Ngôi nhà 3 gian độc đáo, đưa thiên nhiên vào nhà với sân vườn trên cao

Ngôi nhà 3 gian mái dốc kết hợp với mái bằng được kiến trúc sư đưa thiên nhiên vào trong thông qua cây xanh và khu vườn 40m2 trên mái.

Ngôi nhà 3 gian mái dốc kết hợp với mái bằng được kiến trúc sư đưa thiên nhiên vào trong qua cây xanh và khu vườn 40m2 trên mái. 
Nhà mang hình chữ L với 1 bên là mái dốc và 1 bên là mái bằng. Trong đó, tổng diện tích tầng là 60m2 (bao gồm 1 khách, 1 bếp, 1 ngủ master vệ sinh khép kín và 1 vệ sinh chung. Diện tích tầng 2 là 20m2 và 40m2 sân vườn (Tầng 2 nằm ở bên mái bằng). Cầu thang dẫn lên tầng 2 nằm bên ngoài, xung quanh nhà trải nhiều cây xanh dễ chịu, nhiều bóng mát. 
Các loại cây trước cửa sổ phòng làm việc thuộc họ nhiệt đới, dễ trồng, phát triển xanh tốt.
 Cửa sổ nằm dưới gầm cầu thang, tạo hình vòm khiến ta liên tưởng đến khu hầm bí mật rất thú vị. 

Kiến trúc sư trẻ Nguyễn Việt Đức và cộng sự là những người còn trẻ, hiện đại. Tuy nhiên, trong các thiết kế, họ thường thổi vào đó một chút xưa cũ, mộc mạc, nguyên bản nhất. Phòng làm việc sử dụng màu nâu gỗ, kệ sách cao tầng cho gia chủ yêu đọc sách, nghiên cứu. Các cánh cửa bo tròn phát huy tác dụng khi làm không gian mềm mại, thanh thoát hơn. 

Sự đơn sơ hiện ra trong từng đường nét kiến trúc cũng như nội thất. Bộ sofa gỗ kết hợp đệm êm ái mang thiết kế độc đáo, ấn tượng. Mặt bàn trà bằng gỗ nguyên khối nhập khẩu. 

Dù là nhà nhỏ hay to, nhóm luôn cố gắng đưa thiên nhiên vào không gian sống. Giếng trời thông lên khu sân vườn, sử dụng mái kính để lấy ánh sáng cho phòng khách. Cây xanh được trồng trực tiếp dưới nền nhà. Anh Việt Đức chia sẻ, để trồng được như vậy mà không ảnh hưởng đến móng nhà và thấm nước, ngay từ khi bắt đầu làm móng, anh đã để chừa ra 1 ô, xử lý chống thấm, sau đó mới đổ đất vào. 

 Thiết kế kết nối hài hòa giữa nhà 3 gian truyền thống, mang nét hiện đại mà không hề thành thị, ánh sáng cây xanh luôn ngập tràn từ ngoài vườn vào đến nhà vệ sinh.

Sắc cam được nhấn trong đệm ghế và tranh decor làm không gian sinh động, nổi bật. 

Phòng ngủ nhỏ xinh, mang hơi hướng vintage. Phòng tắm tiện nghi với bồn tắm ngâm thư giãn, chỉ sử dụng vách kính ngăn cách thay vì tường gạch khiến không gian mở rộng về mặt thị giác. 

Mảng tường phòng tắm để gạch đỏ, xây theo kiểu đặc biệt, xếp đặt zíc zắc. Dưới bồn tắm trải sỏi trắng mát-xa, bố trí cây xanh để gia chủ có cảm giác hòa mình cùng thiên nhiên. 

Giếng trời nằm ở vườn tầng 2, thông với phòng khách. Lối đi ra vườn ốp đá rối Lai Châu. 

Cảnh quan sân vườn trên cao, bố trí thẩm mỹ với đường đi trải sỏi.

Bộ bàn ghế mây được bao quanh bởi các loại cây nhỏ. Khu vực này xếp gạch đỏ hình xương cá, bàn trà là gốc cây nguyên bản, mài mặt. Hai chiếc đèn hắt sáng, đồng thời có tác dụng trang trí, làm đẹp. 
View nhìn từ dưới giếng trời. 
Cửa vào nhà xây gạch đỏ, mái vòm với mái hiên kính cản mưa hắt. Nhóm thiết kế đã cố gắng đưa thật nhiều ánh sáng và gió mát vào nhà thông qua tường gạch lỗ, cửa kính, giếng trời…

Quỳnh Nga / Vietnam Net

Đi tìm sự thật lịch sử về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam

Biên soạn cuốn “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam” nhóm tác giả đã đặt cho mình trách nhiệm: Đi tìm sự thật lịch sử chứ không phải chỉ nhằm làm rõ con số hơn hai triệu người chết đói.

Nhằm cung cấp cho bạn đọc một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống những chứng tích về sự mất mát, đau thương mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trong lịch sử do tội ác của phát xít Nhật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật và Omega plus liên kết tái bản cuốn sách Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử của Viện sử học, GS Văn Tạo và GS Furata Motoo chủ biên.

Nan doi nam 1945 o Viet Nam anh 1
Sách Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam. Nguồn: Omega+.
Không nhiều người Nhật biết đến nạn đói năm 1945 ở Việt Nam

Cuốn sách này được thực hiện vào đầu những năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng phát xít Nhật và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Theo GS Văn Tạo, trong hội thảo khoa học với chủ đề “Hòa bình châu Á và vai trò của Nhật Bản” do Ủy ban Đoàn kết Á, Phi, Mỹ Latinh của Nhật Bản tổ chức vào tháng 12/1992 ở Tokyo, các nhà khoa học đã nhấn mạnh đến hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh Thái Bình Dương do phát xít Nhật gây ra. Tất cả tập trung sự quan tâm vào nỗi đau khổ không chỉ riêng ai do phát xít gây nên.

Trước yêu cầu làm rõ một sự thật lịch sử đau lòng, một cơn ác mộng, một nỗi đau nhức nhối, khó quên, một tội ác cần được lên án đó là nạn đói khủng khiếp xảy ra ở Việt Nam năm 1945 do phát xít Nhật gây ra, làm cho hơn 2 triệu người chết đói chỉ trong vòng một thời gian ngắn, GS Văn Tạo và GS Furata Motoo (đại điện Tiểu ban hợp tác Việt – Nhật) đã thực hiện một nghiên cứu về nạn đói.

Ngoài lý do trên còn có một vấn đề khiến GS Văn Tạo và các cộng sự quan tâm thực đó là vào thời điểm bấy giờ có một thực trạng là nhân dân Nhật Bản và nhân dân thế giới có rất ít người biết đến nạn đói 1945 ở Việt Nam, hoặc có người biết đến, hoặc biết nhưng chưa tường tận mức độ ghê gớm của thảm kịch này.

Mặt khác, ở Nhật Bản, sự xuyên tạc sự thật lịch sử nhằm đánh lạc hướng dư luận vẫn cố tình được tung ra, nhằm bảo hộ cho luận điểm rằng: Người Nhật đã có thiện chí giải phóng các dân tộc khỏi ách thực dân da trắng, sao lại còn có chuyện giết hại người dân Việt Nam bằng nạn đói được.

Chính vì vậy, các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản đã phối hợp với nhau đấu tranh đòi hủy bỏ luận điểm sai trái này.

Nan doi nam 1945 o Viet Nam anh 2
Một người làm từ thiện đang rửa xương của những nạn nhân chết đói. Ảnh: Võ An Ninh.
Đi tìm sự thật lịch sử

Để thực hiện được điều này, các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản cho rằng trước hết là cần làm rõ con số người bị chết đói (nhất là độ chênh các con số). Tiếp đó tìm ra nguyên nhân gây ra nạn đói (do đói ăn, hay do suy dinh dưỡng, hay do bị bóc lột kiệt sức…) và âm mưu giết người bằng nạn đói cùng thủ đoạn gây ra nạn đói…

Theo GS Văn Tạo, các vấn đề kể trên, chỉ có thể giải đáp phần nào nhờ vào các chứng tích lịch sử còn tồn tại, bao gồm: Các di tích lịch sử cụ thể; các tư liệu lịch sử thành văn; các tư liệu lịch sử truyền miệng (histoire orale).

Về di tích lịch sử: Đây là loại chứng tích khá hiếm hoi. Tội ác giết người Việt Nam bằng nạn đói không còn để lại gì ngoài những nấm mồ chôn tập thể. Những nấm mồ này chôn dưới đất chứa đựng hàng chục, hàng trăm bộ xương, nhưng trên mặt đất thì gần như không còn gì, thậm chí chỉ còn là bãi cỏ chăn bò như ở Quần Mục, Hải Phòng, hay chỉ là một mảnh vườn hợp tác xã phân cho một hộ gia đình, khi xây cất nhà họ đào lên vội vàng vùi ra chỗ khác vì quá rùng rợn, như ở Tây Lương, Thái Bình.

Cũng có nơi nhân dân đã khoanh khoảng chôn những “mồ tập thể” đó lại, làm lễ tưởng niệm, dựng bia căm thù, nhưng đó chỉ là trường hợp hãn hữu. Còn đại đa số là nhân dân địa phương chỉ ghi lại nỗi thương đó trong tâm của mình. Còn những bãi tha ma đó thường được mang những cái tên dã sử như “Mả đói”, “Gò ma”.

Về tư liệu thành văn (sách báo, tranh, ảnh, bảng, biểu đồ…), đây là nguồn tư liệu phong phú, nhưng cũng yêu cầu cần xử lý một cách khoa học và sử dụng một cách thận trọng.

Về các tư liệu lịch sử truyền miệng (histoire orale), để làm rõ được tính khủng khiếp của nạn chết đói, nhất là làm rõ được con số nạn nhân chết đói, không có tư liệu nào thay thế được tư liệu điều tra thực địa bằng phương pháp xã hội học lịch sử.

Việc điều tra này có sự tham gia của các nhân chứng lịch sử, đó những người được chứng kiến nạn đói xảy ra, hoặc những người còn sống sót qua nạn đói. Họ không những cung cấp số người chết mà còn mô tả thảm cảnh đó diễn ra như thế nào.

Nan doi nam 1945 o Viet Nam anh 3
Xương những người chết đói ở trại Giáp Bát. Ảnh: Võ Anh Ninh.

Biên soạn cuốn sách Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử ,nhóm tác giả đã đặt cho mình trách nhiệm: Đi tìm sự thật lịch sử chứ không phải chỉ nhằm làm rõ con số hơn hai triệu người chết đói.

Vì vậy, sau khi thu thập được hơn 344 tư liệu thành văn, nhóm tác giả tiếp tục thực hiện một cuộc điều tra thực địa theo phương pháp xã hội học lịch sử. Những vấn đề được đặt ra trong cuộc điều tra này là: Nạn đói diễn ra ở đâu? Tầng lớp nào chết nhiều nhất? Tính chất tàn bạo của kẻ giết người và tính tàn khốc của cảnh chết đói diễn ra như thế nào? Lấy gì làm bằng chứng?

Vào các năm 1992, 1993-1994 và 1994-1995, diễn ra ba đợt điều tra theo phương pháp xã hội học lịch sử trên thực địa tại 23 điểm thuộc 21 địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Từ kết quả của ba đợt điều tra này, kết hợp với di tích lịch sử và tư liệu thành văn, các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản đã tìm ra nguyên nhân, tính chất trầm trọng và hậu quả trước mắt cũng như lâu dài.

Kết quả của 23 đợt điều tra thực địa cho thấy rõ tính phổ biến của nạn đói và mức độ hủy diệt của nó.

Nạn đói diễn ra một cách phổ biến trên toàn miền Bắc từ Quảng Trị trở ra mà trọng điểm là các tỉnh duyên hải Bắc Bộ: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Kiến An (Hải Phòng), Quảng Yên (Quảng Ninh). Cao nhất là Thái Bình mà điểm Tây Lương tỷ lệ chết đói so với tổng số dân là 66,66% (tức 2/3 dân số). Tiếp đó là Quần Mục (Kiến An): 58,77%; Đồng Côi (Nam Định): 56,99%…

Về đối tượng hủy diệt của nạn đói, nông dân không ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất (có khoảng từ 1 đến 5 sào Bắc Bộ trong một hộ từ 2 đến 5 người) là chết nhiều hơn cả. Nhiều hộ còn chết cả nhà. Trung nông cũng là đối tượng chết đói nhiều. Tỷ lệ chết thường là 1/3 đến 2/3 tổng số thành viên gia đình.

Về tính tàn khốc của nạn đói thể hiện tính tàn bạo của kẻ thù. Có thể nói nạn chết đói do phát xít gây nên có tính tàn bạo hiếm thấy trong lịch sử nhân loại.

Theo lời kể của các nhân chứng, nạn đói rất khủng khiếp, nó kéo dài cái chết, khiến nạn nhân bị các cơn đói giày vò, đau khổ tủi nhục. Nạn đói cũng chôn vùi nhân phẩm của con người, làm cho con người mất cả tính người. Đói thì phải đi ăn xin, rồi ăn xin không được thì phải ăn cướp, đi cướp giật, cuối cùng là ăn thịt người. Nạn đói cũng khiến hàng nghìn hộ chết cả nhà, nhiều dòng họ chết cả họ, hàng chục xóm làng chết cả xóm làng…

Về nguyên nhân của nạn đói, theo các tư liệu và các nhân chứng kể nguyên nhân sâu xa nhất đã biểu lộ âm mưu thâm độc của phát xít Nhật và tay sai thực dân Pháp là chúng muốn tiêu diệt người Việt Nam bằng nạn đói để không còn sức lực chống lại chúng. Nhật thì vơ vét cho chiến tranh, còn Pháp lại dự trữ lương thực để sau này dùng cuộc tái xâm lược Việt Nam.

Bên cạnh nội dung trên, cuốn sách cũng làm rõ hậu quả của nạn đói, tính chất đặc điểm của nạn đói và đưa ra những kết luận nói lên ý nghĩa tàn bạo của cách giết người này, so sánh với các tội ác mà những kẻ xâm lược đã từng gieo rắc trên đất nước Việt Nam.

Ngoài ra sách cũng cung cấp một thư mục liệt kê 344 tư liệu thành văn phản ánh trực tiếp và gián tiếp về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam.

Có thể nói, với sự hợp tác của đội ngũ tri thức từ cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử là công trình công phu có cái nhìn khách quan thấu suốt vào sự thật lịch sử nạn đói năm 1945 ở Việt Nam. Ấn bản đầu tiên của cuốn sách này công bố cách nay đã gần 30 năm, nhưng cuốn sách vẫn còn nguyên giá trị.

Minh Châu / Zing

Kho báu kinh thành Huế sau ngày thất thủ kinh đô

Dựa theo những tư liệu chính thức của Pháp, tác giả sách đã lần theo dấu vết những kho báu dưới triều Nguyễn (sau ngày kinh đô thất thủ 5/7/1885): Phần được lực lượng nổi dậy chuyển đi cất giấu, phần bị người Pháp chuyển về nước, phần do vua chúa tích lũy hay tiêu pha…

Một cuộc tranh cãi nhanh chóng nổ ra, liên quan đến giá trị thật của kho tàng kho báu của các hoàng đế Việt Nam.

Nhiều nhân chứng khi đó cho biết nhiều ngày sau biến cố, thậm chí là nhiều tuần đã trôi qua từ ngày thất thủ, kinh thành vẫn như để thả cửa cho đám cướp bóc hôi của.

Phái viên của hãng thông tấn Havas chẳng hạn, đã kể lại cái cách mà trung tá Pernot cho quân xung phong vào hoàng cung: “với một tiểu đoàn lính Bắc Phi, đã ngăn chặn được chuyện cướp bóc nơi đây, thế nhưng phần còn lại của Thành Nội thì trong vòng 48 tiếng, đã phó mặc cho quân lính [phía Pháp] nhét những nén bạc đầy bọc, mỗi nén có giá trị là 12 piastres (tương đương 60 quan Pháp). Bạc ở đây là tinh, không có pha hợp kim và lính tráng bán lại những nén bạc này với giá 4 hay 5 piastres. Tôi đã mua lại được có đến khoảng 8 kg”.

Như thế, trong khi De Courcy cho rằng đã bảo vệ an toàn kho lẫm kho báu, lính tráng phía Pháp vẫn tiếp tục bán những nén bạc hôi được khắp nơi với giá bằng một phần ba của giá trị thật.

Một “lượng rất lớn đồ bằng vàng” tại điện của Hoàng Thái hậu đã bị lấy đi, chính Tổng trú sứ Rheinart kể lại người ta đã chứng kiến hai kẻ hôi của giành giật với nhau một bức tượng voi bằng vàng, cuối cùng đã làm tượng vỡ tan; có cả một sĩ quan [Pháp] cấp tướng (tên tuổi, chuyện tế nhị, không được tiết lộ) đã ôm đi nhiều đồ đạc quý giá.

Ngay tướng De Courcy cũng đoạt lấy một cây kiếm của hoàng triều và tặng lại cho tướng Campenon, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh: vị này đã nhận lấy không chút hổ thẹn, sau đó giao lại cho viện bảo tàng của Quân đội, tại đây bao kiếm và những phần trang trí đã bị đánh cắp vào năm 1913.

Một danh mục đồ đạc bị cướp đi đã được các quan lại Việt Nam lập ra vài tháng sau đó, và rồi một “bản sao có chứng thực” của bản phúc trình đã được gửi đi Paris: phúc trình nêu ra những con số, 113 lạng vàng, 742 lạng bạc và 2672 xâu tiền đã bị mất ở các tòa nhà của đội ngự lâm quân; ở điện của Hoàng Thái hậu Từ Dũ, 228 viên kim cương, 266 đồ trang sức có khảm kim cương, ngọc và đá quý khác, 271 món đồ bằng vàng, 1.358 nén bạc và 3.416 lượng vàng đã biến mất [trong thời gian biến cố]; ở lăng tẩm các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị, vốn được trang trí đầy đủ bàn ghế nội thất và đồ dùng cá nhân của các vua, những gì có thể dễ dàng khuân đi đều đã biến mất: vương miện, giường gối, thảm sàn, chăn nệm, trang phục đại lễ, sập gụ chạm khắc, đồ trang trí, hộp đựng trầu cau, ống nhổ, thau đựng nước, hỏa lò, mùng màn bằng lụa thêu, lư hương, ấm chén trà với khay trà, ống điếu, tăm vót…

Nhiều vụ hôi của tương tự cũng đã diễn ra ở các dinh thự của các bộ và công sở. Theo báo cáo này, việc cướp phá hôi của đã diễn ra suốt hai tháng trời, nghĩa là vượt quá thời gian mà người ta thường đã hình dung.

Tuy nhiên chúng ta buộc phải đặt câu hỏi về tính xác thực của báo cáo này: đã không có bất cứ bằng chứng nào về sự hiện hữu của những của cải nêu trên [liệt kê trong báo cáo] thời điểm trước khi xảy ra biến cố ngày 5/7. Ngoài ra, cũng chẳng thể chứng minh được là một phần của cải kho báu cất giữ trong các điện có thể đã bị các quan thái giám hay quan lại khác có trách nhiệm trông giữ, [nhân cơ hội này] lén lút lấy đi.

Kho bau trieu Nguyen anh 1
Trận kinh thành Huế 1885. Nguồn: khamphadisan.

Cuối cùng, cũng có thể nghi ngờ khả năng sự thể quân lính phía Pháp lấy đi nào mùng màn sập gụ cồng kềnh hay ngay cả các xâu tiền, trong khi họ có thể dễ dàng thu lượm các nén vàng, nén bạc cùng nhiều thứ đồ khác quý giá hơn như lụa là hay đồ sứ. Ngoài ra, cũng cần phải nói rõ, các tác giả [Pháp] đã lưu ý nhấn mạnh về báo cáo này, các ông Léonce Détroyat và Jocelyn Pène-Siefert, cả hai đều có mâu thuẫn sâu sắc với quân đội Pháp nói chung, với De Courcy nói riêng.

Ngoài bản phúc trình nêu trên, nhiều báo cáo khác đã được viết dần hồi theo với những phát hiện của cải đồ đạc bị mất đi: vào tháng 11/1885 chẳng hạn, Thượng thư Bộ Lễ đã lưu ý có một con dấu với một ấn triện lớn của một đại quan triều đình “đã biến mất và không sao tìm ra được”.

Ngoài ra, nhiều lời chứng cho biết các cửa hàng và nhà riêng của thương gia người Hoa đã bị chủ ý tấn công, một hiện tượng có thể được xem như là một thái độ bực tức mang tính phục thù của một nhóm người. Cuối cùng, người ta không thể nào không nghĩ đến [khả năng], lợi dụng tình trạng rối ren và chiến sự, một số người trong giới quý tộc và quan lại, vì biết rõ những nơi tàng trữ cất giấu, đã gửi những toán thân cận để khuân đi vài hòm nén bạc nén vàng.

Kho bau trieu Nguyen anh 2
Vàng miếng từ kho bạc Huế. Ảnh: sciencesetavenir/11conti-monnaie de Paris.

Ngay tên tuổi ông Nguyễn Văn Tường cũng đã được nhắc đến khi bàn về vấn đề này… Có một điều tuyệt đối không thể phủ nhận đó là việc cướp bóc hôi của diễn ra khắp nơi khắp chốn trong suốt thời gian loạn lạc tiếp theo ngày kinh thành thất thủ cho đến khi tình hình an ninh trật tự được vãn hồi, nghĩa là sự việc đã kéo dài trong nhiều tuần lễ. Sổ tay hành quân của tiểu đoàn 3 lính Bắc Phi nhìn nhận là tình trạng kỷ luật trong lực lượng phần nào đó bị “chao đảo” và để tái lập kỷ luật đã phải dùng đến biện pháp tử hình một số [lính tráng] tham gia hôi của.

Giờ đây phải bàn đến phần thực sự chính thức liên quan đến việc cướp phá kho tàng kho báu của vương triều [nhà Nguyễn] nghĩa là việc quân đội [Pháp] chiếm đoạt toàn bộ nén vàng, nén bạc cùng các đồ mỹ nghệ được tìm thấy trong hoàng cung.

Tướng De Courcy dường như đã nắm giữ toàn quyền về kho báu này, chính ông đã đề cập trong nhiều bức điện [gửi về Paris]: “năm triệu nén bạc, con số này còn tăng lên rất nhiều nếu tôi tìm thấy thêm các nén vàng”, rồi tiếp “[đồ vật có] giá trị nghệ thuật thì vô số vô giá”, tiếp đó “giá trị số nén vàng, nén bạc chứa trong các hầm kiên cố ước tính lên đến 9 triệu [quan Pháp?]. Ngoài số này còn phải kể thêm khoảng một trăm hòm chứa các nén bạc được tìm thấy trong một nhà hát. Phóng viên hãng Havas cung cấp thêm một số chi tiết:

“Tại Hoàng cung, người ta đã tìm thấy một bộ sưu tập các tác phẩm mỹ nghệ có giá trị lớn. Kho báu và viện bảo tàng [musée sic] đã được bảo vệ an toàn. Trong năm ngày liền, tôi đã chứng kiến năm mươi người lo công việc chồng chất các nén vàng, nén bạc.

Khối lượng tiền của này được gửi về Pháp. Về phần viện bảo tàng có giá trị lớn, cũng đã được chuyển về Pháp. Tôi không thể nào cung cấp cho quý vị giá trị của tất cả của cải châu báu đó vì chắc chắn con số tôi đưa ra sẽ thấp hơn nhiều so với thực tế”.

Theo một nhân chứng khác, “các thỏi vàng, thỏi bạc [lingots sic], các loại có thể quy ra tiền, ngọc ngà trang sức đá quý, giá trị lên đến trong khoảng từ 14 đến 15 triệu quan Pháp, tất cả đã rơi vào tay chúng ta [người Pháp]”.

Một cuộc tranh cãi nhanh chóng nổ ra, liên quan đến giá trị thật của kho tàng kho báu của các hoàng đế Việt Nam: những gì mà De Courcy thu được có tương ứng với những gì còn lại [thời điểm đó] trong tay một triều đình Huế đã vơi, đã nghèo đi? Hay chỉ là những gì còn sót lại sau khi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường trước đó đã cho phân tán phần lớn của cải kho tàng đi [cất giấu ở] các miền khác của đất nước?

Jacob Barnett: Từ đứa trẻ tự kỷ trở thành thiên tài có IQ cao hơn Einstein

Jacob Barnett thành thạo môn Toán trung học khi mới 8 tuổi, 11 tuổi vào đại học và công bố nghiên cứu trên tạp chí khoa học. Đó mới chỉ là một số ít thành tựu của cậu bé mắc bệnh tự kỷ.

Jacob Barnett thành thạo môn Toán trung học khi mới 8 tuổi, 11 tuổi vào đại học và công bố nghiên cứu trên tạp chí khoa học. (Ảnh chụp màn hình TEDtalk)
Tất cả các bậc cha mẹ đều muốn con mình sinh ra với sức khỏe bình thường, nhưng cậu bé Jacob Barnett không được may mắn như vậy.

Khi lên một tuổi rưỡi, Jacob Barnett được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ. Xuất phát điểm thiệt thòi hơn so với các bạn bè đồng trang lứa, nhưng nhờ tính cách ham học hỏi của bản thân và cách nuôi dạy đúng đắn của cha mẹ, cuộc đời của Jacob Barnett đã thay đổi 180 độ khi cậu lớn lên. 

  1. Những năm đầu đời
    Jacob Barnett sinh năm 1998 tại Hoa Kỳ. Khi mới chào đời, cậu vẫn bình thường như mọi đứa trẻ sơ sinh khác. Lên 2 tuổi, Jacob đột ngột ngừng nói chuyện và không thể giao tiếp bằng mắt. Các nhà giáo dục và bác sĩ nói với cha mẹ Jacob rằng cậu bé bị mắc Hội chứng Asperger nên sẽ không bao giờ hòa nhập được với xã hội.

Tin xấu ập đến nhưng bà Kristine, mẹ của Jacob, vẫn quyết tâm đặt niềm tin vào con trai mình. Bà cung cấp cho Jacob mọi thứ cậu bé cần và không bao giờ ép con phải giống như những đứa trẻ bình thường khác. Khi nhận thấy Jacob có một niềm hứng thú đặc biệt với thiên văn học, bà ngay lập tức thể hiện sự ủng hộ và đóng vai trò như một người bạn đồng hành để con trai không bị nhụt chí.

  1. Sự trưởng thành của thần đồng
    Các buổi trị liệu khiến Kristine hoàn toàn thất vọng. Jacob vẫn không chịu nói gì cả. Kristine quyết định không dựa vào các liệu pháp y tế nữa mà sẽ cho con trai phát triển tự nhiên và độc đáo đúng như bản chất của cậu bé.

Bà ngừng đưa Jacob đến trường và tự mình dạy học cho con tại nhà. Hai mẹ con cùng nhau giải câu đố ghép hình, làm các bài tập đại số. Jacob dường như bị mê hoặc bởi chiêm tinh học, các hành tinh và không gian, nên bà Kristine đã đưa con đến cung thiên văn để ngắm sao Hỏa bằng kính viễn vọng.

Tại buổi triển lãm có một bài giảng thuyết trình nâng cao dành cho khách tham quan. Jacob, với bản tính tò mò đã chăm chú đọc bản trình bày PowerPoint. Khi giảng viên hỏi lý do tại sao Hỏa lại có quỹ đạo hình elip, Jacob đã trả lời: “Các mặt trăng xung quanh sao Hỏa rất nhỏ nên chúng cũng chỉ có khối lượng nhỏ. Lực hấp dẫn của các mặt trăng không đủ lớn để kéo chúng thành những hình cầu hoàn chỉnh”. Tất cả những người có mặt trong hội trường đều phải ngoái đầu lại để tìm kiếm chủ nhân của giọng nói trẻ tuổi. 

  1. Các cột mốc đáng nhớ trong hành trình học tập của Jacob Barnett
    – Khi mới 2 tuổi, Jacob đã hiểu được khái niệm vận hành của quang phổ của ánh sáng.

– Lên 8 tuổi, thần đồng nhí đã thành thạo môn Toán ở cấp trung học.

– Jacob trở thành sinh viên chính thức của Đại học Indiana năm 11 tuổi.

– Cũng ở tuổi 11, Jacob chính thức công bố nghiên cứu của mình trên một tạp chí khoa học uy tín.

– Năm 13 tuổi, cậu phát biểu tại TEDxTeen Talk truyền cảm hứng cho những người trẻ tuổi thay đổi cách tiếp cận với việc học tập.

– Năm 15 tuổi, cậu được nhận bằng Thạc sĩ tại Viện Vật lý lý thuyết Waterloo’s Perimeter.

Jacob có chỉ số thông minh IQ 170, cao hơn nhà vật lý lý thuyết Einstein. Nhờ sự ủng hộ của gia đình và tinh thần ham học hỏi, Jacob đã vượt qua lời chẩn đoán “không thể hòa nhập với xã hội” để trở thành một thần đồng vật lý được cả thế giới ngưỡng mộ.

Minh Minh / Trí thức VN

Số người thoái các tổ chức của ĐCSTQ đã vượt quá 400 triệu

Theo số liệu thống kê trên trang web của Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu, 7:00 tối theo giờ Bắc Kinh vào ngày 3/8/2022, số người thoái đảng, đoàn và đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã vượt mốc 400 triệu người.

Ngày 21/7/2022, lần đầu tiên biểu ngữ 400 triệu người thoái đảng, đoàn đội của ĐCSTQ xuất hiện tại cuộc diễu hành ở Washington DC. (Ảnh Đới Binh / Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu)
Tháng 11/2004, Thời báo Epoch Times đã đăng một loạt bài xã luận có tên “Cửu Bình” (9 bài bình luận về ĐCSTQ), vạch trần bản chất xấu xa của ĐCSTQ, và các thủ đoạn lừa dối công chúng của đảng này.

Ngày 21/7/2022, lần đầu tiên biểu ngữ 400 triệu người thoái đảng, đoàn đội của ĐCSTQ xuất hiện tại cuộc diễu hành ở Washington DC. (Ảnh Đới Binh / Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu)

Ngày 12/1/2005, Epoch Times ra “Tuyên bố long trọng”, kêu gọi người dân “tam thoái” (thoái đảng, đoàn, đội của ĐCSTQ), nhằm xóa bỏ ấn ký của tà ác. Tháng 6/2005, Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu được thành lập tại Hoa Kỳ

Các chi nhánh của Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu được thành lập trên khắp thế giới. Theo số liệu thống kê của Trung tâm này, tổng số người làm tam thoái năm 2005 là 6.752.841 người, trung bình là 18.500 người/ ngày; năm 2006 tổng cộng có 10.051.631 người, trung bình là 27.538 người/ ngày; năm 2007 là 13.439.894 người, trung bình là 36.821 người/ ngày.

Sau đó, số người tam thoái tăng dần theo từng năm, đặc biệt tăng mạnh trong các năm 2014, 2015 và 2016.

Số người tam thoái năm 2014 là 34.998.649 người, trung bình là 95.886 người/ ngày; năm 2015 có 34.563.854 người, trung bình 94.965 người/ ngày; thời kỳ cao điểm là năm 2016 với 37.209.023 người, trung bình 101.943 người/ ngày.

Trong những năm tiếp theo, tổng số người tam thoái vẫn tiếp tục tăng.

Kể từ khi cướp chính quyền ở Trung Quốc Đại Lục, ĐCSTQ đã yêu cầu giới tinh hoa gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản và ĐCSTQ. Những người tuân theo có thể đạt được một địa vị xã hội nhất định. Do đó, đại đa số người Trung Quốc đều tham gia 3 tổ chức này.

Hiện tại, số người tam thoái đã vượt quá 400 triệu người. Bình luận viên Mịch Chân cho rằng “Cửu Bình” đã đóng góp rất nhiều vào phong trào thức tỉnh kéo dài 18 năm này.

Tiến sĩ Vương Hữu Quần, người chấp bút cho ông Uất Kiện Hành (Wei Jianxing), cựu Ủy viên Ủy ban Thường vụ Tổng cục Chính trị ĐCSTQ, kiêm Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, tin rằng 400 triệu người lựa chọn “tam thoái” là một sự kiện lớn chấm dứt sự chuyên chế và giải thể ĐCSTQ, định hình lại tương lai của Trung Quốc, kể từ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.

Điều này cho thấy:

Thứ nhất, người dân Trung Quốc đã thức tỉnh sau nhiều thập kỷ bị ĐCSTQ đàn áp và lừa dối, đồng thời hiểu được bản chất tà ác của ĐCSTQ khi đảng này liên tục giết người để thị uy, dựa vào việc không ngừng giết chóc để bổ sung năng lượng và kéo dài tuổi thọ của mình.

Thứ hai, họ không muốn trở thành công cụ của ĐCSTQ để hại mình, hại người và làm hại con cháu. Họ càng không muốn trở thành vật hy sinh, thành “con dê tế thần” và vật bồi táng cùng ĐCSTQ trong cuộc đại thanh trừng, đại thẩm phán và đại đào thải cuối cùng của ĐCSTQ.

Thứ ba, họ đã lựa chọn đúng đắn giữa đúng và sai, thiện và ác, chính và tà.

Thứ tư, 400 triệu người dân Trung Quốc ghét bỏ và muốn đoạn tuyệt với ĐCSTQ, khiến ĐCSTQ, một “chú hổ giấy”, ngày càng bị cô lập. Trong nội bộ đảng, từ trên xuống dưới, không ai thực sự tin vào ‘thiên đường tại nhân gian’ do đảng này vẽ ra. ĐCSTQ chỉ gắng gượng duy trì sinh mệnh của mình, bằng cách dùng quyền lực, tiền bạc và lợi ích để dụ dỗ người dân.

400 triệu người Trung Quốc thoái các tổ chức của ĐCSTQ chắc chắn sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để chấm dứt sự tà ác của đảng này.

Bà Dịch Dung: Bức tường đỏ đang sụp đổ, một Trung Quốc không có ĐCSTQ đã ra đời
Ngày 2/8, bà Dịch Dung, chủ tịch của Trung tâm Dịch vụ thoái ĐCSTQ Toàn cầu, nói với Epoch Times: “400 triệu người Trung Quốc đã thoái đảng, đoàn, đội của ĐCSTQ. Đây là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự ra đời của một Trung Quốc không có ĐCSTQ.”

“Làn sóng thoái ĐCSTQ đang phá bỏ chế độ tà ác của ĐCSTQ một cách hòa bình. Bức tường đỏ đang sụp đổ, và lịch sử đang bước sang một trang mới.”

Bà Dịch Dung kêu gọi thêm nhiều người Trung Quốc tam thoái, tránh xa cái ác và giành lại sự tự do về tinh thần.

Bà nói: “Thoái ĐCSTQ, đối với cá nhân, là xóa bỏ lời thề độc. Những người Trung Quốc trước kia gia nhập đảng, đoàn, đội từng nắm tay, thề rằng họ sẽ cống hiến cuộc đời mình cho ĐCSTQ. Đây đều là những lời thề độc, tương đương với việc giao mạng sống của mình cho tà ác. Thoái ĐCSTQ chính là tránh xa cái ác.” “Thoái xuất khỏi ĐCSTQ là một điều rất tốt cho người dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa.”

“400 triệu người tam thoái sẽ khiến nhiều người hơn thoái xuất khỏi ĐCSTQ và tránh xa chế độ tà ác này.”

“Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều người Trung Quốc, những người chưa tam thoái, hãy nhanh chóng lựa chọn một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và dân tộc Trung Hoa.”

Bà nói: “Tôi tin rằng mọi người trên toàn thế giới, đặc biệt là những người Trung Quốc đang lâm nạn, đều mong chờ sự xuất hiện của một Trung Quốc mới không có ĐCSTQ.”

Luật sư Ngô Thiệu Bình: ĐCSTQ là quỷ Satan, “không giao dịch với ĐCSTQ”
Ngày 3/8, với tư cách là một luật sư đã hành nghề ở Trung Quốc nhiều năm, Luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình hiện đang sống ở Hoa Kỳ, đã nói với phóng viên của Epoch Times, ông trải nghiệm sâu sắc rằng ĐCSTQ chính là một “tập đoàn tội phạm” đã tạo ra vô số vụ án oan sai, bằng cách thêu dệt các tội danh mơ hồ.

Ông nói “’Cửu Bình’ tiết lộ sâu sắc lịch sử, sự phát triển và (hành vi) tà ác của ĐCSTQ, vạch trần bộ mặt thật của ĐCSTQ trước công chúng, giúp mọi người hiểu vì sao họ lại tà ác như vậy và vì sao ĐCSTQ lại là chính quyền phản nhân loại.”

Ông nói: “ĐCSTQ là một thế lực tà ác, một thế lực của quỷ Satan,” và là “ung nhọt của xã hội.”

Ông Ngô Thiệu Bình cho biết, 400 triệu người thoái ĐCSTQ “có nghĩa là nền tảng thống trị của ĐCSTQ đang tan rã, và càng gần ngày sụp đổ; ngày càng có nhiều người hiểu rõ về ĐCSTQ, biết được sự tà ác và hiểu được tính bất hợp pháp của chế độ ĐCSTQ, biết rằng chế độ này không nên tồn tại trong xã hội loài người.” “Có thể thấy rằng ở Trung Quốc, ĐCSTQ là một nhóm chính trị tà ác không được lòng dân.”

“Sự sụp đổ của ĐCSTQ là phù hợp với yêu cầu phát triển của nhân loại.”

Ông Ngô Thiệu Bình nói rằng những người chưa tam thoái “cũng là nạn nhân của ĐCSTQ.” Ông khuyến khích những người Trung Quốc vẫn đang bị ĐCSTQ lừa gạt hãy thoái ĐCSTQ.

Ông nói: “Tôi hy vọng họ thức tỉnh càng sớm càng tốt và gia nhập hàng ngũ giải thể ĐCSTQ. (Mọi người cùng) biến Trung Quốc thành một Trung Quốc tươi đẹp với tự do, công bằng, tình yêu thương và dân chủ, để dân tộc Trung Hoa hướng đến văn minh và được phục hưng.”

Ông cũng hy vọng xã hội và các chính trị gia phương Tây cùng “đọc ‘Cửu Bình’, để hiểu về những điều xấu xa mà ĐCSTQ đã làm. Những việc này không chỉ xảy ra trong lịch sử, mà hiện giờ vẫn đang tái diễn. Họ cần phải hiểu ĐCSTQ là tổ chức tội phạm phản nhân loại như thế nào.”

Ông kêu gọi những người phương Tây thân ĐCSTQ “đừng làm ăn với ĐCSTQ”.

“Một Trung Quốc tươi đẹp sẽ phù hợp hơn với lợi ích của phương Tây. Tôi hy vọng (những người phương Tây sẽ không) bị cám dỗ bởi những lợi ích xấu xa của ĐCSTQ, và không đứng cùng hàng ngũ của những kẻ đại diện cho quỷ Satan hoặc phục vụ họ.”

Bình Minh (t/h) / Trí thức VN