Món ăn ngoe nguẩy nhìn ‘rợn da gà’, lên mâm thành đặc sản đắt giá

Có những con vật khiến nhiều người sợ nổi da gà, thế nhưng khi chế biến đưa lên mâm lại trở thành món đặc sản được ‘dân nhậu’ ráo riết lùng mua.

Đuông dừa là đặc sản nổi tiếng ở nước ta nhưng nhiều người không đủ can đảm để thử món ăn này. Có nhiều cách để chế biến đuông dừa – đặc sản Tây Nam Bộ như: chiên tẩm bột, nướng, xào nước dừa… Tuy nhiên, cách ăn khiến nhiều người “sởn da gà” nhất là ăn đuông dừa còn nguyên con, ngoe nguẩy đang “tắm” trong bát nước mắm.

{keywords}

Món ăn khiến nhiều thực khách giật mình sợ hãi (Ảnh từ clip của Món ngon family)

Những con đuông còn sống được thả vào bát rượu trắng, hoặc nước muối loãng để chúng bị ngộp mà thải ra các chất bẩn. Sau đó đuông được rửa sạch rồi cho vào chén nước mắm ớt cay. Nhiều người không dám đưa những con đuông dừa béo núc đang bò này vào miệng. 

Đuông dừa là một loại ấu trùng của sâu, khoét lỗ chui vào ngọn dừa non, ăn phần thịt mềm của cây dừa và sinh sản. Thông thường, đuông dừa phát triển mạnh nhất vào mùa mưa, khi cây dừa héo úa cũng là lúc những con đuông dừa đã to béo.

{keywords}

Hiện nay, đuông dừa bị cấm nuôi và buôn bán vì là loại côn trùng gây hại (Ảnh từ clip của Món ngon family)

Năm 2019, một nhà hàng ở Hà Nội gây bất ngờ cho thực khách khi “tung” ra món pizza đuông dừa. Theo đó, đế pizza không khác gì so với thông thường, bánh vẫn được nướng cùng một lớp phô mai mỏng. Điều khác biệt là lớp nhân phía trên sử dụng thêm các con đuông dừa sống. 

{keywords}

Ngay khi vừa xuất hiện, món pizza đặc biệt này đã nhận nhiều ý kiến trái chiều

Cá mút đá

Cá mút đá (hay còn gọi là cá ninja, cá quỷ) vốn đã quen thuộc và trở thành một món ăn nổi tiếng, đắt tiền ở Hàn Quốc cùng một số nước châu Âu.

Vài năm trở lại đây, món cá mút đá đang được biết tới nhiều hơn tại Việt Nam với mức giá đắt đỏ. Cá mút đá có thể chế biến thành nhiều món ăn bổ dưỡng như lẩu, cà ri, chiên bột… nhưng ngon và hợp “gu” thực khách Việt Nam nhất vẫn là hai món cá om chuối đậu và cá nướng muối ớt.

{keywords}

Cá mút đá tươi sống (Ảnh từ clip của Travel Thirsty)

{keywords}

Ngoại hình xấu xí của cá mút đá sau khi làm sạch (Ảnh từ clip của Travel Thirsty)

Hiện, loại cá xấu xí này có giá 250 – 350.000 đồng/kg. Tuy nhiên, khách ở Hà Nội hay các tỉnh phía Bắc thường phải đặt trước mới mua được, bởi ở Việt Nam, cá mút đá được phát hiện sống phổ biến nhất ởtại khu vực biển Quy Nhơn (Bình Định), Khánh Hòa.

Loài cá này có vẻ ngoài kỳ lạ, xấu xí, thậm chí còn được ví là “quái vật” biển sâu. Ngoài ra, nó còn có tên gọi khác là cá “giấu đầu lòi đuôi” bởi khi bắt lên, nó thường cuộn đầu như giấu đi. 

Theo giải thích của các ngư dân, sở dĩ cá mút đá được gọi là cá ninja bởi rất khó đánh bắt. Loài cá này sống ở tầng đáy, ở độ sâu hơn 1000m so với mực nước biển, thoắt ẩn thoắt hiện với phần da màu đen trùm kín từ đầu đến đuôi giúp nó dễ “ngụy trang”, lẩn trốn. Đó cũng là lí do khiến món ăn từ cá mút đá trở nên độc đáo, không phải có tiền là mua được.

{keywords}

Tuy ngoại hình xấu xí nhưng sau khi chế biến, cá mút đá lại thành những món đặc sản ngon miệng  (Ảnh từ clip của Travel Thirsty)

{keywords}

(Ảnh từ clip của Travel Thirsty)

Gỏi cá nhảy 

Gỏi cá nhảy là món ăn “đặc sản” của người Thái ở Tây Bắc. Món ăn này sử dụng những con cá nhỏ, có kích thước bằng đầu ngón tay, được rửa sạch với muối, sau đó thả vào một chậu nước để trên mâm. Cá được vớt trực tiếp vào trong tô đựng sẵn: lõi chuối thái, mắm muối, rau thơm, tỏi ớt và nước chua.

Khi ăn thực khách dùng dao khía nhẹ vào bụng cá để lấy ruột ra, rồi trộn đều với hỗn hợp trên, thao tác phải đảm bảo nhanh, sao cho con cá vẫn còn “nhảy” trong miệng khi thưởng thức.

Thứ hỗn hợp chua, cay mặn, ngọt của các loại rau hòa quyện với vị ngọt của cá mang khiến nhiều thực khách ‘mê mẩn’.

{keywords}

Cách thưởng thức cá khi chúng vẫn còn bật nhảy tanh tách khiến cho nhiều thực khách “nổi da gà” (Ảnh từ clip của Đời sống Tây Bắc)

Tuy nhiên, món ăn này được khuyến cáo là tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bệnh khi thưởng thức cá sống mà không qua khâu làm chín thực phẩm. 

Tôm ‘bò’

Tôm ‘bò’ là món đặc sản nổi tiếng của vùng Liên Vị, đảo Hà Nam, Quảng Yên (Quảng Ninh). Du khách đến đây, khi nghe về món ăn mang tên ‘tôm bò’ thì phần đa đều ngạc nhiên, tò mò. 

Sở dĩ gọi là tôm bò vì trước kia, khi người Liên Vị ăn món này: tôm được thả trong chậu hay xô nước, ăn đến đâu bắt đến đấy.

Con tôm tươi còn phải nhảy tanh tách, khiến nước bắn tung tóe mới “đúng kiểu”. Ngày nay, tôm được để vào trong bát ô tô hay đĩa sâu lòng để nhìn gọn gàng, đẹp đẽ hơn.

{keywords}

Để có món tôm bò đúng chuẩn Liên Vị thì trước nhất là phải chọn được loại tôm rảo – loại nhỏ, cỡ như đầu đũa là ngon nhất (Ảnh: Quang Huy)

Ăn kèm cùng tôm sẽ là rau chuối thái mỏng, rau muống chẻ, diếp cá, rau thơm; thêm cả dứa, gừng tươi và cà rốt thái chỉ. Một loại rau ăn kèm không thể thiếu là rau lá mui – một giống cây được trồng ở các ô đầm nuôi thủy sản. Lá mui là một loại kháng sinh rất tốt khi ăn sống hải sản. Món ăn này không thể thiếu loại nước chấm được gọi là nước chua – nấu từ me xanh. 

{keywords}

Cảm giác như con tôm tươi đang nhảy tanh tách trong miệng có thể khiến thực khách thích thú, phấn khích nhưng cũng có thể khiến nhiều thực khách khác phải “sởn da gà” (Ảnh: Quang Huy)

Minh Khôi (Tổng hợp) / Vietnam Net

Chàng trai 24 tuổi từng bỏ học, đầu tư trại cá cảnh 3.500 m2

Đam mê cá cảnh từ nhỏ, Ngô Văn Minh Thanh (ngụ quận Ô Môn) bỏ ngang việc học đại học, lập trang trại nuôi cá cảnh lớn nhất Cần Thơ.

Mới 24 tuổi nhưng Minh Thanh có kiến thức nuôi cá bảy màu, cá lia thia… thuộc hàng có tiếng trong giới chơi cá cảnh ở Cần Thơ.

Đặc biệt, Minh Thanh được xem là người đầu tiên ở Tây Đô khởi nghiệp từ việc nuôi cá cảnh. Đến nay, trang trại của thanh niên này thuộc dạng lớn nhất Cần Thơ.

Minh Thanh kể, sau khi học xong phổ thông, anh thi đậu vào ngành Sư phạm Giáo dục thể chất của Trường Đại học Cần Thơ. Học được một thời gian, Thanh quá đam mê với nuôi cá cảnh nên quyết định tạm dừng việc học.

trai ca canh anh 1
Ngô Văn Minh Thanh, người đang sở hữu trang trại cá bảy màu, cá lia thia… rộng 3.500 m2 ở Cần Thơ.

“Từ bé tôi đã nghiền nuôi cá cảnh. Tôi rất mê ngắm những con cá bảy màu thon nhỏ, đẹp lộng lẫy, bơi lả lướt trong nước như một vũ công điêu luyện. Đầu năm 2018, tôi thử sức với những cặp cá bảy màu dòng phổ thông. Sau thời gian tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm tôi mới nuôi những dòng cá cao cấp hơn”, Minh Thanh nói và cho biết, ban đầu anh nuôi cá cảnh trong các thùng xốp.

Thanh niên này chia sẻ thêm, khi càng đi sâu vào thế giới cá cảnh, anh quen được nhiều người bạn có cùng sở thích, đam mê như mình. Vốn nhạy bén trong kinh doanh, Minh Thanh quyết định lập trang trại sản xuất, kinh doanh khởi nghiệp với cá bảy màu, cá lia thia…

trai ca canh anh 2
Cá bảy màu trong hồ của Minh Thanh.

Đến nay, diện tích nuôi cá cảnh của Thanh rộng 3.500 m2, với hơn 600 hồ. Mỗi hồ Thanh thả nuôi từ khoảng 100-1.000 cặp cá.

“Muốn chơi cá bảy màu mình phải hiểu được nhiệt độ và môi trường nước, thức ăn… bởi cá dễ bị bệnh khi thời tiết thay đổi. Nguồn nước nuôi cá bảy màu thích hợp nhất phải có PH khoảng 6.5-7.5. Thức ăn phải giàu dinh dưỡng như trùn chỉ, trứng nước, trùn huyết đông lạnh”, Thanh nói.

trai ca canh anh 3
Mỗi tháng, Thanh cung ứng khoảng 10.000 cặp cá bảy màu cho các cửa hàng cá cảnh, thương lái ở TP.HCM.

Minh Thanh nói thêm, hiện trang trại của anh đang cho sinh sản hơn 10 loại cá bảy màu như: Rồng tím, rồng xanh, full gold, dark night, pingu… “Cá bảy màu nuôi khoảng 2,5 tháng là bắt đầu sinh sản. Khi cá đẻ thì mình phải bắt cá con ra, vì nếu để, cá bố mẹ sẽ ăn hết”.

Sau khi cá đẻ lứa đầu tiên, mỗi tháng chúng lại đẻ số lượng khá lớn. Nhờ vậy, thời điểm nào anh Thanh cũng có cá bán.

Mỗi tháng, Thanh cung ứng khoảng 10.000 cặp cá bảy màu cho các cửa hàng cá cảnh, thương lái ở TP.HCM. Thanh nói, cá bảy màu đa dạng về màu sắc và mỗi loại có vẻ đẹp khác nhau, đáp ứng nhu cầu của người chơi cá. Giá dao động 3.000 – 20.000 đồng/cặp.

Theo Zing

Vị tổng thống tự tử vì cà phê

Sáng ngày 24/8/1954, Tổng thống Brazil – Getúlio Vargas, 71 tuổi, đã tự tử với một phát súng vào tim trong chính phòng ngủ của mình; số phận của ông dính chặt vào cà phê.

Hai tháng sau cuộc lật đổ Arbenz, một bi kịch khác trong việc chuyển giao quyền lực ở Mỹ Latinh xuất hiện ở Brazil.

Trong suốt nửa đầu của năm 1954, sự bùng nổ giá cà phê làm tinh thần người Brazil hăng hái, phấn chấn. Trong tháng 3, giới nhiều tiền lắm của ở Brazil mua hàng hóa của Mỹ tăng hơn 15% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 6, Getúlio Vargas tăng giá cà phê xuất khẩu tối thiểu từ 53 cent lên 87 cent một pound.

Sau đó, vào tháng 7, giá cà phê sụt giảm nhanh chóng. Lý do là trong nửa đầu năm 1954, các hãng rang xay cà phê lớn ở Mỹ – chẳng hạn như General Foods, Standard Brands, Hills Brothers, Folger’s, A & P, Jewel đã mua rất nhiều cà phê, dựa trên dự đoán về sự thiếu hụt; các bà nội trợ Mỹ cũng hành động tương tự. Và kết quả là, thị trường Mỹ do dự với chuyện mua thêm cà phê ở mức giá cao khi họ đã có quá nhiều hàng tồn kho vào tháng 7.

Để hỗ trợ thị trường, chính phủ Brazil đã buộc phải mua một số lượng cà phê của chính mình. Vargas cử đại diện của mình yêu cầu một khoản vay từ Ngân hàng dự trữ Liên bang của New York nhằm trả các khoản nợ ngày càng tăng của đất nước, nhưng ngân hàng này từ chối.

Lạm phát ở Brazil đe dọa sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát, giá trị trên thị trường tự do của đồng cruzeiro đã đạt đến ngưỡng 60 đổi một đôla Mỹ, gây áp lực ngày càng tăng lên Vargas, buộc ông phải chính thức phá giá đồng tiền.

Chi phí nhập khẩu lớn nhất của Brazil là dầu nhiên liệu; đất nước sẽ cần khoảng 200 triệu đôla nhập khẩu dầu trong sáu tháng tới, ngay cả khi tính theo tỷ giá hối đoái thấp. Brazil có khá nhiều trữ lượng dầu thô, nhưng Vargas quyết tâm không cho phép các công ty Mỹ đến phát triển và khai thác tài nguyên đất nước của ông.

Năm trước đó, ông nêu cao khẩu hiệu “O petróleo é nosso!” (“Dầu mỏ là của chúng ta!”) và gây dựng Petrobras, một công ty thăm dò dầu khí độc quyền nhà nước.

Trong những ngày cuối tuần, ngày 14-15/8, Vargas đã cố gắng thực thi một biện pháp tạm thời, khi một số hãng rang xay Mỹ cắt giảm giá bán xuống 10 cent một pound. Chính phủ Brazil cho phép các nhà xuất khẩu cà phê đổi 20% số đôla họ thu được theo tỷ giá tự do, để làm giảm tỷ giá xuất khẩu tối thiểu 20 cent và cũng phá giả tiền tệ một cách không chính thức. Tuần sau đó, ngành cà phê của Mỹ giảm giá, nhiều nhất là 18 cent một pound.

Khi nền kinh tế Brazil rơi vào hỗn loạn, một cuộc khủng hoảng chính trị cũng nhằm vào Vargas. Kể từ cuộc bầu cử năm 1951, những người phản đối đã chê bai Vargas vì thiên về chủ nghĩa dân kiểm và ủng hộ quyền lao động.

Vào ngày 5/8, một âm mưu ám sát Carlos Lacerda – biên tập viên của tờ báo cảnh hữu Tribuna da Imprensa và một trong những người luôn lớn tiếng chỉ trích Vargas – đã thất bại. Lacerda đang ứng cử trong cuộc đua vào quốc hội với con trai Lutero của Vargas, và một cuộc điều tra sau đó đã chỉ ra mối liên kết giữa những kẻ ám sát với người đứng đầu đội bảo vệ cá nhân của tổng thống.

Những đòi hỏi buộc tội ngày càng gia tăng, cũng giống tình hình cà phê đang dần trở thành thảm họa. Sau một đêm mất ngủ, sáng ngày 24/8/1954, Getúlio Vargas, 71 tuổi, đã tự sát với một phát súng vào tim trong chính phòng ngủ của mình.

Ông viết trong lá thư tuyệt mệnh: “Sau nhiều thập niên chịu sự thống trị, cướp bóc của các nhóm kinh tế và tài chính quốc tế, tôi đã đặt bản thân mình vào vị trí lãnh đạo của cuộc cách mạng và đã chiến thắng”. Tuy nhiên, các nhóm quốc tế không được nêu tên đã cùng tham gia với kẻ thù trong nước của ông, cố gắng lật đổ chiến dịch nhằm tạo ra của cải và quyền tự chủ cho quốc gia của ông.

Khi nhậm chức vào năm 1951, ông đã phát biểu “lợi nhuận của các công ty nước ngoài đạt mức 500% mỗi năm”. Tạm thời cà phê được coi là cứu cánh.

“Cuộc khủng hoảng cà phê đã làm tăng giá trị món hàng chính yếu của quốc gia chúng ta… chúng ta đã cố gắng để bảo vệ giá cà phê và nhận lại những áp lực dữ dội đối với nền kinh tế. Chúng ta đã buộc phải nhượng bộ… Chẳng còn gì nhiều để trao cho nhân dân trừ máu của chính tôi”. Và ông kết thúc thư tuyệt mệnh “tôi đã trao cho nhân dân cuộc sống của mình. Bây giờ tôi trao luôn cả cái chết của chính tôi. Tôi không còn sợ hãi gì nữa. Tôi bước đi bình thản tới cõi vĩnh hằng, bỏ lại cuộc sống để đi vào lịch sử”.

hanh trinh ca phe anh 1
Ảnh: Genetic Literacy Project.

“Nhóm quốc tế” mà Vargas đề cập tới trong thư tuyệt mệnh, cho rằng họ là nguyên nhân cho cái chết của ông vẫn còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, người ta khó có thể đổ lỗi cho chứng hoang tưởng trong cái chết của Vargas, bởi ông chắc hẳn đã nhận ra vai trò của Mỹ trong việc truất quyền Arbenz ở Guatemala chỉ hai tháng trước đó.

Tuy nhiên, ông không thể buộc Mỹ chịu trách nhiệm cho việc giá cà phê sụt giảm. Cũng như các chính trị gia Mỹ không thể đổ lỗi cho âm mưu của Brazil đã làm giá cà phê tăng vọt. Trong cả hai trường hợp, giá thị trường đã phản ứng theo quy luật cung cầu, với một sự can thiệp nhỏ từ các nhà đầu cơ và sự hoảng sợ hay tức giận của người tiêu dùng.

Vargas đã chết trong bi thảm, số phận của ông dính chặt vào cà phê. Ông lên nắm quyền vào năm 1930 phần lớn là vì Brazil đang trong cuộc khủng hoảng kinh tế sau sự sụp đổ của giá cà phê. Một phần tư thế kỷ sau đó, ông tự kết liễu đời mình trong hoàn cảnh tương tự. Đời sống chính trị của ông và lịch sử của đất nước Brazil mà ông hằng yêu quý liên quan mật thiết đến cây và hạt cà phê.

Một nhà báo Mỹ viết vào tháng 10/1954: “Cà phê là một phần quan trọng của đời sống kinh tế Brazil, bởi cà phê gắn chặt với chính trị, không thể nào tách rời được. Nhiều người cảm thấy sự đầu hàng của Brazil trước giá cà phê là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Tổng thống Vargas tự sát”.

Căng thẳng giữa Mỹ và Mỹ Latinh vẫn ở mức cao. Tại Mỹ Latinh, với tuổi thọ trung bình 47 tuổi, giá cà phê đồng nghĩa với sự sống hoặc cái chết.

Andrés Uribe viết trong cuốn sách Brown Gold (tạm dịch: Vàng nâu) của mình rằng: “Các cuộc bạo loạn và biểu tình chống Mỹ – vốn diễn ra một cách định kỳ, quét qua hết nước này đến nước khác trong 20 nước cộng hòa – không thực sự trút lòng thù hận lên Mỹ… Họ chỉ bày tỏ sự bực tức với người láng giềng tốt, khi họ cảm thấy Mỹ thờ ơ với những vấn đề cơ bản của họ”. Sự bực tức sẽ tăng lên, do nguồn cung dư thừa trên toàn thế giới dẫn đến giá cà phê xuống thấp một cách thảm hại.

Theo Zing /Sachs hay ” HÀNH TRÌNH CAFE “

Ông Obama để lại sau lưng một xã hội Mỹ bị chia rẽ sâu sắc

Nền tảng xã hội của phe cánh tả được nâng cấp, mọi thứ đã sẵn sàng, và chỉ đợi thời cơ chín muồi. Phe cánh tả Mỹ cuối cùng đã đợi được Obama, người có tất cả “sự đúng đắn về chính trị” và thành công đưa ông vào Nhà Trắng, do đó đã hoàn thành cuộc cách mạng màu của phe cánh tả Mỹ.

Ông Obama (bên trái), bà Hillary (ở giữa) và ông Clinton (bên phải) cùng cười trong lễ tưởng niệm Đại sứ Richard C. Holbrooke tại Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật John F. Kennedy ở Washington, D.C., ngày

14/1/2011. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ)
Cựu Tổng thống Obama đã nắm quyền trong 8 năm, khiến Hoa Kỳ trải qua những thay đổi rất sâu sắc: Cơ cấu cử tri đã được chuyển đổi thông qua việc nhập cư quy mô lớn, hệ thống tư pháp bị đảng phái hóa nghiêm trọng, và trở thành cuộc bầu cử chính trị của thế giới thứ 3.

Điều quan trọng nhất là trong 2 hoặc 3 năm cuối của nhiệm kỳ thứ 2, ông Obama để thân tín của mình tham gia vào một số kênh truyền thông chính thống lớn ở Hoa Kỳ, cùng Twitter và Facebook nắm chắc quyền phát biểu. Nó cũng mang lại cho nước Mỹ “sự vật mới” chưa từng có trước đây, như @ACTforAmerica đã tweet vào ngày 1/5/2022:

Trước Obama, thế giới không có ISIS (nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo Iraq và Cận Đông.)
Trước Obama, Hoa Kỳ không có “Black Lives Matter” (BLM – Phong trào Người da đen đáng sống.)
Trước Obama, thế giới không có “ANTIFA” (những kẻ cánh tả cực đoan giả vờ chống lại sự thù hận, nhưng về cơ bản lại tôn thờ hành vi bạo lực của công dân.)
Trước Obama, Hoa Kỳ không có cuộc chiến với cảnh sát.
Trước Obama, Hoa Kỳ ít bị chia rẽ hơn nhiều so với ngày nay!
Ông Obama đã chuẩn bị đầy đủ nhân lực cho cuộc cách mạng màu ở Mỹ:

  1. Một thế hệ thiên niên kỷ (Gen Y) tin vào chủ nghĩa xã hội và ghét chủ nghĩa tư bản
    Trong cuộc bầu cử năm 2016, bà Jane Sanders, người tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, đã giành được sự ủng hộ cuồng nhiệt của một lượng lớn sinh viên trẻ mà xã hội Mỹ gọi là “chủ nghĩa dân túy cánh tả”. Phe này cùng với “chủ nghĩa dân túy cánh hữu” do cựu Tổng thống Donald Trump đại diện, đã tạo nên 2 bối cảnh chính trị ở Hoa Kỳ, và được giới truyền thông phương Tây khái quát là 2 lực lượng tiêu biểu của “sự điên cuồng chống toàn cầu hóa của người Mỹ”.

Chủ thể của chủ nghĩa dân túy cánh hữu được các kênh truyền thông cánh tả miêu tả là những người nông dân không thể bán ngũ cốc và lúa mì vì toàn cầu hóa, là những công nhân cổ xanh được trả lương thấp, và những người về hưu … Tóm lại, họ là giai tầng ngu ngốc và nghèo nàn, cả đời chưa bao giờ rời khỏi nước Mỹ.

Chủ thể của chủ nghĩa dân túy cánh tả là những người trẻ thuộc thế hệ thiên niên kỷ (Gen Y), hầu hết đều đang học đại học. Công ty nghiên cứu thị trường quốc tế Yougov thực hiện một cuộc khảo sát, với chủ đề “Thái độ của người Mỹ đối với chủ nghĩa xã hội”, khoảng 2.000 người đã được khảo sát.

Cuộc khảo sát cho thấy, 53% thanh niên dưới 35 tuổi ở Hoa Kỳ không hài lòng với cơ chế kinh tế hiện tại. Họ tin rằng thể chế này không tốt cho họ và “chủ nghĩa xã hội” là khả thi.

45% thanh niên thích bỏ phiếu cho một người theo “xã hội chủ nghĩa” làm tổng thống của họ. Đây là một hiện tượng chưa từng thấy trước nhiệm kỳ tổng thống của ông Obama.

  1. Xung đột chủng tộc ngày càng gay gắt
    Một trong những di sản chính trị quan trọng nhất trong tầm nhìn xa của ông Obama, là xây dựng được kho phiếu kéo dài hàng thập kỷ cho Đảng Dân chủ, bằng cách thu hút người Hồi giáo châu Phi và người gốc Latinh trên quy mô lớn.

Theo thông tin được Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ công bố vào ngày 17/6/2016, từ năm 2009 – 2014, Hoa Kỳ đã tiếp nhận 832.000 người tị nạn từ các quốc gia có dân số chủ yếu theo đạo Hồi. Bắt đầu từ năm 2015, ông Obama đã tiếp nhận một lượng lớn người tị nạn Syria, và số lượng người tị nạn Hồi giáo có thể vượt quá 1 triệu người.

Lấy năm 2016 làm ví dụ, vụ xả súng ở thành phố Orlando vào ngày 12/6 và nhiều vụ đánh bom ở New York và New Jersey trong cùng thời gian, đều do những người nhập cư Hồi giáo thực hiện. Kẻ sát nhân trong vụ thảm sát tại bang Minnesota vào tháng 9/2016 là một người Hồi giáo nhập cư từ quốc gia Kenya, quê cha đất tổ của ông Obama.

Chicago, nơi ông Obama làm nên cơ nghiệp chính trị, từ lâu đã trở lại là một thành phố của tội ác, với hơn 3.000 cuộc đấu súng giữa những người da đen trong vòng 1 năm.

Với sự gia tăng nhập cư và tỷ lệ sinh sản cao ở các nhóm thiểu số, đặc biệt là người gốc Latinh, nhân khẩu học của Hoa Kỳ đã thay đổi. Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, năm 2008, người da trắng chiếm 66% dân số; năm 2019, con số này giảm xuống còn 60,1%.

Tính đến tháng 7/2019, tổng số thế hệ trẻ như Millennials (Gen Y, sinh từ 1984-1995), Thế hệ Z, v.v. là 166 triệu người, chiếm 50,7 % dân số quốc gia. Gần một nửa trong số 162 triệu người Mỹ trên 36 tuổi, được xác định là chủng tộc hoặc dân tộc thiểu số da màu. Theo đó dân số da trắng vào năm 2040 sẽ ít hơn một nửa so với tổng dân số Hoa Kỳ.

Ngày 11/12/2020, trong một cuộc họp Zoom giữa Tổng thống Biden, Phó Tổng thống Harris và các nhà lãnh đạo dân quyền da đen, ông Biden đã nói: “Đất nước này đã bị diệt vong, nó đã bị diệt vong. Không chỉ vì người Mỹ gốc Phi, mà bởi vào năm 2040, người châu Âu da trắng đã sẽ trở thành thiểu số. Các vị có nghe thấy không? Các vị phải bắt đầu làm việc với người Tây Ban Nha nhiều hơn và họ sẽ đông hơn tất cả các vị.”

Ngoài việc khuyến khích hợp pháp hóa nhập cư bất hợp pháp, vì lợi ích chính trị của riêng mình, Đảng Dân chủ và một số nhóm xã hội còn cố tình thúc đẩy mâu thuẫn giữa các chủng tộc và giành lấy những lá phiếu rẻ mạt của họ thông qua sự tức giận của các nhóm thiểu số.

Tình hình này đã thay thế chiếc lò luyện đan của Mỹ thành cái bát trộn salad. Người ta nhận ra: “Nước Mỹ không phải là lò luyện đan, mà chỉ là một cái bát trộn salad”. Cựu Tổng thống  Obama đã để lại một xã hội Mỹ bị chia rẽ sâu sắc.

Ông Obama – Tinh anh về đào tạo chủ nghĩa Mác ở Mỹ
Thay vì nói rằng ông Obama là nguyên nhân của cuộc cách mạng da màu ở Hoa Kỳ, thì nên nói rằng cuộc cách mạng da màu ở Hoa Kỳ đã được tiến hành một cách âm thầm trong nhiều năm. Cuối tháng 5/2020, phong trào “Black Lives Matter” (Người da đen đáng sống) đã nở rộ ở Hoa Kỳ cùng với việc đập phá và cướp bóc.

Bà Nancy Pelosi – Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Tổng thống Biden đã đi đầu trong việc quỳ lạy “Black Lives Matter” trong Hội trường Quốc hội. Người đứng đầu tổ chức này, vẫn luôn ở trong tình trạng nửa giấu mặt, cuối cùng cũng liên tục xuất hiện trên các kênh truyền thông đại chúng, làm rõ tổ chức này tin vào điều gì và yêu cầu những gì trong cuộc sống thực.

Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi và các nhà lập pháp Dân chủ khác quỳ gối tưởng niệm George Floyd hôm 8/6/2020, tại Washington, DC. (Nguồn: BRENDAN SMIALOWSKI / AFP qua Getty Images)

Ngày 23/6/2020, một trong những người đồng sáng lập của BLM, bà Patrisse Cullors, đã phát biểu trên News Now, thừa nhận rằng các thành viên của nhóm là những người theo chủ nghĩa Marx được đào tạo, với một chương trình nghị sự đơn giản hơn nhiều so với công lý cho người Mỹ gốc Phi.

Mối quan hệ mật thiết giữa cánh tả Mỹ và chủ nghĩa Marx
Mục đích của họ chính là không để ông Trump tham gia cuộc bầu cử tổng thống và mãn nhiệm vào trước tháng 11. Họ chờ ông Biden lên nhậm chức và gây áp lực buộc ông ấy phải phát triển các chính sách, thay đổi mối quan hệ giữa công vụ của cảnh sát và định tội hình sự.

“Trung tâm Chiến lược Lao động / Cộng đồng”, nơi bà Cullors được đào tạo trong 10 năm, do trùm khủng bố nội địa người Mỹ Eric Mann lãnh đạo.

Mối quan hệ của ông Mann với tổ chức khủng bố “Weather Underground” (thời tiết ngầm) ngay lập tức nhắc nhở một vài người Mỹ nhạy cảm rằng ông Obama có mối liên hệ với ông Ayers – người sáng lập ra tổ chức “Weather Underground“.

Ngày 23/9, hơn 40 ngày trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, tờ Wall Street Journal đã đăng bài “Obama và Ayers thúc đẩy chủ nghĩa cấp tiến trong trường học”, đề cập đến việc viết một đoạn lịch sử liên quan đến Ayers mà ông Obama đã cố tình giấu giếm trong 2 cuốn tự truyện: Cả hai đã hợp tác chặt chẽ với nhau từ năm 1995 – 1999.

Các tài liệu trong hồ sơ CAC làm rõ rằng Ayers và Obama là đối tác của CAC, ông Ayers còn là nhà lãnh đạo chính trị cho ông Obama. Năm 1995, lần chạy đua tranh cử đầu tiên của ông Obama vào Thượng viện bang Illinois là tại một bữa tiệc ở nhà của ông Ayers.

Nhưng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2018, vì những quan điểm chính trị cấp tiến và hồ sơ quá khứ của Ayers, ông Obama đã cố tình hạ thấp mối quan hệ của mình với ông Ayers, coi ông ấy là “một người sống gần nhà tôi.”

Ayers là ai? Tại đây cần phải giới thiệu tổ chức “Weather Underground” (thời tiết ngầm) và mạng lưới xã hội của nó.

Ông Ayers. (Nguồn: Wikipedia)
Wikipedia giới thiệu về William Charles Ayers như sau: (Sinh ngày 26/12/1944) là một nhà lý luận giáo dục tiểu học người Mỹ, kiêm cựu giáo sư giáo dục tại Đại học Illinois ở Chicago, nơi ông được trao tặng danh hiệu Giáo sư xuất sắc và danh hiệu học giả đại học cao cấp.

Trong những năm 1960, ông Ayers là người sáng lập và lãnh đạo “Weather Underground“, một nhóm cách mạng tự xưng là cộng sản, muốn lật đổ chủ nghĩa đế quốc, chấm dứt Đế quốc Mỹ.

Để phản đối sự tham gia của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, “Weather Underground” đã tiến hành đánh bom các tòa nhà công cộng trong những năm 1960 và 1970 (gồm việc giết chết các sĩ quan cảnh sát, đặt bom trong các bức tượng, nhằm gây thương vong cho cảnh sát, và một loạt vụ đánh bom các tòa nhà công cộng như Lầu Năm Góc và Sở Cảnh sát San Francisco).

Nhưng thành công lớn nhất trong cuộc đời của Ayers không phải là những thành tựu của “người đàn ông năm 1968”, mà là 2 thành tựu chính:

Thứ nhất, là thành viên của “The long march through the institutions” (Cuộc hành quân dài mới trong thể chế), ông đã thành khi công bước vào các trường đại học Mỹ, và trở thành một nhà giáo dục.

Ông thường thuyết trình, giảng dạy về “Sự kết thúc của Đế quốc Mỹ”, xây dựng một thế giới mới, và “vai trò của chúng ta đối với toàn thế giới,” đồng thời đào tạo những người cực đoan phe cánh tả trong giới sinh viên đại học.

Hoạt động của ông ấy đã mở rộng ra khắp xã hội Mỹ. Ayers đã sử dụng mạng xã hội của mình, để thành lập các tổ chức al-Qaeda khác nhau, để ươm mầm các tài năng của phong trào xã hội cánh tả.

Thứ hai, ông ấy là người tạo nên các vị vua và đã thành công đẩy ông Obama lên ngai vàng tổng thống, làm thay đổi sâu sắc nền chính trị và kết cấu xã hội của Mỹ.

Hà Thanh Liên – nhà kinh tế học người gốc Hoa tại Mỹ
(Bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, được UP Media ủy quyền độc quyền cho Vision Times.)

Theo Trí thức VN

Putin thực sự muốn gì ở Ukraine?

Nga đang tìm cách ngăn NATO mở rộng, chứ không phải muốn sáp nhập thêm lãnh thổ.

Trong những ngày cuối cùng của năm 2021, Nga đã đưa ra cho Mỹ một danh sách các yêu cầu mà nước này cho là cần thiết để ngăn chặn khả năng xảy ra xung đột quân sự quy mô lớn ở Ukraine. Trong một bản dự thảo hiệp ước được trao cho một nhà ngoại giao Mỹ ở Moscow, chính phủ Nga đã yêu cầu NATO chính thức ngừng mở rộng về phía đông, đóng băng vĩnh viễn việc mở rộng hơn nữa các cơ sở hạ tầng quân sự của liên minh (chẳng hạn như căn cứ và hệ thống vũ khí) trên lãnh thổ Liên Xô cũ, chấm dứt hỗ trợ quân sự của phương Tây đối với Ukraine, đồng thời cấm tên lửa tầm trung ở châu Âu. Thông điệp họ đưa ra là không thể nhầm lẫn: nếu những mối đe dọa này không thể được giải quyết bằng ngoại giao, Điện Kremlin sẽ phải dùng đến hành động quân sự.

Những lo ngại này đã trở nên quen thuộc với các nhà hoạch định chính sách phương Tây, những người suốt nhiều năm qua đã đáp trả bằng cách lập luận rằng Moscow không có quyền phủ quyết đối với các quyết định của NATO, và cũng không có quyền yêu cầu phương Tây ngừng gửi vũ khí cho Ukraine. Cho đến gần đây, Moscow vẫn miễn cưỡng chấp nhận lập luận đó. Nhưng giờ đây, dường như người Nga đã quyết tâm thực hiện bằng được các biện pháp đối phó nếu yêu cầu của mình không được đáp ứng. Quyết tâm đó được thể hiện qua cách họ trình bày bản hiệp ước với Mỹ, và thêm một hiệp định riêng với NATO. Giọng điệu của cả hai văn bản này đều rất sắc bén. Phương Tây chỉ được cho một tháng để phản hồi, theo đó tránh khả năng xảy ra đàm phán kéo dài mà không có kết quả. Thêm nữa, cả hai bản dự thảo đã được công bố gần như ngay lập tức sau khi chúng được gửi đi, một động thái nhằm ngăn chặn Washington làm rò rỉ và bẻ cong các đề xuất.

Nếu Tổng thống Nga Vladimir Putin hành động như thể ông là người trên cơ trong tình thế bế tắc này, ấy là bởi vì ông quả thật có ưu thế. Theo các cơ quan tình báo Mỹ, Nga có gần 100.000 quân và rất nhiều vũ khí hạng nặng đang đóng ở biên giới với Ukraine. Mỹ và các nước NATO khác đã lên án các động thái của Nga, nhưng đồng thời cũng thể hiện rằng họ sẽ không bảo vệ Ukraine, quốc gia không phải là thành viên NATO, và giới hạn các hành vi trả đũa chỉ bao gồm các biện pháp trừng phạt Nga.

Tuy nhiên, các đề xuất của Moscow trông giống như một cuộc ra giá mở, hơn là một tối hậu thư. Dù khăng khăng đòi hỏi một hiệp ước chính thức với Mỹ, chính phủ Nga chắc chắn hiểu rằng vì lý do phân cực và bế tắc, việc phê chuẩn bất kỳ hiệp ước nào tại Thượng viện Mỹ hiện nay đơn giản là không thể. Thế nên, một thỏa thuận hành pháp (executive agreement) – về cơ bản là một hiệp định giữa hai chính phủ, không cần phải được phê chuẩn, và do đó không có tư cách như một đạo luật – sẽ là một giải pháp thay thế có tính thực tiễn hơn. Khả năng là nếu có một thỏa thuận như vậy, phía Nga sẽ thực hiện các cam kết có đi có lại, giải quyết một số lo ngại của Mỹ để tạo ra cái mà nước này gọi là “cân bằng lợi ích”.

Cụ thể, Điện Kremlin có thể hài lòng nếu chính phủ Mỹ đồng ý chính thức đóng băng dài hạn quá trình mở rộng NATO, và cam kết không bố trí các tên lửa tầm trung ở châu Âu. Họ cũng có thể chấp nhận một hiệp định riêng giữa Nga và NATO, nhằm hạn chế việc đóng quân và tiến hành các hoạt động quân sự ở những nơi mà lãnh thổ hai bên tiếp giáp nhau, từ Biển Baltic đến Biển Đen.

Tất nhiên, đó là một câu hỏi mở, để chờ xem liệu chính quyền Biden có sẵn sàng can dự nghiêm túc với Nga hay không. Tại Mỹ, sự phản đối đối với bất kỳ thỏa thuận nào trong số này cũng sẽ ở mức cao, do tính phân cực chính trị trong nước, và thực tế là việc đạt được thỏa thuận với Putin sẽ khiến chính quyền Biden hứng chịu những chỉ trích rằng họ đang cúi đầu trước một nhà nước chuyên chế. Làn sóng phản đối cũng sẽ dâng cao ở châu Âu, nơi các nhà lãnh đạo sẽ cảm thấy rằng một thỏa thuận giữa Washington và Moscow khiến họ trở thành kẻ bên lề.

Đây đều là những lo ngại chính đáng. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý là chính Putin là người cầm quyền trong suốt bốn đợt mở rộng NATO, và đã phải chấp nhận việc Washington rút khỏi các hiệp ước quản lý tên lửa đạn đạo, tên lửa hạt nhân tầm trung, và máy bay do thám không có vũ trang. Đối với ông, Ukraine là chốt chặn cuối cùng. Vị tổng tư lệnh quân đội Nga đang được các quan chức an ninh và quốc phòng của ông ủng hộ, và bất chấp việc công chúng Nga lo sợ một cuộc chiến có thể nổ ra, Putin cũng không vấp phải sự phản đối nào ở trong nước về các chính sách đối ngoại của mình. Quan trọng hơn cả, ông chắc chắn sẽ không để bản thân bị xem là một kẻ-khoác-lác. Tóm lại, Biden đã đúng khi không bác bỏ ngay lập tức các yêu cầu của Nga, và thay vào đó, ủng hộ chính sách can dự.

Lằn ranh đỏ của Putin

Có một sự bất đối xứng đáng kể về tầm quan trọng mà phương Tây và Nga gán cho Ukraine. Phương Tây đã mở rộng triển vọng trở thành thành viên NATO của Ukraine kể từ năm 2008, nhưng lại chẳng có thời gian biểu chính thức để kết nạp. Sau năm 2014 – thời điểm Nga chiếm Crưm từ tay Ukraine, và bắt đầu hỗ trợ các chiến binh thân Nga ở vùng Donbas của nước này – thật khó để biết liệu chính phủ Mỹ sẽ cho phép Ukraine gia nhập NATO như thế nào. Bởi rốt cuộc, sẽ có rất ít sự ủng hộ của công chúng Mỹ đối với việc triển khai quân đội chiến đấu tại Ukraine. Washington đã cam kết với Kyiv một lời hứa mà cả hai bên đều biết là không thể giữ được. Ngược lại, Nga coi Ukraine là lợi ích an ninh quốc gia quan trọng, và tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực quân sự nếu lợi ích đó bị đe dọa. Sự sẵn sàng huy động quân đội và sự gần gũi về địa lý với Ukraine giúp Moscow có lợi thế hơn so với Mỹ và các đồng minh.

Điều này không có nghĩa là Nga sắp xâm lược Ukraine. Dù báo giới phương Tây có xu hướng mô tả Putin là người liều lĩnh, trên thực tế, ông rất thận trọng và toan tính, đặc biệt là khi sử dụng vũ lực. Putin không sợ rủi ro – các chiến dịch tại Chechnya, Crưm và Syria là bằng chứng cho thấy điều đó – nhưng trong suy nghĩ của ông, lợi ích phải lớn hơn chi phí. Ông sẽ không xâm lược Ukraine đơn giản chỉ vì các nhà lãnh đạo của nước này có định hướng thân phương Tây.

Tuy thế, vẫn có một số kịch bản có thể thúc đẩy Điện Kremlin điều quân đến Ukraine. Năm 2018, Putin đã công khai tuyên bố rằng nỗ lực của Ukraine nhằm giành lại lãnh thổ ở Donbas bằng vũ lực sẽ dẫn đến một phản ứng quân sự. Có một tiền lệ lịch sử cho việc này: năm 2008, Nga từng phản ứng quân sự trước một cuộc tấn công của Georgia vào nước cộng hòa ly khai Nam Ossetia. Một lằn ranh đỏ khác là việc Ukraine gia nhập NATO, hoặc cho phép bố trí các căn cứ quân sự và hệ thống vũ khí tầm xa của phương Tây trên lãnh thổ của mình. Putin sẽ không bao giờ nhượng bộ điểm này. Tuy nhiên, hiện tại, Mỹ và các thành viên NATO khác hầu như đều không ủng hộ Ukraine gia nhập liên minh. Đầu tháng 12/2021, các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nói với người Ukraine rằng tư cách thành viên NATO của quốc gia họ khó có thể được chấp thuận trong thập niên tới.

Nếu NATO tăng cường lực lượng của mình ở các quốc gia thành viên phía đông, điều đó có thể gia tăng quân sự hóa tại một ranh giới mới của châu Âu, chạy dọc theo biên giới phía tây của Nga và Belarus. Nga có thể bị kích động và sẽ đặt nhiều tên lửa tầm ngắn hơn ở Kaliningrad – khu vực lãnh thổ không tiếp giáp ở phía cực tây của Nga, nằm giữa Ba Lan và Lithuania. Ngoài ra, một liên minh quân sự chặt chẽ hơn với Belarus có thể gây thêm áp lực lên Ukraine. Moscow cũng có thể công nhận “các nước cộng hòa nhân dân” tự xưng là Donetsk và Luhansk, và tích hợp chúng thành một thực thể địa chính trị mới, cùng với Nga và Belarus.

Tác động địa chính trị của những diễn tiến này có thể vươn ra xa hơn, ngoài châu Âu. Nhằm chống lại các biện pháp trừng phạt kinh tế và tài chính quyết liệt hơn của phương Tây – vốn để ngăn Nga xâm lược Ukraine, hoặc là vì hậu quả của hành động đó – Moscow có thể sẽ phải dựa vào Bắc Kinh, quốc gia cũng đang chịu áp lực ngày càng tăng của Mỹ. Tổng thống Putin và Chủ tịch Tập Cận Bình giờ đây đang thảo luận về các cơ chế tài chính để bảo vệ đất nước của họ khỏi các lệnh trừng phạt của Mỹ. Trong trường hợp đó, chuyến thăm Trung Quốc trong Thế vận hội Mùa đông tháng 02/2022 của Putin có thể không chỉ là một lời chào xã giao. Sau đó, Mỹ rất có thể sẽ chứng kiến quan hệ hữu hảo (entente) Trung Quốc-Nga trở thành một liên minh (alliance) chặt chẽ hơn, với hợp tác kinh tế, công nghệ, tài chính, và quân sự đều đạt được những tầm cao mới.

Trò chơi đổ lỗi

Lời đe dọa sử dụng vũ lực của Putin xuất phát từ sự thất vọng của ông với một tiến trình ngoại giao bị đình trệ. Nỗ lực của Điện Kremlin nhằm lôi kéo Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đạt được thỏa thuận về vấn đề Donbas – vốn đã từng rất hứa hẹn hồi cuối năm 2019 – đã trở nên vô ích. Zelensky, người đã giành chiến thắng áp đảo trong cuộc tranh cử tổng thống với tư cách là một ứng cử viên hòa bình, là một nhà lãnh đạo đặc biệt thất thường. Quyết định sử dụng máy bay không người lái có vũ trang ở Donbas của ông vào năm 2021 đã làm gia tăng căng thẳng với Moscow, ở thời điểm Ukraine đáng lẽ không nên khiêu khích nước láng giềng.

Không chỉ có giới lãnh đạo Ukraine mới bị Moscow cho là có vấn đề. Pháp và Đức đã nỗ lực để đạt được một giải pháp ngoại giao nhằm giải quyết bế tắc giữa Nga và Ukraine. Nhưng hai quốc gia châu Âu này – những nước trung gian bảo đảm cho các thỏa thuận Minsk năm 2014 và 2015, được cho là mang lại hòa bình cho khu vực – đã không thành công trong việc thúc đẩy Ukraine đạt được một thỏa thuận. Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier, khi đó còn là ngoại trưởng, thậm chí không thể khiến Kyiv chấp nhận một thỏa hiệp sẽ cho phép bầu cử diễn ra ở Donbas. Tháng 11 năm ngoái, người Nga thậm chí còn công bố thư từ ngoại giao riêng giữa ngoại trưởng của họ, Sergei Lavrov, và những người đồng cấp Pháp và Đức, để minh chứng rằng các cường quốc phương Tây hoàn toàn đứng về phía chính phủ Ukraine.

Dù phương Tây chỉ xoáy vào việc Nga tăng cường quân đội gần biên giới Ukraine, điều này thực chất diễn ra trong lúc các nước NATO mở rộng các hoạt động quân sự của họ ở khu vực Biển Đen và Ukraine. Hồi tháng 6, một tàu khu trục của Anh đã đi qua vùng lãnh hải ngoài khơi Crưm, mà London không công nhận là thuộc về Nga, kích động người Nga bắn về hướng của họ. Còn trong tháng 11, một máy bay ném bom chiến lược của Mỹ đã bay trong bán kính 13 dặm từ biên giới của Nga ở khu vực Biển Đen, khiến Putin nổi giận. Khi căng thẳng gia tăng, các cố vấn quân sự, chuyên viên hướng dẫn, vũ khí và đạn dược của phương Tây đã ồ ạt đổ vào Ukraine. Người Nga cũng nghi ngờ rằng một trung tâm huấn luyện mà Anh đang xây dựng ở Ukraine thực chất là một căn cứ quân sự của nước ngoài. Putin đặc biệt kiên quyết rằng việc triển khai các tên lửa của Mỹ ở Ukraine, có thể chạm tới Moscow chỉ trong 5 đến 7 phút, là không thể dung thứ.

Người Nga rõ ràng đang đe dọa leo thang quân sự. Trong các bài báo và bài phát biểu của mình, Putin có thể nhấn mạnh đến sự đoàn kết dân tộc giữa Nga và Ukraine, nhưng điều mà ông quan tâm nhất là ngăn chặn sự mở rộng của NATO sang Ukraine. Hãy thử phân tích những gì ông nói vào tháng 03/2014, sau khi cử lực lượng của mình vào Crưm để đối phó với cuộc lật đổ Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych. “Tôi không thể tưởng tượng được rằng chúng tôi sẽ đến Sevastopol để thăm các thủy thủ NATO.” Ông nói về căn cứ hải quân nổi tiếng của Nga ở Crưm: “Tất nhiên, hầu hết họ đều là những chàng trai tuyệt vời, nhưng sẽ tốt hơn nếu họ đến thăm và làm khách của chúng tôi, thay vì ngược lại.”

Hành động của Putin cho thấy rằng mục tiêu thực sự của ông không phải là chinh phục Ukraine và sáp nhập nước này vào Nga, mà là thay đổi bối cảnh hậu Chiến tranh Lạnh ở phía đông châu Âu. Bối cảnh ấy đã khiến Nga trở thành một kẻ chỉ biết chấp nhận luật chơi mà không có nhiều tiếng nói trong vấn đề an ninh châu Âu, vốn đang xoay quanh NATO. Nếu ông có thể ngăn chặn NATO tiến vào Ukraine, Georgia và Moldova, đồng thời giữ các tên lửa tầm trung của Mỹ khỏi châu Âu, Putin tin rằng mình có thể khắc phục một phần thiệt hại về an ninh mà Nga đã phải gánh chịu sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Không phải ngẫu nhiên, đó có thể là một thành tựu hữu ích cho cuộc tranh cử năm 2024, khi Putin nhiều khả năng sẽ lại tái đắc cử.

Nguồn: Dmitri Trenin, “What Putin Really Wants in Ukraine”Foreign Affairs, 28/12/2021.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Dmitri Trenin là Giám đốc của Trung tâm Carnegie Moscow.