5 khu nghỉ dưỡng Việt biệt lập bên biển

Có giá thấp nhất từ 6 triệu đồng cho một đêm nghỉ, các khu nghỉ trải dài trên đường biển Việt Nam được bao bọc bởi rừng, biển.

An Lam Retreats Ninh Van Bay là khu nghỉ dưỡng trên bán đảo thuộc vịnh Ninh Vân, Ninh Hòa, Khánh Hòa. Với vị trí này, khu nghỉ được bao bọc bởi rừng nguyên sơ, suối tự nhiên và bờ biển trải dài. Những âm thanh duy mà khách lưu trú có thể nghe thấy là tiếng sóng vỗ và gió biển thổi.

Ở đây có 37 biệt thự gỗ bên biển, trong rừng với 1-3 phòng ngủ. Các căn biệt thự có bể bơi riêng và chỉ cách vài bước chân sẽ xuống biển. Du khách đến đây có thể trải nghiệm chèo thuyền kayak, lên du thuyền ngắm hoàng hôn, thăm trại nuôi tôm hùm và cá, đi bộ đường dài bên suối hay đơn giản thư giãn với liệu trình spa 60 phút. Giá lưu trú từ 6,6 triệu đồng một đêm.

Zannier Hotels Bāi San Hô ở Phú Yên mới ra mắt trong Covid-19, song đã hút du khách bởi sự biệt lập và thiết kế độc đáo. Khu nghỉ tọa lạc trên bãi biển ở Sông Cầu, Phú Yên với tổng diện tích 98 ha. Bao quanh nơi đây là vườn, đồi và vùng biển cát vàng hoang sơ.

Khu nghỉ từng nhiều lần được lên báo nước ngoài, gồm 71 phòng và biệt thự, xây dựng theo 3 phong cách kiến trúc khác nhau như nhà sàn, nhà người Chăm và người Eden. Du khách sẽ ấn tượng với vẻ mộc mạc đến từ cách xây dựng, nội thất từ vật liệu tự nhiên như gỗ, mây, tre… Bên cạnh những buổi tắm biển dưới nắng ấm, đi dạo trong khuôn viên xanh mát thì du khách có thể lặn ống thở, lướt sóng, chèo thuyền… Giá lưu trú ở đây từ 10 đến gần 90 triệu đồng một đêm.

>> Resort ở Phú Yên được nhiều sao Việt ghé thăm

Anantara Quy Nhon Villas nằm riêng biệt trên Bãi Dài, Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn. Khu nghỉ rộng 3 ha, có ba mặt giáp núi và một mặt hướng biển, với 26 biệt thự nằm rải rác, đảm bảo cho du khách có một kỳ nghỉ riêng tư. Ở đây du khách có thể có quản gia riêng. Trong khi nghỉ ngơi bên hồ bơi xanh mát, nghe tiếng sóng biển vỗ, bạn sẽ được thưởng thức những món ăn đường phố do quản gia chuẩn bị.

Các căn biệt thự ở đây đều hướng biển, với diện tích từ 168 m2 đến 384 m2, tương ứng với 2-4 người lớn. Nội thất được thiết kế đơn giản, song không kém sang trọng với gỗ địa phương, đá cẩm thạch và đá granite.

Khu nghỉ còn nhiều trải nghiệm mà du khách yêu thích như bể bơi ngoài trời sát biển, nhà hàng với lẩu hấp dẫn, thư giãn ở spa trong rừng… Giá lưu trú ở đây từ 6,4 triệu đồng một đêm.

Ẩn mình tại vùng đất thanh vắng, Six Senses Con Dao là khu nghỉ dưỡng 5 sao đầu tiên tại Côn Đảo, Bà Rịa Vũng Tàu. Quần thể biệt thự tọa lạc ở bãi Đất Dốc, bên bãi biển dài 1,6 km, giữa hình vòng cung được tạo bởi núi non hùng vĩ, phía trước mặt là biển.

50 căn biệt thự sát biển đều có hồ bơi vô cực riêng. Tất cả được thiết kế dựa trên cảm hứng từ làng chài Việt Nam nên chi tiết trang trí, nội thất đều mộc mạc. Mỗi sáng, du khách sẽ được đánh thức bởi ánh nắng, tiếng sóng vỗ như ở ngay dưới chân. Giá lưu trú ở đây từ 10 triệu đồng mỗi đêm.

>> Vẻ đẹp khu nghỉ dưỡng tốt nhất Đông Nam Á ở Côn Đảo

Fusion Resort Phu Quoc nằm trên vùng đất trù phú, được bao bọc bởi rừng nguyên sinh, kế bên là dòng sông chảy ra biển. Nơi đây mang đến một không gian bình yên, tĩnh lặng cho du khách sau ngày dài làm việc căng thẳng.

Được xây dựng trên ý tưởng một chốn bình yên, ở đây có 140 biệt thự, mang vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc Việt Nam và hơi thở đương đại. Mỗi căn có một đến 5 phòng ngủ, phù hợp với kỳ nghỉ dưỡng của cặp đôi, gia đình.

Lưu trú tại đây, du khách như được bước vào một ốc đảo với cây cối xanh um, tránh xa những ồn ã của thành phố. Đặc biệt, khu nghỉ chỉ sử dụng các vật liệu xây dựng, trang trí thân thiện với môi trường như nội thất gỗ, thẻ cửa bằng gỗ, chai nước thủy tinh… Tất cả mang đến sự mộc mạc, gần gũi. Giá lưu trú ở đây từ 6 triệu đồng mỗi đêm.

Lan Hương / Ảnh: Khu nghỉ dưỡng

Địch có thể thấy ta…

Iphone lóe sáng. Đang trong cuộc họp (dĩ nhiên là do sếp Tổng chủ trì), tôi cầm di động bước ra ngoài. H. có lẽ là thằng bạn đúng nghĩa của từ bạn, tức là biết báo nguy khi thấy bạn sắp sửa lâm nguy, nói nhỏ:

– Mày mở meo ngay!

– Tao đang họp.

– Họp cũng mở! Mở thì mở. Thời nối mạng mọi lúc mọi nơi, nhiều lúc đang ngồi với “đối tác” nơi này mà đầu ngón tay vẫn “cảm ứng” với “đối tác” nơi kia . Trong lúc sếp đang hào hứng nói về cái dự án đẩy cái Tổng công ty bề thế tiếp tục tiến ào ào về phía trước, thì tôi dán mắt vào cái meo khẩn từ đường link. Nhấp chuột.

Đập vào mắt là cái tiêu đề chữ in đậm nét: “ĐỊCH THẤY TA, NHƯNG TA KHÔNG THẤY ĐỊCH!”. Phản xạ đầu tiên, tôi lia mắt qua tay phó (đối thủ cũng nhăm nhe cái ghế Tổng như tôi) đang chăm chú như không để bỏ ngoài tai lời nào từ miệng sếp, nhất là khi biết rõ cái miệng đó chỉ còn 4 tháng 7 ngày nữa là về hưu, là không còn cơ hội khua môi múa mép và dĩ nhiên, vị trí đó, chỗ ngồi đó và quan trọng hơn là cái “tiền đồ” trĩu nặng đó sẽ thuộc về hắn hoặc tôi.

Tạm yên chí là “Ta thấy địch nhưng địch chưa phát hiện ra ta”, tôi cúi xuống màn hình đọc tiếp: “Quý ông và cả quý bà cần đề phòng khi ở khách sạn…”. Bài viết khá dài. Tôi dừng lại đọc kỹ đoạn này: “Khi ta vào phòng rửa mặt, phòng vệ sinh, phòng tắm, phòng thay quần áo và cả khi ta phiêu diêu trên giường, thì ta đâu biết rằng có thể cũng là lúc có biết bao nhiêu đôi mắt đang nhìn ta từ sau những tấm gương đang treo trên tường. Thoạt nhìn, những tấm gương đều có vẻ bình thường, nhưng biết đâu đó chính là tấm gương hai chiều, là những camera tự động đã cài vào đó mà mọi hành vi của ta đều lọt vào mắt địch…”.

Con chữ nhảy múa. Tôi không thể đọc tiếp. Tôi liếc tay Phó. Điện thoại hắn cũng đang có tín hiệu. Cả di động trước mặt sếp cũng lóe sáng. Biết đâu… bài cảnh báo địch – ta đang được những người bạn chí cốt tức tốc gởi đến chiến hữu của mình.

Cuộc họp kết thúc. Định chuồn. Nhưng thói quen đã khiến đôi chân không bước nhanh như ý muốn. Thói quen lại kéo tôi sà vào màn tiệc tùng chúc tụng kế hoạch mới, dự án mới, thắng lợi mới. Rồi sau đó, tôi biết sẽ không thể cưỡng lại được sự chèo kéo vào tăng 2 lên tăng 3.

Thực ra, khi lên chức phó (nhưng lại là sếp của nhiều công ty thành viên rải rác từ Bắc vô Nam), thời gian đầu tôi cũng cố ra sức giữ mình. Đi công cán, nghỉ nhà khách hay khách sạn, trên giường ngủ tôi nằm chèo queo với mấy cái gối ôm. Nhưng cái sự trong sạch xem ra chẳng đem lại lợi lộc bản thân mà nhiều phen còn làm chướng mắt và gây khó xử cho những mối quan hệ chồng chéo công – tư. Một khi đã gây khó xử thì sẽ kéo theo lủ khủ cái khó khác. Nhiều cái khó sẽ thành trở lực. Nhiều trở lực thành phản lực. Mà phản… Tôi tặc lưỡi. Thôi, đừng gồng lên, đừng gây khó cho mình, cho người. Phải đổi. Phải mới. Phải biết thư giãn… Thế là gối ôm bị đẩy ra khỏi giường. Còn gì sướng bằng ôm một thân thể (dĩ nhiên là không phải là vợ) nõn nường, thơm tho. Cứ thế, sau mỗi chuyến công cán, chủ khách càng gắn bó, càng hiểu ý nhau. Công việc chạy ào ào. Và lần nào cũng vậy, trước khi về đến nhà, tài xế biết ý, dừng xe trước Parkson để tôi bước vào chọn mua cho vợ một lô quà tặng, thường là nước hoa, đồ lót, đồ trang sức. Vợ nhận quà, rạng rỡ, chìu chuộng, tin chồng lúc nào cũng chỉ có vợ là duy nhất.

Ra đường được “đối tác” chiều, về nhà được vợ chuộng, tôi thấy mình sướng như ông hoàng nếu như đừng thòm thèm cái ghế sếp Tổng và nếu như… không có cái nguy cơ “Địch có thể thấy ta…”. Ô-tô trườn rì rì trên đường đến điểm “thư giãn” quen thuộc. Thấy phập phồng, tôi chồm về phía tài xế:

– Hay mình… đừng đến đó? – Sao vậy sếp? Tài xế ngạc nhiên.

Tôi buột miệng:

– Địch có thể… thấy ta!

Tài xế điềm nhiên nhìn vào kính chiếu hậu, nói:

– Ta cũng có thể… thấy địch, sợ gì, sếp? Lời trấn an của tài xế lại khiến tôi thêm bất an.

Tôi nói vào tai cậu ta:

– Sợ gương hai chiều, sợ ca-mêra! – Em thì chỉ sợ tắc đường thôi!

– Đường tắc rồi sẽ thông nhưng đường công danh mà tắc thì… nghẽn hết

Tôi bỗng nói như hét:

– Thôi, dừng, dừng ngay, cho tôi xuống!

– Đâu phải muốn dừng là dừng, muốn xuống là xuống được ngay đâu, sếp?

Đúng như lời tài xế. Phía trước có vụ va quẹt. Lập tức dòng xe đang trôi lờ đờ bỗng tắc nghẽn. Tài xế gác tay lên vô lăng, chờ. I phone liên tục lóe sáng. Tốp đến trước giục. “Đối tác” réo. H. thì thì thào:

– Mày đọc chưa?

– Đọc rồi!

– Mày xem chưa?

– Xem gì?

– Xem hình mày…

Mặt tôi có cắt chắc không còn một chút máu. Thì ra, địch đã thấy ta…
 

Bích Ngân / Nguồn: Tuổi Trẻ Cười.

Bài phát biểu của Aleksandr Solznhenitsyl tại Trường Đại học Harvard (phần 2)

 TÔ HOÀNG /https://vanchuongthanhphohochiminh.vn
(Sưu tầm và chuyển ngữ từ tiếng Nga)

Aleksandr Solznhenitsyl

Đã từng tham gia cuộc Chiến tranh chống Phát xít Đức (1941-1945), dưới thời Stalin. Sau chiến tranh bị áp chế đi đày tại Siberi, Aleksandr Solznhenitsyl đã trở thành nhà văn nổi tiếng với các tác phẩm như “Một ngày của Ivan Denisovist”, “Quần đảo Gulas “… lên án chế độ độc tài chuyên chế thời Xô Viết. Bỏ nước Nga, sang sống ở Phương Tây và Mỹ mong tìm được thế giới như mong đợi. Nhưng rồi Aleksandr Solznhenisyl cũng phải trở về Nga vào đầu những năm 1990, để cuối cùng tìm đức tin và lời giải thích ở Chính thống giáo.

Bài phát biểu dưới đây của nhà văn cũng đã cách nay 43 năm. Tình cờ tìm được, xin giới thiệu với các bạn để hiểu thêm những trải nghiệm, những suy ngẫm và tiên đoán của ông vẫn còn có giá trị đến tận hôm nay…

(Tiếp theo – Phần 2) 

Có nên nhắc bạn nhớ rằng sự can đảm gục ngã đã từ lâu được coi là dấu hiệu đầu tiên của sự kết thúc?

Khi các quốc gia phương Tây hiện đại thành lập, nguyên tắc được xác quyết là: chính phủ phải phục vụ con người, và con người sống trên trái đất để có tự do và phấn đấu cho hạnh phúc (ví dụ, xem Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ). Quả là trong những thập kỷ gần đây,những tiến bộ kỹ thuật và xã hội đã biến điều mong đợi thành hiện thực: nhà nước đã để mắt tới phúc lợi. Mỗi công dân nhận được quyền tự do như mong ước và số lượng cũng như chất lượng của các lợi ích vật chất mà theo lý thuyết, lẽ ra sẽ đảm bảo hạnh phúc của họ – trong khi sự hiểu biết ngày một giảm như những gì được tạo ra trong thập kỷ ấy. (Chỉ thiếu một chi tiết tâm lý: khao khát liên tục có nhiều hơn, tốt hơn và cuộc đấu tranh dữ dội cho điều này đã in sâu trên khuôn mặt nhiều người phương Tây bởi sự lo lắng và thậm chí bởi nỗi áp nén, mặc dù những biểu hiện này thường được che giấu cẩn thận. Sự cạnh tranh tích cực, căng thẳng đã thâu tóm mọi suy nghĩ của con người và hoàn toàn không mở ra sự phát triển tự do tinh thần). Sự độc lập của con người được bảo đảm bởi nhiều dạng áp chế của nhà nước; được bảo đảm bảo bởi nhiều sự tiện nghi mà thế hệ cha và ông họ không hình dung được. Đã xuất hiện một cơ hội giáo dục những người trẻ trong những lý tưởng này, kêu gọi và chuẩn bị cho họ sự thịnh vượng về thể chất, hạnh phúc,về sự sở hữu mọi vật dụng, tiền bạc, sự nhàn hạ, niềm vui tự do gần như không giới hạn – nhưng bây giờ ai đây, vì cơn cớ gì, tại sao lại phải từ bỏ tất cả những điều này và mạo hiểm mạng sống quý giá của mình để bảo vệ lợi ích chung, và đặc biệt là trong trường hợp mơ hồ khi an ninh của người dân của chính xứ sở mình lại cần được bảo vệ ở một đất nước xa xôi nhường ấy ? Ngay cả về mặt sinh học người ta cũng biết rằng thói quen vươn đến một cuộc sống thỏa mãn nhu cầu cao cũng không phải là một ưu thế cho mỗi vật thể sống. Ngày hôm nay, ngay trong cuộc sống của xã hội phương Tây, sự sung túc đã bắt đầu lộ ra cái mặt nạ hủy diệt

Phù hợp với những mục tiêu của nó, xã hội phương Tây đã chọn cho mình hình thức tồn tại, mà tôi tạm gọi là hợp pháp. Ranh giới của quyền hạn và quyền con người đáng được hưởng (rất rộng) được xác định bởi một hệ thống luật. Trong trạng thái pháp lý, trong sự dịch chuyển và tùy cơ ứng biến, người phương Tây đã có được kỹ năng và tính kiên định tuyệt vời. (Tuy nhiên, luật phức tạp đến mức một người bình thường chịu bất lực khi hành động mà không có sự hỗ trợ của các chuyên gia.). Bất cứ một xung đột nào cũng đều được giải quyết theo luật – và đây là quyết định cao nhất. Nếu một người đã có quyền về mặt pháp lý thì không cần yêu cầu gì cao hơn nữa. Sau đó, cũng không một ai có thể chỉ cho anh ta chỗ chưa hoàn bị của cái quyền  anh ta đáng được hưởng, khiến anh ta phải tự kiềm chế,phải từ bỏ quyền lợi của mình, phải van xin mọi sự thương sót, mọi hành động liều lĩnh vô tư – điều này quả là đáng nực cười. Khó có thể tìm thấy khả năng tự kiềm chế: mọi người đều nỗ lực hướng tới sự cơi nới, trong khi khung pháp lý đã quá cứng ngắc. (Các công ty dầu mỏ xét về mặt luật pháp hoàn toàn không bị cấm đoán khi mua một phát minh về một loại năng lượng mới và để phát minh ấy nằm ngủ yên trong kho. Luật pháp cũng không cấm đoán những thực phẩm bị nhiễm độc khi kéo dài thời hạn xử dụng. Bởi người tiêu thụ có quyền tự do không mua những thực phẩm ấy cơ mà!  

Một xã hội mà không có những thước đo nào khác nữa ngoài luật pháp thì xã hội ấy cũng rất ít xứng đáng với con người. (Vỗ tay). Một xã hội dựa trên luật pháp,mà không hành động cao hơn thế,xã hội ấy cũng chỉ sử dụng một cách yếu ớt tầm cao năng lực con người. Luật pháp quá lạnh lùng và rất hình thức để gây ảnh hưởng có lợi cho xã hội. Khi tất cả cuộc sống đều tràn ngập các mối quan hệ pháp lý, một bầu không khí tầm thường về tinh thần,làm mất đi những chuyến cất cánh tốt nhất của con người lập tức sẽ nẩy sinh.(Vỗ tay).

Trước những thử thách của thế kỷ đầy đe dọa   sắp tới, sẽ không thể đơn giản chút nào nếu chỉ biết dựa vào những cây gậy chống pháp lý.

Trong xã hội phương Tây ngày nay, sự mất cân bằng đã mở ra giữa tự do cho những hành động tốt và tự do cho những hành động xấu. Và một chính khách muốn thực hiện một công việc sáng tạo lớn cho đất nước của mình buộc phải đi những bước thận trọng, thậm chí rụt rè, anh ta liên tục bị bao phủ bởi hàng ngàn nhà phê bình vội vàng (và vô trách nhiệm), anh ta liên tục bị báo chí và quốc hội níu kéo lại. Anh ta cần chứng minh sự hoàn hảo cao và sự công minh của từng bước. Trên thực tế, một người xuất chúng, vĩ đại, với những biện pháp bất ngờ khác thường, hoàn toàn không thể xuất hiện – ngay từ đầu họ sẽ thay thế mười chuyến đi cho anh ta. Vì vậy, sự tầm thường chiến thắng dưới chiêu bài hạn chế dân chủ.

Sự suy yếu của quyền lực hành chính ở mọi nơi có sẵn và miễn phí, và tất cả các quyền lực của các nước phương Tây đã suy yếu rõ rệt. Việc bảo vệ các quyền của cá nhân đã được thực hiện đến mức cực độ mà bản thân xã hội đã trở nên vô phương tự vệ (vỗ tay )…. từ các cá nhân khác, và ở phương Tây đã đến lúc không còn bảo vệ quá nhiều quyền của con người như nghĩa vụ của họ. (vỗ tay)

Ngược lại, tự do phá hủy, tự do vô trách nhiệm đã giành được phạm vi rộng lớn nhất. Xã hội hóa ra được bảo vệ một cách yếu ớt khỏi vực thẳm sa ngã của con người, chẳng hạn như khỏi sự lạm dụng tự do truyền bá bạo lực đạo đức chống ở tuổi thanh niên,đạo loại như phim có nội dung khiêu dâm, tuyên truyền bạo lực hoặc ma quỷ (vỗ tay): tất cả đều xếp vào lĩnh vực tự do và về lý thuyết được cân bằng với quyền tự do của một tuổi trẻ không nhận thức được chúng. Vì vậy, cuộc sống theo luật hóa ra là không có khả năng  tự bảo vệ mình khỏi cái ác đang ăn mòn.

Chúng ta có thể nói gì về khoảng trống tối đen  của tội phạm trực tiếp? Chiều rộng của khung pháp lý (đặc biệt là của Mỹ) không chỉ khuyến khích tự do cá nhân, mà còn khuyến khích cả một số tội ác của nó, tạo cho tội phạm cơ hội không bị trừng phạt hoặc còn nhận được sự khoan hồng không đáng có trong sự ủng hộ của hàng nghìn những người bảo vệ công chúng kia. Nếu ở đâu nhà cầm quyền tiến hành tiêu diệt triệt để chủ nghĩa khủng bố, công chúng ngay lập tức tố cáo họ đã vi phạm quyền công dân của bọn cướp ( Vỗ tay ) Có thể nêu ra đây rất nhiều ví dụ tương tự.

Toàn bộ thiên hướng tạo sự tự do đối với cái ác đã dần dần hình thành, nhưng cơ sở chính của nó, rõ ràng, được đặt cơ sở bởi khái niệm nhân đạo nhân văn rằng con người, chủ nhân của thế giới này không mang trong mình điều xấu; mọi tệ nạn của cuộc sống chỉ đến từ hệ thống xã hội không đúng đắn, cần được điều chỉnh. Thật kỳ lạ, ở phương Tây nơi những điều kiện xã hội tốt nhất đã đạt được,thế mà tội phạm không nghi ngờ gì còn cao hơn nhiều so với xã hội Xô Viết.

Báo chí đương nhiên cũng được hưởng quyền tự do rộng rãi nhất (tôi sẽ dùng từ này xa hơn, bao gồm toàn bộ các phương tiện truyền thông). Nhưng bằng cách nào?

Một lần nữa: nếu chỉ không vượt qua khuôn khổ pháp lý, nhưng không có bất kỳ trách nhiệm đạo đức thực sự nào đối với việc bóp méo, đối với sự thay đổi tỷ lệ. Nhà báo và tờ báo có trách nhiệm gì với công chúng đọc hay với lịch sử? Nếu họ dẫn dắt công chúng với thông tin không chính xác hoặc kết luận sai trái, thậm chí góp phần vào sai phạm của nhà nước, thì liệu có trường hợp nào sau này của nhà báo này, tờ báo kia được người đọc tha thứ?  Không, nó sẽ làm giảm giá bán. Trong trường hợp như vậy, nhà nước có thể thua, nhưng nhà báo luôn ra sân khô khan. Nhiều khả năng bây giờ anh ta sẽ viết ngược lại cái cũ với cái mới.

Nhu cầu cung cấp thông tin có thẩm quyền tức thì buộc chúng ta phải lấp đầy khoảng trống bằng những phỏng đoán, thu thập những tin đồn và giả thiết sẽ không bao giờ bác bỏ được, nhưng sẽ đọng lại trong trí nhớ của quần chúng. Bao nhiêu nhận định vội vàng, thiếu thận trọng, thiếu chín chắn, sai lầm được thể hiện hàng ngày, đánh lừa tâm trí người đọc – và cứ thế họ đóng băng! (Appl.) Báo chí có khả năng mô phỏng dư luận và giáo dục nó một cách tàn tệHoặc là một Herostratus vinh quang cho những kẻ khủng bố được tạo ra, sau đó ngay cả bí mật quốc phòng của đất nước của họ bị tiết lộ, sau đó họ can thiệp vào cuộc sống cá nhân của những người nổi tiếng với khẩu hiệu: “Mọi người có quyền biết mọi thứ.” (vỗ tay ).(Khẩu hiệu sai lầm của thời đại giả dối: cao hơn nhiều là quyền bị mất của con người không được biết, không được làm tắc nghẽn tâm hồn thiêng liêng của họ bằng những câu chuyện phiếm, tầm phào, những điều vô nghĩa vu vơ. (vỗ tay). Con người của việc làm chân chính và có ý nghĩa cuộc sống không cần đến luồng thông tin quá nặng nề này.)

Sự hời hợt và vội vàng – căn bệnh tâm thần của thế kỷ 20 – được báo chí nêu rõ nhất. Chống chỉ định báo chí phải đi sâu vào vấn đề, không đúng bản chất của nó, chỉ đưa ra những công thức giật gân. Sự hời hợt và vội vàng – căn bệnh tâm thần của thế kỷ 20 – được báo chí nêu rõ nhất. Việc báo chí vào sâu vấn đề là chống chỉ định, nó không đúng bản chất của nó, nó chỉ chộp giật những công thức giật gân.

Và với tất cả những phẩm chất đó, báo chí đã trở thành lực lượng chủ yếu của các nhà nước phương Tây, vượt qua cả quyền lực của cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp. Và trong khi đó: theo luật bầu cử nào cô ấy được bầu và cô ấy phải chịu trách nhiệm cho ai? Nếu ở phương Đông cộng sản, một nhà báo được công khai bổ nhiệm làm quan chức chính phủ, thì ai đã chọn các nhà báo phương Tây cho nhà nước quyền lực của họ? trong bao lâu và với những quyền hạn nào?

Và một điều ngạc nhiên nữa đối với một người đến từ phương Đông độc tài toàn trị, với sự thống nhất chặt chẽ của báo chí: báo chí phương Tây nói chung cũng bộc lộ một chiều hướng cảm thông chung (ngọn gió của thế kỷ), được thừa nhận chung là ranh giới phán xét cho phép, và có thể là lợi ích chung của công ty, và tất cả những điều này hoạt động cùng nhau không phải là cạnh tranh, mà là đồng nhất. Quyền tự do không bị gò bó tồn tại đối với bản thân báo chí, nhưng không có đối với độc giả (vỗ tay). Báo chí chỉ truyền đạt những ý kiến ​​không mâu thuẫn với ý kiến ​​của chính mình và của phương hướng chung này một cách khá sinh động và sâu sắc.

Không có bất kỳ sự kiểm duyệt nào ở phương Tây, việc lựa chọn tỉ mỉ những suy nghĩ thời thượng từ những suy nghĩ không hợp thời được thực hiện – và những suy nghĩ sau này, mặc dù không bị ai cấm, không có con đường thực sự trên báo chí định kỳ, qua sách báo, hoặc từ các khoa đại học. (vỗ tay ) Tinh thần của các nhà nghiên cứu là tự do về mặt pháp lý – nhưng được đóng khung bởi các thần tượng của thời trang ngày nay. Không phải bằng bạo lực trực tiếp, như ở phương Đông, mà bởi sự lựa chọn thời trang này, bởi nhu cầu thỏa mãn các tiêu chuẩn của đại chúng, những cá nhân có tư duy độc lập nhất bị loại bỏ khỏi sự đóng góp của họ cho cuộc sống cộng đồng, và những đặc điểm nguy hiểm của hành vi bầy đàn xuất hiện, điều này che khuất hiệu quả phát triển. Ở Mỹ, tôi nhận được những lá thư những người rất thông minh, một giáo sư của một trường đại học ở tỉnh xa, người sẽ làm rất nhiều để làm mới và cứu đất nước của mình – nhưng đất nước không thể nghe thấy anh ta: truyền thông sẽ không đưa tin về anh ta. Điều này tạo ra định kiến ​​số đông mạnh mẽ, mù quáng, rất nguy hiểm trong thời đại năng động của chúng ta. Ví dụ, sự hiểu biết ảo tưởng về tình hình thế giới hiện tại là một cái vỏ hóa đá quanh đầu đến nỗi không một tiếng nói nào của con người từ 17 quốc gia Đông Âu và Đông Á có thể xuyên qua nó, mà sẽ chỉ phá vỡ những biến cố không thể tránh khỏi của nó.

Tôi đã liệt kê một số đặc điểm của cuộc sống phương Tây khiến một người đã đến thế giới này một lần nữa phải kinh ngạc. Các khía cạnh và mục tiêu của bài phát biểu này không cho phép chúng tôi tiếp tục xem xét: làm thế nào những đặc điểm này của xã hội phương Tây được phản ánh trong các khía cạnh quan trọng của sự tồn tại quốc gia như giáo dục tiểu học, giáo dục đại học về nhân văn và nghệ thuật.

Đương nhiên ngay cả báo chí cũng được hưởng quyền tự do rộng rãi nhất (tôi sẽ dùng từ này xa hơn, bao gồm toàn bộ giới truyền thông). Nhưng bằng cách nào?

Một lần nữa, nếu dường như chỉ không được phép vượt qua khuôn khổ pháp lý, nhưng không có bất kỳ trách nhiệm đạo đức thực sự nào về việc bóp méo hay thay đổi tùy tiện tỷ lệ thì sẽ ra sao đây?

Nhà báo và tờ báo có trách nhiệm gì với công chúng bạn đọc hay trước lịch sử không? Nếu họ dẫn dắt dư luận xã hội vào con đường sai trái với những thông tin không chính xác hoặc những kết luận không đúng, thậm chí góp phần vào sai phạm của nhà nước, thì liệu có trường hợp nào sau này nhà báo hay tờ báo được công chúng cảnh tỉnh? Không, điều đó sẽ làm giảm ấn bản. Trong trường hợp tương tự, nhà nước có thể chịu tổn thất, nhưng nhà báo bước ra khỏi cuộc vẫn ngon lành. Nói đúng ra bây giờ anh ta sẽ viết cái mới ngược lại với cái cũ.

Nhu cầu cấp thiết phải có những thông tin chớp nhoáng được bảo chứng buộc anh ta phải lấp đầy khoảng trống bằng những phỏng đoán, khi thu nạp những tin đồn và những giả thiết mà sau đó sẽ không bao giờ bác bỏ được, nhưng sẽ đọng lại trong trí nhớ của mọi người. Bao nhiêu nhận định vội vàng, thiếu thận trọng, thiếu chín chắn, sai lầm được thể hiện hàng ngày sẽ đánh lừa tâm trí người đọc – và cứ thế đóng băng! (vỗ tay). Báo chí có khả năng và biết mô phỏng dư luận xã hội và nuôi dưỡng dư luận ấy một cách sai lệch. Lúc thì tạo những vinh quang giả tạo cho bọn khủng bố, lúc thì làm như phát lộ được những bí mật quốc phòng của đất nước mình, lúc thì trơ trẽn can thiệp vào cuộc sống cá nhân của những người nổi tiếng với khẩu hiệu: “Mọi người có quyền biết mọi thứ.” (vỗ tay) của đất nước họ bị tiết lộ (khẩu hiệu giả dối của thế kỷ giả dối: những lợi lộc mà con người bị tước đoạt còn nhiều hơn nữa, không nên để họ biết, không được làm tắc nghẽn tâm hồn thiêng liêng của họ bằng những câu chuyện phiếm, tầm phào, những điều vô nghĩa vu vơ. (vỗ tay). Con người của những việc làm chân chính và của một cuộc sống có ý nghĩa không cần đến những luồng thông tin quá nặng nề này).

Thái độ hời hợt và sự vội vàng – căn bệnh tâm lý của thế kỷ 20 – càng được biểu hiện rõ rệt trong lãnh vực báo chí. Việc báo chí đi sâu vào vấn đề là điều không tưởng, nó không đúng bản chất của nó, nó chỉ lưu tâm tới những gì giật gân.

Và với tất cả những phẩm chất như thế, báo chí đã trở thành lực lượng chủ yếu của các nhà nước phương Tây, vượt qua cả quyền lực của cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp. Xin được hỏi ngay, theo điều luật nào để biết báo chí được cử ra là đại diện cho ai? Nếu ở phương Đông cộng sản, một nhà báo được công khai bổ nhiệm như một quan chức chính quyền, thì ai đã chọn các nhà báo phương Tây vào bộ máy quyền lực? Và trong bao lâu với những quyền hạn nào?

Và còn một điều ngạc nhiên nữa đối với một người đến từ phương Đông độc tài toàn trị, nơi ngự trị sự đơn giọng chặt chẽ của báo chí: Báo chí phương Tây nói chung cũng bộc lộ ra khuynh hướng thiện cảm (ngọn gió của thế kỷ), với những giới hạn đã được thừa nhận của những phán xét, và có thể là với cả lợi lộc chung của công ty, và tất cả những điều này hoạt động cùng nhau không phải là cạnh tranh mà là thống nhất. Tự do không bị gò bó tồn tại đối với bản thân báo chí, nhưng không có đối với người đọc (vỗ tay). Một cách khá sinh động và sáng tạo báo chí chỉ truyền đạt những gì không mâu thuẫn với chính kiến và khuynh hướng chung của chính báo chí.

Việc lựa chọn tỉ mỉ những suy nghĩ thời thượng từ những suy nghĩ không thời thượng khiến cho không có bất kỳ sự kiểm duyệt báo chí nào ở phương Tây.Tuy vậy những gì không thời thượng, mặc dù không bị ai cấm, cũng không thể tìm được đường đến với báo chí định kỳ, đến với sách hay các khoa giảng dạy tại các trường đại học (vỗ tay). Hồn cốt các nhà nghiên cứu của các bạn được bảo đảm tự do về mặt pháp lý – nhưng bị đóng khung bởi các thần tượng đang ngự trị. Không phải bằng bạo lực trực tiếp, như ở phương Đông, nhưng bằng sự lựa chọn thời thượng này, bằng việc nhu cầu thỏa mãn các chuẩn mực của số đông, những cá nhân có tư duy độc lập nhất bị gạt bỏ sự đóng góp của họ cho cuộc sống cộng đồng, và những đặc điểm nguy hiểm của hành vi bầy đàn xuất hiện, che lấp hiệu quả phát triển. Ở Mỹ, tôi hay nhận thư từ của những người rất thông minh, một giáo sư nào đó ở một trường đại học tỉnh xa, người có thể đóng góp rất nhiều vào công cuộc đổi mới và cứu rỗi đất nước của các bạn, nhưng đất nước không thể nghe thấy lời khuyên nhủ của ông truyền thông sẽ không đón nhận ý kiến của ông ta. Và như thế sẽ hình thành định kiến của số đông mạnh mẽ, mù quáng, gây nên hiểm họa trong thời đại năng động của chúng ta. Ví dụ, sự hiểu biết ảo tưởng về tình hình thế giới hiện tại trở thành cái mũ đá chụp lên đầu đến mức không một tiếng nói nào của con người từ 17 quốc gia Đông Âu và Đông Á có thể xuyên qua, khiến mọi sự biến không tránh khỏi sẽ rơi vào thinh không.

Tôi đã liệt kê một số đặc điểm của cuộc sống phương Tây khiến những ai ở thế giới này chắc sẽ kinh ngạc. Số dòng, số trang và mục đích của bài phát biểu này không cho phép chúng tôi tiếp tục mổ sẻ thêm để biết những đặc điểm như thế của xã hội phương Tây được phản ánh như thế nào trong các mặt quan trọng của sự tồn tại quốc gia như giáo dục tiểu học, giáo dục đại học và trong lĩnh vực nhân văn, nghệ thuật.

Hầu hết mọi người đều thừa nhận rằng phương Tây đang chỉ cho toàn thế giới thấy một con đường phát triển kinh tế thuận lợi, tuy gần đây đã bị cản trở bởi sự lạm phát hỗn loạn. Và nhiều người sống ở phương Tây không hài lòng với xã hội của họ, coi thường nó hoặc trách móc rằng nó không còn tương ứng với độ chín của một nhân loại đã trưởng thành.

Nhưng nếu ai hỏi tôi, tôi có muốn gợi ý cho đất nước Nga của mình hình mẫu xã hội phương Tây hôm nay không, tôi sẽ buộc phải trả lời thẳng thắn: không, tôi không thể giới thiệu xã hội các bạn như một mẫu hình cho việc cải tạo xã hội của chúng tôi. Đối với những gì mà xã hội chúng tôi phải gánh chịu trong thế kỷ này, hệ thống phương Tây đã ở dạng kiệt quệ về mặt tinh thần hiện nay dường như không có gì hấp dẫn. Ngay cả những gì được liệt kê, được làm om xòm về cuộc sống của bạn cũng vô cùng đáng thất vọng.

Có một thực tế không có gì đáng nghi ngờ: những biện pháp làm thư giãn tính cách người ở phương Tây và củng cố chúng ở phương Đông. Trong sáu thập kỷ, dân tộc chúng tôi và ba thập kỷ các dân tộc ở Đông Âu đã trải qua một trường học tinh thần vượt xa kinh nghiệm của phương Tây. Cuộc sống khó khăn và những áp bức sinh tử đã buộc các cộng đồng dân tộc ấy phát triển tính cách mạnh mẽ, sâu sắc và thú vị hơn so với cuộc sống thịnh vượng, quy củ của phương Tây. Chính vì thế, đối với xã hội của chúng tôi, việc hướng tới lối sống của các bạn dường như không phải là để nâng cao hơn mà ngược lại thế là một sự hạ thấp hơn và phải trả với một cái giá rất đắt.

Đúng là không thể kìm giữ xã hội dưới đáy sâu của sự vô luật pháp, nhưng chúng tôi cũng không muốn nó sẽ êm dịu ngọt ngào trong luật pháp như ở xã hội của các bạn. Tâm hồn con người bị kiệt quệ dưới nhiều thập kỷ bạo lực, cần phải hướng tới một thứ gì đó cao hơn, ấm áp hơn, thuần khiết hơn những gì mà sự tồn tại đại chúng của phương Tây hôm nay giống như một lá bài nhiều sắc màu của quảng cáo, của truyền hình, của âm nhạc không xài nổi đang phô bày trước mắt chúng tôi. (vỗ tay).

Và tất cả những điều đó nhiều nhà quan sát, từ tất cả các nơi trên hành tinh của chúng ta đều đã được tận mắt chứng kiến. Lối sống Phương Tây ngày càng có ít triển vọng trở thành hình mẫu dẫn dắt.

Có những cảnh báo về triệu chứng mà lịch sử gửi đến cho một xã hội đang bị đe dọa hoặc sắp chết: ví dụ, sự sụp đổ của nghệ thuật hoặc sự thiếu vắng của các chính khách vĩ đại. Đôi khi những lời cảnh báo đó có thể cảm nhận được, hoàn toàn trực tiếp: trung tâm nền dân chủ và văn hóa của các bạn chỉ cần không có điện trong vài giờ – vậy thôi – và ngay lập tức cả đám đông công dân Mỹ lao vào cướp bóc và hãm hiếp. Những mét phim quay vội là như thế đó! Nhưng sự không vững chắc của một hệ thống xã hội và sự thiếu lành mạnh bên trong nội tại của xã hội ấy cũng nằm chính ở những mét phim quay vội này.

(còn nữa).

Bài phát biểu của Aleksandr Solznhenitsyl tại Trường Đại học Harvard (Phần 1)

Vì sao người dân ASEAN ghét Trung Quốc và thích Mỹ?

Vì sao người dân ASEAN ghét Trung Quốc và thích Mỹ?Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch TQ Tập Cận Bình trong cuộc gặp trực tuyến hôm 15/11/2021

 Reuters

Trung Quốc vẫn không chiếm được “trái tim” của người dân ASEAN

Bất chấp sự lôi kéo của Trung Quốc, những hoài nghi vẫn tồn tại ở Đông Nam Á. Lập trường của Bắc Kinh về cuộc chiến của Nga ở Ukraine có thể làm gia tăng những lo ngại ở khu vực này.

Trong hai năm qua, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã thực hiện ba chuyến công du đến Đông Nam Á. Tại đây, ông đã đến thăm tất cả 10 nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Mỗi lần ông đều đến với những lời đề nghị về vắc xin, viện trợ kinh tế và đầu tư cho khu vực bị đại dịch COVID-19 hoành hành này.

Khi ASEAN và Trung Quốc kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ đối thoại vào tháng 11/2021, sự hào phóng của Trung Quốc cũng được thể hiện hết mức. Ngoài vắc xin, Bắc Kinh còn cam kết mua nông sản của các nước ASEAN trị giá lên tới 150 tỷ USD trong năm năm tới. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khi đó phát biểu: “Trung Quốc đã, đang và sẽ luôn luôn là người láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của ASEAN” (1).

Nằm ngay ngưỡng cửa của Trung Quốc và vắt ngang các tuyến đường thương mại then chốt, Đông Nam Á có tầm quan trọng chiến lược đối với Bắc Kinh. Tuy nhiên, bất chấp những đề nghị hào phóng, Trung Quốc vẫn vừa được yêu vừa bị ghét ở Đông Nam Á. Đó là kết quả của cuộc khảo sát gần đây do Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) thực hiện (2).

000_8VY8XG.jpg
Chủ tịch TQ Tập Cận Bình phát biểu tại lễ khai mạc Hội chợ ASEAN – Trung Quốc Expo lần thứ 17 ở tỉnh Quảng Tây, TQ hôm 27/11/2020. AFP

Cuộc thăm dò ý kiến mới đây cho biết điều gì?

Được tiến hành hàng năm, khảo sát mới nhất của Viện ISEAS-Yusof Ishak là cuộc khảo sát lần thứ tư và cũng như các khảo sát trước đó, Trung Quốc được nhiều người đánh giá là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Tuy nhiên, nhiều người lo lắng về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc (64,4% lo lắng về ảnh hưởng kinh tế, và 76,4% lo lắng về ảnh hưởng chính trị và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc). Hơn một nửa (58,1%) không tin tưởng Trung Quốc “làm điều đúng đắn” để đóng góp cho hòa bình, an ninh, thịnh vượng và quản trị toàn cầu. Tỷ lệ này giảm nhẹ so với 59,6% trong báo cáo năm 2021 và cao hơn so với 51,5% trong cuộc khảo sát đầu tiên vào năm 2019.

57,8% số người được hỏi cho rằng Trung Quốc dành hỗ trợ mạnh nhất về vắc xin trong cuộc chiến chống đại dịch, thứ đến là Mỹ (23,2%), tiếp theo là Australia (4,7%).

Ngoại lệ duy nhất là Việt Nam, các cư dân của quốc gia này đã xếp Mỹ ở vị trí dẫn đầu như là đối tác chính trong ngoại giao vắc xin (52%), trong khi chỉ dành cho Trung Quốc 16% mà thôi.

Phần lớn những người tham gia khảo sát vẫn thừa nhận Trung Quốc có sức mạnh kinh tế mạnh nhất. Tại Việt Nam, những chỉ số này so với năm ngoái đã tăng từ 65,7% lên 71,5% với Trung Quốc và từ 13,7% lên 16,7% với Mỹ.

Có 64,4% công dân ASEAN tham gia khảo sát thấy lo ngại về sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế từ Trung Quốc, 68,1% hoan nghênh việc gia tăng ảnh hưởng từ Mỹ. Với người Việt Nam, những chỉ số này đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái: 72,8% người được hỏi không hài lòng vì gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc (năm 2021 là 90,4%) và 70,8% hoan nghênh đà gia tăng ảnh hưởng của Mỹ (năm 2021 là 87,5%).

Đa số công dân ASEAN cho biết Trung Quốc là đất nước có ảnh hưởng địa chính trị lớn nhất đối với khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, 52,8% số người tham gia khảo sát cho rằng Trung Quốc là quốc gia đứng đầu về ảnh hưởng địa chính trị, còn 32,6% cho rằng Mỹ mới là vị trí số một. Đồng thời, 80,3% người Việt Nam tham gia khảo sát lo ngại về sự gia tăng ảnh hưởng địa chính trị của Bắc Kinh và 83% hoan nghênh sự gia tăng ảnh hưởng của Washington.

Các công dân ASEAN đã chọn Mỹ là nước dẫn đầu toàn cầu về thương mại tự do, vượt lên đáng kể so với thủ lĩnh năm ngoái là Liên minh châu Âu; Trung Quốc ở vị trí thứ hai và thứ ba là ASEAN. Mặc dù Campuchia, Lào và Indonesia là những nước ủng hộ vị thế thủ lĩnh của Trung Quốc.

Trong lĩnh vực duy trì trật tự dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bộ ba Mỹ-ASEAN-EU đã thay thế bộ ba năm ngoái là EU – Mỹ -ASEAN. Đặc biệt, người dân Campuchia luôn chọn Trung Quốc là đất nước yêu thích, cũng như trong phần lớn các mục khác của cuộc khảo sát.

Trong lĩnh vực an ninh, 58,5% số người tham gia khảo sát cho rằng sự lớn mạnh của “Bộ tứ” mang tính xây dựng đối với khu vực, 1/3 số người tham gia khảo sát hy vọng rằng AUKUS (Liên minh Mỹ, Anh, Australia) sẽ giúp kiềm chế sức mạnh quân sự ngày càng nổi trội của Trung Quốc, trong khi 1/3 khác cho rằng liên minh mới này sẽ dẫn đến leo thang chạy đua vũ trang khu vực và đe doạ đến việc không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Trong bối cảnh cạnh tranh của các cường quốc, các quốc gia ASEAN tiếp tục ủng hộ đoàn kết ASEAN để bảo vệ trước sức ép của Mỹ và Trung Quốc (46,1%). Lập trường “không thiên về bên nào giữa Bắc Kinh và Washington” được 26,6% số người tham gia khảo sát đồng ý. Còn 16,2% số người được hỏi ý kiến muốn tìm kiếm một “bên thứ ba” để mở rộng không gian chiến lược.

Riêng tại Việt Nam, chỉ số về nguyện vọng này tăng mạnh nhất: từ 8% lên 21,5%.

Tuy nhiên, với câu hỏi – Sẽ chọn ai làm đối tác tương lai, Trung Quốc hay Mỹ – thì 57% người dự khảo sát trả lời “Mỹ” và chỉ 43% chọn “Trung Quốc”.

Hầu hết những người tham gia khảo sát (58,1%) không mấy tin hoặc hoàn toán không tin rằng Trung Quốc sẽ đóng góp cho hòa bình, an ninh và thịnh vượng toàn cầu. Một nửa trong số này cho rằng Bắc Kinh có thể lợi dụng sức mạnh kinh tế và quân sự để đe dọa lợi ích và chủ quyền quốc gia của đất nước họ. Ngược lại, mức độ tin tưởng vào Mỹ thời chính quyền Biden của cư dân Đông Nam Á đã tăng từ 47% lên 52,8%, trong đó hơn 50% (ở Việt Nam là 56,6%) trông đợi rằng nguồn lực kinh tế to lớn và ý chí chính trị của Mỹ sẽ đảm bảo cho Washington vị thế thủ lĩnh toàn cầu.

Đối với Việt Nam, vào năm 2022, số người tham gia khảo sát ủng hộ Bắc Kinh là 26,4% so với 16,0% vào năm 2021, còn dành thiện cảm cho Washington năm 2022 là 73,6% so với 84,0% trong năm 2021.

Tại sao các nước ASEAN ghét Trung Quốc và thích Mỹ?

Cuộc khảo sát cho thấy những lo ngại sâu sắc về các thiết kế của Trung Quốc đối với khu vực. Hơn 68% số người được hỏi coi Trung Quốc hoặc là cường quốc theo chủ nghĩa xét lại hoặc dần dần chiếm lấy vai trò của Mỹ với tư cách là nhà lãnh đạo khu vực. Ngay cả những người có quan điểm tích cực về mối quan hệ với Bắc Kinh cũng nêu lên những lo ngại hàng đầu của mình là các hành động hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông và sông Mekong cũng như ảnh hưởng kinh tế và chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc đối với đất nước họ.

Tập Cận Bình đã nói với những người đồng cấp ASEAN của mình rằng Trung Quốc không tìm kiếm bá quyền hay bắt nạt các nước láng giềng nhỏ hơn, nhưng quan điểm của các quốc gia Đông Nam Á lại cho rằng lời nói của Trung Quốc không đi đôi với việc làm. Dưới sự cai trị của Tập Cận Bình, Bắc Kinh đã quân sự hóa các đảo ở Biển Đông và ngày càng quyết đoán hơn về các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các thực thể trên Biển Đông và luôn đe doạ tới lợi ích biển của các quốc gia Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia.

Ngoài ra, các dự án trong Sáng kiến Vành đai và Con đường cũng đã khiến các quốc gia như Lào mắc nợ Trung Quốc nặng nề.

 Lâm Quang Long /RFA

Ai có thể “đâm sau lưng” Putin?

“Đâm sau lưng” một Vladimir Putin cáo già và luôn nghi kỵ như Tào Tháo chẳng phải chuyện dễ. Tuy nhiên, có thể thấy sự căng thẳng đang gia tăng giữa Putin với những nhân vật cấp cao nhất trong các cơ quan an ninh và quân đội…

Những màn chặt chém nội bộ

Sự kiện đánh dấu đầu tiên là việc Putin tổ chức cuộc họp hội đồng an ninh trên truyền hình, trong đó Putin công khai làm bẽ mặt Sergei Naryshkin, Giám đốc Cơ quan tình báo nước ngoài. Hai tuần sau, Putin ra lệnh quản thúc hai viên tướng Cơ quan An ninh Liên bang (FSB) và bắt đầu cuộc điều tra về sự yếu kém của tình báo cũng như việc sử dụng ngân quỹ vốn được chỉ định để nuôi các nhóm ủng hộ Kremlin ở Ukraine. Putin cũng buộc một phó chỉ huy Vệ binh Quốc gia từ chức. Đầu Tháng Tư, một trong những tướng FSB bị quản thúc và tống đến nhà tù Lefortovo.

Tổng hành dinh FSB (ảnh: Oleg Klimov/Getty Images)

Màn thanh trừng tiếp theo nhắm vào quân đội. Trong gần hai tuần đầu Tháng Ba, khi cuộc chiến Ukraine hoàn toàn bế tắc, Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Shoigu biến mất dạng. Khi tái xuất hiện trong một video về cuộc họp Hội đồng an ninh và sau đó là cuộc họp ở Bộ Quốc phòng, Shoigu trông như kẻ mất hồn. Ngày 9 Tháng Tư, Putin bổ nhiệm tướng Alexandr V. Dvornikov làm Tư lệnh chiến dịch Ukraine…

Tất cả chi tiết này cho thấy nội bộ Kremlin đang nhốn nháo và Putin đang canh chừng chính cái lưng của mình. Chính thành phần siloviki (những viên chức tình báo và quân đội thân cận đặc biệt mà Putin xây dựng từ nhiều năm) là những người cần cảnh giác hơn ai hết. Xét về lịch sử, quân đội Nga chưa bao giờ trở thành mối đe dọa đối với nhà cầm quyền. Có rất ít cuộc đảo chính quân sự thành công ở Nga. Lần cuối cùng quân đội Nga phát động một cuộc nổi dậy là vào năm 1825, khi họ đảo chính Sa hoàng Nicolas I. Cuộc nổi dậy thất bại thảm hại. Hầu hết nhà lãnh đạo cuộc đảo chính bị giết hoặc lưu đày.

Liệu quân đội có thể lật đổ chính phủ?

Tháng Mười 1993, một nhóm cựu binh Liên Xô tự xưng là “Liên minh Sĩ quan” tham gia vào một cuộc nổi dậy nhưng bị bắt trước khi cuộc đảo chính được thực hiện. Bốn năm sau, tướng Lev Rokhlin rời quân đội và thành lập đảng chính trị “Phong trào ủng hộ quân đội” với mục đích chiếm Kremlin bằng giải pháp chính trị truyền thống. Nhóm này nhanh chóng nổi như cồn. Tuy nhiên, năm 1998, khi chưa làm nên cơm cháo gì thì Lev Rokhlin bị vợ bắn chết. Vụ này nảy sinh nhiều thuyết âm mưu nhưng có một điều rõ ràng: Đảng chính trị của Rokhlin bị khai tử ngay sau cái chết đương sự.

Trong nhiều năm, Vladimir Putin luôn là tay tổ trong việc thanh trừng đối thủ chính trị từ trong trứng nước. Chẳng ai “ló đầu” lên mà không bị Putin “chặt” trước. Đến nay, có thể nói Putin đã hoàn toàn loại bỏ tất cả mối đe dọa một cách có hệ thống. Nga không còn lực lượng đối lập nào đủ sức đối đầu trực diện với Putin. Các đối thủ chính trị đều bị giết (như Boris Nemtsov, người bị ám sát vào năm 2015); hoặc bị tống vào tù (như Alexei Navalny, người bị giam từ Tháng Một 2021 và gần đây bị tuyên án thêm chín năm). Nếu không bị giết hoặc tù thì phải sống lưu vong (như Vladimir Milov, cựu Thứ trưởng Năng lượng; Sergei Aleksashenko, cựu Thứ trưởng Tài chính; Andrei Kozyrev, cựu Ngoại trưởng).

Nếu có vụ nào do quân đội gây ra nhốn nháo chính trường thì phải kể đến vụ năm 2005, khi Vladimir Kvachkov, một Đại tá quân báo về hưu, mưu sát Anatoly Chubais, nhà kinh tế học được xem là cha đẻ của chương trình tư nhân hóa thập niên 1990. Chubais lúc đó là cánh tay mặt của Putin. 9g30 sáng ngày 16 Tháng Ba 2005, khi chiếc limousine BMW chở Chubais chạy đến Tây Moscow, một quả bom cài bên đường nổ tung, khoét một lỗ toang hoác ở vỉa hè. Hai tay súng vận quân phục lao ra rỉa liên thanh vào xe khi tài xế của Chubais hoảng hốt đạp ga phóng chạy.

Vladimir Kvachkov (ảnh: Konstantin Zavrazhin/Getty Images)

Sau khi một hồi đọ súng với an ninh (đi sau hộ tống chiếc BMW), hai tay súng phóng biến vào rừng. Không ai bị thương. Kết quả, Vladimir Kvachkov bị tống vào tù. Khi được trả tự do, Kvachkov tiếp tục tham chính nhưng không đi đến đâu. Đương sự có lần bị FSB bắt giam. Chẳng ai còn nhớ Kvachkov, trừ vài ông lính già Hồng quân, những người tin rằng Liên Xô đã bị tiêu diệt do một âm mưu của người Do Thái.

KGB-FSB giám sát quân đội như thế nào?

Trên thực tế, Nga nói riêng và Liên Xô nói chung có một truyền thống lịch sử về việc an ninh mật giám sát quân đội. Từ năm 1918, không đầy một năm sau cuộc Cách mạng Bolshevik, Cheka, tiền thân KGB, đã thành lập một đơn vị chuyên “xử lý” những kẻ bất đồng trong quân đội. Thời Stalin, quân đội vẫn luôn nằm trong tầm ngắm mật vụ. Sự cảnh giác này tiếp tục được duy trì thời những người kế nhiệm Stalin. Mọi sư đoàn quân đội đều có chi bộ Đảng Cộng sản. KGB thậm chí thành lập một lực lượng phản gián qui mô chuyên theo dõi quân đội. Khi Liên Xô sụp đổ, KGB được tái cơ cấu thành FSB, và quân đội vẫn nằm dưới sự giám sát FSB.

Từ khi lên nắm quyền, Putin mở rộng quyền hạn FSB để theo dõi bất kỳ biến động đáng ngờ nào trong hàng ngũ quân đội. Đầu năm 2000, khi mới chỉ là Quyền tổng thống, Putin đã thông qua loạt quy định mới mở rộng hoạt động phản gián của FSB trong quân đội. FSB được quyền điều tra bất kỳ “sự hình thành các nhóm vũ trang bất hợp pháp, các nhóm tội phạm và các cá nhân và hiệp hội công cộng” có thể đang tìm kiếm “sự thay đổi bằng giải pháp bạo lực nhắm vào hệ thống chính trị Liên bang Nga và âm mưu thực hiện các hành vi bạo lực chiếm giữ hoặc hành vi bạo lực duy trì quyền lực”. Năm 2004, đơn vị phản gián quân đội của FSB được nâng cấp thành cơ quan cấp bộ; và không lâu sau, nó trở thành bộ phận lớn nhất FSB, với nhan nhản đặc vụ được rải trong quân đội Nga.

Đến nay, chẳng ngóc ngách nào trong quân đội Nga mà không có mật vụ FSB. Thậm chí người ta qui định cụ thể cần bao nhiêu mật vụ FSB cho một đơn vị quân đội và cho mỗi binh chủng. Một thí dụ: Một căn cứ không quân nhỏ chỉ có sáu máy bay và vài chục trực thăng của Lực lượng Vệ binh Quốc gia ở Ermolino (thuộc vùng Kaluga) đang được được giám sát bởi giám đốc FSB địa phương cùng hơn 20 mật vụ và 16 địa chỉ liên lạc mật trong lực lượng nhân sự của căn cứ – theo Foreign Affairs ngày 11-4-2022.

Thế hệ sĩ quan trẻ FSB có thể sống chết với Putin, nhưng…

Trong cuộc chiến Ukraine, vai trò chính thức FSB là bảo đảm rằng quân đội Nga không bị phá hoại hoặc bị tấn công từ phía sau. FSB cũng chịu trách nhiệm thiết lập quyền kiểm soát chính trị đối với các lãnh thổ bị chiếm, bao gồm các thành phố và khu vực rơi vào sự kiểm soát của Nga. Dĩ nhiên FSB luôn để mắt đến các sĩ quan quân đội. Với sự giám sát như vậy, quân đội Nga khó lòng dựng lên một cuộc nổi dậy. Nói cách khác, gần như không có khả năng quân đội tổ chức đảo chính Putin. Nếu ai có thể đâm sau lưng Putin thì chỉ có thể là những người cấp cao nhất trong FSB và những siloviki nói chung.

Vài tháng nay đã có hàng chục sĩ quan FSB bị bỏ tù vì tội tham nhũng và phản quốc (liên quan cáo buộc làm gián điệp cho Mỹ). Trong hầu hết trường hợp, họ bị bộ phận an ninh nội bộ FSB điều tra và bắt giữ. Khó có thể biết chính xác kẻ bị buộc tội là có tội hay là nạn nhân của trò chặt chém tranh giành quyền lực và quyền lợi. Kết quả, từ lâu đã có một văn hóa nghi ngờ phổ biến trong FSB: Các sĩ quan cấp trung không tin bọn tướng và các tướng thì không nghi ngờ thuộc cấp. Người ta vẫn còn nhớ vụ đảo chính năm 1991 của sếp KGB Vladimir Kryuchkov nhằm lật đổ Mikhail Gorbachev. Vụ đảo chính đã thất bại vì đám sĩ quan KGB ngồi xem “diễn biến thời cuộc” hơn là cùng tham gia với Kryuchkov.

Putin thanh trừng nội bộLàm thế nào để đảo chính Putin?Làm sao có thể “nói chuyện phải quấy” với một tay trùm dối trá?Ngày Sa hoàng bị đánh vỡ đầu

Với thế hệ sĩ quan FSB hiện tại, ở độ tuổi 30 và 40, họ chẳng biết tổng thống nào khác ngoài Vladimir Putin; và tất cả đều “trưởng thành” dưới thời Giám đốc FSB Aleksandr Bortnikov (lãnh đạo từ năm 2008). Họ hoàn toàn tương phản và khác biệt với thế hệ thập niên 1990 khi sự thăng tiến trong FSB liên quan chặt chẽ những biến động nội chính và những nhóm chính trị triệt hạ nhau giành quyền lực. Các sĩ quan FSB thế hệ hiện tại chỉ phục vụ một tổng thống. Chúng trung thành với Putin và họ sẵn sàng loại bỏ một cách tàn bạo tất cả kẻ nào dám chống “tổng thống của mình”. Sự ban phát của cải và địa vị từ Putin càng khiến họ trở thành bầy tôi trung thành với “Sa hoàng” Putin.

Tuy nhiên, “thời bình” là như vậy. Bây giờ là giai đoạn hỗn mang. Putin đang trở thành kẻ thù của thế giới. FSB nói riêng và siloviki nói chung là những kẻ tàn nhẫn và vô lương tâm khi bảo vệ lợi ích cá nhân. Họ chỉ trung thành khi hệ thống còn mang lại cho họ quyền lợi. Bất luận cuộc chiến Ukraine bao lâu, sự khủng hoảng kinh tế do bị bao vây bởi lưới cấm vận quốc tế chắc chắn kéo dài kể cả sau khi chiến tranh chấm dứt. Siloviki phải nhìn lại rằng họ bảo vệ ai và tại sao họ cần bảo vệ một Kremlin đang mất quyền kiểm soát đất nước và chính Putin cũng không thể tự bảo vệ trước đòn tấn công dữ dội của thế giới. Putin càng bắt bớ và thanh trừng thì càng mang đến cảm giác bất an trong siloviki, cho đến một lúc, họ thấy rằng họ cần ra tay trước, theo cách như chính “bậc thầy” Putin luôn đi trước một bước đối với các đối thủ suốt nhiều thập niên qua.

8 siloviki cộm cán nhất của Putin

1/ Sergey Shoigu, 66 tuổi, Đại tướng Lục quân kiêm Bộ trưởng Quốc phòng: Trở thành Bộ trưởng Các tình huống khẩn cấp vào thập niên 1990, Shoigu được phong “Anh hùng Liên bang Nga” trước khi trở thành bộ trưởng quốc phòng năm 2012. Ông được tái bổ nhiệm vào năm 2018 và 2020.

2/ Igor Sechin, 61 tuổi, Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Rosneft: Một bức điện từ Đại sứ quán Mỹ bị rò rỉ gọi Sechin là “hồng y xám của Kremlin”. Nhân vật này đứng đầu công ty dầu khí nhà nước Rosneft và được xem là một trong những siloviki thân cận nhất của Putin. Sechin xuất thân từ Leningrad, nay là Saint Petersburg, ngồi ghế Phó thủ tướng từ năm 2008 đến năm 2012 sau khi giữ chức phó chánh văn phòng của Putin năm 2000.

Igor Sechin (ảnh: Mikhail Svetlov/Getty Images)

3/ Nikolai Patrushev, 70 tuổi, Thư ký Hội đồng An ninh: Đây là một trong những nhân vật diều hâu số một Kremlin. Được mô tả là người quyền lực thứ hai ở Nga, Patrushev sinh ra ở Leningrad và bắt đầu tham chính thời Liên Xô cũ. Gia nhập KGB thập niên 1970, ông trở thành Phó giám đốc FSB năm 1998 và Giám đốc FSB một năm sau. Năm 2008, ông được bổ nhiệm làm Thư ký Hội đồng an ninh Nga.

Nikolai Patrushev (ảnh: Xinhua/Li Tao via Getty Images)

4/ Alexander Bortnikov, 70 tuổi, Giám đốc FSB: Được bổ nhiệm làm Giám đốc FSB vào năm 2008, Bortnikov chịu trách nhiệm cai quản mạng lưới đặc vụ khổng lồ kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc sống, giúp củng cố sự kìm kẹp của Putin trên nước Nga.

Alexander Bortnikov (ảnh: Mikhail Svetlov/Getty Images)

5/ Sergey Naryshkin, 67 tuổi, Giám đốc Cơ quan Tình báo Nước ngoài: Là một nhà kinh tế và kỹ sư, Naryshkin học tại Trường Cán bộ Cấp cao KGB cùng với Putin và được bổ nhiệm làm người đứng đầu bộ phận tình báo đối ngoại vào năm 2016.

Sergei Naryshkin (ảnh: Mikhail Svetlov/Getty Images)

6/ Sergey Ivanov, 69 tuổi, Đại diện Đặc biệt của tổng thống: Nhân vật này rất thân Putin, từng ngồi ghế Bộ trưởng Quốc phòng năm 2001. Sergey Ivanov thuộc nhóm diều hâu sẵn sàng “chơi” vũ khí hạt nhân nếu thấy cần.

Sergey Ivanov (ảnh: Albin Lohr-Jones/Pacific Press/LightRocket via Getty Images)

7/ Dmitry Rogozin, 58 tuổi, Tổng giám đốc Cơ quan vũ trụ Roscosmos: Từng là Phó thủ tướng kiêm Đại sứ tại NATO, Rogozin được bổ nhiệm đứng đầu Roscosmos vào năm 2018. Luôn bảo vệ mạnh mẽ cộng đồng thiểu số Nga ở các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, Dmitry Rogozin ủng hộ mạnh chính sách can thiệp bằng bạo lực. Năm 2015, đương sự từng nói rằng “xe tăng không cần thị thực”.

Dmitry Rogozin (ảnh: Pavel Pavlov/Anadolu Agency via Getty Images)
Vyacheslav Volodin (ảnh: Sefa Karacan/Anadolu Agency via Getty Images)

8/ Vyacheslav Volodin, 58 tuổi, Chủ tịch Duma Quốc gia: Volodin là Nghị sĩ Hạ viện và là cựu Phó thủ tướng. Là một trong những siloviki thế hệ mới, Volodin từng là cựu trợ lý của Putin; đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch tranh cử gần đây nhất của Putin. Volodin có lúc được xem là người có khả năng kế nhiệm nếu Putin từ chức.

Mỹ Anh / Saigon Nhỏ

____________

Putin thanh trừng nội bộ

Làm thế nào để đảo chính Putin?

Làm sao có thể “nói chuyện phải quấy” với một tay trùm dối trá?

Ngày Sa hoàng bị đánh vỡ đầu