10 nhà thờ đẹp nhất nước Nga

Với lịch sử lâu đời và kiến trúc – cảnh quan ấn tượng, những nhà thờ sau đây là địa điểm ghé thăm không thể bỏ qua dành cho du khách ở nước Nga.  

10. Nhà thờ Hoàng tử Dmitry trên máu đổ, tỉnh Yaroslavl. Nhà thờ này được xây để tưởng niệm Hoàng tử Dmitry, con trai của Ivan Bạo chúa, mất lúc 10 tuổi, nghi bị sát hại. Ban đầu nhà thờ được xây bằng gỗ, đến năm 1692 được xây lại bằng đá như hiện tại. Ảnh: ФотоТерра.

9. Nhà thờ Dấu ấn Đức Mẹ ở Dubrovitsy, tỉnh Moskva. Từng là một phần của điền trang Dubrovitsy, nhà thờ này được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 theo thiết kế của các kiến ​​trúc sư người Italia do hoàng tử Golitsyn – chủ sở hữu khu đất – mời đến. Ảnh: Country Scanner.

8. Nhà thờ Biến hình, Cộng hòa Karelia. Có từ năm 1714, nhà thờ nhiều tầng hình bát diện này có 22 mái vòm. Công trình là trung tâm của quần thể kiến ​​trúc Kizhi Pogost, được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Ảnh: Wikimedia Commons.

7. Nhà thờ Thăng Thiên, tỉnh Vladimir. Cũng là Di sản Thế giới, nhà thờ Thăng Thiên được xây năm 1158, dưới thời Hoàng tử Andrey Bogolyubsky – người sáng lập Moskva. Nơi đây còn lưu giữ các bích họa của danh họa Andrei Rublev, có từ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Ảnh: Википедия.

6. Nhà thờ Tserkov Pokrova bên sông Nerli, tỉnh Vladimir. Nhà thờ này được coi là biểu tượng quyền lực của Andrey Bogolyubsky, được xây cùng thời với nhà thờ Thăng Thiên. Công trình nằm trên quả đồi thấp bên cạnh dòng sông hiền hòa, tạo nên một khung cảnh đẹp như tranh vẽ. Ảnh: LiveJournal.

5. Nhà thờ Phục sinh của Chúa Kitô, Cộng hòa Krym. Nhà thờ tuyệt đẹp này được xây năm 1892, để ghi nhớ sự sống sót kỳ diệu củaSa hoàng Alexander III trong một vụ tai nạn tàu hỏa khi đang trên đường đến Krym. Công trình nằm trên một vách đá cheo leo, có tầm nhìn hướng ra biển. Ảnh: Истории наших путешествий.

4. Nhà thờ Hải quân Thánh Nikolai, thành phố St. Petersburg. Được xây dựng vào giữa thế kỷ 18, đây là nhà thờ đầu tiên ở Nga được xây dựng cho lực lượng hải quân. Nằm ở khu vực có nhiều doanh trại hải quân, nhà thờ có màu xanh da trời rực rỡ, mang phong cách kiến trúc Baroque thời Elizabeth. Ảnh: Turizm.ngs70.ru.

3. Nhà thờ Kazan, thành phố St. Petersburg. Nhà thờ này được được Sa hoàng Pavel I cho xây dựng vào năm 1811, phỏng theo kiến trúc Vương cung thánh đường Thánh Peter ở Rome. Đây là nhà thờ chính của thành phố và là nhà thờ nghi lễ của Hoàng gia. Ảnh: Пазлы онлайн.

2. Nhà thờ Thánh Isaac, thành phố St. Petersburg. Là một công trình biểu tượng của thành phố, nhà thờ Thánh Isaac được xây từ năm 1818-1858. Kiến trúc sư Pháp Auguste de Montferrand đã dành cả cuộc đời của mình – theo đúng nghĩa đen – để xây dựng nhà thờ này. Ông mất vài tháng trước khi công trình hoàn thành. Ảnh: Architime.

1. Nhà thờ Thánh Basil, thành phố Moskva. Nhà thờ này được xây dựng từ năm 1555-1561 theo lệnh của Sa hoàng Ivan IV để kỷ niệm chiến thắng trước Hãn quốc Kazan. Là một phần của Di sản thế giới Điện Kremlin và Quảng trường Đỏ, công trình được coi là một biểu tượng của Moskva cũng như toàn nước Nga. Ảnh: ФотоКто.

Theo Red VN

Mark Twain – Cha đẻ của nền văn học Mỹ

 Nhắc đến nền văn học phóng khoáng, trào phúng của xứ sở công nghiệp Hoa Kỳ, ta không thể không nhắc đến Mark Twain – người được mệnh danh là “cha đẻ của nền văn học Mỹ”.

Với những tác phẩm tiêu biểu châm biếm như: Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876), Hoàng tử và chú bé nghèo khổ (1882) hay Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (1884),… ông đã bày tỏ quan điểm và lập luận của bản thân về các vấn đề tôn giáo, xã hội, chủ nghĩa đế quốc và quyền con người một cách khôi hài nhưng cũng đầy thuyết phục.

Văn hào Mỹ Mark Twain

Mark Twain là ai?

Ngày 30 tháng 11 năm 1835, khi sao chổi Halley vụt qua bầu trời cũng là lúc Mark Twain – tên đầy đủ là Samuel Langhorne Clemens ra đời. Ông là người con thứ 6 trong một gia đình đông đúc tại Florida, thuộc tiểu bang Missouri. Bốn năm sau, gia đình ông chuyển đến Hannibal, một thị trấn cảng nằm phía tây trên bờ sông Mississippi. Nơi đây được mệnh danh là trái tim của nước Mỹ với chiếc cầu nối từ Bắc xuống Nam.

Năm 1847, cha của Samuel qua đời khi ông tròn 11 tuổi. Kinh tế gia đình trở nên khó khăn khiến ông phải tham gia lao động từ sớm. Công việc đầu tiên của Samuel là học nghề in với người anh họ Orion cho tạp chí Hannibal. Đến năm 1851, ông bắt đầu làm công việc sắp chữ và đóng góp một số bài báo, tác phẩm của mình cho tờ tạp chí này. Sang tuổi 18, Samuel di chuyển đến thành phố New York để làm việc.

Với ước mơ từ bé là trở thành thuyền trưởng lái tàu, năm 1857, Samuel rẽ hướng sang học nghề với ông Horace Bixby. Công việc lái tàu giúp Samuel kiếm được nguồn thu nhập ổn định và thăm thú nhiều nơi. Đặc biệt với những ấn tượng về trải nghiệm lái tàu và cảnh vật trên sông Mississippi đã giúp ông miêu tả nó một cách sinh động và rõ nét trong cuốn Đời sống trên sông Mississippi (1883).

Giữa thế kỉ 19, cơn sốt vàng bùng nổ mạnh mẽ lôi cuốn giấc mơ đổi đời của Samuel. Ông quyết định di chuyển đến Nevada làm giàu nhưng vận may lúc này lại không mỉm cười với ông. Khi rơi vào cảnh quẫn cùng, ông nộp đơn xin làm phóng viên và viết bài cho tờ Territorial Enterprise với bút danh là Mark Twain. Đây cũng là sự kiện mở đầu cho giai đoạn đánh dấu sự nghiệp văn chương của Samuel Clemens.

Tuy có sự nghiệp văn chương xuất sắc cùng những giải thưởng cao quý và được mọi người tôn trọng song, trong hầu hết đời mình, Mark Twain gặp nhiều sự kiện đau lòng, trải qua những mất mát to lớn.

Năm 1870, Mark Twain kết hôn với Olivia Langdon – một tiểu thư thuộc gia đình giàu có và danh giá. Hai người có với nhau bốn người con nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu, đứa con trai đầu lòng của ông chết vì bị sốt. Sự kiện này đã giáng cho ông một đòn đau đớn. Trong cơn trầm uất, nhà văn hầu như chỉ sống với quá khứ tuổi thơ của chính mình. Đây là thời kì mà ông dành hết tâm huyết cho cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer” – tác phẩm được coi là  tiểu thuyết kinh điển của văn học cho thiếu nhi.

Mark Twain mất vào ngày 21 tháng 4 năm 1910 do bệnh tim. Một năm trước khi qua đời, ông nói: “Tôi đến vào năm 1835 với Comet Halley, một năm sau cô ấy lại bay và tôi mong được rời đi cùng cô ấy.” Và thế là nó xảy ra, ngày sao chổi Halley vẫy cái đuôi sáng lòa của mình trên nền trời xanh thẳm một lần nữa, cũng là lúc Mark Twain qua đời.

Có nhiều giả thuyết xoay quanh bút danh Mark Twain mà Samuel sử dụng, tuy nhiên trong tác phẩm “Đời sống trên sông Mississippi”, ông từng viết: “ Người thuyền trưởng già, dù chẳng giỏi giang và hay chữ gì nhiều nhưng ông thường sử dụng ký tự MARK TWAIN để thông tin về tình hình sông nước. Những thông tin này cực kỳ chính xác và có giá trị, nó có nghĩa là an toàn, không nguy hiểm…“. Vì vậy có thể hiểu, bút danh này có nghĩa là “mark two” – chỉ mực nước khoảng 2 sải (tương đương với 3,7m) – một thuật ngữ mà những người dò sông biển thường dùng để báo tin cho nhau, chỉ đường đi an toàn. Có lẽ Samuel sử dụng bút danh này để tưởng nhớ những hồi ức tuyệt đẹp của mình trên sông nước Mississippi và cũng phần nào nhắc nhở bản thân nên an toàn với việc dùng văn chương.

Năm 1865, sau khi hoàn thành và cho xuất bản “Con ếch hay nhảy của quận hạt Calaveras” trên trang The Saturday Press cho tuần báo New York, danh tiếng của Mark Twain đã gây được sự chú ý lớn từ công chúng và là bước đệm để ông tiếp tục sự nghiệp văn chương của mình.

Trong những năm tiếp theo, Mark Twain tiếp tục viết nhiều tác phẩm khác như: Cuộc đời của một thợ mỏ và nhà báo trong “Sống thiếu thốn”; những chuyến trải nghiệm du lịch qua Châu Âu và miền Đất Thánh Palestine bằng con tàu thủy Quaker City của chính mình trong “Các kẻ ngây thơ ở nước ngoài” (1869) hay đời sống của người dân sau cuộc nội chiến trong “Thời kỳ vàng son” (1873)…Tuy nhiên, những tác phẩm này chưa thực sự để lại nhiều ấn tượng. Mãi đến năm 1876, với những hồi tưởng tuyệt vời về tuổi thơ của mình tại Mississippi, Mark Twain đã xuất bản cuốn tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”. Chủ đề ngao du của một chú bé với những thông điệp ấm áp nhân văn đã giúp tác phẩm gặt hái được nhiều thành công vang dội.

Theo quan điểm mác xít, trên cuốn Từ điển Văn học nhận xét: “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer…về thực chất, đó là cuộc đấu tranh dai dẳng kiên trì để thoát ra khỏi mọi ước lệ xã hội cùng những thói tục cổ hủ đang đè nặng lên người nông dân Mỹ thế kỷ XIX…Qua câu chuyện, nhà văn cũng chỉ trích lối giáo dục lạc hậu của nền học vấn tư sản với cách dạy nhồi nhét, với kiểu văn chương màu mè sáo rỗng, với những ông thầy độc ác và đạo đức giả, biến học sinh thành những đứa trẻ chỉ biết tiếp nhận một cách thụ động. Tác giả còn kín đáo chê trách lối sống mòn mỏi, cam chịu của những người nông dân làng Petersburg – những con người đầu óc ngu muội, dốt nát luôn luôn cam sống trong cảnh nghèo nàn và nạn trộm cướp giết người rùng rợn…Song nổi bật lên trên hết trong những trang sách của M.Twain vẫn là âm hưởng ngợi ca thế giới đẹp đẽ của tuổi thơ…”

Năm 1882, Mark Twain cho ra đời cuốn tiểu thuyết “Hoàng tử và chú bé nghèo khổ”. Đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của ông lấy bối cảnh năm 1547 kể về hai cậu bé có ngoại hình giống hệt nhau nhưng khác biệt về xuất thân đem lại những trải nghiệm mới lạ cho độc giả.

Năm 1884, cuốn tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” ra đời một lần nữa khẳng định tên tuổi và khả năng văn chương tuyệt vời của Mark Twain. Đại thi hào Ernest Hemingway nhận xét tác phẩm rằng: “Toàn bộ nền văn học Hoa Kỳ hiện đại bắt nguồn từ một quyển sách của Mark Twain tên là Huckleberry Finn… Đây chính là khởi nguồn của lối hành văn kiểu Mỹ. Không gì có thể sánh bằng nó được“.

Nhờ lợi nhuận lớn kiếm được từ việc xuất bản sách, Mark Twain đầu tư vào một số dự án kinh doanh. Tuy nhiên, trái ngược với trạng thái thuận lợi “như cá gặp nước” trong văn chương, ở các dự án này, Mark Twain hầu như không may mắn khi chúng liên tục thất bại, khiến ông phải tuyên bố phá sản vào năm 1894 và rơi vào tình cảnh khó khăn về tài chính. Ở giai đoạn ấy, nhằm cứu vãn tình cảnh khốn khó, Mark Twain bắt đầu viết thường xuyên hơn. Một số tác phẩm có thể kể đến bao gồm: Tên Yankee từ Connecticut trong triều đình vua Arthur (1889); Người Mỹ đòi quyền lợi (1892); Bi kịch của Pudd’nhead Wilson (1894) hay Người ngồi trong bóng tối (1901)… Các tác phẩm của Mark Twain về sau này mất dần tính khôi hài của thời tuổi trẻ và bộc lộ cách nhìn bi quan hơn do ông nghi ngờ các loại tôn giáo, thù hằn sự ích kỷ của loài người và nỗi niềm mất mát người thân yêu.

Giải thưởng

Mark Twain xứng đáng được xem là cha đẻ của nền văn học Mỹ, là vì tinh tú sáng loà góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học nước nhà ở những ngày đầu non trẻ. Bên cạnh đó, ông còn là người hoạt động tích cực trong việc chống lại nạn phân biệt chủng tộc và ủng hộ giải phóng lợi ích cho phụ nữ. Những đóng góp về xã hội và văn học của Mark Twain được ghi nhận khi có một giải thưởng mang tên ông tạo ra nhằm trao cho những người có tác động đến xã hội Hoa Kỳ theo cách tương tự như tiểu thuyết gia và nhà viết luận xuất sắc nhất thế kỷ 19 Mark Twain đã làm.

Kết

Như ngôi sao chổi Halley rực sáng trên bầu trời, cả cuộc đời Mark Twain cùng những đóng góp cho nền văn học và xã hội của ông cũng sáng loà trong nhân loại, giống như William Dean Howells đã thẳng thắn nhận xét rằng: “Mark Twain là một thiên tài trác tuyệt, người hoàn toàn xứng đáng đứng vào hàng ngũ những nhà văn lỗi lạc nhất”.

VÕ SƠN / Theo vinipr.vn / Văn nghệ VN

Một nền kinh tế tự cung tự cấp nhưng hiệu quả

Điều đó cũng có nghĩa là người Nhật Bản, sống dưới một hệ thống hạn chế giao lưu thương mại chặt chẽ, phải hoàn toàn dựa vào các nguyên liệu đã có sẵn trong nước, tạo ra một nền kinh tế chú trọng tái sử dụng và tái chế đang trên đà phát triển mạnh.

Lối sống chậm và bền vững của người Nhật hóa ra lại bắt nguồn từ một chính sách khiến nước này bị cô lập hơn 200 năm - Ảnh 2.

Trên thực tế, Nhật Bản đã tự cung tự cấp về tài nguyên, năng lượng và lương thực nhưng vẫn duy trì dân số lên tới 30 triệu người, hoàn toàn không sử dụng nhiên liệu hóa thạch hoặc phân bón hóa học – con số ấn tượng với một đảo quốc bị cô lập, có 80% diện tích là đồi núi.

Người dân thời Edo có lối sống mà ngày nay được gọi là “sống chậm”, một tập hợp các thực hành sinh hoạt bền vững dựa trên việc tiết chế sự lãng phí một cách tích cực. Ngay cả ánh sáng cũng không bị bỏ phí – các hoạt động hàng ngày bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn.

Quần áo thì được may vá và tái sử dụng nhiều lần cho đến khi chúng không còn có thể sử dụng được nữa. Tro cốt và chất thải được tái sử dụng làm phân bón, dẫn đến việc kinh doanh phát đạt cho những người thu thập loại chất này và bán cho nông dân. Có thể gọi đây là một nền kinh tế tuần hoàn sơ khai.

Lối sống chậm và bền vững của người Nhật hóa ra lại bắt nguồn từ một chính sách khiến nước này bị cô lập hơn 200 năm - Ảnh 3.

Tranh vẽ cảnh sinh hoạt, giặt quần áo thời Edo.

May mắn là dù áp dụng khá triệt để tỏa quốc nhưng chính quyền Tokugawa ý thức rất rõ tình hình kinh tế của một đất nước Đông Á thời tiền công nghiệp, còn dựa nhiều vào nông nghiệp. Mạc phủ đẩy mạnh chính sách khai hoang, chống lãng phí đối với cả đất đai, nhất là diện tích đất canh tác được mở rộng và khai hoang không ngừng.

Cộng thêm việc cải thiện hệ thống thủy lợi, nền nông nghiệp Nhật trong thời kỳ này vẫn đủ sức tạo ra sản lượng nuôi sống hàng chục triệu nhân dân.

Hơn nữa, việc tiếp tục chú trọng phát triển công thương nghiệp, thủ công trong một xã hội khá chăm chỉ và nền hòa bình lâu dài đã tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển, đóng vai trò tích lũy tài sản cho sự xuất hiện của một giai cấp mới trong thời Edo – giai cấp tư sản cũng như tầng lớp nông dân giàu có, làm động lực cho Minh Trị Duy Tân.

Hòa thuận với thiên nhiên

Một đặc điểm khác của cuộc sống chậm là cách sử dụng lịch và cách đo đạc thời gian theo mùa. Ở các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Đông Á và Nhật Bản thời tiền hiện đại, 12 con giáp (tiếng Nhật được gọi là juni-shiki) là cách phổ thông được sử dụng để chia 1 ngày thành 12 canh giờ, mỗi canh giờ gần bằng 2 giờ hiện đại.

Trong thời kỳ Edo, hệ thống đó đã được sử dụng để chia thời gian giữa lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn thành 6 giờ can chi. Do đó, một giờ can chi có độ dài rất đa dạng tùy thuộc vào việc nó được đo vào mùa hè, mùa đông, đêm hay ngày (nhất là ở một nước nằm ở vĩ độ cao như Nhật). Ý tưởng điều chỉnh cuộc sống bằng các đơn vị thời gian không thay đổi như phút và giây hiện đại chỉ đơn giản là không tồn tại.

Lối sống chậm và bền vững của người Nhật hóa ra lại bắt nguồn từ một chính sách khiến nước này bị cô lập hơn 200 năm - Ảnh 4.

Bức tranh khắc họa ga Kōnosu-shuku trên đường thiên lý Edo – Kyoto đầu thế kỷ 19.

Thay vào đó, người Edo – vốn không sở hữu đồng hồ – đo đạc thời gian bằng âm thanh của những chiếc chuông được lắp đặt trong các lâu đài và đền thờ. Việc cho phép thế giới tự nhiên điều khiển cuộc sống theo cách này đã làm phát sinh sự nhạy cảm với các mùa và tính phong phú, tự nhiên, dồi dào của chúng, giúp phát triển một tập hợp các giá trị văn hóa thân thiện với môi trường.

Từ giữa thời kỳ Edo trở đi, các ngành công nghiệp, thủ công tại nông thôn – bao gồm vải bông và sản xuất dầu, nuôi tằm, làm giấy và sản xuất rượu sake hay tương miso – bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Người dân tổ chức các lễ hội theo mùa với nhiều loại thực phẩm địa phương phong phú và đa dạng, cầu mong sự màu mỡ trong mùa hoa anh đào nở và tỏ lòng biết ơn những vụ thu hoạch thu.

Hệ thống xã hội độc đáo, thân thiện với môi trường này ra đời một phần do sự cấp thiết, nhưng cũng do kinh nghiệm văn hóa sâu sắc của việc sống gần gũi với thiên nhiên. Điều này cần được tiếp thu trong thời đại hiện đại để đạt được một nền văn hóa bền vững hơn – và có một số hoạt động hiện đại mà người Nhật vẫn thực hành có thể giúp ích.

Ví dụ như zazen, hay “ngồi thiền”, là một phương pháp thực hành từ Phật giáo có thể giúp mọi người tạo ra một không gian yên bình và tĩnh lặng để trải nghiệm những cảm giác của thiên nhiên. Ngày nay, một số ngôi chùa thành thị vẫn đang tổ chức các buổi thiền định cho công dân.

Ví dụ thứ hai là “tắm trong rừng” (shinrin-yoku), một thuật ngữ do lãnh đạo cơ quan lâm nghiệp của Nhật Bản đặt ra vào năm 1982. Có nhiều kiểu tắm trong rừng khác nhau hiện nay, nhưng hình thức phổ biến nhất là dành thời gian không sử dụng thiết bị điện tử để đắm mình trong sự yên bình của một khu rừng.

Lối sống chậm và bền vững của người Nhật hóa ra lại bắt nguồn từ một chính sách khiến nước này bị cô lập hơn 200 năm - Ảnh 5.

Những hoạt động như thế có thể giúp phát triển sự trân trọng đối với vẻ đẹp của thiên nhiên, từ đó có thể đưa chúng ta đến một lối sống bền vững hơn – một lối sống mà cư dân thời Edo tại Nhật Bản đã đánh giá cao.

Trong thời đại mà nhu cầu về lối sống bền vững hơn đã trở thành một vấn đề toàn cầu, chúng ta có thể tôn trọng sự khôn ngoan của người Edo, những người sống với khung thời gian thay đổi theo mùa, trân trọng vật liệu và đề cao tái chế.

Nguồn: The Conversation / Kênh 14 VN

Gia tộc Rajapaksa đã đẩy Sri Lanka đến bờ vực hỗn loạn như thế nào?

Gia tộc Rajapaksa gần như nắm mọi quyền hành ở Sri Lanka, khi đất nước này lún sâu vào nợ nần, bất ổn và khủng hoảng kinh tế.

Gia tộc Rajapaksa đã đẩy Sri Lanka đến bờ vực hỗn loạn như thế nào?

Tổng thống Gotabaya Rajapaksa (phải) và anh trai Mahinda tại một sự kiện ở Sri Lanka năm 2019. Ảnh: AP.

Dilith Jayaweera, ông trùm truyền thông Sri Lanka, vẫn nhớ thời điểm ông nhận ra đất nước đang lao nhanh vào một cuộc khủng hoảng tài chính vào tháng 10/2021. Ông khi đó mời bộ trưởng tài chính Basil Rajapaksa, em trai Tổng thống Gotabaya Rajapaksa, cùng dùng bữa.

Khi cùng ăn tối tại văn phòng ở Colombo, Jayaweera đã đặt một số câu hỏi với người chịu trách nhiệm điều hành nền kinh tế Sri Lanka.

Basil không thể trả lời ngay cả những câu hỏi cơ bản của tôi“, ông Jayaweera kể. “Ông ấy đưa ra những câu trả lời rất tệ, rằng chúng tôi sẽ tìm thấy tiền từ chỗ này chỗ kia, khẳng định tất cả sẽ ổn nếu các khoản nợ được trả. Tôi thấy ông ấy không thực sự hiểu về nền kinh tế này“.

Những gì xảy ra chưa đầy 6 tháng sau đó là một cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất mà Sri Lanka phải trải qua kể từ khi giành độc lập năm 1948. Hầu như tất cả 22 triệu dân đều phải gánh chịu những hệ lụy mà khủng hoảng gây ra, khi ngân khố cạn kiệt và đất nước không thể nhập khẩu nhiên liệu, thực phẩm và thuốc men.

Theo Liên Hợp Quốc, Sri Lanka đang đối mặt với cuộc “khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng nhất”, với nhiều người phải vật lộn để có một bữa ăn mỗi ngày, trong khi nhiều ca bệnh nặng không được điều trị, trường học đóng cửa và các trạm xăng dầu cạn nhiên liệu.

Nền kinh tế của chúng ta đã hoàn toàn sụp đổ“, Thủ tướng Ranil Wickremesinghe, người nhậm chức hồi tháng 5, nói trước quốc hội gần đây.

Các vấn đề kinh tế của Sri Lanka xuất hiện từ lâu, nhưng nhiều người cho rằng gia tộc Rajapaksa đã khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Từ năm 2005, khi Mahinda Rajapaksa, anh trai của Tổng thống Gotabaya, được bầu làm tổng thống và gia đình bắt đầu thống trị nền chính trị đất nước, Sri Lanka vay mượn rất nhiều từ bên ngoài.

Đầu tiên, họ muốn trả tiền cho cuộc nội chiến kéo dài ba thập kỷ chống lại phe ly khai thiểu số Tamil, chấm dứt vào năm 2009, và sau đó là nỗ lực xây dựng cầu đường, sân bay, sân vận động và mạng lưới điện.

GDP của Sri Lanka đã tăng từ 20 tỷ USD lên 80 tỷ USD, nhưng nước này cũng vay hơn 14 tỷ USD. Nhiều thành viên gia tộc Rajapaksa nắm giữ các vị trí quan trọng trong chính quyền và bị cáo buộc có hành vi tham nhũng.

Mahinda thua trong cuộc bầu cử năm 2014, nhưng gia tộc Rajapaksa không có ý định từ bỏ quyền lực. Basil Rajapaksa, người được tại ngoại trong thời gian chờ điều tra cáo buộc tham nhũng, đã thành lập một đảng chính trị mới mang tên Sri Lanka Podujana Peramuna (SLPP).

Sau khi hiến pháp sửa đổi khiến Mahinda không được phép tranh cử nhiệm kỳ ba, ông Gotabaya được các thành viên trong gia tộc lựa chọn là ứng viên của đảng SLPP chạy đua trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11/2019. Nhưng Basil vào năm 2018 công khai tính toán chính trị của mình. “Nếu Gotabaya thắng, tôi sẽ là người điều hành đất nước, vì ông ấy là người mới tham gia chính trị“, ông nói.

Gotabaya, một quân nhân thẳng tính và sùng đạo, nhận được ủng hộ từ nhóm trí thức, lãnh đạo doanh nghiệp và học giả có ảnh hưởng, những người tin ông sẽ mang tới làn gió mới. Tuy nhiên, ông lại có kinh nghiệm chính trị hạn chế, chỉ từng giữ chức bộ trưởng quốc phòng trong chính quyền của Mahinda và được tôn vinh vì đã chấm dứt nội chiến.

Khi Gotabaya nhậm chức, “gia tộc Rajapaksa mới thực sự là bên tiếp quản quyền lực và ông ấy chỉ là người làm theo yêu cầu“, Nalaka Godahewa, nghị sĩ đảng SLPP ủng hộ Gotabaya, nói.

Những người trung thành với Basil được bổ nhiệm các vị trí quan trọng trong nội các. PB Jayasundara, một quan chức có mối quan hệ lâu năm với Mahinda và Basil, trở thành cố vấn kinh tế cho tân Tổng thống.

Gotabaya không có kinh nghiệm chính trị và không biết gì về kinh tế. Tổng thống phụ thuộc hoàn toàn vào PB Jayasundara để điều hành nền kinh tế. Vấn đề là ông ấy đưa ra những lời khuyên tồi tệ“, Charitha Herath, nghị sĩ SLPP và từng làm việc ở một số ủy ban tài chính quốc hội, nói.

Theo lời khuyên của Jayasundara, Tổng thống Gotabaya thực hiện đợt giảm thuế sâu rộng vào năm 2019, bất chấp những cảnh báo từ quốc tế, khiến nguồn thu của chính phủ giảm hơn 2,7 tỷ USD trong hai năm. Khi COVID-19 tấn công và doanh thu từ du lịch, kiều hối cạn kiệt, Jayasundara đã tới IMF để tái cơ cấu các khoản vay của Sri Lanka, ngay cả khi các khoản nợ phải trả ngày càng tăng. Jayasundara cũng bị cáo buộc cung cấp cho Tổng thống Gotabaya thông tin sai lệch, đưa ra một bức tranh màu hồng về tương lai đất nước.

Gia tộc Rajapaksa càng gia tăng kiểm soát chính phủ sau khi đảng SLPP chiến thắng các cuộc bầu cử quốc hội năm 2020. Mahinda trở thành thủ tướng, trong khi con trai Namal Rajapaksa được đưa vào nội các cùng anh cả nhà Rajapaksa là Chamal.

Gia tộc Rajapaksa kiểm soát toàn bộ đất nước“, Asanga Abeyagoonasekera, nhà phân tích chính trị Sri Lanka, nói.

Họ thúc đẩy sửa đổi hiến pháp, tập trung quyền lực nhiều hơn vào tay tổng thống và cho phép công dân mang hai quốc tịch trở thành nghị sĩ. Vào tháng 7/2021, Basil, công dân Sri Lanka nhưng cũng mang quốc tịch Mỹ, được bổ nhiệm là bộ trưởng tài chính.

Theo một số bộ trưởng, Basil nhanh chóng trở thành người đứng đầu trên thực tế của nội các. Ông là người ra quyết định cuối cùng trong các chính sách lớn, còn Gotabaya và Mahinda sẽ nghe theo.

Tổng thống chấp nhận bất kỳ đề xuất nào của Basil“, Vasudeva Nanayakkara, một nghị sĩ cánh tả và từng là bộ trưởng trong chính phủ liên minh của Gotabaya cho đến tháng 4 năm nay, nói.

Basil không chấp nhận có bất đồng trong nội các của ông. Những người trong nội các và các ủy ban giám sát tài chính cho biết họ cũng được cung cấp thông tin sai lệch về tình hình đất nước.

Tôi đã nộp 11 tài liệu cảnh báo về cuộc khủng hoảng sắp xảy ra. Nhưng bất kỳ khi nào chúng tôi nêu ra một vấn đề kinh tế, Basil sẽ cảm thấy chúng tôi đang can thiệp vào công việc của ông ấy và bị xúc phạm. Ông liên tục nói rằng mọi thứ đều ổn. Nhưng theo đánh giá của tôi, ông ấy thậm chí không có kiến thức cơ bản về kinh tế“, cựu bộ trưởng năng lượng Udaya Prabath Gammanpila nói.

Vấn đề đã xuất hiện ngay trong chính ngân hàng trung ương Sri Lanka. Basil và thống đốc Ajith Nivard Cabraal đã nhiều tháng không nói chuyện và đổ lỗi cho nhau về các vấn đề tài chính xuất hiện ngày càng nhiều. Cabraal bắt đầu in thêm rất nhiều tiền để cố lấp đầy khoảng trống trong kho bạc, gây ra lạm phát phi mã.

Bộ máy quan liêu của chính phủ cũng rơi vào tình trạng hỗn loạn sau khi Gotabaya bổ nhiệm các tướng lĩnh quân đội để điều hành 15 bộ. Chi tiêu quốc phòng, cao hơn dưới thời Gotabaya so với thời nội chiến, càng khiến ngân sách chính phủ cạn kiệt. Ông cũng bất ngờ ra lệnh cấm tất cả các loại phân bón hóa học, khiến nền nông nghiệp đất nước bị tàn phá.

Cho tới đầu năm 2022, nền kinh tế Sri Lanka đối mặt với thảm họa chưa từng có. Nước này nợ 51 tỷ USD vay nước ngoài, trong đó gần 7 tỷ dự kiến trả trong năm, nhưng dự trữ ngoại tệ đã cạn và nước này không thể vay thêm.

Khi Sri Lanka phải vật lộn thanh toán các khoản nhập khẩu thực phẩm, xăng dầu và thuốc men cũng như kiềm chế lạm phát, người dân bắt đầu biểu tình. Gia tộc Rajapaksa bất ngờ khi làn sóng phẫn nộ của người dân nhắm thẳng vào họ. Khi các cuộc biểu tình ngày càng lan rộng, Tổng thống được khuyên rằng các thành viên gia tộc nắm giữ vị trí quan trọng trong chính phủ cần từ chức.

Đầu tháng 4, trước sự giận dữ của Basil, Gotabaya yêu cầu tất cả các thành viên nhà Rajapaksa khác từ chức, trừ thủ tướng Mahinda. Tuy nhiên, động thái này không giúp xoa dịu công chúng và Gotabaya nhanh chóng bị thuyết phục rằng cách duy nhất để ổn định tình hình là thủ tướng Mahinda phải rút lui.

Mahinda ban đầu đồng ý, nhưng sau đó nghe theo lời khuyên của vợ con và quyết định từ chối yêu cầu. Điều này đã khiến mối quan hệ giữa hai anh em Gotabaya và Mahinda trở nên căng thẳng.

Họ từng rất thân thiết và yêu thương nhau. Nhưng tới cuối cùng, Gotabaya đã buông lời cay đắng, yêu cầu Mahinda từ chức“, nghị sĩ Vasudeva Nanayakkara nói. Ông Ranil Wickremesinghe được chỉ định làm thủ tướng thay thế Mahinda.

Ngày 9/5, vài ngày sau khi Mahinda đồng ý rời ghế, một cuộc biểu tình tại dinh thự thủ tướng ở Colombo đã khiến quan hệ hai anh em nhà Rajapaksa lên tới đỉnh điểm rạn nứt.

Dưới sự sắp xếp bởi Basil, con trai Namal của Mahinda và các đồng minh cùng hàng trăm người ủng hộ được đưa vào dinh thủ tướng để “chia tay Mahinda”. Tuy nhiên, nhiều người coi đây là màn phô trương sức mạnh, nhằm chứng minh với Tổng thống Gotabaya rằng Mahinda vẫn là một thỏi nam châm chính trị của gia tộc.

Nhưng cuộc tụ tập tại dinh thủ tướng đã nhanh chóng vượt kiểm soát. Những người tham gia tỏ ra phẫn nộ và kêu gọi “Tổng thống nên trao quyền lực cho chúng tôi”. Một số người lao ra cổng và bắt đầu cuộc biểu tình.

Họ tuần hành về phía Galle Face, nơi hàng nghìn người đã tập trung biểu tình suốt nhiều tuần, bắt đầu đánh đập hàng trăm người có mặt ở đó và đốt lều của họ.

Khi Tổng thống Gotabaya Rajapaksa nhận được tin, ông vô cùng tức giận. Đêm hôm trước, vì lo ngại những cuộc biểu tình, ông đã yêu cầu cảnh sát chuẩn bị lực lượng chống bạo động, hơi cay và vòi rồng.

Tổng thống đã hét lên trong điện thoại, hỏi tại sao không ngăn những người này tiến vào Galle Face. Ông nói ‘tôi là tổng thống và tôi yêu cầu anh phải ngăn những người này‘”, Godahewa kể.

Tuy nhiên, nhiều nguồn tin cho hay cảnh sát trưởng đã không ra lệnh trấn áp những người tấn công Galle Face, khi các quan chức cấp cao của ông nói cảnh sát không nên can thiệp vào vấn đề “trong nhà” giữa Mahinda và Gotabaya.

Cho tới khi cảnh sát can thiệp, bạo loạn đã nhấn chìm Sri Lanka trong vụ bạo lực được cho là tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ. Đám đông tìm cách xông vào dinh thự thủ tướng, khiến ông cùng con trai và đồng minh bị bao vây trong phòng ngủ cho tới khi được lực lượng đặc biệt sơ tán lúc 4h sáng. Nhà của hơn 70 nghị sĩ SLPP và đồng minh gia đình Rajapaksa bị đốt cháy. Một nghị sĩ thậm chí bị đánh chết.

Gotabaya dường như mất kiểm soát quân đội. “Tôi đã thấy Tổng thống phải van nài tổng tư lệnh quân đội hành động như thế nào. Tổng thống đã rất thất vọng vì nhà của các nghị sĩ bị đốt cháy và quân đội không cản họ“, Godahewa kể.

Sau đó, gia tộc Rajapaksa chia thành hai phe: một bên là Tổng thống Gotabaya và anh cả Chamal, một bên là Basil, Mahinda cùng hai con trai Namal và Yoshita.

Tổng thống Sri Lanka đổ lỗi cho những người thân cận của Mahinda gây ra bạo lực với “cuộc gặp gỡ ngu ngốc”, trong khi Chamal công khai chỉ trích Mahinda không đồng ý từ chức sớm. Những người thân cận với Basil âm thầm thúc đẩy quan điểm rằng Tổng thống Gotabaya không còn phù hợp với vị trí lãnh đạo.

Đồng minh của Gotabaya tin rằng ông vẫn không có ý định từ chức, dù đã bị cô lập. Ông thậm chí bị đuổi ra khỏi phòng họp quốc hội khi các nghị sĩ hô vang “Gota hãy về nhà đi”.

Tương lai gia tộc Rajapaksa giờ đây ngày càng bấp bênh. Bản hiến pháp sửa đổi đã được đệ trình lên nội các để thông qua, được cho sẽ làm giảm quyền lực của tổng thống và một lần nữa cấm công dân mang hai quốc tịch được vào nội các. Basil ban đầu đã phản đối quyết liệt, nhưng tháng trước đã từ chức nghị sĩ.

Tuy nhiên, một số người vẫn không tin rằng ngay cả khi Gotabaya từ chức, Sri Lanka sẽ hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của gia tộc Rajapaksa. “Nhà Rajapaksa nổi tiếng với các cuộc đua dài hơi, nên tôi không chắc đây có phải là dấu chấm hết của họ hay không“, Herath nói. “Nhưng hiện tại, họ không còn chỗ đứng ở đây“.

Theo VNEXPRESS / THE GUARDIAN

Nghiên cứu: Chiến tranh hạt nhân mức nghiêm trọng có thể làm thiệt mạng 5 tỷ người

Theo một nghiên cứu của Mỹ, trong kỷ nguyên hiện đại này nếu nổ ra chiến tranh hạt nhân toàn diện thì có thể khiến 5 tỷ người thiệt mạng, trong đó người chết vì nạn đói do bụi hạt nhân che khuất ánh sáng mặt trời sẽ lớn hơn nhiều so với số người chết trực tiếp vì vụ nổ hạt nhân.

(Ảnh minh họa: KREML / Shutterstock).
Chiến tranh Nga – Ukraine leo thang và tình hình căng thẳng ở eo biển Đài Loan đã khiến thế giới một lần nữa lo ngại một cuộc chiến tranh hạt nhân sẽ nổ ra giữa các cường quốc vũ trang hạt nhân. Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un cũng tuyên bố công khai vào cuối tháng Bảy rằng ông ta sẵn sàng sử dụng đe dọa hạt nhân để đối phó với bất kỳ cuộc xung đột quân sự nào với Mỹ.

Trước nguy cơ này, các nhà khoa học của Đại học Rutgers Mỹ đã chỉ ra các kịch bản chiến tranh hạt nhân từ quy mô nhỏ đến lớn, trong đó có cuộc chiến tranh hạt nhân ở Ấn Độ và Pakistan, còn nghiêm trọng nhất là cuộc chiến hạt nhân toàn diện quy mô lớn liên quan đến 5 cường quốc hạt nhân gồm Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp. Dự tính cho rằng cuộc chiến tranh hạt nhân có tham gia của 5 cường quốc hạt nhân có thể quét sạch hơn một nửa dân số trái đất. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Nature Food.

Các nhà nghiên cứu đã tính các chỉ số như ngọn lửa và bụi hạt nhân vào bầu khí quyển được tạo ra bởi vụ nổ hạt nhân, đồng thời ước tính các tác gây ra từ chiến tranh hạt nhân đối với khí hậu, mô hình nông nghiệp và ngư nghiệp, qua đó dự đoán rằng sau chiến tranh thì thế giới sẽ trong tình trạng đặc biệt khan hiếm lương thực.

Chiến tranh hạt nhân giữa hai quốc gia có thể châm ngòi cho nạn đói toàn cầu. (Ảnh chụp màn hình Nature Food)
Chiến tranh hạt nhân có thể giết chết 200 triệu đến 5 tỷ người
Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần hơn 5 triệu tấn bụi hạt nhân xâm nhập vào bầu khí quyển sẽ dẫn đến tình trạng thiếu lương thực quy mô lớn: Các cuộc chiến tranh hạt nhân như từ Ấn Độ và Pakistan nếu nhẹ có thể khiến hơn 200 triệu người thiệt mạng, còn trường hợp nghiêm trọng có thể giết chết hơn 2 tỷ người; nhưng một cuộc chiến tranh hạt nhân ở cấp độ của Mỹ và Nga có thể giết chết hơn 5 tỷ người.

Nghiên cứu chỉ ra cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Ấn Độ và Pakistan nếu xảy ra năm 2008 sẽ tạo ra 5 triệu tấn bụi hạt nhân, nhưng nếu thời điểm bùng phát vào năm 2025 sẽ tạo ra 16 – 47 triệu tấn bụi hạt nhân, còn cuộc chiến hạt nhân nếu xảy ra có tham gia của 5 cường quốc hạt nhân hàng đầu như nêu trên có thể tạo ra 150 triệu tấn bụi hạt nhân.

Xét về quy mô của một cuộc chiến tranh hạt nhân với 5 triệu tấn bụi hạt nhân thì số người chết trực tiếp là 27 triệu người và 250 triệu người không có lương thực trong khoảng một năm sau đó; còn khi quy mô lên tới 47 triệu tấn bụi hạt nhân thì số người chết trực tiếp là 164 triệu người và sẽ có khoảng 2,5 tỷ người thiếu lương thực trong năm sau đó; nếu quy mô lên tới 150 triệu tấn thì số người chết trực tiếp sẽ lên tới 360 triệu người và hơn 5 tỷ người sẽ không có lương thực trong năm sau đó.

Nghiên cứu phát hiện trong kịch bản nhẹ của chiến tranh hạt nhân Ấn Độ và Pakistan, thì trong vòng 5 năm sau chiến tranh, sản xuất calo trung bình toàn cầu sẽ giảm 7%; nhưng trong 3 – 4 năm sau chiến tranh trong trường hợp nghiêm trọng nhất định có thể sẽ giảm tới 90%.

Theo nghiên cứu, sự kết hợp của xung đột vũ khí hạt nhân không chỉ giới hạn ở Ấn Độ và Pakistan và 5 cường quốc hạt nhân hàng đầu, ngay cả ở mức độ của Triều Tiên và Israel cũng có thể có thể gây tác động khí hậu tương tự. Dù tác động của ít vũ khí hạt nhân khiến nguy cơ thấp hơn, nhưng chỉ cần một cuộc chiến tranh hạt nhân nổ ra thì tình hình có thể dễ dàng vượt khỏi tầm kiểm soát.

Úc bị ảnh hưởng ít nhất nếu xảy ra “mùa đông hạt nhân”
Các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chiến tranh hạt nhân là các nước có vĩ độ trung bình và cao, vì có thời vụ trồng trọt tương đối ngắn, và nhiệt độ vào mùa đông hạt nhân sau chiến tranh sẽ thấp hơn ở các vùng nhiệt đới.

Một trong những nước ít bị ảnh hưởng nhất là Úc. Ngoài việc xa cách về mặt địa lý trong một số kịch bản chiến tranh hạt nhân thì lương thực chính lúa mì của Úc cũng hy vọng sẽ tồn tại trong bối cảnh chịu tác động tương đối ít khắc nghiệt hơn từ “mùa đông hạt nhân”. Nhóm nghiên cứu đã vẽ bản đồ phân tích tác động, theo đó trong khi trên bản đồ cho thấy hầu hết thế giới bị đánh dấu màu đỏ do nạn đói gây ra bởi “mùa đông hạt nhân” thì chỉ có Úc vẫn còn màu xanh.

Đồng tác giả nghiên cứu là giáo sư Alan Robock về khoa học khí hậu tại Khoa Khoa học Môi trường của Đại học Rutgers cho biết, một điều chúng ta có thể biết từ dữ liệu là chúng ta luôn phải ngăn chặn một cuộc chiến tranh hạt nhân.

Chuyên gia Deepak Ray về an toàn thực phẩm tại Đại học Minnesota, không tham gia vào nghiên cứu của Đại học Rutgers, nói rằng nghiên cứu này giúp hiểu được tác động của chiến tranh hạt nhân trong khu vực đối với tình hình lương thực toàn cầu, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để mô phỏng chính xác sự kết hợp phức tạp của các phương thức canh tác trên khắp thế giới.

Ông chỉ ra, dù nghiên cứu của Đại học Rutgers bao gồm dữ liệu sản xuất nông nghiệp của các nước, nhưng tình hình thực tế phức tạp hơn nhiều, ví dụ các loại ngũ cốc khác nhau được trồng ở các vùng khác nhau của một quốc gia cũng có mục đích sử dụng rất khác nhau, không phải tất cả đều có thể coi là thức ăn.

Vương Quân, Vision Times /Trí thức VN