Nhà không góc

Thay vì xây tường kín, bốn góc nhà được mở để kết nối với thiên nhiên và hỗ trợ lưu thông gió.

Chọn xây nhà bên bờ biển Pháp, một đôi vợ chồng muốn có chỗ nghỉ hưu sớm lấy cảm hứng từ Nhật và mở ra vườn.

Để kết nối nội thất với ngoại thất và riêng tư với công cộng, các kiến trúc sư đã đưa thiết kế nhà không góc.

Cụ thể, bốn góc nhà không được xây kín mà có khoảng hở bố trí cửa trượt.

Phương án thiết kế này giúp căn nhà kết nối trực tiếp với khu vườn bao quanh.

Gia chủ cũng không lo nhà thiếu ánh sáng và gió trời.

Trong nhà, các khu vực chức năng được bố trí theo hình ngôi sao.

Không gian chỗ hẹp, chỗ mở tạo nên những góc nhìn thú vị cho người ở.

Để hỗ trợ lưu thông gió cho căn nhà, các kiến trúc sư còn bố trí những ô cửa sổ trên mái.

Những ô cửa này có tác dụng đẩy khí nóng ra khỏi nhà.

Chúng cũng giúp tăng lượng ánh sáng tự nhiên trong nhà.

Theo ý gia chủ, căn nhà thể hiện chất Nhật qua phần mái ngói và sàn gỗ. Thiết kế mái cũng được tính toán để công trình nhận nắng ấm vào mùa đông nhưng tránh nắng gắt vào mùa hè.

Căn nhà hoàn thiện vào năm 2021.

Thu Nguyệt (Theo ArchDaily)
Ảnh: Antoine Séguin / Thiết kế: Benoit Rotteleur Architecte

Người đàn ông lập kỷ lục có nhiều hình xăm và vành khuyên nhất thế giới

Rolf Buchholz, 62 tuổi, đã chia sẻ một bức ảnh cho thấy ông ta trông như thế nào cách đây 20 năm trước khi bắt đầu thực hiện những biến thể cực kỳ nghiêm trọng trên cơ thể.

Trong đó có nhiều hình ảnh về những trang sức bao gồm vòng khuyên, bông bóng, khuyên gài…

Sau khi xem ảnh, có nhiều lời bình luận vào đó, họ gọi đó là “nhân vật kỳ lạ”; Một “ác quỷ” với hơn 500 lần “đâm da tróc vảy” vào cơ thể. Tuy nhiên, lại có lời bình luận khác, đó là “cơ thể của người nào thì tùy ý người đó đối xử” “lạ hay” “dũng cảm”…

Và dẫu cho bình luận thế nào thì chủ nhân, ông Rolf Buchholz đã giữ kỷ lục Guinness thế giới cho 516 lần thay đổi cơ thể, bao gồm cả tạo hình đôi sừng, cấy vào trán. Còn cả ở lưỡi cũng can thiệp với vòng khuyên kỳ dị.

Người đàn ông lập kỷ lục có nhiều hình xăm và vành khuyên nhất thế giới - Ảnh 1.

Ông nói với mọi người “Tôi thích làm gì đó trên cơ thể mình, điều ấy chẳng ảnh hưởng đến ai”.

Trong những bức ảnh được tung ra trước đây, cho thấy đó là hình ảnh của một người đàn ông hết sức bình thường như bao người khác. Không có sự hiện diện của bất cứ “ác quỷ” với những hình xăm bao phủ 90% cơ thể mà mọi người đã thấy.

Trong một hình ảnh được chia sẻ, đó là hình ảnh người đàn ông đang bước trên mặt nước ở biển mà không có một vết tích nào kỳ lại trên cơ thể. Nhiều người ngạc nhiên hỏi “liệu đây có phải là người đàn ông hiện tại có sừng và những vành khuyên “gớm ghiếc” kia không?

Họ gọi ông ấy là “Ác quỷ” không phải vì ông ta độc ác như quỷ, mà là bởi ông ấy có sừng ở trán.

Bạn bè của ông ta, những người biết trước khi ông ấy “hẹn hò” với kim xăm và vành khuyên, họ nói rằng phải khó khăn lắm để nhận ra ông ấy ngày hôm nay.

Người đàn ông lập kỷ lục có nhiều hình xăm và vành khuyên nhất thế giới - Ảnh 3.

Nhiều người ngạc nhiên hỏi “liệu đây có phải là người đàn ông hiện tại có sừng và những vành khuyên “gớm ghiếc” kia không?

Ông ấy từng nói: “Nhiều người nghĩ tôi là ác quỷ, nhưng thực chất tôi không phải vậy, chỉ là tôi thích làm gì đó trên cơ thể mình thôi”. Rolf hiện là chủ nhân đáng tự hào của hai danh hiệu thế giới – nhiều vành khuyên nhất và nhiều hình xăm nhất.

Theo Giáo dục & Thời đại

Những cuộc trốn chạy triền miên – Cuốn tiểu thuyết thấm thía bậc nhất về thân phận người lưu vong.

 Erich Maria Remarque là người viết hay bậc nhất về ba đề tài: chiến tranh (Phía Tây không có gì l), cuộc sống hậu chiến (Ba người bạn, Bia mộ đen), người lưu vong (Khải hoàn môn, Bản du ca cuối cùng). Trong số đó, Bản du ca cuối cùng là cuốn tiểu thuyết hàng đầu về cuộc sống của những người bị xua đuổi trên cõi nhân gian.

Khải hoàn môn, Bản du ca cuối cùng – Erich Maria Remarque, đây là hai cuốn tiểu thuyết thấm thía bậc nhất về thân phận người lưu vong.

Họ là người Đức, nhưng bị chính quyền phát xít đàn áp đến mức phải bỏ chạy khỏi quê hương. Câu chuyện xảy ra năm 1935, khi chủ nghĩa phát xít bắt đầu đe dọa châu Âu. Những người không quê hương phải chạy sang nước Áo, sang Tiệp Khắc, Pháp, Hungary, Thụy Sĩ… Nơi nào họ cũng là dân tỵ nạn bất hợp pháp, bị bắt là bị dẫn ra ngay biên giới, đẩy trả lại bên kia. Áo trả sang Tiệp, Tiệp trả lại Áo, Pháp, Hung… Cứ bị bắt và bị dẫn giải ra biên giới liên tục như thế, “Chúng tôi có thể bay qua mười biên giới trong một ngày” (trang 202). Đến mức cảnh sát và hải quan áp giải hỏi tại sao họ thuộc đường ra biên giới thế thì được trả lời: “Biên giới là quê hương của chúng tôi” (trang 194). Bởi đúng là họ không còn quê hương nữa, chỉ vì cái tội là người gốc Do Thái hoặc người Đức hoạt động chính trị.

Chạy hoài chạy mãi, phần nhiều là chấp nhận và mải miết chạy. Bị bắt nhiều đến mức nửa đêm được phép tạm trú trong phòng trọ, nghe người cùng phòng mơ ngủ la hét là chồm dậy, xách va li chạy trốn, tưởng đang bị vây bắt. Ước mơ duy nhất của họ là có được một cái giấy thông hành, tức là được tạm trú: “- Một người không có thông hành như bị một bản án tử hình treo. Nếu không chịu đựng nổi chỉ còn tự sát. – Có giấy thông hành cũng chưa chắc là sẽ được phép làm việc ở nước ngoài. – Dĩ nhiên là không. Nhưng ít ra nhờ đó mà mình được quyền chết đói một cách bình yên. Khỏi phải lúc nào cũng nơm nớp sợ” (trang 26).

Nhưng cũng có người phải chạy mãi cũng mệt mỏi, không chịu nổi mùa đông khắc nghiệt, đành giả vờ vào ăn cắp trong một cửa hiệu để “được” cảnh sát bắt, “được” đi tù, ở tù mấy tháng mùa đông cho “ổn định”.

Trong kiệt quệ cùng quẫn cũng nhiều lúc ấm áp nhờ tình người. Ông già Do Thái bị bắt, trên đường giải về đồn, ông nhảy ra khỏi ô tô và rơi xuống đường, chết. Steiner là người cùng bị bắt, dù không quen biết, nhưng về sau đã đi tìm ba đứa con nhỏ của ông để trao lại va li và giúp đỡ chúng.

Một người đồng hương không quen biết trong quán ăn, cảm động trước mối tình của đôi trẻ tỵ nạn, bèn chủ động tặng cho họ một bữa ăn thịnh soạn. Khi mấy người ở trọ bị bắt, bà chủ trọ mời mỗi người một ly rượu, cả bánh mỳ thịt, trước khi họ bị giải đi. Tình yêu của đôi trẻ tỵ nạn cũng nhen lên khi họ cùng giúp một người đàn bà sinh nở trong phòng trọ. Cô gái tên là Ruth thì nhận lời sang ngồi chuyện trò với một người đàn bà bị liệt giường, trong khi chồng bà ta phải đi khắp thành phố để tìm việc làm. Người đàn bà nằm tại chỗ này mặc cảm nói với chồng: “Không ai có thể yêu một người đàn bà bệnh” thì người chồng nói: “Phải yêu gấp đôi chứ. Bởi vì đó vừa là một người đàn bà, vừa là một đứa bé” (trang 300).

Những người thực thi pháp luật ở các nước, không phải ai cũng máy móc. Hải quan và cảnh sát áp giải, làm việc theo đúng phận sự, nhưng phần nhiều là lịch sự với người tỵ nạn. Có viên giám thị giúp chuyển tin tức từ bên ngoài vào trong nhà giam. Có viên cảnh binh thông cảm với hoàn cảnh éo le, tạo điều kiện cho họ chạy trốn. Có viên chánh án cố giúp đỡ để người bị bắt không bị chuyển từ tạm giam sang án tù. Có bác sĩ chữa bệnh mà không lấy tiền, còn giúp cho đôi trẻ có được tiền của tổ chức từ thiện.

Cũng tất nhiên, người di cư gặp phải không ít kẻ lợi dụng tình trạng bất hợp pháp của họ. Vợ chồng mụ nọ, gọi người bán dạo vào giả vờ mua nước hoa rồi giả vờ là cảnh sát, để cướp không món hàng. Một kẻ giả vờ làm người di cư, xin ngủ nhờ trong phòng trọ của người cùng cảnh ngộ, rồi ăn cắp tiền bỏ trốn. Cùng chạy trốn ở biên giới, Kern chỉ cho một người đàn bà chỗ nấp. Nhưng khi bà ta bị bắt, bà ta tố giác với hải quan rằng Kern đang nấp ở trên cây. Chồng bà ta chỉ biết nói như xin lỗi: “Khi quá sợ, người ta dễ thành điên” (trang 146).

Một trong vài nhân vật chính là Kern, chàng trai mới hăm mốt tuổi, nhưng cuộc sống chạy trốn đã biến anh thành người già dặn. Khi gặp lại ông giáo sư cũ trên đất lạ, Kern đã phổ biến cho giáo sư kinh nghiệm: nên đi bán rong những thứ hàng nhỏ thiết yếu, chứ không bán dạo máy hút bụi là thứ thời buổi nhiễu nhương không có ai mua. Anh đã trở nên trưởng thành hơn những người cùng chạy trốn khi thấy họ ngây thơ tin vào lòng tốt của hải quan. Cuốn tiểu thuyết có thêm nét trong trẻo khi chạm đến mối tình của Kern và Ruth, cô gái tỵ nạn tình cờ gặp trong cảnh chạy trốn. Cùng biết san sẻ và cảm thông với người đồng hương, đôi trẻ này nhiều lần bị chia cách khi người bị đi tù, người vào bệnh viện. Họ chạy từ Áo sang Tiệp, sang Pháp, sang Thụy Sĩ, mà vẫn nhờ lòng tốt của mọi người, và của chính mình, để đi tới một kết cục tốt đẹp.

Steiner, một người đàn ông ở tuổi bốn mươi, bị săn đuổi vì hoạt động chính trị là nhân vật ở trung tâm, khiến cho cuốn tiểu thuyết đầy tràn cảm xúc và sự thấu hiểu. Cùng chạy trốn, ngồi trong rừng biên giới, trước lúc mỗi người đi một ngả, Steiner vét túi cho Kern mấy đồng bạc. Từ không quen biết mà thành gắn bó và có trách nhiệm với nhau. Steiner là chỗ dựa, là kho kinh nghiệm, giúp cho đôi trẻ Kern và Ruth vượt thoát nhà tù và tình cảnh bị săn đuổi. Đây cũng là mẫu người nghĩa hiệp một cách tự nhiên. Anh tìm bằng được tên cảnh sát đã đánh người tỵ nạn để đánh cho nó một trận tơi bời. Anh cũng mò ra chỗ ở của tên người Đức ra nước ngoài chỉ điểm cho cảnh sát bắt Kern, rồi anh đến tận nơi để trừng phạt nó bằng một tình huống khiến người đọc hả hê.

Vợ Steiner không bị kết án, vẫn được ở lại nước Đức. Anh đã viết thư bảo vợ ly dị để khỏi bị chính quyền phát xít trả thù, nhưng người vợ không nghe theo. Ở cuối sách, được tin người vợ bị bệnh nan y đang hấp hối, Steiner quyết định quay về Đức nhìn mặt vợ lần cuối, dù biết như vậy là tự đem thân vào hang cọp. Đây là nhân vật được yêu mến nhất trong cuốn tiểu thuyết, cho nên quyết định của Steiner làm cho người đọc bàng hoàng và thương xót.

Cùng với Khải hoàn môn, Erich Maria Remarque đã viết nên Bản du ca cuối cùng, đây là hai cuốn tiểu thuyết thấm thía bậc nhất về thân phận người lưu vong.

HỒ ANH THÁI / Văn Vietnam

Sự cô đơn và định nghĩa về bạn bè

Thế nào là một người bạn thật sự? Mỗi người đều có câu trả lời riêng cho mình. Đối với tôi, đó là người mà tôi không cảm thấy cô đơn khi ở bên cạnh.

Nghiên cứu của Đại học Chicago (US) đã phát hiện một điều thú vị rằng sự cô đơn có thể làm tăng huyết áp của những người hơn 50 tuổi. Nhưng một điều thú vị không kém là các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự cô đơn không liên quan đến việc một người có bao nhiêu bạn.

Các nhà nghiên cứu sử dụng thang đo UCLA Loneliness. Thang đo này không dựa trên số lượng. Người tham gia không đánh giá bản thân trên tiêu chí “Càng đông càng vui” hay “Tôi chưa bao giờ gặp người lạ”. Thang đo dựa trên các tiêu chí như “Bạn thường cảm thấy mình có thể chịu được sự cô đơn trong bao lâu?” hoặc “Bạn thường đợi người khác viết thư hay gọi cho mình trong bao lâu?”

Có thể nói, sự cô đơn không phải chỉ là trạng thái ở một mình, mà là cảm giác về trạng thái đó.

Chúng ta đều biết về cảm giác cô đơn mặc dù có rất nhiều người xung quanh trong một buổi tiệc nhưng lại cảm thấy thoải mái khi ở trong một ngôi nhà trống. Chúng ta đồng ý trong tình bạn thì “chất lượng thì hơn số lượng”, điều này cũng được các chuyên gia xác thực. Người có ít bạn không phải là những người cảm thấy buồn và cô đơn. Dù nhiều hay ít bạn, miễn là các mối quan hệ này thật sự gần gũi và ý nghĩa thì chúng ta đều thấy vui!

Định nghĩa “bạn bè” ngày nay được dùng quá tự do. Tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữa bạn bèđồng nghiệp và những người quen, cũng như giữa bạn thật và bạn Facebook.

Thế nào là một người bạn thật sự? Mỗi người đều có câu trả lời riêng cho mình. Đối với tôi, đó là người mà tôi không cảm thấy cô đơn khi ở bên cạnh. Đó là người không quấy rầy tôi, là người tôi có thể cảm thấy thoải mái khi tôi cần lời khuyên, và là người làm tôi cảm thấy vui (thậm chí là vinh dự) khi được làm điều tương tự cho họ.

Tôi có thể nói rằng tất cả những điều trên chỉ có ở một số ít người bạn của tôi. Và sau đó là “bạn bè loại hai”. Tôi thích và quan tâm tới họ nhưng không chia sẻ những suy nghĩ thầm kín với họ.

“Con số của Dunbar”, được đề xuất bởi nhà nhân chủng học Robin Dunbar vào năm 1992, là một đánh giá thường được dùng về số lượng các mối quan hệ mà chúng ta có thể duy trì, và con số đó là 150. Tôi có khoảng chừng ấy người trong mạng lưới quan hệ. Mặc dù vậy, chắc chắn không phải ai tôi cũng gọi là bạn bè.

Thực ra, tôi là người sử dụng Facebook thường xuyên, nhưng tôi bắt đầu cảm thấy mình có quá nhiều bạn bè. Số bạn bè của tôi không thấp hơn nhiều so với số lượng bạn bè mà một người nhìn vào và có thể đánh giá tôi là người thảm hại, cần sự chú ý của người khác. Một nghiên cứu đã chỉ ra số lượng bạn bè lý tưởng trên Facebook là 302. Con số này đủ để bạn không cảm thấy thảm hại hay quá lệ thuộc vào người khác.

Tôi đã xác nhận yêu cầu kết bạn từ một số người mà mình cảm thấy không có điểm chung. Trong một số trường hợp, những người lạ này đã trở thành bạn ảo. Một vài người thậm chí đã trở thành bạn thật sự. Điều này thật tuyệt. Nhưng những người khác chỉ là một khuôn mặt nhỏ trong khung avatar. Chúng ta không có gì để chia sẻ với họ. Và có nhiều “bạn bè” không làm cho tôi cảm thấy tốt hơn về bản thân mình, mà nó làm tôi cảm thấy giả tạo.

Bên cạnh đó, cho dù chúng ta có bao nhiêu bạn bè thì chúng ta chỉ giao tiếp với một số ít người trong số đó, theo Cameron Marlow, một nhà nghiên cứu về Facebook. Một người phụ nữ với 500 người bạn thì cô ấy chỉ thường xuyên gửi bình luận trên facebook của 26 người và thực sự giao tiếp với 16 người. Đối với nam giới, con số này là bình luận cho 17 người và giao tiếp với 10 người. Tôi chưa bao giờ làm toán về “bạn bè” của mình, nhưng điều này có vẻ đúng. Đây là những người bạn tôi phải gìn giữ, và một vài người khác mà tôi cảm thấy thú vị.

Những người còn lại? Họ có vẻ là những người tốt, thế nhưng có lẽ tôi nên giao tiếp với họ bên LinkedIn (LinkedIn: mạng xã hội dùng để giao tiếp về công việc, được những người đi làm sử dụng) cùng lúc với các đồng nghiệp và những người quen khác.

Theo VIET PSYCHOLOGY / PSYCHOLOGY TODAY

‘Tôi sau 5, 10 năm hay lâu hơn nữa sẽ thế nào?’

Getty Images

Hãy bỏ chút thời gian hình dung bản thân trong 10 năm tới.

Tùy vào tuổi tác mà bạn có thể có thêm vài sợi tóc bạc, nếp nhăn, và bạn cũng có thể hy vọng tình hình tiền bạc của mình sẽ có thay đổi nào đó.

Nhưng về cơ bản, hình ảnh mà bạn tưởng tượng ra có rất gần với con người bạn hôm nay không? Hay là bạn như nhìn thấy một người xa lạ?

Theo vô vàn nghiên cứu tâm lý từ thập kỷ qua, phản ứng của mọi người thường là rất khác nhau – và câu trả lời của họ tiết lộ những điều đáng ngạc nhiên về xu hướng hành vi.

Một số người có cảm giác sống động về bản thân họ trong tương lai, rất gần với bản sắc hiện tại của họ. Những người này có xu hướng tiêu tiền có trách nhiệm hơn và đối xử với người khác đạo đức hơn; Họ sẽ hăm hở hành động sao cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn trong những năm tới.

Nhiều người rất chật vật trong việc hình dung bản thân họ trong tương lai; những người này có vẻ lơ là trách nhiệm hơn nhiều trong hành vi của mình. Gần như thể họ coi bản thân họ trong tương lai là một người khác, không dính dáng gì đến họ của hiện tại – và kết quả là, họ ít lo lắng về hậu quả lâu dài của hành động họ.

Bạn hầu như có thể nghĩ về bản thân mình trong tương lai như một mối quan hệ cần được nuôi dưỡng và vun đắp.

May mắn thay, có một số chiến lược đơn giản để tăng cường sự thấu cảm và lòng trắc ẩn đối với con người tương lai của bạn – đem lại tác động sâu sắc cho sức khỏe, hạnh phúc và an ninh tài chính của bạn.

Nguồn gốc triết học

Cảm hứng cho nghiên cứu tâm lý gần đây về bản thân mình trong tương lai có thể tìm thấy trong tác phẩm của các triết gia như Joseph Butler vào thế kỷ 18.

“Nếu con người hôm nay và bản thân người đó của ngày mai không giống nhau mà chỉ giống con người chung chung, thì con người hôm nay thực sự sẽ không quan tâm đến những gì sẽ xảy ra với con người của ngày mai hơn so với những gì sẽ xảy ra với bất kỳ ai khác,” Butler viết vào năm 1736.

Lý thuyết này sau đó đã được mở rộng và cổ súy bởi triết gia Anh Derek Parfit, người có công trình đã thu hút sự chú ý của nhà nghiên cứu trẻ tên là Hal Hershfield.

“Đó là ý tưởng hết sức lôi cuốn,” Hershfield, phó giáo sư tiếp thị, quyết định hành vi và tâm lý học tại Đại học California, Los Angeles, nói. Ông cho rằng sự mất kết nối với bản thân trong tương lai có thể giải thích nhiều yếu tố phi lý trong hành vi con người – gồm cả việc bất đắc dĩ phải tiết kiệm, dành dụm cho lúc nghỉ hưu.

Để tìm hiểu, Hershfield trước tiên tìm cách đo lường “sự tiếp nối trong tương lai” của ai đó.

Ông vẽ ra đồ họa đơn giản thể hiện các cặp vòng tròn đại diện cho bản thân hiện tại và bản thân trong tương lai.

Hal Hershfield, published in Judgement and Decision Making, 2009
Chụp lại hình ảnh,Sơ đồ của Hershfield về các cặp vòng tròn thể hiện một cá nhân ở thời hiện tại và chính cá nhân đó trong tương lai: Current Self – con người hiện tại, Future Self – con người tương lai

Các vòng tròn này chồng lên nhau ở các mức độ khác nhau và người tham gia phải xác định cặp vòng tròn nào mô tả tốt nhất về mức độ họ cảm thấy gần gũi và kết nối với bản thân trong tương lai 10 năm.

Sau đó, ông so sánh câu trả lời trước các kế hoạch tài chính khác nhau.

Trong một thí nghiệm, người tham gia được đưa ra các tình huống khác nhau, theo đó họ có thể được nhận tiền sớm nhưng ít, hoặc nhận tiền muộn nhưng được nhiều hơn. Đúng như dự đoán, những người cảm thấy mình liên hệ nhiều hơn với tương lai sẵn sàng trì hoãn sự thỏa mãn để chờ đợi số tiền lớn hơn.

Để kiểm tra liệu xu hướng kế hoạch tài chính lành mạnh này có tương ứng với hành vi thực tế hay không, kế tiếp Hershfield nhìn vào số tiền tiết kiệm thực tế của những người tham gia. Không nghi ngờ gì, ông thấy những ai càng cảm thấy gắn kết với bản thân họ trong tương lai thì càng gom góp được nhiều tiền.

Trở về tương lai

Nghiên cứu sau đó của Hershfield đã kiểm tra hiện tượng này trong nhiều lĩnh vực cuộc sống khác nhau.

Chẳng hạn, vào năm 2018, ông phát hiện rằng sự tiếp nối trong tương lai có thể dự đoán hành vi vận động và thể lực tổng thể của ai đó. Có vẻ như nếu bạn thấy mình rất rõ trong tương lai thì bạn sẽ sẵn sàng chăm sóc cơ thể mình để đảm bảo nó sẽ có sức khỏe tốt hơn trong những năm tới.

Các thí nghiệm khác cho thấy những ai đạt điểm cao trên thước đo về tiếp nối tương lai có tiêu chuẩn đạo đức cao hơn những ai chật vật xác định bản thân mình trong tương lai. Ví dụ, họ ít có khả năng gian lận bài thi.

“Nếu mọi người kết nối tốt hơn với bản thân trong tương lai, thì họ được tăng cường khả năng nhận ra hậu quả của các quyết định của họ bây giờ lên tương lai của họ,” Hershfield nói. “Và điều này sẽ giúp họ phanh lại những hành vi kiểu này.”

Hồi năm 2020, Hershfield xác nhận rằng việc một người có thể hay không thể xác định mình trong tương lai sẽ tạo hậu quả lâu dài đối với sự an lạc tổng thể của họ. Nghiên cứu theo chiều dọc này, vốn theo dõi hơn 4.000 người trong một thập kỷ, cho thấy sự tiếp nối tương lai của ai đó vào đầu nghiên cứu có thể dự đoán sự hài lòng của họ trong cuộc sống 10 năm sau đó.

Quan trọng là điều này đúng ngay cả khi ông theo dõi sự an lạc lúc đầu của họ. Điều này giúp loại bỏ khả năng những người có cảm giác kết nối với bản thân họ trong tương lai chỉ đơn giản là tham gia nghiên cứu khi mà họ ngay từ đầu đã đạt tâm trạng hài lòng và sau đó vẫn tiếp tục duy trì được trạng thái hài lòng đó. Thay vào đó, có vẻ như sự hài lòng tăng lên vào cuối nghiên cứu là kết quả của tất cả những hành vi tích cực hợp lại, như tiết kiệm tài chính và tăng cường vận động, dẫn đến cuộc sống thoải mái hơn.

Tầm nhìn tương lai

Các nhà thần kinh học bắt đầu xem xét kỹ hơn về quá trình xử lý của não đằng sau những hiện tượng này – và lý do tại sao có rất nhiều người khó xác định bản thân họ trong tương lai.

Meghan Meyer, trợ lý giáo sư Đại học Dartmouth ở New Hampshire, Hoa Kỳ, mới đây đã yêu cầu người tham gia ước tính sự tiếp nối trong tương lai trùng lắp như thế nào tại các thời điểm khác nhau. Trong một thí nghiệm, họ phải ước tính sự tương đồng giữa bản thân hiện tại và tương lai bằng cách kiểm soát sự chồng chéo của hai vòng tròn – giống các thí nghiệm của Hershfield. Họ lặp lại nhiệm vụ nhiều lần, trong lúc hình dung mình trong 3, 6, 9 tháng và 1 năm về sau.

Phù hợp với kết quả của Hershfield, Meyer nhận thấy quan niệm của người tham gia nói chung về bản thân trong tương lai cách biệt với cảm nghĩ về bản thân hiện tại khá nhanh – với cảm giác mất kết nối rõ ràng xuất hiện ở mốc ba tháng.

Tuy nhiên, điều thú vị là sự thay đổi này bắt đầu đi ngang khi họ xem xét các mốc thời gian sau đó. Như vậy, có rất ít khác biệt giữa mốc 9 tháng và 1 năm – và chúng ta có thể đoán rằng điều này cũng đúng nếu họ xem xét ngay cả thời gian sau đó. Meyer cho rằng tầm nhìn của họ về bản thân trong tương lai trở nên ‘nhạt nhòa hơn’ và ít sắc màu hơn.

Điều này cũng được thể hiện trong kết quả quét MRI chức năng vốn đưa ra những bằng chứng cuốn hút cho thấy ở cấp độ thần kinh, chúng ta thực sự bắt đầu nghĩ về bản thân trong tương lai như một người khác.

Bên cạnh xem xét bản thân ở nhiều thời điểm khác nhau trong tương lai, người tham gia cũng được yêu cầu nghĩ về một người lạ, chẳng hạn như chính trị gia Angela Merkel. Khi họ tiến xa hơn trên mốc thời gian – hình dung bản thân từ khoảng 6 tháng trở đi – hoạt động não về bản thân bắt đầu giống phản ứng với suy nghĩ về chính trị gia.

“Khi bạn tiến xa hơn về tương lai, cách bạn thể hiện bản thân không khác nhiều cách bạn nghĩ về Angela Merkel,” Meyer nói. “Nó nhất quán với quan niệm triết học rằng bạn đối xử với bản thân trong tương lai xa như người lạ.”

Getty Images
Những điều tôi ước gì mình biết được

Xét nhiều lợi ích về an ninh tài chính, sức khỏe và hạnh phúc tổng thể, cũng là điều tự nhiên khi tự hỏi liệu chúng ta có thể tăng cường ý thức kết nối với bản thân trong tương lai hay không.

Nghiên cứu của Hershfield đưa ra vài gợi ý.

Trong một loạt thí nghiệm, người tham gia bước vào môi trường thực tế ảo với hình ảnh đại diện cá nhân hóa mô phỏng họ sẽ trông thế nào ở tuổi 70. Đúng như mong đợi, họ cho biết họ cảm thấy kết nối nhiều hơn với bản thân trong tương lai, và trong thước đo tiếp theo về ra quyết định, họ cho thấy họ có trách nhiệm tài chính lớn hơn. Chẳng hạn họ nói họ nhiều khả năng để dành tiền cho nghỉ hưu hơn. Nhiều ứng dụng chỉnh ảnh cho phép bạn làm già sớm ảnh selfie của mình và công nghệ này có thể được tích hợp vào các chương trình giáo dục khuyến khích suy nghĩ cẩn thận hơn về phúc lợi tương lai.

Với sự can thiệp công nghệ thấp, bạn có thể xem xét một bài tập tưởng tượng đơn giản – viết một lá thư cho chính mình sau 20 năm, mô tả điều gì quan trọng nhất đối với bạn vào lúc này và kế hoạch trong những thập kỷ tới.

Giống như các ảnh đại diện được làm già, điều này khuyến khích mọi người có cảm giác kết nối nhiều hơn với bản thân trong tương lai – và kết quả là, thúc đẩy họ thay đổi hành vi theo hướng tích cực.

Các nghiên cứu của Hershfield đã chỉ ra rằng nhiệm vụ này làm tăng thời gian mọi người vận động trong tuần tiếp theo – dấu hiệu cho thấy họ bắt đầu coi trọng sức khỏe lâu dài của mình. (Nếu bạn muốn thử, ông gợi ý bạn có thể khuếch đại hiệu ứng bằng cách viết thư trả lời từ tương lai, vì điều này buộc bạn phải có tầm nhìn dài hạn).

Đúng như bạn nghĩ, Hershfield áp dụng nghiên cứu của ông vào cuộc sống chính mình.

Chẳng hạn, khi đối phó với căng thẳng và bực bội của việc làm cha, ông cố đặt mình vào vị trí bản thân trong tương lai để tưởng tượng cách ông có thể nhìn lại hành vi của mình. “Tôi cố gắng suy nghĩ liệu tôi trong tương lai có tự hào về cách tôi xử sự với bản thân hay không,” ông nói.

Có vẻ lập dị khi bắt đầu ‘trò chuyện’ với một thực thể tưởng tượng – nhưng một khi bản thân bạn trong tương lai trở nên sống động trong tâm trí, bạn có thể thấy dễ hơn nhiều để thực hiện những hy sinh cá nhân nhỏ cần để giữ gìn sự an lạc. Và trong những năm tới, bạn sẽ cảm ơn chính mình vì đã suy nghĩ đón đầu.

David Robson / Theo BBC

Chiến lược mới của NATO và mối lo của Trung Quốc

NATO thông qua một tầm nhìn mới cho mười năm tới, coi Trung Quốc là một thách thức chiến lược

Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg họp báo về hội nghị thượng đỉnh NATO hôm 29 tháng Sáu 2022, công bố chiến lược mới của Liên minh, lần đầu tiên xác định Trung Quốc là một thách thức chiến lược. Ảnh Denis Doyle/Getty Images

Hội nghị thượng đỉnh Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang diễn ra tại Madrid, thủ đô Tây Ban Nha đã công bố những bước đột phá: Mở rộng từ 30 lên 32 nước thành viên bằng cách mời Phần Lan và Thụy Điển gia nhập – hai quốc gia có truyền thống trung lập và không liên kết; thông qua một tầm nhìn chiến lược mới cho thập niên sắp tới, trong đó xác định Nga là đối thủ chính còn Trung Quốc là một thách thức chiến lược; quyết định gia tăng lực lượng quân sự thường trực ở sườn phía Đông, sẵn sàng đối phó với một cuộc tấn công quân sự từ Nga.

NATO thay đổi đường lối

Chiến lược mới là sự thay đổi căn bản của NATO từ thời Chiến tranh Lạnh. Là một liên minh phòng thủ đa phương thành lập năm 1949 để đối phó với nguy cơ an ninh từ Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO đã thay đổi rất nhiều: Giảm ngân sách đầu tư cho quân đội, kết nạp các nước thành viên của hiệp ước Warsaw (liên minh quân sự của các nước cộng sản cũ) nhưng vai trò ngày càng mờ nhạt. Thay vì đối phó với các mối đe dọa an ninh, NATO chủ trương coi Nga là đồng minh tiềm năng và hoàn toàn không để ý tới Trung Quốc. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron từng nói NATO là một tổ chức đã “chết não”; cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều lần dọa rút Hoa Kỳ khỏi NATO vì cho rằng liên minh này đã “lỗi thời”.

Cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine hôm 24 Tháng Hai 2022 và liên minh mới giữa hai cường quốc theo thể chế chuyên chế và bành trướng Nga – Trung Quốc đã làm thay đổi hoàn toàn các tính toán địa chính trị khu vực và NATO như sống lại và mạnh mẽ hơn rất nhiều. Cuộc phiêu lưu quân sự của ông Vladimir Putin và ông Tập Cận Bình đã có tác dụng ngược.

“Quan hệ đối tác chiến lược ngày càng sâu sắc giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga, những nỗ lực hỗ trợ lẫn nhau của họ nhằm đảo lộn trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang đi ngược lại các giá trị và lợi ích của chúng tôi”, các nhà lãnh đạo NATO cho biết trong một tuyên bố sứ mệnh mới được đưa ra trong hội nghị thượng đỉnh tại Madrid. “Các hoạt động hỗn hợp và mạng độc hại của CHND Trung Hoa cũng như những luận điệu và thông tin mang tính đối đầu của Bắc Kinh nhằm vào các đồng minh đang gây tổn hại đến an ninh của liên minh”, tuyên bố nhấn mạnh.

Ông Putin nói rằng sự kiện NATO mở rộng về phía Đông, chuẩn bị kết nạp Ukraine làm thành viên là mối đe dọa an ninh quốc gia của Nga, buộc ông phải thực hiện một “chiến dịch quân sự đặc biệt” lật đổ chính phủ ở Kyiv. Nhưng nay, với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển, đường biên giới chung giữa Nga và NATO đã kéo dài thêm 1,300 cây số và các lực lượng quân sự của NATO sắp áp sát nước Nga. Đơn xin gia nhập NATO của Phần Lan và Thụy Điển còn phải được các nước thành viên hiện thời chấp nhận, nhưng với việc Thổ Nhĩ Kỳ rút lại lời phản đối và Ban lãnh đạo NATO chính thức mời hai nước Bắc Âu gia nhập hôm nay, hình ảnh một NATO 32 nước sẽ thành hiện thực sau vài tháng nữa.

Trong phát biểu đưa ra vào chiều Thứ Tư 29 Tháng Sáu, ông Putin cảnh báo Nga sẽ đáp trả nếu liên minh phương Tây mở rộng sự hiện diện của mình ở các nước này. “Nếu lực lượng quân sự và vũ khí [của NATO] được triển khai ở đó, chúng tôi sẽ phải đáp trả bằng thực lực và tạo ra các mối đe dọa tương tự đối với các vùng lãnh thổ mà từ đó các mối đe dọa được tạo ra chống lại chúng tôi”, ông Putin nói.

Đáp lại, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg, thông báo sẽ bố trí hàng chục nghìn binh sĩ tại tám quốc gia ở sườn phía Đông của NATO. Quân số của NATO ở mặt trận phía Đông sẽ tăng từ 40,000 người hiện nay lên khoảng 300,000 người trong thời gian tới. Về Trung Quốc, ông Stoltenberg nhận định: “Trung Quốc không phải là đối thủ của chúng ta nhưng chúng ta phải nhìn rõ những thách thức nghiêm trọng mà nó đặt ra.”

Tổng thống Biden cũng cho biết Hoa Kỳ sẽ thiết lập một sở chỉ huy quân đội và một trung đoàn hỗ trợ thực địa ở Ba Lan – lực lượng đầu tiên của Hoa Kỳ thường trú ở sườn phía Đông của NATO. Trong phát biểu của mình, ông Biden gọi hội nghị thượng đỉnh đang diễn ra tại Madrid là một trong những cuộc họp mặt quan trọng nhất của NATO và tuyên bố nhóm này cam kết “bảo vệ từng inch” lãnh thổ của các thành viên.

“NATO châu Á”?

Điểm mới của hội nghị thượng đỉnh NATO năm nay là có sự tham gia của nguyên thủ quốc gia châu Á: Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và Tân Tây Lan. Sự hiện diện của bốn nhà lãnh đạo Á châu tại Madrid, cùng với sự thay đổi tầm nhìn chiến lược của NATO chú trọng vào thách thức chiến lược từ Trung Quốc đã khiến Bắc Kinh nổi giận và phản ứng.

Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Zhang Jun (Trương Quân) lên tiếng: “Chúng tôi phản đối một số phần tử đang kêu gọi sự can dự của NATO vào Châu Á-Thái Bình Dương hoặc lập một phiên bản Châu Á – Thái Bình Dương của NATO dựa trên liên minh quân sự”. “Không được tái khởi động kịch bản lạc hậu của thời Chiến tranh Lạnh ở Châu Á-Thái Bình Dương. Tình trạng hỗn loạn ở các phần khác của thế giới không được phép diễn ra ở Châu Á-Thái Bình Dương,” ông Trương nói, theo báo The New York Times.

Cục diện chiến tranh ở Ukraine, trong đó NATO viện trợ vũ khí tối tân, chiến cụ, thông tin tình báo, huấn luyện binh sĩ cho cuộc kháng chiến của Ukraine “đến lúc nào nước này còn cần” khiến Trung Quốc toát mồ hôi lạnh khi nghĩ tới phản ứng quốc tế khi Bắc Kinh thực hiện tham vọng xâm chiếm Đài Loan hoặc các nước láng giềng ở châu Á. Cho đến nay Trung Quốc vẫn không lên án cuộc xâm lược của Nga mà đổ lỗi cho NATO mở rộng về hướng Đông đe dọa an ninh của Nga, đồng thời tố cáo Mỹ đang tìm cách thiết lập một liên minh “NATO châu Á” tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để chống lại Trung Quốc như phát biểu dẫn trên của đại sứ Trung Quốc.

Cho đến nay, Hoa Kỳ và các đồng minh đều nói rõ họ không có ý định thành lập một liên minh quân sự kiểu NATO ở châu Á. Trong lịch sử, thời Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ và một số cường quốc đã thành lập khối Liên Phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization – SEATO) tương tự như NATO ở khu vực để ngăn cản làn sóng đỏ của Chủ nghĩa cộng sản Liên Xô-Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á; nhưng tổ chức này gặp nhiều vấn đề và đã tan rã năm 1977, sau khi miền Nam Việt Nam thất thủ mà không xảy ra hiệu ứng domino ở các nước Đông Nam Á khác.

Họp báo tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Madrid, tân Tổng thống Nam Hàn Yoon Suk-yeol , nói ông sẽ hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ và NATO để “bảo vệ lợi ích của Nam Hàn trước sức ép của Bắc Kinh trong trường hợp ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương suy giảm.

Ảnh Celestino Arce/NurPhoto via Getty Images

Ghét của nào trời trao của nấy

Hiện ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chỉ có hiệp định an ninh song phương lâu đời với một số đồng minh Nhật, Nam Hàn, Philippines và Úc và một số diễn đàn đối thoại an ninh như nhóm Bộ Tứ (QUAD), AUKUS (Mỹ, Anh, Úc). Gần đây chính những âm mưu lấn chiếm đất đai và hành động hung hăng của Trung Quốc đã thúc đẩy các nước láng giềng tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ.

Sự kiện Trung Quốc khơi lên vụ tranh chấp quần đảo Senkaku – mà Trung Quốc gọi là đảo Điếu Ngư – đã thúc đẩy Chính phủ Nhật nâng cấp quân đội, tăng chi tiêu quốc phòng vượt quá giới hạn 1% tổng sản phẩm quốc nội có từ nhiều năm nay và sửa đổi hiến pháp hòa bình để quân đội Nhật có vai trò tích cực hơn. Tân Tổng thống Nam Hàn Yoon Suk Yeol, một người bảo thủ mới đắc cử, đã tìm cách gắn kết đất nước của mình chặt chẽ hơn với Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Âu, để “bảo vệ lợi ích của Nam Hàn trước sức ép của Bắc Kinh trong trường hợp ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương suy giảm trong dài hạn”,

Tại Madrid, Thủ tướng Úc Anthony Albanese, vừa nhậm chức vào tháng trước, đã cảnh báo mối đe dọa ngày càng tăng của Trung Quốc ở Ấn Độ-Thái Bình Dương. Ông Albanese nói với các nhà lãnh đạo NATO rằng Trung Quốc đặt mục tiêu trở thành “quốc gia hùng mạnh nhất thế giới”, việc tăng cường quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow gây ra nguy cơ cho tất cả các quốc gia dân chủ. Và ông dẫn chứng chuyện Úc đang bị Trung Quốc “cưỡng bức kinh tế” do Úc không làm theo những yêu sách của Bắc Kinh để minh họa cho tham vọng của Trung Quốc ở khu vực.

Ngay một nước nhỏ và xa xôi như Tân Tây Lan cũng hết sức lo ngại trước sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương, do việc Bắc Kinh bí mật ký kết hiệp ước an ninh với quần đảo Solomon. Tại hội nghị Madrid, Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern than phiền với các nhà lãnh đạo NATO về việc Bắc Kinh ngày càng “thách thức các quy tắc và chuẩn mực quốc tế”.

Châu Á hiện không có một tổ chức phòng thủ chung như NATO nhưng nếu Bắc Kinh cứ tiếp tục phô trương sức mạnh cơ bắp, đe nẹt các nước láng giềng và phá hoại sự ổn định của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ thì biết đâu một ngày không xa nỗi lo sợ của họ sẽ trở thành hiện thực khi các nước láng giềng hợp tác với nhau thành một khối để tự vệ. “Ghét của nào trời trao của ấy,” bài học tác dụng ngược của ông Putin với Ukraine và NATO đáng để ông Tập và bộ sậu của ông nghiền ngẫm.

Hiếu Chân / Saigon Nhỏ