4 khu nghỉ dưỡng Việt lưng tựa núi mặt hướng biển

Tại đây, du khách có thể tận hưởng làn nước mặt lạnh của biển và đi dạo giữa rừng cây xanh mát chỉ trong một ngày.

Amanoi (Ninh Thuận) là khu nghỉ dưỡng 6 sao đầu tiên tại Việt Nam, được xây dựng ở vườn quốc gia Núi Chúa và tầm nhìn ra vịnh Vĩnh Hy. Nơi đây có 36 biệt thự có hướng nhìn ra biển hoặc những ngọn đồi. Khu nghỉ dưỡng sở hữu biệt thự đắt nhất Việt Nam lên tới 8.000 USD/đêm, thấp nhất là từ 1.150 USD/đêm.

Lưu trú tại đây, du khách như được “ôm ấp” bởi rừng cây xanh, tiếng sóng vỗ rì rào và cả bầu không khí trong lành. Khu nghỉ dưỡng cũng mang đến những trải nghiệm như khám phá vịnh biển bằng thuyền kayak hoặc thuyền buồm catamaran, lặn ngắm san hô, khám phá văn hóa người Chăm, chinh phục đỉnh núi Chúa…

Khu nghỉ dưỡng InterContinental Danang Sun Peninsula Resort được xây dựng trên những ngọn đồi của bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng với tầm nhìn ra toàn cảnh vùng biển xanh ngắt. Resort cũng từng được vinh danh là Khu nghỉ dưỡng xanh hàng đầu thế giới tại giải thưởng World Travel Award 2018.

Nơi đây có bãi biển trải dài 700 m, nơi du khách có thể tận hưởng ánh nắng ấm áp, hòa mình dưới làn nước biển mát lạnh hay ngồi dưới những tán dừa, thưởng thức đồ uống. Từ đây, bạn cũng dễ dàng tới khu sinh thái thiên nhiên và thăm “nữ hoàng linh trưởng” voọc chà vá chân nâu. Ngoài ra du khách cũng có thể tới thăm chùa Linh Ứng trên bán đảo, nơi có tượng Phật Bà Quan thế âm Bồ Tát cao 67 m.

Được thiết kế bởi “phù thủy” Bill Bensley, khu nghỉ dưỡng mang vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam và sang trọng, hiện đại, thể hiện qua tông màu đen và trắng. Resort trải dài qua 4 tầng lần lượt là Heaven (Thiên đường), Sky (Bầu trời), Earth (Mặt đất) and Sea (Biển cả), với nhiều hạng phòng, với giá thuê thấp nhất là 300 USD/đêm.

Six Senses Ninh Van Bay là khu nghỉ dưỡng ở Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây có những biệt thự trên bãi biển, trên mặt nước và ở trên những tảng đá lớn. Tất cả những biệt thự đều có mặt hướng biển, có bể bơi riêng cùng sân vườn hoặc hiên tắm nắng. Giá phòng ở đây từ 10 triệu đồng/đêm.

Khu nghỉ dưỡng mang đến cho du khách nhiều trải nghiệm như leo núi, thăm vịnh Nha Phu trên thuyền gỗ, chèo kayak trên biển, câu cá, lặn biển, khám phá rừng hòn hèo ngắm voọc chà vá chân đen…

Laguna Lăng Cô (Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) là khu nghỉ dưỡng phức hợp được xây dựng ở vịnh Lăng Cô, nơi nổi tiếng với bãi biển nguyên sơ, ngọn núi hùng vĩ và cánh rừng nhiệt đới. Khu biệt thự có 32 căn hướng kênh đào và 17 biệt thự hướng biển, trên bờ biển Cảnh Dương.

Các khu biệt thự ở đây được thiết kế theo phong cách nhà truyền thống của Huế, bên trong được trang trí các tác phẩm điêu khắc bằng đá sa thạch Champa, trống đồng Đông Sơn, nghệ thuật thư pháp, đồ gốm, tranh lụa thêu… Giá phòng nghỉ ở đây từ 8.000.000 đồng/đêm.

Khu nghỉ dưỡng cũng mang đến cho du khách nhiều trải nghiệm như tour thuyền thúng khám phá đầm nước của Lăng Cô và làng chài địa phương, tour vườn quốc gia Bạch Mã…

Lan Hương / Ảnh: Khu nghỉ dưỡng / Vietnam Express

Từ thợ điện trở thành nghệ sĩ lớn

Nói đến những nghệ sĩ thanh nhạc hàng đầu của Việt Nam, không thể không nhắc đến cố NSND Mai Khanh (1923 – 2011). Ông là giáo sư bậc I, nguyên Chủ nhiệm khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam ngày nay).

Chẳng những là một nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng mà ông còn là người đào tạo nên nhiều ca sĩ tài năng, cũng trở thành những NSND và NSƯT tên tuổi như Thanh Huyền, Tường Vi, Vân Khánh, Trần Chất, Doãn Tần, Tô Lan Phương…

Ít ai có thể nghĩ một nghệ sĩ lớn, được đào tạo chính quy ở Bắc Kinh (Trung Quốc), rồi học thêm ở Ki-ép (Ucraine), về nước làm giáo sư thanh nhạc tại một trung tâm đào tạo nghệ sĩ âm nhạc lớn nhất nước lại xuất thân từ một thợ điện.

Từ thợ điện trở thành nghệ sĩ lớn -0
Cố NSND Mai Khanh.

Vâng. Mai Khanh quả là một trường hợp hiếm hoi, độc đáo.

Ông tên khai sinh là Mai Trung Ngọc, chào đời năm 1923 ở Hải Dương, có người mẹ hát đúm, hát ví rất hay, nổi tiếng khắp vùng. Vậy nên ngay từ nhỏ, cậu bé Ngọc đã ngấm những điệu dân ca ngọt ngào đó. Học hết trung học ở quê, cậu lên Hà Nội thi và đỗ vào Trường Kỹ nghệ thực hành rồi trở thành thợ điện. Nhưng đó chỉ là nghề sinh nhai. Cái máu đam mê âm nhạc, ca hát đã ngấm vào cậu từ trước và đã như một cứu cánh cho cuộc sống vất vả, lam lũ kiếm sống hàng ngày. Ở đâu, lúc nào có thể là cậu cũng hát, chỉ là để thỏa niềm yêu thích. Nhưng mọi người xung quanh đã khích lệ cậu rằng: Có giọng hát hay như thế, ai nghe cũng thích thú mà làm thợ điện thì phí quá. Hãy hát cho nhiều người nghe. Không thể là “áo gấm đi đêm”.

Năm 1944, tại Hà Nội, bắt đầu ra đời các quán Tân nghệ sĩ ở Bờ Hồ, Thiên Thai ở Hàng Bông, Thăng Long ở Hàng Gai. Thường hay hát vào các tối thứ 7, chủ nhật hàng tuần. Mai Khanh cùng với Thương Huyền tham gia. Giọng hát của ông nhanh chóng được ưa thích qua các bài đang nổi tiếng khi đó như “Trương Chi”, “Suối mơ”, “Đàn chim Việt”, “Thiên Thai” của Văn Cao, “Giọt mưa thu”, “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong, “Cô láng giềng” của Hoàng Quý…

Tháng 8/1945, trong cao trào khởi nghĩa hừng hực khí thế cách mạng ở khắp nơi, Mai Khanh tham gia hát ở Đài phát thanh Hà Nội, biểu diễn trong Tuần lễ vàng và Hũ gạo cứu đói do Hồ Chủ tịch kêu gọi. Đến tháng 2/1946 trở đi, Mai Khanh rời bỏ nghề thợ điện, toàn tâm toàn ý tham gia Đoàn kịch Giải phóng do Bộ Thông tin – Tuyên truyền tổ chức, biểu diễn phục vụ công tác tuyên truyền cho sự ra đời của Chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ. Từ năm 1950, ông về hát cho Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cùng Thương Huyền và Trần Thụ. Năm 1953, được điều động sang Đoàn Văn công nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam). Ở đây, ngoài hát ca khúc mới, ông còn hát cả chèo, sắm vai Điền trong vở chèo “Chị Tấm anh Điền” nổi tiếng lúc bấy giờ.

Thấy Mai Khanh có nhiều triển vọng phát triển tài năng, năm 1955, Nhà nước cho ông sang tu nghiệp ở Nhạc viện Bắc Kinh (Trung Quốc). Về nước, ông giữ cương vị Chủ nhiệm Khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam. Đến năm 1968, đi học tiếp cao học ở Nhạc viện Ki-ép (Ucraine).

Mai Khanh có giọng nam cao (ténor) sáng, vang, khoẻ, âm vực rộng tới 2 quãng 8. Do được học hành chính quy, bài bản mà ông xử lý mọi kỹ thuật thanh nhạc một cách nhuần nhuyễn. Nhưng lại vận dụng được cách hát dân ca của các nghệ nhân dân gian nên dễ thuyết phục được người nghe. Những bài ông để lại được dấu ấn đặc biệt với phong cách riêng, không lẫn với bất cứ ca sĩ nào đã khiến người nghe không thể quên như: “Nhớ về quê mẹ” (Vân Đông), “Bế Văn Đàn sống mãi” (Huy Du), “Giờ hành động” (Lưu Hữu Phước), “Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi),”Ngọn đèn đứng gác” (Hoàng Hiệp – Chính Hữu)… Ông có lối hát nhẹ nhàng, tự nhiên, lên cao cũng như xuống thấp uyển chuyển, thoải mái.

Tôi nhớ mãi những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) thường diễn ra những đêm biểu diễn đơn ca, độc tấu các nhạc cụ Tây phương (pi-a-nô, vi-ô-lông, cello..), bên cạnh những tên tuổi ca sĩ nổi tiếng lúc ấy như Quốc Hương, Quý Dương, Trung Kiên, Trần Hiếu, Bích Liên, Thanh Huyền, Mỹ Bình, Tường Vi… luôn có Mai Khanh. Ông và Quốc Hương là thế hệ đàn anh của những ca sĩ còn lại.

Từ thợ điện trở thành nghệ sĩ lớn -0
NSND Thanh Huyền – một trong những học trò xuất sắc của Mai Khanh.

Mai Khanh là giáo sư thanh nhạc, là người soạn thảo ra nhiều tài liệu giảng dạy môn này trong các trường nhạc. Ông có phong cách nghiêm túc, chỉn chu như một nhà khoa học, nhà quản lý. Chất nghệ sĩ của ông, ta chỉ có thể thấy trong cách hát, giọng hát luôn rực lửa và phóng khoáng chứ không bộc lộ ở phong cách, ngôn từ hoặc trang phục hàng ngày. Mặc dù được đào tạo rất chính quy theo lối hát ben-căng-tô của dòng nhạc bác học (académique) nhưng do rất ý thức về dân tộc hóa mà ông đã xử lý nhuần nhuyễn hai yếu tố dân tộc và hiện đại trong cách hát của mình. Một lần đến chơi với Mai Khanh khi ông chưa vào công tác ở TP.Hồ Chí Minh, tôi thấy ông đang chăm chú nghe những băng ghi âm các nghệ nhân dân gian hát dân ca. Tôi hỏi ông:

– Ngoài hát và giảng dạy, anh còn nghiên cứu thêm cả dân ca?

Ông nói rất say sưa và tâm đắc:

– Làm nghề âm nhạc, không thể không thường xuyên nghiên cứu dân ca. Mình nghe để học cách hát của các nghệ nhân dân gian. Họ không được học gì về thanh nhạc mà hát nghe rất thú vị. Họ nhả chữ, lấy hơi đâu ra đấy. Cậu có thấy là họ hát rất nhẹ nhàng, thoải mái chứ không vất vả như một số ca sĩ hát ca khúc hiện đại?

Tôi nói với ông:

– Nhưng em tưởng anh đã nghe rất nhiều rồi nên mới có cách hát rất gần với lối hát của các nghệ nhân chứ ạ.

– Nghe đi nghe lại không bao giờ là thừa. Vấn đề chỉ là có thời gian không mà thôi.

Tôi nêu một thắc mắc của nhiều người để ông giải đáp:

– Vì sao có những ca sĩ khi chưa vào học trường nhạc hát lại hay, nhưng học xong hát lại dở hơn? Anh có thấy như vậy không ạ?

-Đúng thế. Có nhiều trường hợp như thế. Bởi vì những  người đó quá nệ vào kỹ thuật, lúc thể hiện tác phẩm chỉ chú trọng đến xử lý kỹ thuật sao cho vang, cho đẹp giọng mà không lưu ý đến yếu tố đầu tiên là phải có hồn, phải diễn tả được hết ý tình của tác giả gửi gắm trong ca khúc. Chính vì vậy mà nhiều bậc giáo sư giỏi luôn dặn học trò của mình là khi học thì cố mà nhớ mọi điều thu lượm được. Nhưng khi hát thì phải quên hết đi để trước mắt chỉ có tác phẩm mình cần thể hiện mà thôi.

Mai Khanh là một trong những người chủ trương cần gia tăng thêm thời lượng dạy hát dân ca trong các trường nhạc và cần coi đó là một môn chính, quan trọng. Không phải ai cũng dễ dàng đồng tình với ông, bởi đã từng có người nói: “Vậy thì nói học sinh đến học các nghệ nhân dân gian chứ không cần phải học trong trường nhạc làm gì”.

Một lần, tôi chứng kiến một học sinh của Mai Khanh đến nhờ ông bồi dưỡng, hướng dẫn thêm một bài hát để tham dự hội diễn ca nhạc toàn quốc. Cô học sinh có người cha là một nhạc sĩ quen biết, tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng. Ông nói với cô:

– Tốt nhất là em hãy hỏi chính cha mình xem bài này cần thể hiện như thế nào. Hơn ai hết, ông sẽ nói được cho em hiểu sâu sắc bài hát. Còn về kỹ thuật thanh nhạc, bài này không có vấn đề gì. Âm vực không rộng, không có gì khó khăn phải dùng đến kỹ thuật. Hãy hát mềm mại, thoải mái ngay cả chỗ được coi là cao trào…

Có những ca sĩ chỉ hát thu thanh hay chứ không có khả năng giảng dạy hoặc biểu diễn trên sân khấu. Mai Khanh là một ca sĩ khá toàn diện trong các hoạt động trên: Hát thu thanh, hát biểu diễn, giảng dạy đều sở trường. Lại không ít những học sinh thanh nhạc, sau khi học xong chỉ có thể làm công việc giảng dạy mà không thể làm nghệ sĩ. Học trò của Mai Khanh phần lớn học xong đều trở thành nghệ sĩ biểu diễn mà một số tên tuổi đã kể ở trên là minh chứng.

Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước – cây đại thụ của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam đánh giá rất cao những cống hiến của Mai Khanh trong việc phát triển lĩnh vực đào tạo thanh nhạc ở nước ta. Sau ngày thống nhất đất nước, ông đã mời người ca sĩ này vào giảng dạy trong Nhạc viện TP Hồ Chí Minh để tiếp tục phát huy tác dụng ở một thành phố lớn nhất và các tỉnh phía Nam của đất nước.

NSND, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Mai Khanh qua đời năm 2011, hưởng thọ 88 tuổi.

Nguyễn Đình San / Văn nghệ CA

Câu chuyện kì bí về tên sát nhân hàng loạt đầu tiên trong lịch sử

Gilles de Rais gây khiếp sợ khắp nơi vì đã bắt cóc, giết chết rất nhiều trẻ em.

Lâu đài Công Tước Xứ Bretagne.

Địa chỉ: 4 Place Marc Elder, thành phố Nantes, miền Tây nước Pháp.

Nằm lặng lẽ giữa thành phố Nantes bình dị, lâu đài Công tước Xứ Bretagne là một địa điểm tham quan nổi tiếng đối với những khách du lịch ưa thích khám phá. Nơi đây ẩn chứa câu chuyện kì bí về một trong những tên sát nhân hàng loạt đầu tiên trong lịch sử nhân loại: Gilles de Rais.

Gilles de Rais đã trở thành hình mẫu gắn liền với nhân vật cổ tích Yêu Râu Xanh chuyên hãm hại phụ nữ của tác giả Charles Perrault.

Chuyện kể rằng Râu Xanh là một quý tộc giàu có nhưng lại có bộ râu màu xanh xấu xí. Ông ta đã cưới vợ ba lần nhưng cả ba người vợ đều mất tích một cách bí hiểm. Nhưng vì giàu có, cuối cùng ông ta vẫn cưới được người vợ thứ tư.

Gilles de Laval thực hiện các thí nghiệm bí thuật giả kim trên các nạn nhân của mình.
Gilles de Laval thực hiện các thí nghiệm bí thuật giả kim trên các nạn nhân của mình. (Nguồn: wikimedia).

Một hôm, Râu Xanh có việc phải đi xa nên giao lại tất cả chìa khóa trong lâu đài cho vợ, trong đó có chìa khóa của căn phòng bí mật. Vì tò mò, người vợ đã mở cửa căn phòng này và phát hiện một sự thật khủng khiếp: Sàn nhà đầy máu và tử thi của ba người vợ trước bị treo lên.

Quá hoảng sợ, cô đánh rơi làm chùm chìa khóa dính máu. Râu Xanh trở về, nhìn thấy chùm chìa khóa và lập tức hiểu ra cô vợ đã mở cửa căn phòng bí mật. Ông ta dọa chặt đầu người vợ.

Nhưng các anh trai của cô vợ đến giải cứu kịp thời và kết liễu luôn cuộc đời của gã đàn ông có bộ râu xanh chuyên hãm hại phụ nữ. Đây cũng chính là nguồn gốc của từ “yêu râu xanh” trong tiếng Việt hay được dùng để chỉ những gã đàn ông chuyên đi hãm hại phụ nữ.

Thực ra, nhân vật Gilles de Rais ngoài đời thực không hãm hại phụ nữ, mà là một sát nhân khét tiếng chuyên nhắm vào trẻ em. Hắn lấy cái tên là Bluebeard (Râu Xanh) vì bộ lông bóng mượt của con ngựa hắn cưỡi ánh lên màu xanh dưới ánh nắng.

Sau khi bị bắt, tại phiên tòa, hắn gây chấn động khi mô tả chi tiết cảnh bắt cóc, tra tấn và hành hình trẻ em thế nào. Perrault đã dựa vào những chi tiết này để xây dựng nên nhân vật Yêu Râu Xanh ác mộng của mình, kết hợp thêm cảm hứng từ một nhân vật khác, là một người đàn ông được tiên đoán sẽ bị chính con trai mình giết chết.

 Tranh phiên tòa xét xử Gilles de Rais tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF).
Tranh phiên tòa xét xử Gilles de Rais tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF). (Nguồn: wikimedia).

Vậy nên bất kì người vợ nào của ông ta mang thai, ông đều ra tay sát hại.

Gilles de Rais là một nhân vật lẫy lừng trong lịch sử vì từng là Công Tước xứ Bretagne và hỗ trợ Thánh Jeanne D’Arc trong cuộc chiến Trăm Năm. Thế nhưng, nhưng ông cũng gây khiếp sợ khắp nơi với thành tích sát nhân quái dị của mình.

Gilles de Rais bị bắt vì đã bắt cóc, đã giết chết rất nhiều trẻ em. Nhiều nhà sử học ước tính là ông đã giết từ 80 đến 200 trẻ em vô tội.

Mặc dù Gilles de Rais không khai báo lí do vì sao mình thực hiện hành vi man rợ này, nhưng truyền thuyết kể lại rằng ông dùng linh hồn vô tội của trẻ thơ trao đổi với quỷ dữ để có được bí thuật giả kim hòng trường sinh bất tử.

Khá nhiều vị quỷ thần cổ xưa hung bạo được ghi chép rằng yêu thích sự hiến tế bằng trẻ thơ, ví dụ như thần Moloch. Khi bị phát hiện, ông bị nhốt trong chính lâu đài của mình và bị tra khảo. Sau đó, dù đã bị thiêu sống, nhưng nhiều người tin rằng linh hồn của ông vẫn còn ẩn nấp đâu đó trong lâu đài để chờ ngày từ cõi chết quay lại phục thù.

Khi đặt chân tham quan lâu đài Công Tước Xứ Bretagne, cảm giác thường thấy nhất là bầu không khí ở đây rất đỗi ngột ngạt và ẩm thấp mặc dù nơi này đã được tu sửa nhiều lần, cảm giác như tiếng thét khổ đau của các linh hồn trẻ thơ vẫn vang vọng đâu đây. Liệu rằng những linh hồn ấy đã được giải thoát hay chưa?

Theo Zing

Một góc nhìn về ‘bệnh sĩ’ trong xã hội Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hùng Vỹ, bất cứ dân tộc nào cũng có sĩ diện. Tuy nhiên, sự sĩ diện này cao hay thấp, có ở mức cực đoan hay không lại tùy thuộc từng nền văn hóa và tùy thuộc từng giai đoạn phát triển của lịch sử.

Một góc nhìn về ‘bệnh sĩ’  trong xã hội Việt Nam

Biểu hiện của sĩ diện nhan nhản

Vậy, thế nào là sĩ diện? Ông Vỹ cho rằng, đó là việc người ta dùng những vẻ bề ngoài, những thao tác khoa trương trước người khác và dĩ nhiên, cái thao tác đó không phản ánh đúng tính chất con người đó mà chỉ để thỏa mãn sự khoe mẽ mà thôi. Tuy nhiên, ít nhiều điều đó cũng khiến anh khoan khoái. Còn về phía người đối diện thì đầu tiên họ bị nhầm, sau đó phát hiện ra bản chất của anh thì họ bực. Do đó, sự sĩ diện mang tính tiêu cực nhiều hơn.

Theo ThS Thạch Mai Hoàng, Bộ môn Nhân học, Đại học KH-XH&NV thì biểu hiện của thói sĩ này rất đa dạng. Chẳng hạn, đến nhà bạn ăn cơm, đáng ra anh sẽ ăn ba bát như ở nhà nhưng lại chỉ ăn một bát dù trong bụng vẫn đói; cứ tỏ ra ta đây đạo mạo, cái gì cũng biết nhưng thực chất đầu óc lại rỗng tuếch; đi ăn hàng luôn chừa lại một ít đồ ăn thay vì ăn hết… “Những biểu hiện của sĩ diện khiến ta gặp thường xuyên, nhan nhản ở bất cứ nơi đâu và bất cứ tầng lớp nào”, ông Vỹ khẳng định.

Sĩ diện bắt nguồn từ đâu?

Theo ông Vỹ, bản chất từ “sĩ diện” là mang vẻ mẫu của người lý tưởng. Thời phong kiến, theo truyền thống Nho giáo, sĩ quân tử được cho là mẫu người lý tưởng. Họ có học thức, có văn hóa, có đạo đức, lý tưởng, được xã hội mến mộ. Vì thế, họ là mục tiêu để bao người phấn đấu hướng tới. Tuy nhiên, không phải ai cũng trở thành sĩ quân tử. Do đó, nhiều người đã cố tạo cho mình một vỏ bọc theo quy chuẩn của bậc sĩ quân tử để có được “tiếng thơm”.

“Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của sự sĩ diện là bản chất xã hội thiếu sự minh bạch thông tin. Những quy chuẩn của phát triển mập mờ, tạo cho con người dễ đội lốt dưới mọi hình thức trong ứng xử với cộng đồng”, ông Vỹ nêu quan điểm.

Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc lại lý giải ở một góc độ khác. Theo ông, cách đây gần hai thế kỷ, các nhà nghiên cứu Hofstede (Hà Lan) và E.Hall (Mỹ) đã chia các nền văn hóa thành hai loại: Các nền văn hóa dân tộc đặc trưng bởi chủ nghĩa cá nhân (các dân tộc châu Âu và Bắc Mỹ) và các nền văn hóa dân tộc đặc trưng bởi chủ nghĩa tập thể (các dân tộc châu Á, đặc biệt là ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam).

Cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, một nhà nghiên cứu Mỹ đã nhận định: Văn hóa Nhật là văn hóa của sự xấu hổ. Đây cũng là nét chung của các nước chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tập thể, trong đó có Việt Nam. Chính văn hóa xấu hổ đã tạo nên tính sĩ diện.

Lý giải rõ hơn điều này, ông Ngọc nói: Trong một xã hội như phương Tây đặc trưng bởi chủ nghĩa cá nhân, họ được tự do, tùy thích trong việc lựa chọn lối sống mà không nặng nề chuyện xem thái độ của những người xung quanh như thế nào. Bên cạnh đó, đạo Kito có tính chất cá thể. Bất cứ người theo đạo nào có tội mà đi xưng tội, được Đức Cha thay Đức Chúa xá tội cho thì lương tâm họ đã cảm thấy nhẹ nhàng.

Ngược lại, ở những dân tộc đặc trưng bởi chủ nghĩa tập thể thì họ sống trong mối quan hệ đan xen, chằng chịt với gia đình, họ hàng, làng xóm. Trong xã hội đó có những quy chuẩn đạo đức chung và mọi người cần tuân theo, chỉ cần anh đi chệch quỹ đạo đó sẽ bị người ta dò xét, thậm chí lên án. Văn hóa tập thể một mặt làm tăng tính cộng đồng, cộng cảm. Mặt khác, nó làm cho con người ta không dám thể hiện cái tôi rõ nét, từ đó mà sự đột phá, sáng tạo không cao, đúng hơn là nhiều khi người ta không dám sống thật với bản chất con người mình mà phải lựa theo tập thể.

Khi một người có lỗi lầm và bị phát hiện, dù họ có ân hận song cũng không thể xóa đi được mặc cảm, nỗi xấu hổ với gia đình, họ hàng, bạn bè, làng xóm. Thậm chí, người ta vẫn đề phòng, nghi kỵ anh, dù lỗi đó đã qua rồi. Vì thế, nhiều người có xu hướng cố gắng giấu kín lỗi lầm mình mắc phải vì sĩ diện, vì xấu hổ.

Sĩ diện bao nhiêu là… đủ?

“Con người cần có tính sĩ diện. Thế nhưng, khi sĩ diện ở mức cực đoan sẽ gây ra những phiền toái, bị mất đi cơ hội, mang tiếng xấu…”, ông Ngọc nói.

Để minh chứng cho điều này, ông đưa ra một ví dụ: “Tôi có một bà bạn người Đức. Bà từng phàn nàn với tôi rằng bà có tặng cho chị giúp việc người Việt Nam một món quà Tết nhưng chị này không nói lời cảm ơn mà lẳng lặng cất đi. Theo bà thì đó là sự thiếu lễ độ. Tôi phải giải thích rằng đó là tính sĩ diện của người Việt. Chị ấy không cảm ơn không phải vì vô ơn mà sợ rằng khi nói ra lời cảm ơn ấy sẽ bị khinh bỉ là người vồ vập của cải. Chắc chắn, chị ấy sẽ tìm dịp khác để báo đáp lại”.

Ông Ngọc cũng cho rằng, sự sĩ diện của người Việt Nam không chỉ thể hiện qua lời nói, hành động mà còn qua cả nụ cười. “Người Việt Nam có thể cười bất cứ lúc nào. Nụ cười ấy nhiều khi không phải là vui thích mà để che giấu cảm xúc, là nụ cười vô duyên. Chẳng hạn, một người bị đau, thấy người khác hỏi han thì nở nụ cười tỏ ra mình không sao vì không muốn có cảm giác thương hại. Hay có trường hợp, mẹ ốm nặng ở quê, người này muốn nghỉ về thăm mẹ nên đến gặp ông chủ nhưng lúng túng và chỉ biết cười…?.

Rõ ràng, có những sự sĩ diện gây ra phiền toái. Thế nhưng, “nếu không có sĩ diện thì cũng đáng lo, vì có thể người ta sẽ hành xử không theo một quy chuẩn nào, khiến những người xung quanh coi thường, lên án”, theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hùng Vỹ. Vậy, sĩ diện bao nhiêu được cho là đủ?

Trả lời cho câu hỏi này, ông Vỹ cho rằng, rất khó để định lượng được rằng mỗi người cần bao nhiêu sĩ diện và cần trong những trường hợp nào vì “mỗi cây mỗi hoa”. Cũng cần thấy rằng, sĩ diện còn tùy thuộc vào tính cách mỗi người. Có thể cùng một việc là để được nhận vào làm trong công ty nọ, nhân viên A sẽ lo quà cáp đến biếu sếp còn nhân viên B thì không vì anh ta chỉ muốn dựa hoàn toàn vào thực lực, không muốn mang tiếng quỵ lụy nhờ cậy ai. Điều này là do tính cách quyết định. Mà đã là tính cách thì khó sửa lắm.

Do đó, để biết sĩ diện bao nhiêu là đủ, theo ông Vỹ chỉ có thể “tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người. Góc nhìn đó thường gắn với lợi ích”.

“Trong nhiều trường hợp, khi người ta biết gạt đi tính sĩ diện để vì tập thể, vì lợi ích chung thì khi đó, sự sĩ diện được cho là đủ”, ông Vỹ nói.

 “Tính cách của mỗi người được tạo ra từ: Phản xạ cảm xúc mang tính tự nhiên; hình thành cái tôi khi ý thức được vị trí trong các mối quan hệ, chịu ảnh hưởng của môi trường văn hóa để hình thành nên những giá trị; do văn hóa, giáo dục chi phối. Do đó, thay đổi tính cách không dễ. Để người ta bớt đi tính sĩ diện thì có nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất vẫn là giáo dục”.ThS Thạch Mai Hoàng

Theo AN NHIÊN / KIẾN THỨC

Người Việt và muôn nẻo đường tiếp tục ra đi

Phố Tây Bùi Viện
Chụp lại hình ảnh,Một người bạn kể đàn ông nước ngoài sang Sài Gòn làm việc rất dễ tìm bạn gái (ảnh minh họa)

Có một buổi cơm trưa, đang bưng chén cơm, bỗng cha tôi tần ngần ngừng ăn, chép miệng: “Chẳng biết mai sau căn nhà này còn ai ở? Có đứa cháu nào chịu về đây ở không?”

Ông chạnh lòng vì có ba đứa cháu đi du học và không muốn trở về Việt Nam. Đứa nhỏ nhất đang học đại học và lại là con gái, nếu lấy chồng thì phải theo chồng nên không chắc sẽ muốn thừa hưởng cái nhà mà ông bà chắt chiu gây dựng sau khi di cư vào Nam.

THẾ HỆ ĐẦU TIÊN DI CƯ VÀO NAM GIỜ TIẾP TỤC PHẢI CHIA LY VỚI CON, CHÁU

Dòng ký ức của ông lão gần 90 tuổi bỗng quay về làng Kiên Lao, Nam Định, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ở đó, mẹ của ông đã phải cắt dần mảnh đất tổ tiên cho những người họ hàng xa, cốt đổi lại những ngày cuối đời có người chăm sóc.

Ngày ấy, khoảng thập niên 1960, khi Nam-Bắc nội chiến, bà tôi bị té ngã gãy một xương sườn, phải nằm trên giường bệnh một thời gian. Khi ấy, cả hai con trai đều ở trong Nam, còn con gái út lấy chồng xa nhà, vất vả lo miếng ăn cho đàn con nheo nhóc.

Thời ấy không có điện thoại, bà nội và cả cô tôi đều nghèo, tôi chắc bà nội và cô tôi chẳng mấy khi gặp nhau. Và thương nhất là cho đến khi từ trần (năm 1969) bà không bao giờ thấy lại hai đứa con trai, cũng không biết mình có bao nhiêu đứa cháu nội.

Mảnh đất của gia đình ông bà nội tôi ở Nam Định giờ đây toàn những người xa lạ cư ngụ, chẳng còn lại chút vết tích gì của ông tôi (đã mất sớm khi mới ngoài 30 tuổi) hay của bà tôi. Đó là căn nhà tổ tiên của dòng họ, nơi cha tôi ra đời và vĩnh viễn rời xa từ năm 17 tuổi.

Ngày ấy, vì đói và nghèo, cha tôi đã theo bạn cùng quê lên một chuyến tàu từ Nam Định vào Sài Gòn để xin làm phu đồn điền cao su ở Đồng Nai từ năm 1950 và hoàn toàn đứt liên lạc với bà nội. Đến đầu năm 1976, chồng của cô tôi lặn lội vào Sài Gòn tìm hai anh trai thì cha tôi mới hay bà nội đã từ trần.

Từ hôm nghe cha kể chuyện, tôi bỗng thấy thương bà nội, người mà tôi chưa bao giờ gặp, cũng chẳng thấy một tấm hình nào. Tôi hình dung ra cảnh bà nằm cô quạnh một mình trong căn nhà trống trải nhớ thương hai cậu con trai biền biệt phương Nam.

Trong cuộc đời, cha mẹ tôi không phải chia tay một đứa con nào, nhưng sau khi mẹ tôi từ trần, anh chị em nhà tôi thường chỉ hiện diện đủ vào ngày giỗ mẹ. Tôi nhớ đám giỗ mẹ lần gần nhất, cha tôi vui mừng vì gặp đủ các con, nhưng ông lại buồn vì chỉ nhìn thấy một đứa cháu.

Buồn, nhưng ông lại vui mừng cho tương lai của ba đứa cháu mà có lẽ ông khó có cơ hội gặp lại chúng. Nhiều năm trước, khi lần đầu tiên tôi chuẩn bị đi Mỹ, ông từng bảo: “Con tìm cơ hội ở lại đó luôn đi. Sống ở đây bệnh hoạn không có ai lo khổ lắm.” Việc tôi đi chơi và trở về sau đó từng làm ông thất vọng.

MUÔN NẺO RA ĐI CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CẢ NGƯỜI GIÀU
Phi trường

Mỗi lần về thăm nhà, tôi đều nghe ông kể chuyện trong xóm, nhà ai vừa mới đi định cư bên Mỹ, thanh niên thanh nữ nào chuẩn bị đi du học hoặc lao động hợp tác. Khác với dân miền Bắc thích chọn đường đến châu Âu, trong khu xóm nhà cha mẹ tôi vùng ngoại ô Sài Gòn, ngoài diện định cư chính thức, các gia đình khá giả có hai cách để đưa con ra nước ngoài: du học (Mỹ/Úc) hoặc lao động hợp tác (Nhật/Hàn /Đài Loan).

Nói chung, tấm vé xuất ngoại đầu tiên của con cháu trong xóm nhà cha tôi đều hợp pháp, sau khi sang được tới “bển” thì tùy cơ ứng biến tìm cách ở lại.

Cách phổ biến được nhiều thanh niên thanh nữ chọn là tìm người bản xứ để kết hôn thật (hay giả). Chuyện này có vẻ dễ dàng với thanh nữ, còn thanh niên thì… hên xui – vì ngay cả việc bỏ tiền kết hôn giả cũng rất khó tìm cô gái bản xứ ưng thuận.

“Cửa hẹp hơn” đối với thanh niên, đồng nghĩa với việc bản thân thanh niên đó phải nỗ lực xin việc và chứng tỏ bản thân, nếu không phải kéo dài kiếp sống “illegal” (bất hợp pháp) để chờ đợi cơ hội.

Đó cũng là cách mà các đồng nghiệp và bạn bè có con gái của tôi chọn, khi cho con đi du học, tìm người kết hôn và sau đó con gái bảo lãnh cha mẹ.

Có những câu chuyện cười ra nước mắt: con gái sang du học cùng người yêu, sau đó người yêu kết hôn giả, đợi có quốc tịch mới quay lại cưới cô người yêu cũ; tệ hơn, có cảnh đôi trẻ yêu nhau cùng đi du học, sau đó cô gái chia tay người yêu để tìm người bản xứ kết hôn.

Trong số những đồng nghiệp của tôi, có người độc thân hoặc đã ly dị chồng sau khi nghỉ hưu đi một chuyến du lịch sang Mỹ kiếm người kết hôn và ở lại. “Những con đường định cư” này trong lúc đang tiến hành đều bí mật, không ai hé lộ với ai.

Những người bạn doanh nhân của tôi thì có lộ trình ra đi rõ ràng hơn. Một ông chủ công ty sản xuất thực phẩm chế biến hơn bảy năm trước từng tự hào thổ lộ:

“Giờ làn sóng di cư mới rộ lên trong giới doanh nhân chứ 14 năm trước tôi đã mở chi nhánh công ty bên Mỹ, đưa vợ và các con sang đó hưởng nền giáo dục miễn phí. Các con của tôi đều tốt nghiệp loại giỏi bên đó mà không tốn tiền du học, giờ quay về Việt Nam phụ giúp tôi.”

Nhiều doanh nhân nổi trội trong thời kỳ đầu đất nước mở cửa – thập niên 1990 đã chọn Mỹ. Tuy nhiên, bên cạnh những người bán công ty đi luôn, vẫn có người chọn cách điều hành công ty từ xa.

Tôi biết có công ty Việt Nam mà cả chủ tịch hội đồng quản trị lẫn tổng giám đốc đều đã định cư bên Mỹ. Kiếm tiền ở Việt Nam nhưng tìm cách sống ở nơi có môi trường giáo dục và y tế tốt hơn là chọn lựa của họ, một chọn lựa khôn ngoan của người giàu, nhưng tất nhiên, họ không cởi mở thổ lộ điều đó với tất cả mọi người.

Không chỉ người giàu, người nghèo ở Việt Nam cũng tìm cách ra đi theo kiểu của họ. Chẳng hạn những cô gái trẻ đẹp quanh khu phố tôi ở đều tìm cách lấy chồng nước ngoài.

Một người bạn dạy tiếng Việt cho người nước ngoài kể tôi nghe đàn ông nước ngoài sang Sài Gòn làm việc rất dễ tìm bạn gái. Hẹn dạy học trò ở quán cà phê, bạn tôi bao phen phải tìm cách đuổi các cô nàng ngồi ở bàn bên cạnh tìm cách tán tỉnh học trò Tây của mình. Một học trò Tây của bạn tôi thừa nhận: “Con gái Việt dạn lắm, tao sang đây một năm mà đã có 10 cô bồ Việt rồi.”

Thế nhưng dân Tây thường không dễ gì ngỏ lời kết hôn ngay, nên hầu hết các cô gái có tham vọng lấy chồng ngoại để đổi đời thường phải dọn đến sống chung nhà với trai Tây ít nhất vài năm, và nếu may mắn sau đó mới có chuyện đám cưới và làm giấy kết hôn.

LÀN SÓNG ĐI QUA NGẢ ‘TƯ VẤN DI TRÚ’
Một trang web tư vấn định cư
Chụp lại hình ảnh,Một trang web tư vấn định cư

Một con đường khác hợp pháp hơn mà dân trí thức Sài Gòn thường tìm đến là các công ty tư vấn di trú. Hầu như tuần nào tôi cũng nhận được thư quảng cáo của các công ty tư vấn di trú và nhiều nhất hiện nay là thư mời chào sang Canada.

Các công ty tư vấn định cư ở Sài Gòn thường đưa ra nhiều lựa chọn, từ châu Âu, Úc, Mỹ đến Canada và tùy theo hoàn cảnh của mỗi người, chi phí trọn gói từ vài trăm triệu đồng (vài chục ngàn USD) đến vài tỷ đồng (vài trăm ngàn USD), nhưng đi được hay không “hồi sau mới rõ”.

Đầu tháng 9, một công ty tư vấn di trú sẽ tổ chức hội nghị đầu tư định cư quốc tế tại TP.HCM, với thông tin từ tạp chí EB5 Investors rằng Việt Nam là thị trường EB-5 lớn thứ hai toàn cầu. Mở văn phòng tại TP.HCM tháng 5/2006, công ty tư vấn di trú này đã trợ giúp hơn 2.500 gia đình Việt Nam định cư thành công sang các nước, đặc biệt là Mỹ, thông qua chương trình EB-5, với số vốn đầu tư thành công khoảng 1,3 tỷ USD vào Mỹ.

Một trang web khác tư vấn di trú
Chụp lại hình ảnh,Một trang web khác tư vấn di trú

Như thế, sau thế hệ của cha mẹ tôi, thế hệ của tôi và giờ đến thế hệ của cháu tôi… việc di cư bỏ xứ ra đi chưa bao giờ chấm dứt.

Chiến tranh đã hết từ lâu nhưng người ta vẫn ra đi. Đó là bi kịch kéo dài của người Việt hay là chuyện mấy đời vẫn cố tìm cuộc sống mới tốt đẹp hơn ở Việt Nam? Ai biết xin cho một câu trả lời.

Song May / Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn

Bài thể hiện quan điểm riêng của cây bút Song May, hiện sống tại Sài Gòn, Việt Nam.