Năm khu nghỉ cao cấp bên vịnh biển

Du khách vừa được tận hưởng những tiện nghi đẳng cấp, vừa được ngắm vịnh biển nguyên sơ, thân thiện với thiên nhiên.

Azerai Ke Ga Bay nằm tại vịnh Kê Gà ở Bình Thuận, cách TP HCM 180 km. Khu nghỉ dưỡng nằm tách biệt tại trung tâm của bờ biển hoang sơ dài 5 km, bờ cát trắng mịn, phù hợp là nơi để trốn phố thị, về với thiên nhiên.

Từ khu nghỉ dưỡng, có thể nhìn ra được mũi hải đăng Kê Gà ở phía đông, còn phía tây là những cồn cát trải dài. Bể bơi vô cực nằm ngay sát biển, là vị trí phù hợp với những hoạt động thư giãn như yoga, thiền định. Đặc biệt, từ đây có thể dễ dàng ngắm bình minh và hoạt động của ngư dân, cảm nhận không khí của một vùng biển yên bình. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Khu nghỉ có 46 phòng, được thiết kế tối giản, tông màu trắng lấy cảm hứng từ sắc màu của cát và đá granite địa phương. Các phòng có không gian mở ra sân hiên và vườn cây. Điểm nhấn của khu nghỉ là những rừng đa dạng ngay trong khuôn viên như rừng hoa sứ, tre, trúc… mang cảm hứng nhiệt đới và giúp du khách tận hưởng triệt để không gian xanh. Một đêm nghỉ tại đây có giá từ 7 triệu đồng. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Amanoi là khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất ở Ninh Thuận và cũng là một trong những resort đắt đỏ nhất Việt Nam, nằm bên vịnh Vĩnh Hy. Khu nghỉ kết hợp hài hòa giữa núi và biển, ôm trọn bởi Vườn Quốc gia Núi Chúa. Sân bay gần nhất là Cam Ranh, trung chuyển đến đây mất khoảng 50 phút. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Khu nghỉ làm nổi bật không khí nguyên sơ của vịnh Vĩnh Hy qua các không gian ngoài trời, từ các nhà hàng và hồ bơi trên đỉnh vách đá, đến spa bên hồ và bãi biển riêng. Các khu vực trải nghiệm tách biệt nhau, chia rõ chủ đề để du khách có không gian riêng tư nhất.

Tại đây bạn có nhiều không gian ngắm cảnh, thiền định và thư giãn. Amanoi cũng gợi ý du khách nên ở đây khoảng 3 đêm để cảm nhận rõ nhất sự bình yên và làm mới lại tâm hồn. Các phòng có hiên tắm nắng, nhìn ra biển hoặc núi. Biệt thự rộng nhất có 5 phòng ngủ và hồ bơi vô cực lớn. Một đêm nghỉ tại đây có giá từ 25 triệu đồng. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Banyan Lang Co Tree nằm bên vịnh Chân Mây – Lăng Cô ở Thừa Thiên – Huế. Khu nghỉ dưỡng hướng ra biển và áp lưng là dãy núi Trường Sơn. Vị trí địa lý của khu nghỉ dưỡng phù hợp cho du khách thích khám phá lịch sử, khi ở gần 3 Di sản Thế giới được UNESCO công nhận là phố cổ Hội An, Đại nội Huế và Thánh địa Mỹ Sơn. Vì thế, các biệt thự tại đây cũng mang phong cách kiến trúc vương triều Việt Nam. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Vịnh Chân Mây – Lăng Cô giữ được nhiều nét nguyên sơ và yên bình. Các phòng ngủ trong resort có bể bơi vô cực. Ngày trời đẹp, nước phản chiếu màu xanh của trời, dường như hòa làm một với màu nước biển của vịnh.

Du khách lưu trú tại đây được tham gia nhiều hoạt động như đánh golf, spa, yoga hoặc khám phá ẩm thực tại ba nhà hàng của khu nghỉ dưỡng. Trong đó, hoạt động ngoài trời nổi bật là chèo SUP, tận hưởng vẻ bình yên của vùng vịnh lặng sóng. Một đêm nghỉ tại đây hiện có giá từ 9 triệu đồng. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Six Senses Ninh Van Bay là khu nghỉ dưỡng từng đạt hàng loạt giải thưởng ở vịnh Ninh Vân, Cam Ranh, Khánh Hòa. Khu nghỉ như một hòn đảo trú ẩn vì du khách muốn tới phải đi bằng thuyền. Điểm nhấn của khu nghỉ là các phòng đặt trên những khối đá, bãi biển cát trắng trải dài còn đằng sau là núi noi trùng điệp. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Đây không chỉ là một khu nghỉ dưỡng mà còn có vai trò như một khu bảo tồn thiên nhiên. Tại đây có loài voọc chà vá chân đen quý hiếm sinh sống, hiện có khoảng 106 cá thể. Ban ngày, du khách có thể tắm trong những bãi biển nguyên sơ với nước xanh ngắt, hoặc ngâm mình trong những bể bơi đặt trên đá. Ban đêm thì là thời điểm lý tưởng nhất để ngắm nhìn thành phố Nha Trang lên đèn, lung linh và huyền ảo.

Khu nghỉ dưỡng là nơi hút sao Việt đến nghỉ dưỡng. Toàn bộ 59 villa nằm rải rác trên lưng chừng đồi và dọc bờ biển. Khu nghỉ cung cấp nhiều dịch vụ, hoạt động ngoài trời như học thiền, tập yoga, chèo kayak, xem phim dưới trời đêm… Một đêm nghỉ tại đây có giá từ 23 triệu đồng. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Cũng nằm tại vịnh Ninh Vân là khu nghỉ dưỡng An Lam Retreat Ninh Van Bay. Với chủ đề chính là nơi nghỉ dưỡng cho các cặp đôi, khu nghỉ không khuyến khích khách có trẻ em, trừ mùa du lịch hè và các ngày lễ, Tết.

Điểm nhấn của khu nghỉ là nhà hàng nổi trên biển, sử dụng chủ yếu các vật liệu thân thiện với môi trường là gỗ, tre, tạo cảm giác hài hòa với cảnh vật chung của đảo. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Các phòng được thiết kế với gỗ là chủ đạo, tạo cảm giác giống các thiên đường nhiệt đới như Hawaii nhưng vẫn đậm nét Việt Nam truyền thống. Hiên tắm nắng và bể bơi giúp du khách thư giãn khi nhìn thẳng ra vịnh. Một đêm nghỉ tại đây có giá từ 12 triệu đồng. Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Trung Nghĩa tổng hợp / Vietnam Express

Kỷ niệm sân khấu của Nguyễn Ngọc Ngạn

Đạo diễn Alan Carter của Paris by Night gọi ông là “The legend”, khán thính giả gọi ông là “MC của mọi nhà”, nhà thơ Nguyên Sa thì nói rằng “Nguyễn Ngọc Ngạn là một yếu tố lạ mà Thúy Nga may mắn khám phá ra”. Nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn, từ những ngày đầu cho đến tận bây giờ, vẫn chỉ coi mình là kẻ “đi lạc lên sân khấu”. Mà theo cách ông diễn giải là: “Tôi hoàn toàn không chuẩn bị để làm công việc này. Có lẽ chỉ vì lá số tử vi của tôi có quá nhiều sao tốt về đường văn nghệ nên mới được thiên hạ lôi ra ánh sáng mà thôi!”

_____________

Chương trình Paris By Night 133 – The Farewell là show diễn cuối cùng của ông Nguyễn Ngọc Ngạn (ảnh: Facebook Thúy Nga Paris)

“Kỷ niệm sân khấu” – hành trình 30 năm đứng trên sân khấu Paris by Night của MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Một câu chuyện tưởng như tình cờ, vu vơ, mà trở thành số phận. Bắt đầu bằng hai cuộc điện đàm từ Nam Cali vào năm 1992, từ một người mà ông chưa hề quen biết là giáo sư Tô Văn Lai, với một lời đề nghị cảm tưởng như hết sức “ngớ ngẩn”.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn – khi đó 45 tuổi, chưa một lần bước lên sân khấu, đã lặn lội “khăn gói quả mướp” bay từ Canada sang Paris, trong bộ đồ vẫn mặc khi đi làm và chiếc đồng hồ “50 đô” mà sau này có khán giả ngứa mắt đã viết thư yêu cầu ông quăng đi “vì nhìn trông nó nhà quê lắm!”. Một cuộc hành trình từ những ngày đầu ngủ vạ vật trong nhà kho do ông Lai thuê cùng la liệt anh em nghệ sỹ vì “ngày ấy Thúy Nga còn nghèo”, từ một “ông giáo làng” (chữ của nhạc sỹ Song Ngọc), cho đến năm tiếng đồng hồ “đầu tiên trong đời” đứng nói một mình trên sân khấu PBN số 17 mà không hề có teleprompter hay cue cards, và hơn 100 số sau đó.

(Ảnh: tác giả)
(Ảnh: tác giả)
(Ảnh: tác giả)

Cuốn sách, mà theo lời tác giả là những câu chuyện vụn vặt, nhớ gì viết nấy, nhưng lại vô cùng hấp dẫn, dí dỏm, chân thành, và đầy kiến thức. Một lối viết đơn giản, dễ mến, như cách ông vẫn giao tiếp với tất cả mọi người, hầu như bởi những câu đơn, rất ít bắt gặp những tính từ hay uyển ngữ sáo ngữ bóng bẩy hay bi lụy mà người ta vẫn cố tình gán ghép cho dòng nhạc xưa hay bộ mặt âm nhạc hải ngoại.

Không cố gắng dạy dỗ hay giáo huấn ai bất cứ điều gì, Nguyễn Ngọc Ngạn thân ái kể lại những câu chuyện của người Việt đi hát ở hải ngoại từ những năm thập niên 1980, một không khí văn nghệ nhiều biến động, thăng trầm nhưng cũng vô cùng đầm ấm. Những kỷ niệm của anh em bạn bè văn nghệ sỹ, những câu chuyện hậu trường sinh động từ chuyện cô Ái Vân té xỉu đến chuyện Giang Tử chật vật xin đi hát free, rồi kết hợp với Chế Linh thành band “Hai con lạc đà”, tất cả đều được ghi chép lại một cách chân thực, tự nhiên, và đầy quý mến. Cùng với đó là những kinh nghiệm sân khấu được đúc kết trong 30 năm, mà theo như ông nói:

“Tôi hy vọng đọc xong cuốn sách này, có bạn sẽ càng thấy hứng khởi và tự tin, nhưng biết đâu, cũng có bạn sẽ đổi ý, bỏ hẳn con đường văn nghệ để tìm cho mình một nghề khác đơn giản hơn”.

Và sau tất cả, đó là những trăn trở của một người Việt Nam luôn canh cánh mang nguồn cội văn hóa, văn học nghệ thuật phổ biến lại cho các thế hệ sau và quảng bá đi khắp hải ngoại, “tôi sẽ đưa văn chương vào văn nghệ, đưa ca dao tục ngữ, phong tục tập quán và lịch sử Việt Nam lên sân khấu. Đó là sự thiếu thốn mà các em, các cháu ở hải ngoại đang cần phải có, bởi các bậc phụ huynh qua đây quá bận rộn, không có thì giờ giúp con em ôn lại những kiến thức văn hóa ở quê nhà”.

(Ảnh: Thúy Nga Paris)

Một số câu hay hay của ông Ngạn viết trong sách mà tôi muốn note lại đây, vì đọc thấy vui, hoặc để ngẫm:

– Viết thấp thì người cao cũng hiểu, nhưng viết cao là cố tình loại bỏ những độc giả đơn giản mà khối độc giả này lại luôn luôn chiếm đa số.

– Có những người bẩm sinh đã bị thiệt thòi vì trời sinh nét mặt lạnh quá, lối quá, hỗn quá hoặc quê quá. Tất cả đều khó có thể thành công trên màn ảnh bởi vì đa số người Việt chúng ta có căn bệnh “ngứa mắt”.

– Chị Thủy (tức cô Tô Ngọc Thủy – chủ nhân của trung tâm Thúy Nga) thích cháu hay không có quan trọng gì đâu. Điều quan trọng là khán giả có thích cháu hay không thôi. Họ làm business chứ có làm văn nghệ vui chơi đâu cháu!

– Nghệ sỹ cũng là một mặt hàng, nếu không bán được thì người ta phải đổi mặt hàng khác.

– Thời tôi đi học, lúc nào cũng phải trầm tư nhắc đến các tác giả ngoại quốc như Albert Camus, Jeans Paul Sartre thì mới là trí thức thời thượng! Xét cho cùng thì đó chỉ là thứ mặc cảm tự ti rồi đưa đến tinh thần vọng ngoại mà thôi. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy thật nực cười!

– Câu “xướng ca vô loài” là nói đến tập thể nghệ sỹ sinh hoạt ca diễn trong chế độ phong kiến. Không dính dáng gì đến tân nhạc cả. Có lẽ một số nhạc sỹ không hiểu điều này nên sáng tác những ca khúc bày tỏ lòng thương đối với ca sỹ tân nhạc, chẳng hạn bài Tình đời hay Kiếp cầm ca, khiến nhiều ca sỹ lại tưởng mình đáng thương thật!

– Trên sân khấu, không có gì bằng tự nhiên!

– Văn hóa Mỹ nặng về khuyến khích. Văn hóa Việt nặng về đả kích. Người Việt chúng ta rất tiếc lời khen mà lúc nào cũng thừa lời chê, ngay cả đối với con cái. Con em chúng ta làm điều tốt, điều hay, chúng ta không dám khen vì sợ nó kiêu căng. Trái lại, chẳng may nó làm điều không phải, chúng ta đay nghiến mãi không thôi.

– Mình không thể lạc hậu bám mãi vào di sản cũ.

– Biểu tình là một sinh hoạt chỉ có trong xã hội tự do và dân chủ, là quyền bày tỏ một thái độ phản đối. Nhưng trong khi chúng ta được quyền bày tỏ thái độ phản đối thì cũng phải chấp nhận người khác có ý kiến ngược lại, không thể ép buộc mọi người phải đồng ý với mình. Đó là ý niệm đơn giản nhất của mọi nền dân chủ.

– Giải quyết những rắc rối của người Việt bao giờ cũng khó khăn bởi người ta ít khi nói thật. Mình phải đoán ý để biết người ta muốn gì!

– Lứa nghệ sỹ lớn tuổi lúc nào cũng để ý đến mặt mũi. Cho nên thường nảy sinh câu hỏi trong đầu là: Tại sao nó hát nhiều hơn tôi? Bộ nó hay hơn tôi hay sao? Tôi hát lót cho nó hay sao?… Lúc nào cũng sợ mất mặt, mặc dầu mặt vẫn còn nguyên chứ làm sao mất được.

– Tôi thấy nói nhanh chả có lợi gì!

– Nói về Tổ nghề hát xướng, có người chủ trương cứ vái bốn phương tám hướng, trúng ai thì người ấy phù hộ!

– Mỗi người Việt là một thi sĩ!

– Cách hay nhất để làm dịu căng thẳng là nói chuyện vui, tốt hơn nhiều những lời xin lỗi trang nghiêm có tính thủ tục.

– Cũng chỉ vì căm thù thư nặc danh mà đến giờ tôi vẫn chấp nhận lạc hậu chứ dứt khoát không xài internet, để khỏi phải thấy cái diễn đàn tự do biến thành thùng rác của những người chưa hiểu thế nào là tinh thần trách nhiệm. Muốn hưởng tự do phải có trách nhiệm. Câu nói ấy xem chừng nhiều người vẫn cố tình không nhớ!

– Trong cộng đồng, có những người không chịu nổi sự thành công của người khác. Bởi họ cứ coi sự thành công của người khác là thất bại của mình (Trích lại trong tiểu thuyết Nước Đục của Nguyễn Ngọc Ngạn).

– Tôi cứ thấy phân vân và buồn lòng vì cách cư xử với nhau trong cộng đồng người Việt lạ lùng quá. Trong văn giới với nhau, sao có lắm người làm văn làm thơ, viết truyện thì nội dung hiền lành, lãng mạn và đôi khi rất đạo đức mà hơi một chút là phun ra toàn những lời cay độc! Lắm khi tôi không hiểu nổi! Người mình chả biết chất chứa mối hận gì sâu thẳm trong lòng mà hễ có dịp là tuôn ra một cách quá nặng nề.

Ông Nguyễn Ngọc Ngạn chính thức từ giã sân khấu sau Paris By Night 133 – The Farewell.

Respect ông!

Lan Anh / Saigon Nhỏ

Về chủ đề tính dục trong tiểu thuyết của Gabriel Garcia Marquez và Mario Vargas Llosa

 Gabriel Garcia Marquez và Mario Vargas Llosa. Họ là một cặp đôi nhà văn làm hao tốn nhiều giấy mực của giới nghiên cứu bởi vì mối quan hệ thuộc về văn học và ngoài văn học của hai ông. Marquez và Llosa từng là đôi bạn than đồng điệu và gắn bó với nhau sâu sắc, thế rồi họ lai rời xa nhau trong 30 năm thù hằn. Những nét tương đồng và những sự mâu thuẫn đến đối nghịch ở con người và văn chương họ cho thấy rõ tính thống nhất bền vững của nền văn học một giai đoạn rực rỡ

Vào cuối thập niên 50, Jorge Amado – nhà văn nổi tiếng nhất của Brazil, được tôn xưng là bậc hiền nhân đã cho xuất bản Gabriela, Nhành quế và hoa đinh hương. Cuốn này khi ra mắt công chúng đã bị nhiều người cho là “quá hoa mỹ kỳ cục, quá dâm dục, quá nhiều truyền thống dân gian” [1].

Tác phẩm là một câu chuyện tình đầy đam mê cho đến chữ cuối cùng của quyển sách, giữa cô gái Gabriela nồng nhiệt, xinh đẹp, cơ thể tỏa ra mùi quế và hoa đinh hương với Nacib Saad, chủ một quán rượu phát đạt. Khi Nacib ra chợ nô lệ tìm đầu bếp mới, anh đã gặp nàng Gabriela. Chuyện tình kì lạ mà cũng rất chân thật của họ đã bắt đầu, mang hương vị lạ lùng, đậm đà và quyến rũ như vị đặc sánh của cacao ở vùng Brazil. Đó là những con người ồn ã, ham muốn vật chất, lúc tầm thường lúc cao quý, nhưng trên hết họ đã “yêu” nhau đầy bản năng. Chính điều đó mà bên cạnh những lời khen, nhà văn hồn hậu của Mỹ Latinh bị chỉ trích nặng nề vì nặng tính “dâm dục”.

Trường hợp này cũng rơi vào không ít nhà văn ở đỉnh điểm của giai đoạn thịnh vượng từ thập niên 1960 đến 1980, tiêu biểu là hai tác giả được mệnh danh là “hai con sư tử của trào lưu Latin American Boom” (trào lưu Bùng nổ): Gabriel Garcia Marquez và Mario Vargas Llosa. Họ là một cặp đôi nhà văn làm hao tốn nhiều giấy mực của giới nghiên cứu bởi vì mối quan hệ thuộc về văn học và ngoài văn học của hai ông. Marquez và Llosa từng là đôi bạn than đồng điệu và gắn bó với nhau sâu sắc, thế rồi họ lai rời xa nhau trong 30 năm thù hằn. Những nét tương đồng và những sự mâu thuẫn đến đối nghịch ở con người và văn chương họ cho thấy rõ tính thống nhất bền vững của nền văn học một giai đoạn rực rỡ. Trường hợp này khiến ta liên tưởng đến cặp đôi Sartre và Camus của văn học Pháp. Nếu thiếu một trong hai người, sẽ thật khó có một trào lưu hiện sinh Pháp độc đáo như ta biết hiện nay.

Marquez và Llosa đã mang về cho châu lục Mỹ Latinh hai giải Nobel văn học năm 1982 và năm 2010. Đến từ hai quốc gia khác nhau nhưng Marquez và Llosa có những chủ đề và cấu trúc nghệ thuật giao thoa nhau rõ nét. Một trong nét tương đồng đặc biệt giữa họ trên trang viết là chủ đề tính dục – thông thường là những trường hợp tính dục lệch chuẩn, luôn gắn với nỗi cô đơn định mệnh mang đặc trưng của khu vực văn học đầy bản sắc. Tiểu thuyết của Marquez và Llosa từng bị hoài nghi là “truyện khiêu dâm” bởi những chi tiết về tình yêu thể xác với màu sắc hoang dã. William Boyd, đạo diễn chuyển thể cuốn Dì Julia và nhà văn quèn của Llosa thành phim điện ảnh nhận xét: “Vargas Llosa liên tục thiết lập các hình ảnh tình dục và quan hệ tình cảm giữa nam và nữ”. Trước đó, khi viết tiểu thuyết Căn nhà xanh (The Green House, 1966), ông đã mạnh mẽ miêu tả một nhà thổ giữa rừng như là “một tổ chức trung tâm trong đời sống Mỹ Latinh” [2]. Marquez cũng mang ám ảnh này khi viết về chủ đề tính dục lệch chuẩn trở đi trở lại trong Trăm năm cô đơn, Tình yêu thời thổ tả, Hồi ức những cô gái điếm buồn của tôi…

Dễ dàng thấy, tiểu thuyết Mỹ Latinh xuất hiện rất nhiều cảnh tính dục, tần số cao và miêu tả hết sức “chân thực”, đến độ nhắc đến Mỹ Latinh, người ta nghĩ ngay đến một nền văn học nồng nàn dục tính. Không ít nhà nghiên cứu đã “yên tâm” nhận định đây chính là đặc trưng của văn học Mỹ Latinh.

Trong bài viết “Về những cảnh tình dục trong tiểu thuyết Mỹ Latinh”, nhà nghiên cứu người Nga Inna Terteryan nhận xét: “Tất cả những cảnh tình dục đó, tất cả những cái mà chúng ta quen gọi là khiêu dâm đó, ở trong tiểu thuyết Mỹ Latinh đều gắn với cốt truyện, mà tuyệt nhiên không phải gắn một cách sơ sài, do đó không thể dễ dàng vứt chúng đi được” [3]. Ông khẳng định thêm: “Nếu coi khiêu dâm trong tiểu thuyết Mỹ Latinh như là sự nhượng bộ thị hiếu thị dân hay như “phong vị lạ nhiệt đới”, chúng ta sẽ có nguy cơ bỏ rơi mất đặc trưng của toàn bộ cấu trúc nghệ thuật”.[4].

Vấn đề tính dục ở đây cần được xem xét một cách nghiêm túc như là một trong những đặc trưng quan trọng dẫn đến cấu trúc nghệ thuật. Đồng quan điểm với Inna Terteryan, chúng tôi cho rằng tính dục trong tiểu thuyết Marquez và Llosa như một thành tố quan trọng của cấu trúc tiểu thuyết, đặc biệt là các biểu hiện của tình dục lệch chuẩn (loạn luân, nội hôn, đồng tính, lệch tuổi, tình dục với thú…), những hành động thể hiện rõ nhất nỗi cô đơn và cũng là thứ đẩy nhân vật dấn sâu vào những sa lầy “nghiệp chướng”.

Đầu tiên cần nhìn nhận tiểu thuyết Mỹ Latinh phản ánh những biểu hiện tình dục có vẻ “mang nặng tính thú vật”, nhưng chúng không bao giờ được phản ánh như là những đam mê thú vật, cũng không bao giờ được phản ánh như là tình yêu, theo quan điểm của Inna Terteryan. Hành vi tình dục của các nhân vật tiểu thuyết Mỹ Latinh có mối liên hệ sâu sắc với hành vi của họ trong tất cả các lĩnh vực đời sống khác. “Trong các nền văn học châu Âu người ta luôn muốn cao nhã hóa sự đam mê tình dục, phổ cho nó một nội dung tinh thần, do đó đưa nó gần lại với tình yêu. Trong tiểu thuyết Mỹ Latinh, “sex” không được tinh thần hóa, thậm chí cũng không được cảm xúc hóa, và không được xích gần lại với tình yêu theo cách hiểu của châu Âu. Nhưng đồng thời nó cũng không bao giờ bị phản ánh như là thứ bản năng thuần túy thú vật, như là một cái gì chỉ có tính thô bỉ, nhơ bẩn, đáng xấu hổ. Tình dục luôn luôn được gắn với hệ thống đánh giá – không phải là sự đánh giá đạo đức trực tiếp, mà với sự đánh giá ngầm ẩn và phức tạp hơn, thêm nữa không chỉ đánh giá các nhân vật, mà còn cả các hiện tượng, các lực lượng xã hội, các sự kiện” [5].

Nếu ở truyền thống phương Đông, tính dục thường gắn với phương diện đạo đức và tình yêu, biểu hiện một cách kín đáo sâu xa, ở phương Tây tính dục gắn với sự tự do tận hưởng, nó được cảm xúc hóa, trải nghiệm hóa thì ở Mỹ Latinh, tính dục đậm chất đời thường, hiển nhiên như ăn và ngủ, mang triết lý sống rất riêng – triết lý của “những con bò cái”. Mỹ Latinh quan niệm tình dục là nhu cầu bình thường của đời sống, nó không bị/ được đánh giá bởi bất cứ tiêu chí ngoại tại nào. Trên sắc thái này, diễn ngôn tính dục đã khu biệt bản sắc tiểu thuyết Mỹ Latinh trên bản đồ văn học thế giới.

Ở tiểu thuyết của Marquez và Llosa, ta thấy sự xuất hiện của đời tư tác giả lên chính nhân vật của họ, có thể gọi là yếu tố “tự truyện”, cũng có thể gọi là một biểu hiện của thủ pháp “siêu hư cấu”. Tác phẩm của Marquez và Llosa có sự đan cài và tưởng tượng lại từ những kinh nghiệm cá nhân tác giả, có thể được đọc theo hai cách. Một cách đọc sẽ xem xét những dữ liệu tiểu sử như là nguồn gốc hư cấu tiểu thuyết của Marquez và Llosa. Một cách đọc khác là tập trung vào câu chuyện, cách kể hơn là người kể.

Nhà văn Gabriel García Márquez (1927-2014) người Colombia, giải Nobel văn học năm 1982

Nhân vật chính trong Tình yêu thời thổ tả và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi mang dáng dấp của chính tác giả Marquez trong tự truyện Sống để kể lại. Nhân vật F. Ariza và tôi trong Hồi ức…, cũng như nhân vật tôi trong Sống để kể lại đều là những gã trai u buồn, cô đơn, si tình, nhưng đầy phóng túng, đam mê trong tình dục. Trong Sống để kể lại, Marquez kể về mình là chàng trai sinh viên học ngành Luật ngang tàng, bỏ học để theo văn, làm báo, hút thuốc và trốn nghĩa vụ. Đặc biệt, ông viết: “Tôi thường hay đến Barranquilla và Cartagena de Indias, hai địa điểm ăn chơi bên bờ biển Caribe, để tiêu khiển và đốt đời mình trong thuốc lá, rượu mạnh cùng những cô gái làng chơi gợi cảm” [6]. Trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Marquez từng viết: “Tôi không bao giờ ngủ với bất cứ người đàn bà nào mà không trả tiền, kể cả với một số ít vốn không phải là gái chuyên nghiệp thì cũng cố thuyết phục họ, bằng vũ lực, là phải nhận tiền dù chỉ để vứt vào sọt rác” [7]. Trong Tình yêu thời thổ tả cũng vậy, để lấp đầy những đêm trống trải cô đơn, F. Ariza đã ngủ với biết bao cô gái, trong đó, các cô gái điếm làng chơi là đối tượng không thể thiếu được. Những cô gái điếm biểu trưng cho năng lực tình dục mạnh mẽ, những kỹ xảo làm hài lòng và thỏa mãn quyền uy của nam giới. Hơn hết, với những cô gái làng chơi không đòi hỏi tình yêu, sự lịch thiệp, sự hồi đáp. Họ cho phép người đàn ông bộc lộ bản thân một cách nguyên thủy nhất và tự do nhất.

Trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, nhân vật nhà báo đã viết: “cho đến năm năm mươi tuổi, tôi đã ăn nằm với năm trăm mười bốn người phụ nữ ít nhất một lần” [8]. Trong Tình yêu thời thổ tả, suốt 51 năm, 9 tháng và 4 ngày chia lìa với Daza, F. Ariza đã trải qua 620 cuộc tình thay thế, cuộc tình nào cũng đậm màu sắc tình dục. Trong Sống để kể lại, Marquez không thống kê cụ thể số lượng cuộc tình của mình, hoặc vì ông đã già, không thể nhớ hết, hoặc ở tự truyện này, Marquez tự trách nhiệm với những gì thuộc về cá nhân mình, nên không thể hé lộ những con số cụ thể. Tự truyện là thể loại khó có thể chơi trò chơi “mặt nạ tác giả” như trong sáng tạo tiểu thuyết. Tuy vậy, không khó để nhận ra, Marquez đã đưa đặc tính “đa bạn tình” và nỗi ám ảnh với các cô gái điếm vào nhân vật tôi trong tự truyện. Tính cách phóng túng trong tình yêu, tình dục này của Marquez đã chịu ảnh hưởng từ cha ông và ông ngoại của ông: họ từng là những người đàn ông hào hoa, phong trần trên tình trường. Như vậy, tình dục trong các tiểu thuyết của Marquez thường gắn với hình ảnh những cô gái điếm.

Mặt khác, sáng tác của Marquez đậm màu sắc tính dục gắn với nhiều dạng thức tình yêu, nhiều đối tượng tính dục khác trên các tiểu thuyết của ông. Có thể đó là tình yêu giữa nam nữ trẻ trung, có thể là tình yêu khi về già, tình yêu với cô gái điếm, với người phụ nữ bỏ chồng, bị chồng chê hoặc bị góa chồng. Những đối tượng tình dục với nhiều chủng người: người phụ nữ da trắng, người phụ nữ da đen hoặc cô gái lai da nâu (loại này xuất hiện nhiều nhất, bởi các cô gái lai thường đầy tính bản năng phồn thực)… Có những tình yêu thuần khiết, cũng có những tình yêu bạo dâm, loạn luân. Có những tình yêu trong hôn nhân, cũng có những cuộc ngoại tình. Có những tình yêu chân thực, và cũng có những bóng dáng na ná của tình yêu…

Xét riêng trong Trăm năm cô đơn, số phận của các nhân vật đều bị chi phối bởi tính dục lệch chuẩn. Sự hình thành và diệt vong của làng Macondo cũng chính vì lý do đó. Khởi đầu là cuộc hôn nhân của José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán đã có tính chất loạn luân, cái vòng luẩn quẩn này tiếp tục lặp lại, và kết thúc làng Macondo khi Aureliano Babilonia lấy nhầm cô của mình là Amaranta Úrsula rồi đẻ ra đứa con có cái đuôi lợn báo hiệu ngày tận thế. Như vậy, nỗi sợ hãi lớn nhất của con người làng Macondo là nỗi sợ loạn luân, nhưng càng sợ thì họ càng không nén được khao khát mãnh liệt, cuối cùng chính họ luôn lặp lại bi kịch này như một định mệnh không trốn thoát. Các nhân vật trong gia đình Buendía đều có sự lệch lạc trong hành vi tính dục.

Loạn luân là hành vi tính dục cơ bản và phổ biến nhất trong Trăm năm cô đơn, nằm ở nhiều mối quan hệ khác nhau: ví dụ, con trai yêu mẹ ruột, cháu tư thông với cô ruột, em tư thông với chị dâu, anh trai tư thông với em dâu, anh em nuôi lấy nhau… Loạn luân là tình trạng kéo dài suốt lịch sử trăm năm ở làng Macondo. Cái đuôi lợn chính là biểu tượng cho dục vọng lầm lạc và tội lỗi không thể chuộc lại của dòng Buendia. Ngôi làng này sinh thành và diệt vong cũng bởi đây. Cho nên, mệnh đề rất cơ bản ở đây: nếu không có loạn luân, tất yếu sẽ không có tiểu thuyết Trăm năm cô đơn. Loạn luân đã là thứ kiến tạo nên cấu trúc tác phẩm (từ chủ đề, motif, nhân vật, chi tiết nghệ thuật đến văn phong…).

Xét riêng ở từng nhân vật, tất cả hành động tính dục đều dẫn đến số mệnh của họ với những nhân quả rõ rệt. Nhân vật sống hay chết đều liên quan đến điều này. Remedios Người đẹp không có ham muốn tính dục, không thuộc về đời sống hôn nhân bình thường nên nàng đã bay về trời, để lại bao nhiêu chàng trai si mê nàng phải chết. Meme Buendía chết già trong tu viện vì bị ngăn trở tình yêu và nỗi đam mê tính dục với Mauricio Babilonia – anh chàng thợ máy. Aureliano Segundo luôn chộn rộn bởi những đam mê làm tình, không phải với vợ anh ta mà là với tình nhân Petra Cotes, và càng làm tình thì gia súc càng sinh sôi, càng phát đạt. Chính anh ta phát biểu câu “danh ngôn” bất hủ của cuốn tiểu thuyết: “Hỡi những con bò cái hẫy dạng háng ra, kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm”. Câu nói này là biểu hiện đầy tính hiện sinh của đời sống phồn thực, nhiều bản năng nguyên thủy trong chuyện ăn, ngủ, phung phí xài tiền của Aureliano Segundo. Sống chính là hưởng những niềm hoan lạc bình thường của cuộc sống.

Sẽ không ngoa khi nói tất cả các nhân vật trong Trăm năm cô đơn, hoặc vì tính dục mà khắc kỷ, hoặc vì tính dục mà phóng túng, vượt ra khỏi những giới hạn thông thường. Rất nhiều nhân vật có biểu hiện “lệch lạc” trong ẩn ức tính dục, ví dụ chứng nghiện ăn đất, mút ngón tay như một kiểu thủ dâm, mặc cảm thiến hoạn, thích tự ngắm thân thể của mình… Tất cả những hành động này gắn chặt với đời sống của nhân vật, tạo nên quy luật nhân – quả, đẩy họ đến số phận bi kịch của nỗi cô đơn truyền kiếp.

Tình dục là một phần quan trọng đối với con người đến nỗi chúng ta không thể né tránh nó. Tiểu thuyết của Llosa tiếp tục phản ánh những “lệch chuẩn” đó trong nỗi đau sâu xa. Dù không xuyên suốt và to lớn ngang bằng với chủ đề chính trị xã hội trong tiểu thuyết của Llosa, nhưng vấn đề tính dục lại thường trực ở từng nhân vật của ông và biểu hiện như một yếu tố mãnh liệt của sự sống. Chủ đề này dĩ nhiên đóng vai chính trong các tiểu thuyết được mệnh danh là “tiểu thuyết ái tình” của Llosa như Dì Julia và nhà văn quèn, Các trò tinh nghịch của cô bé hư hay Lời ca tụng người mẹ kế, nhưng chủ đề này cũng chiếm chỗ không nhỏ trong các tác phẩm vốn thuộc về những đề tài xã hội “nghiêm trang” hơn như Trò chuyện trong quán La Catedral hay Bữa tiệc của loài dê, Đường tới thiên đàng… Sự ám ảnh về tình yêu và tình dục đi liền với ý tưởng cốt lõi của Mario Vargas Llosa: sức sống của bản năng nơi cá nhân bị quay cuồng giữa lịch sử và chống chọi với những hoàn cảnh tối tăm.

Chủ đề này trong sáng tác của Mario Vargas Llosa có nhiều điểm tương đồng với Marquez và các nhà văn Mỹ Latinh thế hệ Bùng nổ: trang viết nồng nàn dục tính, nhiệt thành, hành vi “yêu” ít khi toan tính hay lo ngại dư luận, đạo đức, những cảnh bạo lực, giằng co, mâu thuẫn và cả sự mùi mẫn trong cốt truyện tình yêu. Mỗi câu chuyện mà Mario Vargas Llosa khắc họa thường là những cuộc tình chênh lệch về một phương diện nào đó, hoặc gặp nhiều trắc trở và rào cản xã hội. Trong tiểu thuyết của Llosa, các yếu tố tình dục đậm nét, nhưng không trơ trẽn, không tách khỏi cốt truyện. Ngược lại, chúng luôn được nhìn dưới góc độ của những phản ứng xã hội.

Nhà văn Jorge Mario Pedro Vargas Llosa người Perú, giải Nobel văn học năm 2010

Nhân vật trong tiểu thuyết Mario Vargas Llosa hoặc mượn tình yêu, tình dục để kêu đòi sự tự do, thể hiện sự phản kháng cá nhân, hoặc sử dụng tình dục như một công cụ đại diện cho quyền lực. Trong cuốn tiểu thuyết về chế độ độc tài Bữa tiệc của loài dê, Llosa dựng nên hình ảnh Truijilo là đại diện của chế độ độc tài châu Mỹ Latinh. Trujillo đã sử dụng sex không phải chỉ vì khoái lạc, mà còn như một cách thức thể hiện quyền lực. Trujillo là chân dung được Llosa khắc họa khác với các nhà độc tài khác, bởi quyền lực của ông ta không chỉ trên chiến trường mà là trên giường của tất cả những người phụ nữ dưới tay ông. Trujillo lên giường với vợ của rất nhiều cộng sự và cấp dưới của mình. Đối với ông ta, tình dục là một biểu hiện, một công cụ của quyền lực.

Về phương diện tình dục lệch chuẩn, không chỉ các tiểu thuyết Marquez mới đậm đặc dục tính nguyên thủy cuốn Cuộc trò chuyện trong quán La Catedral của Losa cũng vậy. Nó đầy các cảnh và các môtíp tình dục, kể cả những cảnh có tính bệnh hoạn và có vẻ phản tự nhiên. Cuốn tiểu thuyết này là một câu chuyện lịch sử rộng lớn, chen vào những góc bí ẩn của từng cá nhân. Ông chỉ ra sự vận hành cơ chế của một nền độc tài khủng bố điển hình ở Mỹ Latinh ở bề nỗi lẫn bề sâu. Trong số các nhân vật chính, kẻ đứng đầu cơ quan an ninh Caio Bermudes, mà dân chúng gọi là “Caio Dermo” luôn đam mê tình dục và các cảnh tình dục trong tiểu thuyết đều gắn với ngôi nhà của nhân vật này. Caio Bermudes luôn bày đủ mọi trò bẩn thỉu về tính dục để che giấu chứng liệt dương của mình. Ngược lại Caio Bermudes là Ambrosio, người có số phận nhiều kịch tính nhất của thiên truyện, lại lao vào những cuộc tình với nhiều loại phụ nữ để che giấu đi sự bất lực trong địa vị xã hội của tầng lớp mình. Bất lực trên giường và bất lực trên thang địa vị xã hội là những cực đối lập nhau, che giấu và chống đỡ cho nhau. Chủ đề tình dục giữ một ý nghĩa quan trọng trong tiểu thuyết của Mario Vargas Llosa, hoặc nó là phương diện biểu hiện kiêu hãnh của chế độ độc tài, hoặc là sự kháng cự lại chế độ ấy.

Trong bài luận Về những cảnh tình dục trong tiểu thuyết Mỹ La tinh, Inna Terteryan phân tích, đặc trưng tính dục này đã tạo ra nguyên lý phản đề trên tiểu thuyết của Llosa: “Người đọc được giáo dục theo truyền thống văn học châu Âu tất sẽ có ý muốn đánh giá tất cả những cái đó như là “biểu hiện sự suy đồi của tầng lớp chóp bu” như Caio Bermudes. Nhưng sự thực không hoàn toàn như vậy, bởi vì tác giả có thái độ đồng cảm đối với phần đông những người tham gia vào cuộc truy hoan, thậm chí còn đặt vào giữa họ một nhân vật hấp dẫn nhất của cuốn tiểu thuyết. Trên thực tế, “tất cả những cảnh miêu tả đó có một “tiêu điểm” chung – sự bất lực giới tính của Caio Bermudes, kẻ đã cố bày ra đủ trò bẩn thỉu để khắc phục chứng liệt dương của mình. Dần dần tất cả các đường dây cốt truyện của tác phẩm đều gắn vào đây: bất luận thế nào vai trò của nhân vật trong tấn kịch chung đều bị ràng buộc với thái độ của nhân vật đối với chuẩn mực giới tính tự nhiên. Sự phá vỡ, sự phản bội lại chuẩn mực tự nhiên đều đi kèm với sự sai lệch, méo mó vị trí xã hội-đạo đức của nhân vật [9].

Tất nhiên, trong cấu trúc tự sự nghệ thuật, hình tượng nhân vật không bị phân ra thành các phần đối xứng nhau, mà những cặp tính cách này ẩn vào nhau. Trong sự bất lực của Caio Bermudes ta thấy sự mạnh mẽ đàn ông của Ambrocio và ngược lại. Mỗi hành vi tính dục đều gắn với một nội tâm bí ẩn của nhân vật, gắn theo các cặp nghịch lý khác: thành công và thất bại, khao khát và kiềm nén, sự sống tràn sinh lực – sự bất hạnh của từng cá nhân. Tuân theo định mệnh, buông xả bản thân và để cho “con sóng tình” của số phận đẩy đưa, choàng phủ lên cuộc đời họ. Những chi tiết tính dục gắn chặt với cấu trúc tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.

Đặc biệt Llosa thành công khi tạo nên các mối quan hệ không hề rõ ràng, khó gọi thành tên, ẩn sâu bên trong là những sự thật rất khó tin. Các nhân vật trong Trò chuyện trong quán La Catedral bị vướng mắc trong khuynh hướng tình dục không tự nhiên, sống trong một cuộc đời hai mặt vô cùng khác nhau. Don Fermin với Ambrosio là quan hệ chủ tớ, nhưng thực chất họ là tình nhân, những kẻ quan hệ đồng tính. Queta với Nàng thơ là chị em tốt, là bạn bè thân thiết, nhưng cũng là một cặp đồng tính nữ. Ngoài ra còn có những mối quan hệ lấp lửng rất đáng ngờ khác. Chẳng hạn giữa Cayo và hai người phụ nữ khác trong tác phẩm. Việc nhấn nhá mô tả những mối quan hệ không rõ ràng, không gọi thành tên khiến người đọc cảm thấy Peru không-bình-thường trong các mối quan hệ giữa người với người. Sự nghi ngờ về mối quan hệ thực sự giữa các nhân vật đến cuối tác phẩm vẫn không được giải đáp.

Mario Vargas Llosa cũng viết nhiều về những mỗi quan hệ cùng dòng tộc và lệch pha về tuổi tác. Trong tiểu thuyết Lời ca tụng người dì ghẻ hay Dì Julia và nhà văn quèn (Ở Việt Nam dịch là Dì Hulia và nhà văn quèn) mối quan hệ trung tâm là đứa con và người mẹ kế, đứa cháu và người dì, dù không cùng huyết thống nhưng thuộc diện “đáng can ngăn”. Trong Dì Julia và nhà quèn, cốt truyện được kể song song giữa hai tuyến nhân vật chính. Tuyến thứ nhất là mối quan hệ giữa nhà văn tập sự trẻ tuổi (Marito) với người thợ viết cần cù, khéo tay (Camacho). Tuyến thứ hai là mối tình giữa Mario và người dì Julia của anh. Tuyến thứ hai (mối tình) luôn giàu tính kịch và giàu hành động hơn tuyến thứ nhất, bởi vì bản thân mối quan hệ này có nhiều sự éo le: Julia đã 32 tuổi trong khi Marito mới 18. Julia có họ hàng với Marito và anh phải gọi Julia bằng dì (vốn là vợ người chú của Marito). Hơn nữa, Julia từng có một đời chồng, trong khi Marito còn quá trẻ, chưa từng trải qua một cuộc tình. Định kiến xã hội và những giáo lý đạo đức đã nhiều lần không chấp nhận việc họ đến với nhau, thế nhưng, cả hai vẫn kết hôn và sống với nhau được bảy năm hạnh phúc. Sau khi ly hôn, Marito tiếp tục lấy người bà con của mình: cô em họ xinh đẹp, trẻ trung. Những sự kiện này chính là lấy “nguyên mẫu” chân dung của Mario Vargas Llosa trong đời thực. Llosa cưới vợ là người dì trong họ, lớn hơn ông 15 tuổi. Quan hệ này bị họ hàng và người đời dèm pha. Báo giới từng đánh giá đây là “hành động sốc nổi và vô luân” của Mario Vargas Llosa. Nhưng ông vẫn bất chấp tất cả với sự lựa chọn riêng của mình.

Trong tiểu thuyết này, ngoài mối tình chênh lệch giữa Marito và Julia, còn có những câu chuyện nhỏ thật ám ảnh. Trong đó, một nhánh truyện kể về mối tình giữa hai anh em ruột thịt. Họ yêu nhau bằng tình yêu của nam nữ, bằng tình cảm vợ chồng. Vì sợ bị gia đình và xã hội lên án mà họ đã tìm cách che giấu, cô em gái xinh đẹp, đầy tài năng đã chấp nhận lấy người con trai thô kệch đã theo đuổi cô bao lâu nay, để che mắt cái thai với anh trai đang ngày một lớn lên. Thế nhưng, sự việc bị đổ vỡ ngay trong ngày cưới, chú rể đã vô tình biết được sự việc động trời. Câu chuyện đau khổ và nhục nhã đã bị bỏ lửng lơ ở chỗ chú rể Antunex Tóc Hung với đôi mắt đục ngầu trân trối trong nhà tắm khi phát hiện ra sự thật. Còn Risa, người anh trai và cũng là cha của bào thai thì khóc ròng rã và không thiết sự sống.

Toàn thể tác phẩm này là thiên tiểu thuyết của tình yêu lệch chuẩn. Chủ đề này đã dẫn đến giọng kể trữ tình và cay đắng, kết cấu vừa đóng vừa mở, những tình tiết bỏ ngỏ lửng lơ chờ đợi sự đánh giá của độc giả.

Ngoài tiểu thuyết Dì Julia và nhà văn quèn, Mario Vargas Llosa còn nổi tiếng với những tiểu thuyết “ái tình” Lời ca tụng người mẹ kế. Nhiều nhà nghiên cứu ngờ rằng, motif loạn luân mẹ – con trong tác phẩm này ít nhiều gợi nhắc đến chủ đề quen thuộc của Marquez trong Trăm năm cô đơn. Trong một bài phỏng vấn, Llosa khẳng định rằng, cùng một mối bận tâm về mối quan hệ loạn luân, nhưng tiểu thuyết của ông không phải là kiểu Hiện thực huyền ảo của Marquez. Tiểu thuyết của ông gần với cuộc đời thực hơn là huyền thoại. Phong cách của Llosa trong tác phẩm này rất ít chất thơ và lãng mạn, nó đánh đố người đọc với một lời giải đáp độc đáo nằm ở cuối truyện. Nhân vật trong tiểu thuyết của Llosa cũng không có tính dị thường hoặc không đẩy lên đến mức kỳ quái, gây ấn tượng sâu đậm nơi người đọc như trường hợp của Marquez. Cái đẹp trong tiểu thuyết của Llosa gắn với đời thường, gắn với cái ác, gắn với những lựa chọn, những nổi loạn kháng cự và rồi thất bại, của một con người cá nhân.

Tuy vậy, ta vẫn thấy những điểm giao nhau giữa hai tác giả lớn nhất trong trào lưu này: họ bận tâm đến những cuộc tình đầy bản năng, những nhục dục lưu giữ nhiều màu sắc nguyên thủy. Giống với tiểu thuyết Marquez, nhân vật của Llosa luôn bị nỗi ám ảnh về tội loạn luân đày con người vào cõi hỗn mang. Các tác phẩm của Llosa toát lên không khí bi kịch của những mối quan hệ quẩn quanh đóng kín. Ông đã luôn nhìn thấy kết thúc của những cuộc tình này khi mà nó còn trong trứng nước. Thái độ của Marquez và Mario Vargas Llosa là gì? Qua văn bản, chúng tôi cho rằng đó là một thái độ có tính hai mặt: không cổ vũ, khuyến khích nhưng cũng không lên án một cách khắc nghiệt. Nói cách khác, đó là cảm giác chấp nhận vừa thích vừa sợ. Cả hai nhà văn đều hiểu rõ những ẩn ức sâu kín mà thiêng liêng của những tình yêu, tính dục bị ngăn cấm. Trang viết của họ mong đợi một sự tái sinh mới cho những con người đã mang lời nguyền của tình yêu và số phận.

Cần nói thêm, nhân vật trong sáng tác của Marquez và Llosa thường bị ám ảnh bởi mặc cảm Oedipe với hình ảnh người mẹ – người phụ nữ đầu tiên của đứa con trai. Người mẹ khơi gợi tình mẫu tử chở che và cả những ham muốn, tò mò về tình dục của đứa con suốt những năm tháng trẻ thơ cho đến khi trưởng thành. Trong tác phẩm Trăm năm cô đơnThành phố và lũ chó, Dì Julia và nhà văn quèn đều có những nhân vật nữ – người mẹ, lọt vào tiềm thức tình yêu và tình dục của đứa con trai. Tuy nhiên, khác với nền văn chương nơi mà mặc cảm Oedipe xuất phát (gắn với phương diện đạo đức và nỗi băn khoăn “tồn tại hay không tồn tại”), nhân vật của Marquez và Llosa đã vượt qua lằn ranh của những biên giới đó, họ đã không còn bận tâm với những tín điều đạo đức và tôn giáo. Họ sống với tinh thần đánh cược và chấp nhận: “Nếu mình đẻ ra kì đà thì chúng mình sẽ nuôi kì đà” [10]. Sa lầy vào những khát vọng nguyên thủy, họ đã thực hiện và trả giá cho hành động của mình.

Trong trường hợp của Llosa, điều này xuất phát từ dấu ấn của tuổi thơ: đối lập với cảm giác khao khát tình thương và dục vọng ở mẹ là nỗi sợ hãi và chán ghét đến cực độ của đứa con đối với bố và cả những người đàn ông đến gần mẹ. Hình ảnh người bố và người tình của mẹ trong tác phẩm của Mario Vargas Llosa luôn cay độc, khô khan và khắc nghiệt. Đứa con lớn lên trong sự chống đối ngầm với người bố – thực chất là chống đối với thế giới nam quyền đầy bạo lực. Đó đều là biến thể của những cá nhân giãy giụa trước tình thế ngột ngạt của chính gia đình mình. Chủ đề này ở Llosa đi từ “cấu trúc tâm trí” của tuổi thơ cá nhân và cả một nền văn chương gắn với “mặc cảm khải huyền” về sự diệt vong.

Vì sao tiểu thuyết Mỹ Latinh giai đoạn Bùng nổ đậm đặc dục tính? Nhiều người đã giải thích dựa trên nền văn hóa đậm tính Carnaval của vùng biển Caribbe và Nam Mỹ. Khu vực này mang khí hậu nhiệt đới xích đạo, kết hợp gió mùa từ biển; cơ địa sinh học và tư duy thẩm mỹ cư dân sớm hình thành một nét đẹp mạnh mẽ hoang dã bản địa kết hợp từ tính chất kiêu sa, cao nhã của châu Âu và nồng nàn bản năng của châu Phi. Họ sống một cuộc đời đầy tính hiện sinh bởi lẽ “cuộc đời quá ư ngắn ngủi”.

Không giống với tính chất thanh nhã của Âu châu văn minh, cũng khác với tính dục phóng khoáng của châu Phi hoang dã thần bí, tính dục Nam Mỹ có những hiện tượng lệch chuẩn: ngoại tình, loạn luân, tình yêu cùng giới… thấm đẫm đời sống Kyto giáo, mang đầy đủ dấu ấn nguyên thủy, lẫn dấu ấn của một xã hội hiện đại. Với một châu Mỹ Latinh đang hiện đại hóa nhanh chóng dưới lực đẩy lịch sử – văn hóa lưỡng nguyên thì vấn đề tính dục cũng trở nên phức hợp vô cùng, đứng giữa lý trí và bản năng, giữa tôn giáo và thế tục. Nói cách khác, những cảnh tính dục trong tiểu thuyết Mỹ Latinh là cuộc xung đột giữa phức cảm khắc kỷ và phóng túng, giữa đặc trưng Tây Ban Nha và bản địa, giữa sự tuân phục và chống đối với cái hiện đại. Từ đó, nó tạo nên tính phản đề thường thấy trong tiểu thuyết Mỹ Latinh.

Hơn nữa, khao khát tình dục ở đây thường gắn với cảm thức cô đơn. Cô đơn đẩy các nhân vật đến cánh cửa tính dục, ham muốn làm tình với bất cứ đối tượng nào, kể cả là gái điếm hay người bà con ruột thịt của mình. Họ vừa muốn được chạy trốn vừa muốn được ở lại mãi mãi trong cái im lặng đầy thất vọng của nỗi cô đơn đáng sợ, kết quả là tính dục đẩy nhân vật vào cô đơn thẳm sâu hơn, cùng cực hơn. Tiêu biểu nhất là hành trình chạy vào tính dục trốn nỗi cô đơn của dòng họ Buendia từ quan hệ trong hôn nhân đến ngoài giá thú xoay quanh các mối tình của Jose Arcadio (với người giúp việc, Pila Ternera, cô gái Digan), của đại tá Aureliano Buendya với 17 cô gái, Arcadio và Aureliano với Pilar Ternera; của Arcadio Segundo và Aureliano Segundo với Petras Cotes; cùng một loạt các mối quan hệ loạn luân khác…

Nhân vật trong tác phẩm Marquez một mặt luôn có khát vọng tình dục, mặt khác luôn luôn cảm thấy cô đơn. Tâm thức này chi phối toàn bộ tác phẩm của ông khiến nhân vật ở mọi tác phẩm sẽ gặp nhau ở điểm chung: cô đơn lặp đi lặp lại như một vòng tròn định mệnh vĩnh viễn bất chấp sự cố gắng vượt thoát của họ. Thành công lớn của Marquez, như Lê Huy Bắc từng nhận xét, là tạo nên một “thế giới nhân vật đều phải luôn đối đầu với cái cô đơn. Chưa bao giờ trong lịch sử văn học thế giới, chúng ta lại gặp nhiều con người, nhiều kiểu dạng cô đơn như ở đây […]. G. Marquez đặt nhân vật của mình đối diện với cái cô đơn và kiểm tra thái độ của nhân vật mình với cái cô đơn đó” [11].

Như vậy, chủ đề về tính dục gắn chặt với tư tưởng và cấu trúc của tiểu thuyết. Các yếu tố từ cốt truyện, tình tiết, biểu tượng đến ngôn ngữ, văn phong đều bị chi phối từ chủ đề này. Lấy một ví dụ trong Thành phố và lũ chó, Mario Vargas Llosa đã viết về đời sống tinh thần và tính dục ở tuổi mới lớn trong ngôi trường quân sự với một loạt các biểu hiện nổi loạn: họ thử qua tình dục đồng giới, tình dục với những con thú vật như gà mái, chó cái, đồng thời không thiếu những cuộc bạo dâm, hiếp dâm và gây nên tội ác. Các nhân vật của Mario Vargas Llosa dùng đời sống tình dục như một cách cựa quậy đòi quyền dân chủ và phản ứng lại xã hội. Tác phẩm gắn với những hình ảnh “tục tĩu” và nhiều từ lóng thông dụng, chẳng hạn: “chúng đang mơ tưởng đến bộ phim nọ, chúng vẫn còn nhìn thấy bao nhiêu là đàn bà chỉ mặc quần trong, bao nhiêu là đùi vế, bao nhiêu là bụng…” [12], “Vì chuyện cứt đái gì mà mày khóc thế hả?” [13], “mày mà rót ít sữa là chúng tao thiến dái mày đó” [14], “hơi nhiều đấy, mẹ kiếp”… “Thằng Trăn chỉ đéo được con chó cái thôi… Cái thằng vừa đi vừa đéo ấy. Chỉ là chuyện mà thôi, chúng mày ạ, tao nghĩ tới không thôi cũng đã cửng lên rồi…” Ngôn từ đời thường và đậm đặc từ ngữ dục tính tô đậm “một thế giới đực”, “một cuốn sách đậm mùi đực tính”. Đây là một ví dụ cho thấy khám phá của Llosa về chính trị kết hợp trong bản năng tính dục của con người, viết với cấu trúc chặt chẽ về nhân vật, giọng điệu, văn phong tương ứng.

Trong khi kể, tả, các nhà văn Mỹ Latinh tỉnh táo và dửng dưng, chống lại sự dịch chuyển cảm xúc. Họ không bàn luận và đánh giá bằng thang đo đạo đức hay thẩm mỹ. Họ chấp nhận như điều đó như chấp nhận “thực tại thứ ba” của châu lục mình. Họ có thể có niềm tin về tính dục, nhưng đó là niềm tin: “Không một việc làm nào với nhau ở trên giường là vô đạo đức nếu nó góp phần gợi nhớ đến tình yêu” (Marquez). Bắt nguồn từ những “nghiệp chướng” mang tính cách văn hóa của Mỹ Latinh, tiểu thuyết trào lưu Boom đã đẩy lên thành cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh và gắn bó nhau sâu sắc.

Về thành quả của tiểu thuyết mới Mỹ Latinh, nói như nhà phê bình văn chương Chile J. Loveluck trong tham luận Sự khủng hoảng và đổi mới của tiểu thuyết Mỹ Latinh: sự đổi mới của văn xuôi vùng đất này biểu hiện trên hai lĩnh vực: những chủ đề chưa từng được đề cập đến và theo đó là kỹ thuật và cơ cấu tự sự mới lạ [15]. Người ta nhìn thấy trong tiểu thuyết giai đoạn những “hiện thực ngoại cỡ”, những vấn đề thiết yếu liên quan đến vận mệnh dân tộc và số phận con người. Những chủ đề lớn lao, phức tạp luôn đan lồng vào trong tính cách, số phận từng cá nhân nhỏ lẻ, đi sâu vào đời sống nội tâm, lặn xuống những tầng vỉa nhân sinh lẫn vô thức của con người.

Mỹ Latinh là vùng đất chứa đựng hầu hết những hệ ý thức tư tưởng của nhân loại, nền văn hóa lai đậm nét đã hình thành ở người dân mỗi khu vực những đặc tính khác nhau. Nhìn chung ở họ là sự ít bảo thủ, nhạy bén, khí chất nồng nàn mãnh liệt đến độ bạo liệt. Đôi khi trong họ là sự kết hợp của những đối cực: chẳng hạn vừa “hiện sinh” vừa lưu luyến quá khứ, vừa nhiệt thành lại vừa “cô đơn”, vừa hâm mộ khoa học lại vừa sùng tín đạo Thiên chúa. Ở những nhà văn như Marquez và Llosa, con người họ là một khối đầy nghịch lý. Họ luôn hướng đến cái đẹp và sự hoàn mỹ, nhưng cả hai đều không ít lần bị hấp dẫn bởi sự bất toàn, sự khiếm khuyết như là một gương mặt khác của cái đẹp, cái ác, tội lỗi như một “siêu đạo đức”. Tính cách phức hợp, nhiều đối cực của khu vực này cộng hưởng với tâm lý sáng tạo đặc biệt của nhà văn đã đẩy họ lựa chọn một con đường nghệ thuật tương ứng: trần thuật trong tính phản đề tương ứng, khám phá những chủ đề độc đáo bằng những thủ pháp trần thuật mới mẻ. Tính dục và nỗi cô đơn huyền thoại trở thành một trong những đặc trưng của tiểu thuyết Marquez và Llosa, rộng hơn là tiểu thuyết Mỹ Latinh thời thịnh vượng.

LÊ NGỌC PHƯƠNG / Nguồn: Bình luận văn học / Văn VN

—————

Đào Hồng Lan và chuyện nhân sự “thâm cung” của đảng CSVN

Phạm Vũ Hiệp

Việc đảng CSVN bổ nhiệm bà Đào Hồng Lan ngồi vào ghế quyền bộ trưởng Bộ Y tế vừa qua, cho thấy vấn đề nhân sự của đảng đang bị rối và bế tắc.

Đảng lúng túng, chọn bừa người kế nhiệm, không cần biết đến hệ luỵ quốc gia và phản ứng của dân chúng ra sao. Lâu nay nhiều cán bộ, đảng viên có chuyên môn, được tô trát học hàm, học vị cao ngất, được đảng “quy hoạch” thì lại là những kẻ “nhúng chàm”, tham nhũng “ăn không chừa thứ gì”. Số còn lại, học hành chắp vá, năng lực không có, nhưng theo “phe nhóm chính trị” vẫn leo lên đỉnh cao quyền lực.

***

Nói thêm về công tác nhân sự ở các thành phố lớn…

Tháng 5-2016, khi nhậm chức bí thư thành Hồ, để làm vừa lòng Lê Thanh Hải (tức Hai Nhựt), giữ lại cho con trai ông ta chiếc ghế Phó bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận 12, ông Đinh La Thăng đã đề nghị Ban Bí thư chỉ định Lê Trương Hải Hiếu, con trai Lê Thanh Hải, tham gia Ban chấp hành Đảng bộ TP nhiệm kỳ 2015 – 2020, mặc dù trước đó Hiếu bị đại hội đảng bộ gạch bỏ tên.

Trước đó khá lâu, ngày 18-5-2001, Lê Thanh Hải được bầu làm tân chủ tịch thành Hồ và phải làm việc với 5 Phó chủ tịch (PCT) của ông Võ Viết Thanh để lại gồm: Nguyễn Thiện Nhân, Vũ Hùng Việt (Bảy Việt), Mai Quốc Bình, Huỳnh Thị Nhân, Nguyễn Thành Tài (Tư Huy).

Tư Huy là đàn em Hai Nhựt, được ở lại, còn các ông bà kia phải… hô biến! Hai Nhựt buộc Phó Chủ tịch Bảy Việt viết đơn xin thôi giữ chức, để đưa đàn em Nguyễn Văn Đua vào trám chỗ.

Ông Đua bỏ học sớm, vô rừng, thoát ly làm giao liên, sau năm 1975 tham gia công tác Đoàn. Một kẻ chẳng có chuyên môn, đùng một phát leo lên ghế Phó Chủ tịch thành Hồ, phụ trách xây dựng, đô thị và quản lý đất đai, chẳng trách gì Thủ Thiêm cũng “đẫm máu” từ đó mà ra.

Phó Chủ tịch Võ Văn Tuấn bị Hai Nhựt trù úm, cách chức, hoạn lộ sớm đứt, đành quay về dạy học tại Đại học Kiến trúc Thành phố.

Hai Nhựt đưa một người bạn là Nguyễn Minh Dũng, vốn là du kích quân trước năm 1975, lúc đó đang làm Chủ tịch quận Củ Chi, bay về ngồi ghế Giám đốc Sở Xây dựng, phụ trách luôn quản lý đất đai.

Hai vị Phó Chủ tịch khác cũng cùng chung số phận. Phó Chủ tịch Huỳnh Thị Nhân lo sợ bị tiêu diệt, đã xin thôi giữ chức Phó Chủ tịch để chuyển ra Bộ Tài chính. Sau bà Nhân vào được Uỷ viên Trung ương khóa 10, bà được điều về thành Hồ để nắm ghế Phó Bí thư thường trực. Tuy nhiên Hai Nhựt đã nhanh hơn, bố trí Nguyễn Văn Đua ngồi vào đó. Huỳnh Thị Nhân đành “ngồi chơi xơi nước” hết nhiệm kỳ.

Nguyễn Thiện Nhân cũng bị o ép đành bỏ ghế Phó Chủ tịch thành Hồ, nhờ ông Trương Tấn Sang kéo ra Hà Nội tìm công việc ở Bộ Giáo dục. Ông Tư Sang đã dìu đàn em Nguyễn Thiện Nhân lên đến Uỷ viên Bộ Chính trị.

Thành phố Hà Nội, được xem là nơi tranh giành quyền lực khốc liệt nhất. Năm 2015, nhân vật gây nhiều tranh cãi, tướng Nguyễn Đức Chung, tức Chung “con”, chỉ sau một đêm đã xoay ngược tình thế, trở thành “quan phụ mẫu” thành Đại La.  Được sự giúp sức của hai Uỷ viên Bộ Chính trị là Lê Hồng Anh và Phạm Quang Nghị, từ giám đốc Sở Công an, Chung con đã loại bỏ tất cả các ứng viên là đối thủ nặng ký, để nhảy tốt lên ngồi ghế Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND TP Hà Nội.

Chung “con” bản chất tham lam, hung tàn, sắp xếp nhân sự các sở, ngành là người của ông ta để dễ bề cướp của dân và của công. Cái kết đến với Nguyễn Đức Chung là tất yếu.

Miền Trung, vùng đất nắng và gió, cũng là nơi ban phát bổng lộc của những kẻ “ma đầu”. Gần hai chục năm nắm quyền cai trị Đà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh xây dựng đế chế của riêng ông ta. Sau cuộc “quyết đấu” với tướng Trần Văn Thanh hồi năm 2000, toàn bộ nhân sự Thành uỷ viên, đại biểu HĐND, đại biểu quốc hội, các phó, trưởng phòng trở lên trong hệ thống Sở Công an… đều phải qua Nguyễn Bá Thanh tuyển chọn và duyệt. Thanh đưa bạn bè, quan hệ đồng hương, bà con với ông ta về nắm giữ lãnh đạo cấp uỷ trong hệ thống chính trị quận, huyện, các sở ban ngành, các Ban quản lý đầu tư quan trọng của thành phố.

Phạm Văn Lý là anh con dì của lãnh chúa Nguyễn Bá Thanh (mẹ ông Lý là chị ruột mẹ ông Thanh). Vốn chẳng học hành gì, Phạm Văn Lý làm nông dân chăn vịt ở quê. Thời đến, Lý được em họ Nguyễn Bá Thanh gọi về thành phố, đặt vào ngồi ghế Phó Giám đốc công ty Công viên – Cây xanh Đà Nẵng, công ty công ích trực thuộc Sở Xây dựng. Từ anh chăn vịt, quê mùa, nghèo “rớt mồng tơi”, Phạm Lý trở thành tỷ phú máu mặt Đà Nẵng. Có nguồn tin cho hay, ông Lý đã bỏ ra 1 triệu Mỹ kim, để đưa vợ bé và con gái ngoài giá thú sang Mỹ định cư.

Nguyễn Bá Thanh cũng lập “kỷ lục” khi đưa Nguyễn Xuân Anh thăng tiến thần tốc. Chỉ hơn bốn năm (từ tháng 8-2006 đến tháng 1-2011) từ một phóng viên báo Thanh Niên, Xuân Anh nhảy vào Uỷ viên dự khuyết Trung ương khoá 11, ngồi lên ghế Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng.

Trần Thọ, xuất thân là giáo viên cấp hai. Để làm sạch lý lịch, dễ bề lăn vào chính trường, ông Thọ đã bỏ người vợ tào khang nơi quê nghèo chỉ vì bà này có người chú ruột từng là lính VNCH. Tức giận người cha mình bội tình, con trai ông Thọ đã chặt một ngón tay và bỏ nhà đi bụi một thời gian. Sau này, Nguyễn Bá Thanh đưa Trần Thọ lên thay mình, ngồi ghế Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng.

Quan chức ở thành phố trực thuộc trung ương khác là Cần Thơ, cũng không kém gì các nơi khác. Trần Việt Trường vốn là công nhân sửa ống nước tại Xí nghiệp Da giày Meko, được anh trai Trần Quốc Trung, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XII, Bí thư thành uỷ Cần Thơ, cho làm cán bộ Đoàn, quy hoạch vào Uỷ viên Ban thường vụ thành uỷ khoá 13.

Trước khi ông Trung rời chức bí thư thành uỷ, ông ta kịp cơ cấu Việt Trường tái cử Uỷ viên BTV Thành uỷ khoá 14, làm Phó bí thư thành uỷ nhiệm kỳ 2020-2025, kiêm Chủ tịch UBND TP Cần Thơ.

Bí thư Trần Quốc Trung đã biến Tây Đô thành nơi cai trị của gia tộc ông ta, khi ông ta sắp xếp anh chị em, con cháu nắm hầu hết các vị trí chủ chốt.

Tại Hải Phòng, trước khi về Hà Nội nắm giữ Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, ông Lê Văn Thành đã kịp đưa quý tử của ông ta là Lê Toàn Khánh, từ vị trí Trưởng phòng Quản lý Ngân sách – Tin học Thống kê, Sở Tài chính TP Hải Phòng, lên giữ chức Phó Bí thư Quận ủy Kiến An, nhiệm kỳ 2020-2025.

***

Quay lại câu chuyện Đào Hồng Lan. Bà Lan từng là trợ lý của bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân khi bà Ngân làm Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH những năm 2007- 2011 và là con dâu của cựu Cục trưởng Cục Dự trữ Quốc gia.

Đích thân bà Ngân đỡ đầu và giới thiệu Đào Hồng Lan vào Uỷ viên dự khuyết Trung ương khoá 11 và Uỷ viên Trung ương khoá 12. Bà Lan sẽ đi đúng “lộ trình” mà bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã đi. Khoá sau, Lan sẽ tranh vé vào Bộ Chính trị, ngồi ghế Phó Thủ tướng hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội.

Đảng CSVN vốn nổi tiếng kiêu ngạo, vậy cơ cấu quyền lực quốc gia như mô hình một… hợp tác xã. Đảng viên, cho dù chưa từng là bác sĩ, thậm chí chưa từng là y tá, vẫn có thể cầm dao mổ. Cán bộ không là kĩ sư xây dựng vẫn có thể lập qui hoạch thành phố. “Hạt giống đỏ” học hành không ra chữ nào vẫn có thể đứng trên bục rao giảng và chỉ đạo… thần dân và các nhà chuyên môn ngoài đảng. Những người dưới quyền đành chấp nhận và lãnh đủ. Đảng “ăn trên ngồi trốc”, nhưng phủi trách nhiệm. Nếu vì dốt chuyên môn mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại hàng ngàn tỷ, thì lãnh đạo nhận “khiển trách, cảnh cáo, cách tất cả các chức vụ hoặc khai trừ” là xong!

Còn nhớ, ngày 23-11-2018, phiên tòa xét xử vụ án bảo kê đánh bạc, tướng Nguyễn Thanh Hoá, cựu cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) thừa nhận: “Tôi không am hiểu gì về công nghệ nhưng cũng cố gắng hết mình. Tôi mong muốn xây dựng lực lượng hùng mạnh có thể đương đầu với bất cứ loại tội phạm nào“. Ông Hoá cũng cho biết, Tạo Hoá cho ông bộ não quá bé nhưng lại cho ước mơ quá lớn trên nền nhận thức bé nhỏ để rồi vi phạm pháp luật.

Những câu trả lời ngô nghê của Nguyễn Thanh Hoá thực sự lột tả hết công tác nhân sự khôi hài đến lố bịch của đảng. Cái gọi là “giới thiệu qui trình”, “quy hoạch cán bộ”, “bầu chọn cán bộ”… chỉ là trò lừa đảo, mị dân, trò bịp trong thể chế chính trị cộng sản mà thôi

Theo Tiếng Dân

Điểm mặt một số ứng viên Bộ Chính trị khóa tới của Trung Quốc

Các quan chức đã tham gia cùng nhà lãnh đạo hàng đầu trong các chuyến công du gần đây nhiều khả năng sẽ được thăng chức.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gần đây đã có hai chuyến công du nội địa đường dài, đến Hong Kong và Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương; cả hai lần đều phải trải qua những chuyến bay kéo dài 4 giờ.
Các chuyến công du diễn ra vào một thời điểm nhạy cảm về mặt chính trị, nhưng cả hai đều có lý do chính đáng.

Chúng nhằm mục đích thể hiện khả năng của Tập trong việc duy trì sự ổn định của chính phủ ở các khu vực nhiều rắc rối này. Hong Kong đã rung chuyển trong làn sóng biểu tình ủng hộ dân chủ vào năm 2019 và 2020, với đỉnh điểm là sự ra đời của luật an ninh quốc gia gây tranh cãi.

Tại Tân Cương, cuộc đàn áp của chính quyền Trung Quốc đối với người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc thiểu số chủ yếu theo Hồi giáo khác đã bị quốc tế lên án.

Diễn biến ở Hong Kong và Tân Cương là khó có thể chấp nhận theo các tiêu chuẩn toàn cầu, nhưng đó không phải là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc phải cân nhắc. Mục tiêu mà ông hướng tới là những người tham dự mật nghị Bắc Đới Hà, sẽ diễn ra trong những ngày tới.

Trong bức ảnh do Tân Hoa Xã của Trung Quốc công bố, Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm cộng đồng Guyuanxiang, thuộc Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, vào ngày 13/07. © Tân Hoa Xã / AP

Mật nghị được tổ chức hàng năm tại khu nghỉ mát bên bờ biển cùng tên ở tỉnh Hà Bắc. Đây là nơi các nhà lãnh đạo đương nhiệm của Trung Quốc và những cán bộ lão thành đã nghỉ hưu thảo luận một cách không chính thức về các vấn đề quan trọng –chẳng hạn như thành phần của đội ngũ lãnh đạo tiếp theo.

Bắc Đới Hà năm nay đặc biệt nhạy cảm, bởi vì nó diễn ra ngay trước đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc mùa thu này – thời điểm Tập sẽ tìm kiếm một nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có tiền lệ với tư cách là nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc.

Việc Tập chỉ có thể dùng Hong Kong và Tân Cương như những ví dụ về “thành tích” của mình là điều đáng lưu tâm.

Kế hoạch ban đầu là tự hào nêu bật việc Trung Quốc ngăn chặn thành công Covid-19. Coronavirus bắt nguồn từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, nhưng Trung Quốc đã có thể kiểm soát các đợt bùng phát dịch sớm hơn so với các quốc gia khác. Đó là nhờ vào chính sách zero-Covid khắc nghiệt của Tập, yêu cầu xét nghiệm trên diện rộng và phong tỏa nghiêm ngặt.

Tuy nhiên, kế hoạch đó đã bị lung lay sau khi siêu đô thị Thượng Hải bị buộc phải đóng cửa suốt một thời gian dài, bất chấp sự tức giận của người dân địa phương và các doanh nghiệp. Cuộc chiến chống lại virus đã không còn là điều mà ai nấy đều cho là một thành tựu.

Tập cũng chẳng có gì nhiều điều để khoe khoang về các chính sách kinh tế của mình.

Nền kinh tế Trung Quốc đang trải qua một đợt suy thoái mạnh do chính sách zero-Covid. Nhưng ngay cả trước khi Thượng Hải bị đóng cửa, nền kinh tế đã dần suy yếu sau khi chính quyền Tập Cận Bình đàn áp các ngành công nghệ, giáo dục, và bất động sản.

Ngay cả các trợ lý thân cận của Tập cũng không còn có thể thốt ra khẩu hiệu “thịnh vượng chung” của ông.

Đây là lý do tại sao ông phải nhấn mạnh vào “sự ổn định” của Hong Kong và Tân Cương.

Cùng lúc đó, đội hình các phụ tá thân cận tháp tùng Tập trong hai chuyến công du cũng thu hút sự chú ý của các nhà quan sát Trung Quốc.

Nói ngắn gọn thì, những người được chọn vào đoàn tùy tùng cùng chủ tịch nước đến Hong Kong và Tân Cương có khả năng nằm trong đội ngũ lãnh đạo mới của ông.

Một nhân vật đã xuất hiện cùng Tập trong chuyến công du Hong Kong là Ngoại trưởng Vương Nghị.

Ngoại trưởng Vương Nghị tham dự một buổi lễ ở Hong Kong. Ông năm nay đã 68 tuổi, và theo thông lệ trong quá khứ, độ tuổi đó không còn có thể được thăng tiến thêm nữa. (Ảnh chụp màn hình từ CCTV)

Năm năm trước, khi nhà lãnh đạo đến thăm Hong Kong lần gần nhất, tháp tùng ông là nhà ngoại giao hàng đầu Dương Khiết Trì, người vài tháng sau đó được thăng chức vào Bộ Chính trị gồm 25 thành viên của đảng.

Một số nghĩ rằng Vương sẽ đi theo con đường giống như Dương. Nhưng điểm yếu lớn nhất của ông là tuổi tác. Ở tuổi 68, Vương sinh cùng năm với Tập. Nếu chủ tịch nước tuân thủ chặt chẽ độ tuổi nghỉ hưu không chính thức của đảng là 68, thì không chắc Vương sẽ được thăng chức.

Những người tháp tùng Tập trong chuyến thăm Hong Kong năm 2017 cũng đã giành được lợi thế về mặt chính trị. Lật Chiến Thư (Li Zhanshu), khi đó là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng, và Vương Hỗ Ninh (Wang Huning), Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương, đã được thăng cấp vào nhóm bảy nhân vật cấp cao nhất của Trung Quốc, trở thành Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

Từ quan điểm này, Đinh Tiết Tường (Ding Xuexiang), 59 tuổi, hiện là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng, người tháp tùng Tập đến Hong Kong và Tân Cương trong chuyến đi lần này, có thể sẽ được đề bạt vào Ủy ban Thường vụ.

Một nhân vật khác cũng rất đáng chú ý trong hai chuyến đi là Vương Tiểu Hồng (Wang Xiaohong), 65 tuổi, người vừa được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Công an, điều hành các lực lượng cảnh sát, vào ngày 24/06. Là người đã quen biết Tập hơn 30 năm, tính từ thời gian họ làm việc cùng nhau ở tỉnh Phúc Kiến, Vương Tiểu Hồng là một trong những phụ tá thân cận nhất của Tập.

Phan Nhạc (Pan Yue), 62 tuổi, cũng đã tháp tùng Tập trong chuyến đi gần đây tới Tân Cương. Phan được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Quốc gia, một chức vụ cấp bộ chuyên trách các chính sách đối với người dân tộc thiểu số. Trong nhiều năm, người đứng đầu ủy ban này là người dân tộc thiểu số, nhưng truyền thống đó đã bị thay đổi bởi người tiền nhiệm của Phan (Trần Tiểu Giang) vào năm 2020. Đến lượt mình, Phan Nhạc cũng là người Hán, giống như 92% dân số Trung Quốc.

Ở đất nước Trung Quốc của Tập, trọng tâm nằm ở sự thống nhất của “dân tộc Trung Hoa” – chứ không phải là đa dạng văn hóa dân tộc – và việc bổ nhiệm Phan đã phản ánh điều này.

Hà Lập Phong (He Lifeng), 67 tuổi, cũng là một cộng sự từ những ngày Tập còn làm việc ở Phúc Kiến. Ông hiện là Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia và được coi là ứng viên cho một ghế ở Bộ Chính trị.

Dù không tháp tùng Tập trong cả hai chuyến đi, Hà đã có bài phát biểu tại Bắc Kinh trước khi diễn ra chuyến thăm Tân Cương. Trong đó, ông ca ngợi nhà lãnh đạo, mô tả ông là một chính khách, nhà tư tưởng, và chiến lược gia theo chủ nghĩa Mác-xít với hiểu biết sâu rộng và khả năng phán đoán sắc sảo.

Tập Cận Bình lo ngại bị nhiễm COVID ở Hong Kong, hay ông chỉ không tin tưởng rằng cư dân thành phố sẽ không làm ông khó xử? © AP

Chuyến thăm của Tập tới Hong Kong được sắp xếp đúng vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày lãnh thổ này trở lại quyền cai trị của Trung Quốc.

Dù ngoài miệng, ông bày tỏ niềm tin vào sự ổn định của Hong Kong sau khi luật an ninh quốc gia chính thức có hiệu lực, cách hành xử Tập lại phản ánh sự ngờ vực dai dẳng đối với người dân Hong Kong.

Tập đến Hong Kong vào ngày 30/6 nhưng không ở lại qua đêm. Thay vào đó, ông nhanh chóng trở về Thâm Quyến, thành phố liền kề gần đó, rồi tiếp tục quay trở lại Hong Kong vào sáng hôm sau để tham dự lễ kỷ niệm.

Một lời giải thích là Tập sợ bị nhiễm coronavirus ở Hong Kong. Tuy nhiên, điều mà các phụ tá lo sợ nhất là khả năng một biểu ngữ mang khẩu hiệu ủng hộ dân chủ được trưng bày gần khách sạn của ông.

Nếu Tập ở lại Hong Kong và nỗi sợ hãi này trở thành hiện thực, đó sẽ là điều khiến lãnh tụ phải mất mặt. Còn ở Thâm Quyến, không có rủi ro nào như vậy.

Mã Hưng Thụy (Ma Xingrui), 62 tuổi, một trong những phụ tá thân tín của Tập, đã trở thành Bí thư Tân Cương vào cuối năm ngoái, sau khi giữ chức Bí thư Thành ủy Thâm Quyến và Tỉnh trưởng Quảng Đông, nơi Thâm Quyến là thành phố trực thuộc.

Mã đã ở bên cạnh Tập trong suốt chuyến công du khu tự trị của nhà lãnh đạo này.

Tập Cận Bình và Mã Hưng Thụy ở khu tự trị Tân Cương. Việc bổ nhiệm Mã làm Bí thư Tân Cương có lẽ là dựa trên hy vọng rằng ông có thể phục hồi nền kinh tế của khu vực. (Ảnh chụp màn hình từ CCTV)

Khác với vị tiền nhiệm Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo), người đã cai trị Tân Cương bằng nắm đấm sắt và bị các chính phủ phương Tây trừng phạt, Mã Hưng Thụy đang mang lại một luồng gió mới.

Nhờ kinh nghiệm làm việc tại Thâm Quyến, Mã rất thông thạo các chính sách liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin. Việc bổ nhiệm ông vào vị trí lãnh đạo Tân Cương có lẽ là dựa trên hy vọng rằng ông có thể phục hồi nền kinh tế của khu vực. Và nhiều khả năng ông sẽ trở thành Ủy viên Bộ Chính trị.

Đã hai năm trôi qua kể từ khi luật an ninh quốc gia Hong Kong có hiệu lực.

“Thế giới tự do đã bị thu hẹp, lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc,” Lin Quanzhong, một học giả về chính trị quốc tế và từng là nhà nghiên cứu tại Academia Sinica, viện nghiên cứu hàng đầu Đài Loan, nhận định.

Một cảnh trong Phong trào Ô dù ở Hong Kong diễn ra vào mùa thu năm 2014, khi sinh viên và dân chúng chiếm đóng các con đường và nhiều khu vực công cộng để phản đối đề xuất thay đổi cách Hong Kong bầu chọn các nhà lãnh đạo của mình. (Ảnh của Katsuji Nakazawa)

Lin cho biết quyền tự do ở Hong Kong đã giảm xuống còn 30% so với năm 1997, thời điểm chuyển giao thành phố.

Nhưng Tập coi “sự thu hẹp của thế giới tự do” này là sự mở rộng các giá trị của đảng và đang phô trương nó như một thành tựu.

Việc Tập ngày càng tập trung vào đối nội đã được phản ánh trong số báo ngày 16/07 của Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng. Trang đầu và trang thứ hai của tờ báo phủ kín những câu chuyện về chuyến thăm Tân Cương của chủ tịch nước, bao gồm cả cuộc gặp của ông với binh sĩ Trung Quốc đóng ở đó.

Trong khi đó, tin tức về tốc độ tăng trưởng nhẹ 0,4% trong quý 2 (tháng 4 đến tháng 6) của nền kinh tế Trung Quốc chỉ được đăng trên trang 4, bất chấp việc nó đang là tin tức hàng đầu trên thế giới.

Trong lúc tin tốt được khuếch đại còn tin xấu bị ngó lơ, người ta sẽ ít cân nhắc đến yếu tố bên ngoài khi đưa ra quyết định. Những xích mích với thế giới tự do là điều không thể tránh khỏi, như thể hiện qua việc Trung Quốc không muốn chỉ trích Nga về vấn đề Ukraine.

Katsuji Nakazawa là nhà báo và biên tập viên cao cấp của Nikkei, hiện sinh sống tại Tokyo. Ông đã dành bảy năm làm phóng viên thường trú ở Trung Quốc và sau đó trở thành trưởng văn phòng Trung Quốc. Ông đã nhận Giải Nhà báo Quốc tế Vaughn-Ueda năm 2014.

Hình  trên cùng, từ phía trên bên trái: Vương Nghị, Đinh Tiết Tường, Vương Tiểu Hồng và Phan Nhạc (Nikkei /Kyodo/Reuters).

Nguồn: Katsuji Nakazawa, “Xi’s entourage to Hong Kong, Xinjiang likely core of new team,” Nikkei Asia, 21/07/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng / Nghiên cứu quốc tế