản của chính nó.

Chiều kích lịch sử của ngôi sao đỏ trên Hồng trường ở Moscow không còn nữa ở cả hai đại lượng thời gian, không gian nhưng còn lưu trong tâm trí.

Từ nay, việc xử lý di sản Liên Xô của Việt Nam như thế nào, cho cả nội bộ và đối ngoại tùy vào lựa chọn của người Việt Nam.

Nguyễn Giang / bbcvietnamese.com

Giải mã sự yêu gét đối với Gorbachev ở Việt Nam

Mikhail Gorbachev và vợ, Raisa, trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1989.

Đó là bài học đắt giá từ những diễn biến tiêu cực trong mấy thập kỷ qua, làm triệt tiêu thành quả Đổi Mới từ thập kỷ thời Gorbachev – Trần Xuân Bách. Và giờ đây, Việt Nam vẫn đang sa lầy giữa ngã ba đường ý thức hệ.

TBT Nguyễn Phú Trọng muốn giải quyết vấn đề kiểm soát quyền lực và tham nhũng mà không phải thay thể chế, tức là không phải thay đổi mô hình đảng trị (party rule) bằng pháp quyền (rule of law).

Nhớ “cơn sốt Gorby” ngày ấy và bây giờ… Được biết nước Nga của Putin không tổ chức quốc tang Gorbachev và ĐCSVN của Nguyễn Phú Trọng cũng không chia buồn với gia đình ông, tôi thấy chính trị thật là bạc bẽo. May mà còn có mấy lời ai điếu cảm động từ các nguyên thủ châu Âu và Hoa Kỳ. Đó mới đúng là những chính khách lịch lãm và có văn hóa…

Trần Đông A

Đón vị Giáo sư – Trưởng khoa tại sân bay quốc tế Nội Bài vào một trưa mùa hè oi ả năm 1987. Giáo sư đến thăm Viện tôi theo thỏa thuận giữa hai Đại học. Vừa vứt áo com-lê vào chiếc Volga nóng như một lò thiêu, ông phàn nàn ngay: “Sao chú mày không mang về Hà Nội một ít ‘gió’ của ‘tư duy mới’ và ‘peresroika’? Bức bối như thế này thì tao chỉ sang Hà Nội lần này là lần cuối”. Suốt từ Nội Bài về Nhà Khách Chính phủ ở 12 Ngô Quyền, câu chuyện giữa chúng tôi xoay quanh cơn sốt “Gorbymania” (cuồng Gorbachev) ở nước ông và ông muốn tôi cho biết phản ứng của Hà Nội thế nào. Giáo sư tỏ phấn khích khi tôi nói về “tư duy mới” và ghi nhận chính sách vừa ban bố của Liên Xô đối với châu Á có nhiều điều khá hấp dẫn.

“Gorbymania” ngày ấy và bây giờ…

Tâm lý “mê Gorbachev” (Gorbymania) là hoàn toàn có cơ sở khách quan ở Việt Nam thời bấy giờ. Đại hội ĐCSVN lần thứ VI (15 – 18/12/1986) là một Đại hội lịch sử, xét cả về mặt nội trị lẫn xây dựng Đảng. Rất nhiều tài liệu nước ngoài ghi nhận rằng, chính sách perestroika (cải tổ), glasnot (công khai), cùng với 2,88 tỷ USD (được quy đổi từ đồng Rúp) tiền viện trợ của Matxcơva đã khiến Hà Nội vững tin hơn để chấn chỉnh có hạn chế cách điều hành kinh tế kiểu cũ, thực chất là bỏ dần các sai lầm tự mình gây ra, về sau được gọi là “Đổi Mới”. Việt Nam vừa thoát khỏi hàng chục năm chiến tranh ác liệt, lại phải đương đầu chống Khmer Đỏ do Trung Quốc chống lưng, tiếp theo là đối phó với cuộc xâm lược của chính Trung Quốc tại 6 tỉnh biên giới. Trong bối cảnh ấy, ĐCSVN chỉ còn mỗi hy vọng, dựa vào Liên Xô để triển khai kế hoạch kinh tế 5 năm tiếp theo.

Tuy nhiên, Đại hội VI của ĐCSVN chỉ mới mở ra một số tiền đề chứ chưa tạo được đột phá nào có tác động tức thì trong chính sách đối ngoại. Các báo cáo chính trị và kinh tế đều nhấn mạnh đến chính sách Đổi Mới. Võ Văn Kiệt dường như là người đi đầu trong việc ủng hộ khái niệm về cải cách, mở cửa để hội nhập. Theo ông Kiệt, nông nghiệp chứ không phải công nghiệp nặng sẽ là quan trọng nhất trong những năm sắp tới. Một ủy viên Bộ Chính trị khác (BCT), tuy chỉ xếp thứ 10 theo vị trí, nhưng đứng thứ 3 trong Ban bí thư, đó là Trần Xuân Bách – một trong những ngôi sao vụt sáng trên chính trường Việt Nam mấy năm trước và sau Đại hội VI. Cùng với Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, về sau thêm tướng Trần Độ, nhóm của Trần Xuân Bách hồi bấy giờ nổi lên như những người đi tiên phong của làn sóng Đổi Mới của Hà Nội.

Tuy nhiên, sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Kiệt – Bách – Thạch ở Việt Nam không thể nào sánh được với sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Gorbachev – Jeltsin – Yakovlev ở Liên Xô. Thất bại của ông Bách cũng là nằm ở chỗ này. Các trợ lý gần gũi các lãnh đạo Hà Nội hồi bấy giờ cho biết, những căng thẳng trong nội bộ Đảng còn bao gồm cả sự cọ xát giữa cá nhân những con người cụ thể, chứ không chỉ đơn thuần về lý luận. Cho tới lúc đó, “đa nguyên” chưa xuất hiện trên báo chí như là một vấn đề mang tính tư tưởng. Tháng 10/1988, nhân có cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội của các nhà khoa học xã hội đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, ông Trần Xuân Bách, với tư cách là uỷ viên BCT phụ trách Khoa – Giáo, đã tới dự và phát biểu khai mạc. Bài phát biểu của ông Trần Xuân Bách bắt đầu chạm tới những vấn đề cốt lõi của lý luận và bị coi như là cột mốc của những “chệch hướng” công khai.

Ông Trần Xuân Bách lập luận, chủ nghĩa xã hội mà Karl Marx dự báo “có những điểm không hoàn toàn khớp với hiện thực bảy mươi năm qua”, trong khi “chủ nghĩa tư bản chứa đựng những mầm mống và tiền đề vật chất – kỹ thuật cho xã hội mới”. Ông Bách cũng cho rằng: “Mô hình chủ nghĩa xã hội sẽ giảm tính thuyết phục, sức hấp dẫn, nếu năng suất lao động thấp hơn chủ nghĩa tư bản, nếu mọi công dân không thực sự có quyền tự do dân chủ… Ông Bách kêu gọi: “Các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần sử dụng đúng đắn quyền dân chủ và tự do sáng tạo của mình để nghiên cứu sâu sắc hơn, đề xuất với Đảng những ý kiến mới và cụ thể hơn liên quan đến thời kỳ quá độ… Khoa học xã hội có nhiệm vụ làm cho mọi người ý thức đầy đủ quyền tự do dân chủ của họ, giúp họ thực hiện quyền đó”.

Nga không quốc tang, Việt Nam chẳng chia buồn

Sau gần 35 năm vật đổi sao dời, hai tư tưởng cốt lõi nhất của Gorbachev được Trần Xuân Bách chuyển tải là tự do và dân chủ vẫn là điều cấm kỵ trong xã hội toàn trị ở Việt Nam và Liên bang Nga ngày nay. Tự do là gắn đến con người tự do và sáng tạo. Dân chủ gắn đến thể chế bảo đảm cho con người các quyền tự do ấy trong một nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự. Nếu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng vẫn còn sống đến ngày hôm nay, những người này vẫn sẽ hè nhau triệt tiêu “ánh sáng Trần Xuân Bách” để cứu Đảng, mà thực chất là giành và giữ mấy cái ghế của họ. Những người này và phe cánh họ vẫn căm Gorbachev, mặc dầu con tàu “Đổi Mới” lúc vừa xuất phát vẫn phải khởi động bởi năng lượng từ “perestroika” và “glasnot”. Không có Gobachev cùng với động lực từ “cải tổ” và “công khai” thì đã không có “Đổi Mới”. Cơn sốt “say mê Gorby”, “say mê tư duy mới” cũng từ đó mà ra.

Xem YouTube “Gorbachev qua đời, vì sao dân Việt kẻ khen người chê”, phần nào cảm nhận được ngày nay ở Việt Nam vẫn chưa hết “cơn nghiện Gorby”. Một trong hàng trăm cái “tuýt” thật đáng đọc: “Gorbachev là một người đáng khâm phục nhất của thế giới ngày nay. Vì lúc đó ông là một người quyền lực nhất quả đất (có thể nói là con người số một thời điểm đó), nhưng đã sẵn sàng gạt bỏ cái tôi. Mục đích là đưa thế giới xích lại gần nhau hơn, tránh được chiến tranh lạnh, hạn chế chạy đua vũ trang để đầu tư vào phát triển kinh tế, phục vụ đời sống của nhân dân… Gorbachev là một người hùng đáng để cả nhân loại vinh danh. Nếu như ở VN ta có nhiều người vì lợi ích của nhân dân mà từ bỏ quyền lực thì là diễm phúc cho dân ta quá. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra. Họ là những người bị cả nước lên án nhưng vẫn cố bám ghế đến cùng! Buồn thay!”

Từ trời Tây, tạp chí “Economist” bình luận: Mikhail Gorbachev đã giải phóng cho hàng triệu người, ngay cả khi ông không có ý định làm như vậy. Tuy nhiên, những bạo chúa thời nay lại coi cuộc đời và sự nghiệp của Gorbachev như một câu chuyện cần cảnh giác. Một đế chế được xây dựng trên sự dối trá và bạo lực không đáng để cứu giúp. Mikhail Gorbachev, người vừa qua đời tuần trước ở Matxcơva ở tuổi 91, hiểu rõ điều đó hơn tất cả. Vì điều này, ông xứng đáng được tôn vinh, đặc biệt là nhờ có ông, hàng trăm triệu người đã sống trong tự do và hòa bình hơn kể từ khi ông đã khiến đế chế Liên Xô sụp đổ và do đó kết thúc Chiến tranh Lạnh. Bi kịch là rất nhiều người, kể cả các chính khách, đã quên những bài học trong câu chuyện phi thường của ông, hoặc rút ra những kết luận sai lầm chính xác từ chúng.

Di sản Gorbachev có giá trị gì đối với ban lãnh đạo VN ngày nay, ngoài những lời tụng niệm phải cảnh giác, ngăn chặn đừng để “tư tưởng peresroika – glasnot” len lỏi vào hàng ngũ lãnh đạo của Hà Nội? Trong khi đó, TBT Nguyễn Phú Trọng lại hết sức đau đầu trước hai vấn nạn lớn: kiểm soát quyền lực và đấu tranh chống tham nhũng. Ông Trọng muốn giải quyết hai vấn đề này mà không phải thay đổi thể chế, tức là không phải thay mô hình đảng trị (party rule) bằng pháp quyền (rule of law). Nhưng ông cũng biết rằng, quyền lực nếu không bị kiểm soát, sẽ tiếp tục đẻ ra tham nhũng, do quản trị yếu kém và thiếu minh bạch. Đó là nguyên nhân chính làm kinh tế thị trường “định hướng XHCN” bị méo mó, đi trệch đường ray phát triển. Từ mô hình phát triển để “hóa rồng – hóa hổ” Việt Nam đang biến thành “con mèo hoang”, với mô hình thất bại. Đó là bài học đắt giá từ những diễn biến tiêu cực trong mấy thập kỷ qua, làm triệt tiêu thành quả Đổi Mới từ thập kỷ thời Gorbachev – Trần Xuân Bách. Và giờ đây, Việt Nam vẫn đang sa lầy giữa ngã ba đường ý thức hệ.

Trần đông A / VOA Hoa Kỳ