Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D

Giếng trời hình chữ D ở vị trí trung tâm mang tới ánh sáng cho ngôi nhà có diện tích khiêm tốn chỉ 42m2.

Những ban công uốn cong với rất nhiều cây xanh bao bọc một giếng trời hình chữ D mang lại vẻ đẹp hết sức độc đáo cho ngôi có diện tích khiêm tốn chỉ 42 m2 ở TPHCM. 

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 1
Nhà nằm trong một khu dân cư đông đúc của thành phố.

Được thiết kế cho một gia đình trẻ, ngôi nhà nằm trong một khu dân cư đông đúc của thành phố. Tổng diện tích sàn 179 m2 được phân bổ trên bốn tầng hẹp, tạo ra một tòa nhà hết sức mảnh mai. 

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 2
Do mặt tiền chỉ rộng 3,5 m nên các kiến trúc sư có nhiệm vụ phải thiết kế làm sao để giải quyết được vấn đề chiếu sáng vào các phòng cả ở phía trước và phía sau của khu đất.

Trên thực tế, những ngôi nhà mỏng đang trở nên phổ biến ở các thành phố đông dân cư, đặc biệt là khắp châu Á. Với ngôi nhà ở TPHCM này, do mặt tiền chỉ rộng 3,5 m nên các kiến trúc sư có nhiệm vụ phải thiết kế làm sao để giải quyết được vấn đề chiếu sáng vào các phòng cả ở phía trước và phía sau của khu đất.

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 3
Giếng trời hình chữ D được đưa vào vị trí trung tâm của khối nhà.

Giải pháp cuối cùng là một giếng trời hình chữ D được đưa vào vị trí trung tâm của khối nhà. Kính lưới cũng được thêm vào phần mặt tiền, cung cấp ánh sáng tự nhiên và thông gió cho toàn bộ căn nhà. 

Các kiến trúc sư giải thích: “Bối cảnh thiết kế đặt ra những thách thức để tạo ra một không gian bình dị, thông thoáng và đủ ánh sáng trong một diện tích hạn chế.

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 4
Ở mỗi tầng, phần không gian sống được thiết kế lùi lại so với mặt đường phố, nhường chỗ cho các ban công nhỏ trồng cây dọc theo mặt tiền. Bên trong, sơ đồ mặt bằng được chi phối bởi các sân hiên lớn xung quanh mép giếng trời.

Việc mở rộng theo chiều dọc của giếng trời giúp tối đa hóa chất lượng và điều kiện không gian mong muốn, đồng thời khơi gợi cảm giác cởi mở và kết nối với thiên nhiên”. 

Ở mỗi tầng, phần không gian sống được thiết kế lùi lại so với mặt đường phố, nhường chỗ cho các ban công nhỏ trồng cây dọc theo mặt tiền. Bên trong, sơ đồ mặt bằng được chi phối bởi các sân hiên lớn xung quanh mép giếng trời.

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 5
Khu vực phòng khách với không gian mở, ngập ánh sáng. 

Ba phòng ngủ và một phòng làm việc nằm sau những bức tường kính uốn lượn và rèm cửa ở hai bên của những sân hiên này. Cây xanh trong chậu và cây trồng trực tiếp xuống sàn của phòng khách phát triển thông qua giếng trời theo hướng mở hình elip trên mái bằng của ngôi nhà.

Các kiến trúc sư cho biết: “Tâm điểm của ngôi nhà là sự giao thoa giữa ánh sáng và thiên nhiên. Sự thoáng mát và rộng mở, mang đến tầm nhìn không bị cản trở cả từ trong ra ngoài và từ ngoài vào trong. Đặc biệt, nơi ở vẫn sở hữu cảm giác riêng tư và an toàn khi cần thiết”. 

Nhà phố chỉ 42 m2 ngập ánh sáng và cây xanh nhờ giếng trời hình chữ D - 6
Các phòng ngủ đều ngập tràn ánh sáng tự nhiên.

Không gian sinh hoạt chính, bao gồm phòng khách, khu vực ăn uống và nhà bếp nằm ở tầng trệt của tòa nhà. Đồ nội thất bằng gỗ tối màu và vải bọc màu be tạo sự tương phản với sàn nhà màu trắng bóng và những bức tường trắng hoàn hảo.

Phòng của một người giúp việc nằm ở tầng trên phòng khách, trong khi hai phòng ngủ của gia đình được bố trí trên tầng hai và tầng ba, và một phòng làm việc và phòng giặt là nằm ở tầng trên cùng.

Nhóm kiến trúc sư cho biết: “Ngôi nhà là một đại diện thuần túy mô tả cuộc sống của một gia đình trẻ Việt Nam, thẳng thắn, chân thực và mãn nguyện”. 

Dân Trí

Chiến tranh và thân phận của tuổi trẻ miền Nam trong thơ Nguyên Sa 1954 – 1975

Nguyên Sa (1932-1998) là một nhà thơ nổi tiếng của thi đàn miền Nam giai đoạn 1954-1975. Đương thời, ông được xem là một “hậu Xuân Diệu” của thơ tình miền Nam, được đông đảo tuổi trẻ học sinh, sinh viên yêu thích. Cũng vì quá nổi tiếng ở mảng thơ tình mà người ta ít để ý đến mảng thơ mang ý thức phản chiến của ông trong thời kỳ đó, nhất là mối quan hệ giữa tình yêu của tuổi trẻ trong quan hệ với hiện thực chiến tranh. Đọc thơ Nguyên Sa, nhất là tập thơ Những Năm Sáu Mươi (Tập thơ không được chính quyền miền Nam cấp phép xuất bản, phải tự in lậu trên giấy ronéo lưu hành nội bộ). 

Tuổi trẻ miền Nam giai đoạn 1954-1975 sống trong bối cảnh đất nước cắt chia dưới gót giày xâm lược. Sự bắt bớ tham chiến cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đau lòng, cùng sự nô dịch văn hóa của ngoại bang, sự “lai căng”, “bội tình” (chữ dùng của Trịnh Công Sơn) của những kẻ bán nước, tiếp tay cho giặc… đã khiến tuổi trẻ miền Nam sống trong nỗi đau thân phận trước sự bạo tàn của chiến cuộc. Cả tuổi trẻ và tình yêu đều chao đảo, bế tắc trong vòng xoáy của thời cuộc lúc bấy giờ. Là một trí thức, một thầy giáo có trách nhiệm cùng dân tộc và tuổi trẻ, lại có cả một quãng đời tuổi trẻ bị bắt sung vào lính đánh thuê, thơ Nguyên Sa thể hiện rất rõ thân phận của tuổi trẻ và tình yêu trước nỗi đau hiện thực chiến tranh.

Nhà thơ Nguyên Sa

1. Tuổi trẻ của đời người luôn gắn liền với mùa xuân và tình yêu. Nhưng theo Nguyên Sa, mùa xuân thì “đã rơi mất”: Năm ngón tay có bốn mùa trái đất/ Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân” (Bây giờ). Còn tình yêu? Tình yêu thì muôn đời vẫn thế! Vẫn mang đến cho con người những nhung nhớ, an ủi dù phải đang trằn mình trong cuộc chiến phi nghĩa nơi “những miền núi xa”: Buổi chiều và mái tóc em/ Bắt đầu phủ xuống những miền núi xa./ Anh nằm khi tóc bay qua/ Đám mây tình tự thịt da nhẹ nhàng/ Giống như trời lấy áo choàng/ Đắp lên thân thể võ vàng từ lâu (Buổi chiều và mái tóc). Cảm ơn nụ cười và đôi mắt tình yêu đã giữ hộ bình minh trong đêm tối, đã thắp xuân giữa “những cánh rừng quên mất mặt xuân” cùng “những chân nai lạc cỏ”, “những mắt sóng vỡ”, “những đảo buồn chìm” “những thuyền sao chạy lạc”: Hỡi mặt trời hãy cám ơn đôi mắt/ Trong đêm khuya vẫn giữ hộ bình minh/ Những cánh rừng quên mất mặt xuân/ Những chân nai đi tìm tay cỏ biếc/ Những mắt sóng vỡ trên thung lũng biển/ Những đảo buồn chìm trong im lặng xanh/ Những thuyền sao chạy lạc trong đêm/ Hãy cám ơn nụ cười và đôi mắt (Cảm tạ). Nhưng rồi trong niềm “cảm tạ” ấy, tình yêu vẫn không giấu được nỗi đắng cay trước hiện thực đau buồn:

Dù quanh chúng mình chỉ là những hàng rào

đố kỵ

Giữa một đêm không trăng

Giữa một lòng chiều không đáy

Em đừng khóc làm gì

Cho nước mắt vu vơ (Bài thơ ngắn).

Tự mình chất vấn với chính mình trước những mâu thuẫn giữa tình yêu và chiến tranh; giữa “trời xanh và gió mát” do tình yêu mang đến và sự dịu dàng của bóng dáng giai nhân với những “mù mịt” đạn bom, giăng giăng “đồn phòng ngự” và sự “thô bạo của một gã lính canh đi giày đinh giẫm nát tâm hồn” ở ngay tuổi “hai mươi”: Các em/ Những Kiều, những Thu, những Loan, những Ðạm/ Các em đã đem cho tôi trời xanh/Và gió mát// Tại sao?/ Tôi chẳng hiểu tại sao/ Cũng chẳng cần tìm hiểu/ Có thể đời đã để sau lưng tôi chiến tranh mù mịt/ Cuộc sống đổi màu trong nước mắt phế binh/ Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự/ Ðã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo/ Ði giầy đinh dẫm nát tâm hồn (Hai mươi). Tình yêu của tuổi “hai mươi” đã thế thì tình yêu của thằng lính “ba mươi tuổi” lại càng chao đảo bởi “gió lốc”, “cuồng phong” của chiến sự: Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá/ Hãy tha cho đốm hồng thân thể này trong ngày tháng thành than/ Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc/ Cuồng phong đau thương mang tàn lụi vai buồn. Cả xót xa và tuyệt vọng khi tình yêu phải trao nhau không phải bằng ánh mắt yêu thương và là “mắt huyệt chôn nhau”, phải hấp hối vĩnh biệt nhau bằng những nắm đất tiễn đưa ném trên huyệt lạnh bởi những “ngón tay sầu”:

Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như

tàn thuốc lá

Vẫn nhìn nhau bằng mắt huyệt chôn nhau

Những hòn đất ném lên hòn đất

Những ngón tay vẫn gọi ngón tay sầu

(Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi).

Chính vì thế, thơ tình Nguyên Sa ở giai đoạn sau khi trở về nước đối diện với hiện thực chiến tranh đã không đơn thuần nói chuyện tình yêu mà luôn luôn đặt tình yêu trong sự lo âu, khắc khoải của hiện thực chiến tranh trong mối quan hệ với thân phận con người. “Bài giã biệt”, anh nói với người yêu nhưng cũng chính là nói với cuộc đời. Nhân danh những nghĩ suy và tình yêu của người đàn ông tuổi ba mươi cùng với “bấy nhiêu lần lũy thừa đau khổ”, Nguyên Sa tuyên bố trả lại tất cả những kỷ niệm tình yêu, những ước mơ tuổi trẻ, những nụ hôn, những lá thư xanh của một thời, đành chấp nhận dở dang, “chẳng còn nguyên vẹn” đúng “như lễ vật trong ngày lại quả gửi về”:

Tuổi ba mươi và bấy nhiêu lần luỹ thừa đau khổ./ Nhân danh cành tay mọc trái nghi ngờ./ Nhân danh vầng trán quê hương lo ngại./ Nhân danh mái tóc chờ mưa trong sa mạc./ Như lễ vật trong ngày lại quả gửi về chẳng còn nguyên vẹn, anh trả lại em những mùa thu lá vàng, những xứ ước mơ, những lâu đài kỷ niệm./ Anh trả lại em cả cặp môi trên gò má, lá thư xanh và ngón tay tuổi trẻ (Bài giã biệt).

“Giã biệt” tất cả để hoang mang, bế tắc, mệt mỏi, chán chường lê thân “vào ngôi nhà nguyện tâm hồn” cùng “những tiếng chuông khởi đầu Thánh lễ”: Vỗ mạn thuyền xô động, với nếp trán phế binh, với đôi mắt dã tràng mệt mỏi, anh đi vào ngôi nhà nguyện tâm hồn./ Gửi đến cho em âm thanh của những tiếng chuông khởi đầu Thánh lễ (Bài giã biệt).

2. Là một tiến sĩ Triết học tu nghiệp ở nước ngoài, một giáo sư trung học đệ nhị cấp (tức giáo viên cấp 3, ở miền Nam gọi là Giáo sư) và giảng dạy triết ở bậc đại học, hơn ai hết Nguyên Sa là người nhận ra rõ nhất thân phận của một trí thức trước thời cuộc, trước dân tộc và trước học sinh. Đó là thân phận của một thế hệ tuổi trẻ mà cặp mắt xanh không đủ để che giấu nỗi buồn, nụ cười không xóa được nỗi ưu tư; quờ quạng, mất phương hướng với vài tiếng hát lạc lỏng: Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt/ Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư/ Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát/ Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa. Là tuổi trẻ mà suốt một năm trời, theo quy luật tự nhiên, mùa xuân lại không hiện diện; trên tay có đủ “bốn mùa trái đất” lại tự mình đánh “rơi mất mùa xuân”, nên có “cất tiếng” kêu đòi thì cũng tự mình kêu lấy, tự mình nghe lấy, tiếng kêu rơi rụng xuống chính lòng mình tụ thành vết sẹo đớn đau:

Năm ngón tay có bốn mùa trái đất

Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân

Có cất tiếng đòi to. Tiếng đòi rơi rụng

Những âm thanh làm sẹo ở trong hồn

(Bây giờ).

Nam nhi phải nặng gánh tang bồng, tuổi trẻ phải gánh trách nhiệm đất nước trên vai, nhưng tuổi hai mươi của thanh niên miền Nam lúc bấy giờ là cả “hai mươi thế kỷ lao tù”, đày đọa, nên “chưa đến đã bay vèo”: Tôi mang trên vai/ Tuổi hai mươi/ Như đời hai mươi thế kỷ/ Ðời để quanh tôi những lao tù cơ cực/ Tuổi hai mươi chưa đến đã bay vèo (Hai mươi). Nguyên Sa thừa “biết rằng”, đây là giai đoạn trộn lẫn khóc-cười, mừng-tủi, ước hẹn-phôi pha, nhưng rồi cũng đành bất lực vì chẳng “biết nói làm sao”: Anh biết rằng:/ Có người khóc vì mừng vui ước hẹn/ Có người cười vì tủi cực phôi pha/ Anh biết nói làm sao/ Nhưng chắc chắn ngàn thu ly rượu quan hà/ Sẽ phải chua men vì thiếu người sưởi lạnh/ Anh biết nói làm sao/ Khi họ gặp nhau (Anh đã bảo em). Nỗi buồn đau, bất lực thấm sâu và chảy tràn trong thơ-văn-xuôi của Nguyên Sa tưởng như không một phút nào ngừng, trùm lên “những chuyện quê hương”:

Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ nói với người giang hồ về những chuyện quê hương. Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối. Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.

Anh đã ngồi im không nói: anh chỉ còn là gã kép già quanh năm khát nước vì suốt cả đời người hò hét một bản xàng xê (Sám hối).

Tuổi trẻ miền Nam cũng đã từng chờ đợi, tin yêu, nhưng rồi “từng hi vọng bay theo từng hi vọng” để rồi ngồi đếm thời gian tự “sám hối” với chính mình: Suốt cả đời người anh đã chờ đợi tin yêu: lửa đến từ những cửa ngõ cuộc đời đã đốt cháy mười đầu ngón tay bằng những khối nhựa đường nóng bỏng/ Từng hy vọng đã bay theo từng hy vọng. Không biết có phải vì nhát cuốc tháng ngày đã phạt cỏ đùa chơi? (Sám hối). Đó là những thân phận tù đày, lao công khổ ải, tan tác, lang thang: Thằng Chúc bây giờ nằm trong nhà tù/ Thằng Thịnh bị mang đi làm nông trường/ Thằng Văn lang thang những bờ biển xa/ Em nó ở nhà bán báo vỉa hè… Canh cánh bên lòng nỗi đau vì đất nước chiến tranh, thân phận tuổi trẻ bị bạc đãi, bị vu oan, chụp mũ… sống trong muôn nỗi chán chường:

Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau

Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn

Những đứa sát nhân, vu oan giá họa

Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ

Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân

Bạn bè dần hết theo tỷ lệ nghịch

Chán cả làm thơ, chán cả ngâm thơ

(Bao giờ).

Kết thúc bài thơ Bao gi là liên tiếp những câu hỏi lớn chứa đựng tâm trạng bế tắc tưởng chừng không lối thoát: Bao giờ, bao giờ, bao giờ, bao giờ?

Toàn bộ bài thơ Cắt tóc ăn tết cũng nằm trong tâm trạng chán chường ấy. Đây cũng chính là nỗi đau thân phận của tuổi trẻ miền Nam thông qua nhìn nhận của Nguyên Sa về hiện thực xã hội miền Nam lúc ấy: Cắt cái sợi ăn gian/ Cắt cái sợi nói dối/ Sợi ăn cắp trên đầu/ Sợi vu oan dưới gáy/ Sợi bè phái đâm ngang/ Sợi ghen tuông đứng dọc/ Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng/ Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt/ Sợi nấp trong hầm/ Sợi ngồi trong hố/ Sợi đau xót như dây dù chẳng mở/ Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng/ Cắt cho ta,// Cắt cho ta, hãy cắt cho ta… Cứ liên tục như thế, từng sợi tóc trên đầu đều chứa đựng những sầu lo của thế hệ: “Sợi mệt mỏi”, “Sợi cháy đen”, “Sợi thở dài”, “Sợi đánh nhau”, “Sợi chia cắt non sông thành Nam Bắc”, vân vân và vân vân các thứ sợi: Sợi mệt mỏi sau những tháng ngày hoan hô đả đảo/ Sợi cháy đen như rừng núi Chu-prong/ Sợi thở dài trong đêm cúp điện tối om/ Sợi sát vào nhau đánh sáp lá cà/ Sợi cắt non sông thành Bắc Nam, thành khu chiến/ Sợi lên thẳng trực thăng/ Sợi xuống ngầm địa hạ/ Sợi đặt chông/ Sợi gài mìn/ Sợi bóp cò liên thanh/ Sợi kéo xe đại bác/ Sợi xót xa trên mặt nhăn tuổi trẻ/ Sợi trên trán thơ ngây nằm im phục kích… Tác giả cứ mãi đồng thanh hô “Cắt” để hi vọng có một ngày nhìn rõ mặt sự “đổi mới” của quê hương: Hãy cắt tóc/ Hãy cắt tóc và nhìn/ Mặt quê hương đổi mới (Cắt tóc ăn tết). Dù hi vọng, nhưng nỗi chán chường, bất lực vẫn hiện lên như một “thế giới buồn” đen kịt một màu “tống biệt” cùng những “điệp khúc giã biệt”:

Cánh cửa ngang qua thế giới buồn

Tống biệt hồng sang tống biệt đen

Em mang điệp khúc về đâu đó

Ta tưởng chừng như giã biệt em

(A Tỳ).

Và những sầu đau, thương nhớ, cách chia giữa “mịt mù thế nhân” như một A tỳ địa ngục: Chết một ngàn năm chắc phải sầu/ Nhưng này thương nhớ lúc xa nhau/ Mịt mù nhân thế trôi biền biệt/ Giữa vị sầu nghe có vị đau (A Tỳ). Rồi như một tất nhiên, cái chết đã hiện hình: Anh cúi mặt hôn lên lòng đất/ Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng/ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không/ Ðôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh (Lúc chết). Đớn đau thay! Tuổi trẻ tươi đẹp lại phải đồng hành cùng cái chết:

Nằm ở đấy, hai bàn tay thấm mệt

Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài

Những bài thơ anh đã viết trên môi

Lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh

(Lúc chết)

Và đau đớn nhất là tuổi trẻ miền Nam xem cái chết là một sự giải thoát khỏi hiện thực đớn đau: Chúng tôi nhảy múa hò reo/ Thế là nó thoát, thế là nó thoát/ Thế là nó thoát, đúng rồi, thế là nó thoát/ Thoát khỏi ngủ, thoát khỏi ăn, khỏi thở/ Khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm/ Khỏi chờ, khỏi đợi/ Khỏi nhìn tình ái đội nón ra đi/ Khỏi hy vọng ban mai, khỏi buồn thiu buổi tối (Đám tang Nguyễn Duy Diễn)1.

Đọc đoạn thơ này, ta càng hiểu thêm ý nghĩa phản chiến trong “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết vào những năm tháng ấy…

***

Chào đời cùng với năm ra đời của Thơ Mới, năm nay cũng là kỷ niệm 90 năm sinh Nguyên Sa (1.3.1932 – 2022), tôi xin trích một đoạn ngẫm suy của Tuy Hòa cùng khát vọng thơ của Nguyên Sa thay cho lời kết: “Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh “luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình”2.

MAI BÁ ẤN / Văn Nghệ số 17/2022

________

1. Thơ sử dụng trong bài viết được trích dẫn từ ba nguồn chính: Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ, Nam Chi xuất bản, 1970; Thơ Nguyên SaTổ hợp gió xuất bản, 1971 (trích theo thivien.net) và Thơ Nguyên Sa, Nxb Đồng Nai, 1999

2. Tuy Hòa, “Những bài thơ cuối cùng của Nguyên Sa”, VNExpress, 16.7.2008

Tâm tình Phạm Duy, những ngày đầu tỵ nạn ở Mỹ (phần 1)

Nhạc sĩ Phạm Duy và phu nhân Thái Hằng vào những ngày đầu thập niên 1980 ở Mỹ.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã dành nhiều sức sáng tác, nghĩ suy của mình để lại, đặc biệt là với những tháng ngày sau năm 1975, khi ông đến và sống cuộc đời khác trên đất Mỹ, trải qua một chuyến dạ hành bàng hoàng.

Dạ hành là cách nói của ông để mô tả về những ngày tháng ra biển, ở trại tỵ nạn và sau đó được tạm cư khởi đầu tại Florida. Dạ hành, bởi theo ông, với những điều của gia đình mình thấy, và của những những người Việt khác là:

“Bất cứ ai trong chuyến ra đi này cũng có thể nói rằng đây là đêm đen nhất, dài nhất của đời mình. Những phi vụ chở người tị nạn từ Saigon qua căn cứ không quân Clark ở Phi Luật Tân rồi lại bay ngay đi đảo Guam hay đảo Wake, đó là những chuyến bay đêm. Đúng ra, vì sự khác nhau của thời khắc ở những vùng cách nhau vài kinh tuyến, đêm phải ngắn chứ? Vậy mà phi cơ bay hoài cũng chỉ gặp toàn đêm và đêm thôi. Mặt Trời đâu rồi? Đêm hôm nay không phải là đêm 12 tiếng đồng hồ, thời gian thực tại của đêm ngắn đi vài ba tiếng nhưng thời gian tâm lý thì dường như kéo dài dằng dặc…”

Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy vừa may mắn, vừa xui rủi trong những ngày rời khỏi Việt Nam vào Tháng Tư 1975. May mắn, vì ông ra đi rất êm đềm vào rất sớm. Ngày 28 Tháng Tư, một nhân viên CIA của Tòa Đại Sứ Mỹ tên Ed Jones đã cho ông và một số ít trí thức, thành phần đặc biệt – vốn không thể ở lại Sài Gòn vì sợ Bắc Việt trả thù – một địa chỉ bí mật tập trung ở đường Kỳ Đồng, Quận 3, để được đưa đi. Nhạc sĩ Phạm Duy cùng vợ và con gái Thái Hiền đi trước, cùng nhiều đồ vật kỷ niệm – mà cũng là niềm cảm hứng sáng tác của ông suốt nhiều năm tha hương về sau. Nhưng xui rủi là có bốn đứa con của ông đi sau và kẹt lại. Cảnh hỗn loạn vào giờ cuối đã khiến cả bốn người không đến được điểm trực thăng đưa di tản. Điều đó làm Phạm Duy khốn khổ vô cùng, tận cho đến khi gặp lại mọi người đầy đủ, sau này ở Mỹ.

Ảnh: Bộ sưu tập của HuyVespa

Nhạc sĩ Phạm Duy kể, vào ngày 30 Tháng Tư, khi còn trên đảo Guam, ông nghe người kế bên mở cái radio chạy pin, phát bản tin về quân Bắc Việt đã vào đến Sài Gòn. Nhiều người vây quanh nơi có tin tức này sầu lặng nghe. Nhưng không đợi hết bản tin, nhạc sĩ Phạm Duy vì tâm tình dồn nén, không chịu nổi nên bỏ chạy ra ngoài, đi thẳng ra bờ biển gần đó. Trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, ông kể lại giờ phút đó, với sự tuyệt vọng của mình, rằng “Tôi đã không còn là tôi nữa rồi”. Câu nói đó cũng giống như niềm tuyệt vọng của rất nhiều người tại miền Nam lúc đó, những người sống và tin vào xã hội, đất nước của mình và cảm thấy mọi thứ mất hết, không còn gì kể cả bản thân. Đó là số phận chung của hàng triệu người miền Nam bị mất căn cước công dân tự do, sau Tháng Tư đó.

Nhạc sĩ Phạm Duy kể lại sự giày vò cứ dội lên trong từng khoảnh khắc, mỗi khi nghe về những đổi thay đang diễn ra tại Việt Nam qua giọng đọc của cô Kim Vui trên Đài phát thanh Sài Gòn.

“Trong suốt Tháng Tư này, kẻ trước người sau bỏ nước ra đi nhưng Saigon và vùng Hậu Giang hãy còn, nay nghe tin Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản, mặt ai cũng sa sầm, mắt ai cũng rớm lệ, đầu ai cũng cúi gằm. Khi cô Kim Vui đọc xong bản tin và bản thông cáo, mọi người lủi thủi bước đi trong sự lặng lẽ tột độ. Người mình xưa nay vốn rất ồn ào vì thích nói nhiều, nói to. Chưa bao giờ tôi thấy hình ảnh lạ lùng là một đám rất đông người Việt đi đi lại lại mà không có một tiếng động nào cả. Trông chẳng khác chi những bóng ma trong một khúc dạ hành…”, nhạc sĩ Phạm Duy kể lại.

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng nhắc lại thời khắc mà tiếng hát Nối Vòng Tay Lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vang lên trên radio của Đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi tất cả mọi người hãy cùng bỏ súng và hợp tác với chế độ mới. Ông kể vào lúc đó, người chủ cái radio tức giận bật lên tiếng chửi thề rồi tắt máy ngang.

Trong lặng thinh sau đó, nhạc sĩ Phạm Duy nói ông suy nghĩ mông lung về tiếng hát nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vang lên kêu gọi hòa hợp với chế độ mới. Thậm chí ông còn tự hỏi rằng có cái gì vội vã hay ít thiết tha đến mức cây đàn guitar cho bài hát đó còn không lên được lên dây đúng? Trong giới nghệ sĩ vào Nam từ năm 1954, có lẽ Phạm Duy là người có đủ kinh nghiệm về cộng sản miền Bắc, do đó, có lúc ông cũng tự hỏi rằng nếu như mình còn kẹt lại Sài Gòn thì liệu, tiếng hát đó không phải của Trịnh Công Sơn mà là của mình thì sao? Trong cuộc chiến tranh vừa tạm dừng, súng vẫn giương cao nòng, và kèm sự cao hứng và kiêu ngạo của bọn chỉ điểm, của các thành phần vũ trang gọi là “cách mạng 30 Tháng Tư”, và cả những kẻ nằm vùng, thì liệu ông có cưỡng lại chuyện phải hát bài phục vụ nào đó không?

Ảnh: Bộ sưu tập của HuyVespa

Nỗi đau khổ chất chồng, đặc biệt là về chuyện lo lắng cho số phận của bốn đứa con trai còn ở lại là Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng và Duy Cường khiến nhạc sĩ Phạm Duy rơi vào trầm cảm nặng. Lúc đó, bà Thái Hằng là chỗ dựa lớn trong đời ông.

“Tôi lao mình vào giường ngủ, gục mặt vào đống chăn, khóc rống như chưa bao giờ khóc như vậy. Không cần đối thoại, vợ tôi biết các con bị kẹt lại rồi. Dù cũng buồn khổ như tôi, nhưng vợ tôi vốn là người kín đáo, ít khi biểu lộ tình cảm một cách mạnh mẽ như tôi. Tôi vẫn cho rằng trong những năm tháng buồn rầu vì xa bốn đứa con, tôi không ngã quị xuống vì không bao giờ vợ tôi làm tăng thống khổ của tôi lên. Đúng thế, trong những năm xa con, nếu người mẹ này suốt ngày ngồi khóc thầm, oán trời, oán đất, oán chồng thì tôi phải chết từ lâu”, Phạm Duy kể.

Phạm Duy thú nhận rằng bên cạnh chuyện bốn người con, ông cảm thấy mình mất tất cả. Mất quê hương, mất thân phận một người Việt đã đi theo tiếng gọi của tự do, rong ruổi khắp đất nước Việt. Có lẽ đây là tâm tình lớn của ông, tạo nên tác phẩm Một Ngày 54, Một Ngày 75 về sau này. Giới truyền thông hải ngoại có thời gian coi bài hát này là Quốc ca Tháng Tư mỗi khi nhắc về miền Nam sụp đổ. Bài hát này được nói có lúc làm một số nhân vật cấp cao ở Việt Nam sau 1975 vô cùng khó chịu. Tuy nhiên đến 2005, bài này vắng tiếng hẳn, do theo mô tả từ một trung tâm ở Mỹ, đề nghị giấu tên, cho biết là có người đi nhiều nơi, xin không phát bài hát này để nhạc sĩ Phạm Duy được yên ổn trong việc xin mang hài cốt bà Thái Hằng về Việt Nam.

Không giản đơn để quyết định cuộc đời tha hương ở Hoa Kỳ, nói trên một chương trình phát thanh vào năm 1995, nhạc sĩ Phạm Duy tâm tình rằng ông biết sẽ phải mất một thời gian dài, ông mới bước qua được những thống khổ, hoặc nguôi ngoai dần. “Sự thống khổ vào lúc này còn giày vò tôi đến độ tôi muốn trở về Việt Nam ngay lập tức. Hay là nhảy ngay xuống biển tự tử cho rồi…”

Ngày 15 Tháng Năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy chấp nhận đối diện với khúc quanh nghiệt ngã của số phận. Gia đình ông lên máy bay rời đảo Guam để đi đến Eglin, Florida, bắt đầu một chặng đời mới. Lý do ông chọn một nơi thật xa và lạ của nước Mỹ là bởi quá buồn khổ. Ông muốn “ở một nơi nào càng xa quê hương bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu” để không phải nghe thêm gì về những mất mát đang đến ở Việt Nam, với con người Việt Nam.

__________

Theo Tuấn Khanh / Saigon Nhỏ

Tâm tình Phạm Duy, những ngày đầu tỵ nạn ở Mỹ (phần 2)

Ukraine sẽ biến thành chiến tranh khu vực và toàn cầu

Lực lượng cứu hộ đưa một thi thể phụ nữ ra khỏi tòa chúng cư đổ nát sau vụ tấn công bằng hỏa tiễn của Nga vào trung tâm thủ đô Kyiv hôm qua 28 tháng Tư làm hư hại hai tòa chung cư 25 tầng và 10 thường dân bị nạn. Vụ tấn công xảy ra vào lúc Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đang ở thăm thành phố và gặp gỡ Tổng thống Zelensky. Ảnh Sergei Chuzavkov/SOPA Images/LightRocket via Getty Images.

Những diễn biến trong vài ngày qua cho thấy cuộc chiến giữa Nga và Ukraine có khả năng sẽ biến thành một cuộc xung đột lớn hơn giữa Nga và Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO với nòng cốt là Hoa Kỳ. 

Theo một số nhà quan sát lạc quan, chuyển biến đó là điều tốt cho Ukraine vì Ukraine sẽ có thêm nhiều cơ hội đẩy lùi cuộc xâm lược, thậm chí giành lại được những vùng lãnh thổ đang bị Nga chiếm đóng. Những người bi quan thì lo ngại, chiến tranh càng lan rộng và nước Nga càng thảm bại thì ông Vladimir Putin càng có lý do để thực hiện những hành động điên rồ nhất.

Từ khi chiến tranh bùng nổ hôm 24 Tháng Hai đến nay, NATO luôn giữ một thái độ chừng mực quy định trong luật pháp quốc tế và tránh những hành động có thể khiến phía Nga có cớ cho rằng NATO là một bên tham chiến. Cụ thể, các nước NATO, dẫn đầu là Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, đã viện trợ khá hào phóng cho Ukraine các loại vũ khí phòng thủ, giúp quân dân Ukraine ngăn chặn có hiệu quả các cuộc tấn công của Nga ở miền Bắc Ukraine và chung quanh thủ đô Kyiv.

Nhưng NATO cũng đã bác bỏ thẳng thừng yêu cầu của Ukraine lập “vùng cấm bay” trên bầu trời Ukraine vì không thể để Không quân NATO đụng độ với chiến đấu cơ Nga, có thể kích hoạt xung đột lớn hơn giữa hai thế lực sở hữu vũ khí hạt nhân. NATO cũng đã từ chối cung cấp cho Nga các chiến đấu cơ của Liên Xô cũ – hiện có trong đội hình nhiều quốc gia Đông Âu – vì các chiến đấu cơ này phải cất cánh từ các phi trường thuộc khối NATO.

NATO thậm chí còn công khai quan điểm rằng việc viện trợ vũ khí cho Ukraine là hành động riêng lẻ của các quốc gia thành viên, và là thẩm quyền riêng của họ, không phải là một chiến lược phối hợp do Brussels điều phối. Hành động đáng kể nhất của NATO với tư cách một liên minh phòng thủ, là điều động binh lính và vũ khí sang các nước giáp với Ukraine và tăng cường phòng thủ sườn phía Đông của Liên minh, đề phòng chiến tranh lan rộng ra ngoài biên giới Ukraine.

Sự thận trọng của NATO là dễ hiểu vì ngay từ khi khởi sự chiến tranh, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã cảnh báo rằng “bất cứ ai cố gắng cản trở chúng tôi” sẽ phải đối mặt với “hậu quả mà bạn chưa từng phải đối mặt trong lịch sử” – mà nhiều người coi, một cách hợp lý, là mối đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Putin sau đó nói rằng ông sẽ coi sự can thiệp trực tiếp của NATO là một mối đe dọa đối với Nga, gây ra những hậu quả tương tự.

Thái độ thận trọng của NATO dường như đã thay đổi.

Hôm 28 Tháng Tư Tổng thống Joe Biden đề nghị Quốc Hội chuẩn chi $33 tỷ viện trợ quân sự cho Ukraine chống Nga và đề nghị biến các tài sản của các tài phiệt Nga bị tịch thu thành ngân sách tái thiết Ukraine. Ảnh Anna Moneymaker/Getty Images.

Hôm Thứ Hai 25 Tháng Tư, sau chuyến đi bí mật tới Kyiv và gặp gỡ Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin nói mục tiêu của Hoa Kỳ không chỉ là bảo vệ Ukraine với tư cách là một quốc gia dân chủ, có chủ quyền mà còn để “làm suy yếu” Nga với tư cách là một thế lực quân sự.

Vài hôm sau, ông Austin chủ trì hội nghị quan chức quốc phòng cao cấp của 40 quốc gia trong và ngoài NATO trong một căn cứ quân sự Ramstein của Không quân NATO ở Đức bàn việc phối hợp cung cấp viện trợ quân sự cho Ukraine. Trên thực tế, Hoa Kỳ và một số nước NATO đã bắt đầu chuyển cho Ukraine những loại vũ khí tấn công, vũ khí tầm xa như hỏa tiễn diệt hạm, máy bay không người lái tấn công và bích kích pháo có thể từ miền Đông Ukraine tấn công các mục tiêu sâu trong lãnh thổ Nga. Hôm Thứ Năm 28 Tháng Tư, Tổng thống Joe Biden yêu cầu Quốc Hội Mỹ chuẩn chi $33 tỷ viện trợ cho Ukraine, hai phần ba trong số tiền đó là viện trợ quân sự nhằm giúp Ukraine cầm cự thêm ít nhất sáu tháng nữa. 

Ông Biden cũng đồng thời vận dụng một số đạo luật cũ có từ thời Chiến tranh Lạnh để đẩy nhanh việc chuyển cho Ukraine vũ khí từ kho dự trữ của quân đội Hoa Kỳ. Đạo luật “Cho thuê, cho mượn” (Lend-Lease Act) đó cho phép chính phủ Mỹ cho nước ngoài mượn thiết bị quân sự “mà việc phòng thủ quốc gia đó được tổng thống coi là quan trọng đối với phòng thủ của chính Hoa Kỳ.” 

Ông Biden cũng nói bóng gió tới mục tiêu làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của nước Nga để Nga không còn đe dọa hoặc thôn tính lãnh thổ các nước láng giềng bằng vũ lực, điều mà ông Putin đã làm ở Chechnya, Georgia và bán đảo Crimea năm 2014.

***

Cuộc leo thang hành động của Hoa Kỳ và NATO đã khiến Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov phản ứng: “Về bản chất, NATO đang tham gia vào một cuộc chiến với Nga thông qua một bên ủy nhiệm và đang trang bị cho bên ủy nhiệm đó. Chiến tranh là chiến tranh ”. Hãng thông tấn nhà nước Nga RIA Novosti trích lời ông Lavrov nói rằng, viện trợ vũ khí cho Ukraine từ phương Tây không liên can gì tới việc ủng hộ chủ quyền của nước này mà chỉ giúp Hoa Kỳ và EU chiến đấu với Nga “tới người Ukraine cuối cùng”! 

Có lẽ để đối phó với sự gia tăng hỗ trợ của Hoa Kỳ và NATO, Putin đang tiến gần hơn đến việc coi cuộc xung đột không chỉ là một “hoạt động quân sự đặc biệt” chống lại Ukraine – mà ông ta cho là một đất nước không có thật – mà là một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại một siêu cường toàn cầu. Hôm Thứ Tư, ông Putin đã bổ nhiệm Valery Gerasimov, Tổng tham mưu trưởng quân đội Nga, nắm quyền chỉ huy cuộc tấn công ở miền Đông Ukraine. Việc bổ nhiệm cho thấy Putin đã đánh giá lại bản chất của cuộc chiến và đạt cược nhiều hơn vào đó.

Putin cũng không nhượng bộ Ukraine, bất chấp việc quân đội Nga gần đây đã rút khỏi khu vực thủ đô Kyiv. Dù cuộc giao tranh hiện đang tập trung ở khu vực Donbass phía đông Ukraine – nơi cả hai bên đang đấu hỏa lực pháo binh dữ dội – Nga đã bắn tên lửa hành trình vào Kyiv chỉ vài giờ sau khi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đến thăm thủ đô và gặp Tổng thống Ukraine Zelensky.

Thời điểm xảy ra vụ tấn công tên lửa – khó có thể coi là sự trùng hợp ngẫu nhiên – cho thấy Putin coi Liên Hiệp Quốc như một tổ chức bên ngoài khác đang dàn trận chống lại xứ sở của ông ta. Không chỉ Hoa Kỳ, NATO mà cả Liên Hiệp Quốc bây giờ cũng có thể bị Nga coi là kẻ thù, nhất là sau những vụ bỏ phiếu lên án Nga xâm lược và đuổi Moscow ra khỏi Hội đồng Nhân quyền.

Những vụ tấn công dồn dập trên khắp Ukraine và những hành động leo thang từ cả hai phía làm mọi người khó có thể hy vọng một lệnh ngừng bắn hoặc các cuộc đàm phán hòa bình có ý nghĩa sẽ sớm diễn ra hoặc cuộc chiến đẫm máu này sắp kết thúc mà có nguy cơ lan rộng thành một cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh toàn cầu với những viễn cảnh hết sức đáng sợ.

Hiếu Chân / Saigon Nhỏ

 Cuộc ‘đốt lò’ của Việt Nam làm tiêu tan 40 tỷ đô la chứng khoán


Những cáo buộc về gian lận, thao túng thị trường và tham nhũng đã khiến một số công ty đang ở đỉnh cao nhất rơi tự do và giáng những cú giáng mạnh vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Những cáo buộc về gian lận, thao túng thị trường và tham nhũng đã khiến một số công ty đang ở đỉnh cao nhất rơi tự do và giáng những cú giáng mạnh vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

Hàng loạt vụ bắt giữ doanh nghiệp cấp cao đã khiến chứng khoán Việt Nam bị xóa sổ 40 tỷ USD và làm lung lay niềm tin của các nhà đầu tư vào một thời điểm mong manh đối với nền kinh tế đang phát triển nhanh, hãng thông tấn Reuters nhận định.

Bắt đầu từ vụ bắt giữ tỷ phú Trịnh Văn Quyết cách đây một tháng, các nhà môi giới chứng khoán, phát triển bất động sản và thậm chí lãnh đạo hàng đầu đã bị bắt khi một chiến dịch chống tham nhũng kéo dài nhiều năm của Việt Nam mở rộng từ bộ máy hành chính sang các lãnh đạo doanh nghiệp.

Những cáo buộc về gian lận, thao túng thị trường và tham nhũng đã khiến một số công ty đang ở đỉnh cao nhất rơi tự do và giáng những cú giáng vào một trong những thị trường chứng khoán lấp lánh nhất thế giới.

Sau khi chỉ số chuẩn tăng hơn gấp đôi giá trị so với mức đáy vào tháng 3 năm 2020, cuộc đàn áp đã gây ra đợt lao dốc mạnh nhất trong một ngày của thị trường tuần này, kể từ những ngày đầu của đại dịch, xuống mức thấp nhất trong chín tháng vào hôm 26/4.

Thị trường chứng khoán hiện đã bị thổi bay 11% trong vòng ba tuần. Trái phiếu và tiền tệ cũng trượt giá.

Các nhà đầu tư nói rằng cuộc đàn áp đã làm lung lay ít nhất niềm tin ngắn hạn vào triển vọng của Việt Nam và có nguy cơ khiến cho dòng vốn bị rút đi giữa bối cảnh áp lực đang đến từ tỷ giá hối đoái tăng nhanh của Mỹ và nỗi lo lắng trên toàn cầu về cuộc chiến Ukraine và những căng thẳng địa chính trị khác.

“Đối với những người quan tâm đến việc đầu tư vào Việt Nam như một phần của câu chuyện mở cửa trở lại… (họ) có thể có chút lo ngại”, Carlos Casanova, nhà kinh tế châu Á cấp cao tại Union Bancaire Privée, nói với Reuters trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ Singapore. “Môi trường chung không thuận lợi cho việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài”.

Các vụ bắt giữ đang mở rộng chiến dịch chống tham nhũng của Đảng Cộng sản cầm quyền mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thúc đẩy từ năm 2016.

Ông Trọng cho biết hôm 27/4 rằng nỗ lực này là nhằm cải thiện niềm tin vào “Đảng, Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị”, theo tuyên bố của chính phủ đưa ra sau cuộc họp của ủy ban chống tham nhũng.

Mặc dù thị trường đã ổn định vào ngày 27/4 với hy vọng tình trạng rớt giá được kiềm chế, nhưng nó vẫn chưa phục hồi hoàn toàn.

Việt Nam là một trung tâm sản xuất đã được hưởng lợi khi các công ty toàn cầu đa dạng hóa sản xuất bên ngoài Trung Quốc. Nền kinh tế Việt Nam đã đạt tăng trưởng 5% trong quý đầu tiên.

Theo nhà cung cấp chỉ số MSCI, hầu hết tiền nước ngoài chảy trực tiếp vào xây dựng nhà máy và mua bất động sản, thay vì vào cổ phiếu tại quốc gia mà thị trường này chỉ được xếp hạng là “thị trường biên”. Các nhà giao dịch ký quỹ chiếm phần lớn hoạt động.

Tuy nhiên, các vụ bắt giữ đã khiến một số người bất ngờ khi nó tấn công vào trung tâm thị trường vốn của đất nước và lĩnh vực bất động sản, vốn chiếm khoảng 1/4 chỉ số.

Deirdre Maher, người đứng đầu bộ phận thị trường biên tại Amundi, nhà quản lý tài sản lớn nhất châu Âu, nhận xét: “Nhiều người trong số các nhà đầu tư bán lẻ chưa quen với thị trường và chưa quen với sự biến động như vậy của thị trường”.

“Đối với những nhà đầu tư này, tôi tin rằng hậu quả từ các cuộc điều tra tham nhũng sẽ làm giảm sút tình cảm. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư dài hạn, sự điều chỉnh gần đây thực sự cung cấp một khởi điểm thú vị”.

Ngoài ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch tập đoàn bất động sản và giải trí FLC, cảnh sát đã bắt giữ ông Đỗ Anh Dũng, Chủ tịch tập đoàn bất động sản Tân Hoàng Minh, và ông Đỗ Đức Nam, Giám đốc điều hành công ty môi giới chứng khoán Trí Việt.

Các quan chức tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh cũng bị quy trách nhiệm về các vi phạm thị trường.

Ông Dũng không trả lời yêu cầu bình luận của Reuters, trong khi FLC cho biết ông Quyết đang hợp tác với các cơ quan chức năng và chưa có kết quả điều tra nào được công bố. Chứng khoán Trí Việt cho biết đang phối hợp với điều tra viên.

Cổ phiếu FLC đã giảm khoảng 20% trong tháng 4 và cổ phiếu TVB giảm gần 40%.

(Việt Nam) sẽ phải mất một thời gian để phục hồi từ việc thúc đẩy chống tham nhũng. Erik Jonsson, một đối tác tại thành phố Hồ Chí Minh của công ty đầu tư mạo hiểm toàn cầu Antler, cho rằng: “Vượt qua những thay đổi tận gốc rễ như chống tham nhũng thường không phải trong một sớm một chiều”.

Theo ông, “Những cuộc đàn áp kiểu này có thể là một phần trong hành trình lâu dài của Việt Nam” và “Mỗi sự kiện có thể dẫn đến những điều chỉnh trong một giai đoạn, nhưng nhìn chung đều đóng góp vào sức hấp dẫn và tăng trưởng tích cực”

Theo Reuters