Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn

Ngôi nhà phủ kín hoa leo sử quân tử thu hút những người đi qua ở khu vực Hà Đông (Hà Nội).

Chị Nguyễn Thị Thủy, chủ nhân của ngôi nhà đang gây sốt mạng này là người yêu cái đẹp và làm nghề thiết kế thời trang. Căn nhà được xây dựng từ năm 2012. 1 năm sau, chủ nhân trồng hơn chục loài hoa leo quanh nhà như sử quân tử, tràng pháo, mai hoàng yến, sao băng, tử đằng,… Nhưng loài hoa khoe sắc nhất là sử quân tử.

Sau khoảng 3 năm, giàn hoa đã phủ kín nóc nhà tạo thành một thảm hoa dày đặc. Không những vậy, những cây hoa này còn giúp chị “mang thiên nhiên về nhà”, “làm mát” căn nhà khi tiếp giáp với 2 mặt phố nên nắng, gió, bụi quanh năm.

Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn - Ảnh 1.
Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn - Ảnh 2.

Ngôi nhà xanh đầy hoa lá của bà chủ yêu hoa lá và cái đẹp.

Những hình ảnh vô cùng thơ mộng về ngôi nhà của mình được chị thường xuyên chia sẻ trên trang cá nhân. Nhiều người mê cây cảnh, yêu thiên nhiên cũng vì thế mà “kéo” đến “thăm” nhà qua những bức ảnh và không khỏi xuýt xoa trước vẻ đẹp của chúng.

Mới đây, chị Thủy còn thiết kế thêm sân vườn trên nóc nhà làm nơi trồng hoa và rau trái. Ở sân thượng tầng 4 là không gian của vườn hoa đủ các loại. Tại đây, chị decor thêm phần chỗ ngồi để các thành viên trong gia đình thư giãn, đọc sách, thưởng trà.

Tại tầng 5 chị trồng một vườn rau trái theo mùa vụ, vì vậy vườn rau lúc nào cũng xanh tốt, mơn mởn.

Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn - Ảnh 3.

Ngôi nhà bên ngoài phủ hoa, sân thượng lung linh hoa trái của chị Thủy

Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn - Ảnh 4.
Phát hiện ngôi nhà phủ hoa giữa lòng Hà Nội, nhìn sân thượng còn mê hơn - Ảnh 5.

Nơi sân thượng tiếp tục là một không gian sống chill của gia chủ.

Theo Minh / Pháp luật & Bạn đọc

Nguyên nhân chủ yếu khiến bạn sống trong bất an: Trí tuệ không đủ

Nếu một người luôn không vui, thì xét đến cuối cùng, đó là vì không đủ nhận thức để phát hiện căn nguyên sự việc.

1. Thiếu nhận thức

Trong cuốn sách nổi tiếng “21 bài học cho thế kỷ 21” của Yuval Noah Harari có câu:

“Nguồn gốc sâu xa nhất của tất cả đau đớn nằm trong chính tâm trí của mỗi người.”

Khi tác giả ở độ tuổi 20, ông đã gặp rất nhiều trắc trở, cảm thấy cả thế giới như bị trùm lên một bức màn khó nhìn thấu và không thể hiểu tại sao nỗi đau luôn tràn ngập cuộc đời ông.

Ông cũng từng than vãn rồi cố gắng sử dụng nhiều công cụ học thuật khác nhau để khám phá và giải đáp, nhưng cuối cùng vẫn không thể lí giải được.

Cho đến khi lần đầu tiên tham gia thực hành thiền định, ông mới chợt nhận ra bao nhiêu năm qua, mình đã tức giận cả chục nghìn lần, nhưng lại chưa bao giờ nghĩ đến việc quan sát cảm giác của mình khi tức giận.

Mỗi lần không vui, thứ ta tập trung vào luôn là đối tượng của cơn giận dữ, mà chưa bao giờ nghiêm túc suy nghĩ về lý do tại sao mình tức giận, và cũng không bao giờ quan sát cảm giác của mình trong lúc tức giận.

Vì vậy, ông bắt đầu quan sát nội tâm mình và thay đổi cái nhìn của mình về thế giới.

Ông thử biến những điều bất hạnh trong quá khứ thành động lực để theo đuổi, liên tiếp viết ra các cuốn sách được mệnh danh là kho báu thời đại: “Lược sử loài người”, “Lược sử tương lai” và “21 bài học cho thế kỷ 21”.

Harari nói rằng ông đã tìm thấy điều huyền bí của thế giới khi thiền định để bắt đầu lại cuộc hành trình tìm kiếm bản thân mình.

Trùng hợp thay, phương pháp của ông lại giống hệt với liệu pháp tình cảm lý tính trong tâm lý học.

Phương pháp điều trị cảm xúc này được gọi là lý thuyết ABC về cảm xúc.

A là viết tắt của activation events, dùng để chỉ những gì một người gặp phải;

B là viết tắt của believes, dùng để chỉ quan niệm, nhận thức và niềm tin của một người;

C là viết tắt của consequences, dùng để chỉ kết quả và cảm xúc nảy sinh từ các sự việc gặp phải.

Khi kết quả C khiến chúng ta không vui, họ thường cho rằng lý do đến từ việc A quá khó khăn.

Nhưng sau khi nghiên cứu, nhà tâm lý học Ellis nhận thấy rằng, thực ra B đóng một vai trò lớn hơn.

Nói cách khác, không phải bản thân sự vật quyết định cảm xúc mà là do nhận thức của con người chúng ta đối với sự vật.

Nếu một người luôn không vui, thì xét đến cuối cùng, đó là vì không đủ nhận thức để phát hiện căn nguyên sự việc.

Để duy trì được niềm vui, có lẽ thứ chúng ta cần nhất là nâng cấp tư duy.

Nguyên nhân chủ yếu khiến bạn sống trong bất an: Trí tuệ không đủ - Ảnh 1.

2. Duy trì niềm vui là năng lực, cũng là tu dưỡng.

Bạn đã bao giờ tự hỏi, người như thế nào sẽ không bao giờ thấy muộn phiền?

Đó là triệu phú bạc tỷ, hay hoàng tử, công chúa chăng?

Tôi nghĩ có lẽ không có thế giới nào là cực lạc, và cũng không có niềm vui nào là trọn vẹn đúng với lý thuyết.

Bởi bất kể bạn là ai, bạn đang ở đâu, đều sẽ gặp phải các loại thử thách và những vấn đề nan giải.

Cuộc sống không dễ dàng với bất kỳ ai.

Khi bạn không thành công, bạn sẽ đau khổ vì những khó khăn gặp phải trên đường đời.

Khi bạn làm chính mình, lại bởi vì không còn gì để làm mà cảm thấy buồn chán.

Theo lời của Schopenhauer:

“Cuộc sống là một khối lượng lớn ham muốn, nếu không thỏa mãn ham muốn, sẽ đau khổ; nếu được thỏa mãn, sẽ nhàm chán. Cuộc sống luôn dao động giữa đau khổ và buồn chán.”

Nhưng, nếu bạn luôn khóc lóc vì bõ lỡ ánh mặt trời, cuối cùng bạn sẽ mất đi đôi mắt để phát hiện những vì sao;

Nếu bạn luôn cảm thấy thất vọng với những thành quả và mất mát nhất thời, thì bạn khó có thể cảm nhận được sức hấp dẫn của việc chờ đợi.

Vậy làm cách nào để vượt qua nỗi đau và luôn được hạnh phúc?

Tuổi tác càng lớn, bạn càng nhận ra rằng, để duy trì cuộc sống luôn vui vẻ vừa là năng lực vừa là một sự tu dưỡng.

Năng lực ở đây chính là cách suy nghĩ của một người.

Bạn thấy đấy, thất bại của cá nhân, ở một góc độ khác, lại là thành công của tập thể;

Sự khó chịu nhất thời, về lâu dài, có thể chỉ là một thử thách từ ông trời.

Sự tu dưỡng được đề cập ở đây là học cách cùng tồn tại với đau khổ.

Hãy coi những khó khăn trong cuộc sống như những nốt dạo của cuộc đời; coi những bước lùi trong cuộc sống như những nét chấm phá trong bức tranh thủy mặc.

Sau đó, học cách chung sống hòa bình với sự bất công và bất mãn.

Trên thực tế, dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, chỉ cần bạn không than vãn vì chúng, thì bạn đã là một người nghệ sĩ.

3. Cách tu dưỡng tốt nhất là sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Khi bạn nhận ra rằng duy trì một cuộc sống luôn vui vẻ vừa là năng lực vừa là một sự tu dưỡng, thì đó đã là bước đầu tiên để hướng tới hạnh phúc.

Tại thời điểm này, bạn có nghĩ rằng, làm thế nào mình mới có thể cải thiện khả năng duy trì hạnh phúc của mình? Làm thế nào mới có thể tu dưỡng tốt hơn?

Kỳ thực, tu dưỡng không yêu cầu bạn phải quy ẩn núi rừng, cũng không cần bạn phải ăn chay đạm bạc, mà là học cách sống không gò bó.

Nhiều người sống cả đời mà không nhận ra rằng nơi tu dưỡng thực sự của cuộc đời chính là thế tục nhân gian.

Trong Đạo giáo của Trung Quốc có một câu nói: “Việc nhỏ thì ẩn nơi hoang dã, việc lớn thì ẩn nơi thành thị.”

Có nghĩa là, nếu một người lòng bình yên, dù ở giữa hư không, thì lòng vẫn như ngàn hoa đua nở.

Cách tu dưỡng tốt nhất trong cuộc đời chúng ta là có thể duy trì sự bình yên trong lòng, và tận hưởng giây phút mà mình đang có, không sợ hãi tương lai, không hoài niệm quá khứ, không hỗn mang trong lòng, không mắc kẹt trong tình ái.

Tận hưởng giây phút mà mình đang có là học cách đối mặt trực tiếp với vấn đề.

Phản ứng đầu tiên đối với thách thức không phải là phàn nàn hay rút lui, mà là biết khó vẫn không lùi bước, tìm mọi giải pháp để khắc phục.

Ví dụ, nếu bạn cảm thấy lo lắng về thân hình của mình, bạn nên phân tích lý do khiến bạn tăng cân, sau đó lập kế hoạch dài hạn để từ từ đạt được mục tiêu của mình.

Hay ví dụ, nếu gặp khó khăn trong giao tiếp, bạn nên suy nghĩ về vấn đề giao tiếp mà mình đang gặp phải, đó là giọng điệu, thái độ hay nội dung giao tiếp rồi giải quyết từng chút một.

Điều này cũng gắn bó mật thiết với quan điểm rất quan trọng trong tu dưỡng, “Định hướng bên trong và tu dưỡng bên ngoài”.

Cái gọi là tu dưỡng, là tìm ra những gì bạn thực sự muốn.

Nếu không, bạn có cầu xin cả đời, tưởng niệm cả đời, đau khổ cả đời, đến cuối cùng lại phát hiện rằng tất cả đều là vô nghĩa.

Định hướng bên trong là việc có thể hiểu được trái tim mình thực sự muốn gì, là mong muốn có một cuộc sống bình yên, hay bạn mong muốn có một sự nghiệp đầy sóng gió?

Cái gọi là tu dưỡng bên ngoài chính là hoạch định đường đời của chính mình, làm sao để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của mình trong hành trình tranh đấu với thiên hạ?

Làm rõ được mục tiêu của mình trong cuộc sống, và sau đó đối mặt với chúng một cách bình tĩnh, tự tin và kiên định, đây cách tu dưỡng tốt nhất cho tất cả chúng ta.

Đinh Trọng / Doanh nghiệp & Tiếp thị

NATO: Lịch sử một tổ chức quân sự

Để hiểu được cuộc xung đột ở Ukraine hiện tại, không thể không nhìn lại một lịch sử rất dài, ít ra là từ những ngày ngay sau cuộc chiến lớn gần nhất ở châu Âu.

Ngày 5.3.1946, trong bài phát biểu tại Đại học Westminster, bang Missouri, Mỹ, Thủ tướng Anh Winston Churchill, người kiên định sự nghi kỵ không giới hạn với nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin (ngược lại cũng thế), tuyên bố: “Từ Stettin ở Baltic tới Trieste ở Adriatic, một bức màn sắt đã buông xuống trên khắp lục địa”.

Bức điện hơn 5.500 chữ và học thuyết ngăn chặn

Trước đó một tháng, tháng 2.1946, Bộ Tài chính Mỹ điện hỏi sứ quán nước này tại Matxcơva lý do Liên Xô chống lại việc thành lập Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Đại sứ Mỹ tại Liên Xô khi ấy Averell Harriman đang về nước nghỉ phép nên George Kennan, một viên chức ở sứ quán, trả lời thay.

Kennan gửi về một bức điện dài 5.542 chữ nêu ra những biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô trên trường quốc tế. Bức điện được đệ trình lên tổng thống Mỹ khi đó là Harry Truman, rồi trở thành cơ sở để hình thành học thuyết Truman, theo đó Mỹ nên dùng mọi sức mạnh có thể có để ngăn chặn sự phát triển ảnh hưởng của Liên Xô.

Việc mở rộng NATO là một trong những vướng mắc lớn nhất của quan hệ Nga – Mỹ suốt thời gian ông Putin cầm quyền, trải 5 đời tổng thống Mỹ. Ảnh: The New York Times

Học thuyết này, còn được gọi là học thuyết ngăn chặn, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ tiến trình chiến tranh lạnh.

Tháng 6.1947, tại ngôi trường danh tiếng Hardvard, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall công bố kế hoạch viện trợ của Mỹ để tái thiết tất cả các quốc gia châu Âu, bao gồm Liên Xô.

Nhưng Matxcơva từ chối tham gia, nên 16 nước nước châu Âu lập ra một cơ chế để điều hành nhận viện trợ từ Mỹ, gọi là Ủy ban Hợp tác kinh tế châu Âu, sau đổi thành Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC).

Từ tháng 6.1948 đến tháng 5.1949, do các nước đồng minh đơn phương tiến hành cải cách tiền tệ ở Tây Đức và Tây Berlin, các lực lượng Liên Xô ở Đông Đức quyết định phong tỏa Berlin lần thứ nhất, ngăn chặn mọi tiếp tế bằng đường bộ đến khu Tây Berlin do ba nước Mỹ, Anh, Pháp kiểm soát.

Các nước này phải lập cầu hàng không cho khu vực Tây Berlin, trong 10 tháng, họ thực hiện gần 200.000 chuyến bay, vận chuyển 1,5 triệu tấn lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm cho khu vực này. Phong tỏa Berlin lần một kết thúc, nhưng đối đầu giữa Liên Xô với các đồng minh cũ trong Thế chiến II là điều khó tránh khỏi.

Trong Thế chiến II, chính phủ lưu vong của ba nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg ký tại London vào tháng 9.1944 hiệp ước thành lập Liên minh thuế quan Benelux (lấy các chữ cái đầu trong tên ba nước bằng tiếng Anh). Rồi năm 1947 ở Dunkirk, để kỷ niệm cuộc rút quân quy mô khổng lồ thành công thời chiến trước quân Đức, hai nước Anh và Pháp ký hiệp ước quốc phòng song phương.

Trên cơ sở hai hiệp định đó, và trong nỗi sợ Liên Xô sau chiến tranh lớn dần, ngày 17.3.1948, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan và Luxemburg ký Hiệp ước Brussels. Mục tiêu ban đầu của hiệp ước là một liên minh quân sự để đối phó với mối đe dọa nước Đức có thể hồi phục sau chiến tranh và chủ nghĩa cộng sản đang lan rộng trên thế giới.

Các nước tham gia Hiệp ước Brussels có nguồn lực quân sự khá hạn chế, nhưng trong hiệp ước có một điều khoản phòng thủ chung, cung cấp cơ sở cho việc mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ ở bên kia đại dương.

NATO, “cây gậy” và “củ cà rốt”

Cùng thời gian đó ở Mỹ, Tổng thống Truman bàn với thượng nghị sĩ Athur Vandenberg, thủ lĩnh phe Cộng hòa trong Thượng viện, về ý tưởng huấn luyện các đơn vị tổng hợp và chọn lọc cho quân đội Mỹ.

Ông Vandenberg đề xuất cần có các tổ chức quân sự khu vực để hỗ trợ triển khai viện trợ của Mỹ ở nước ngoài trong kế hoạch Marshall. Kết hợp lại, ông đi tới ý tưởng ký một hiệp ước quân sự giữa Mỹ với các nước Tây Âu, tạo ra đối trọng về mặt quân sự với kế hoạch Marshall về kinh tế.

Ngày 4.4.1949, dưới danh nghĩa “anh cả” trong cuộc Thế chiến, Mỹ “triệu tập” đại diện 10 nước châu Âu – gồm 5 nước tham gia Hiệp ước Brussels cùng Bồ Đào Nha, Ý, Na Uy, Đan Mạch và Iceland, ở Bắc Mỹ có thêm Canada, thống nhất ký với Mỹ văn bản hình thành Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), ban đầu có 12 thành viên.

Sự ra đời của NATO được người Mỹ cho là rất đúng lúc khi ngày 29-8-1949, sau những chiến dịch điệp báo tinh vi ở Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô dưới sự lãnh đạo của viện sĩ Igor Kurchatov đã chế tạo và cho nổ thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của nước này tại bãi thử Semipalatinsk, chấm dứt độc quyền nguyên tử của Mỹ.

Điều khoản then chốt trong hiệp ước hình thành NATO là điều 5 – có thể ví von là phỏng theo tinh thần của các chàng ngự lâm quân trong tiểu thuyết của Alexandre Dumas. Điều 5 này tuyên bố “một cuộc tấn công nhằm vào một thành viên hoặc hơn” của liên minh đồng nghĩa “nhằm vào tất cả” – và do vậy, tất cả sẽ cùng chống lại (điều ước phòng thủ tập thể).

Hoài thai và sinh thành một phần dựa trên nỗi sợ Liên Xô, nên giai đoạn đầu, NATO căn bản là một tổ chức phòng thủ.

80% quân số của tổ chức do các nước Tây Âu cung cấp được bố trí ở châu Âu (riêng Iceland không có quân đội riêng nên lực lượng Mỹ đóng tại Iceland nắm luôn vai trò phòng vệ cho nước này), Mỹ chủ yếu lo trang bị vũ khí, thiết bị quân sự và quan trọng nhất: tiền. Đúng theo luật “ai trả tiền người đó có quyền đặt nhạc”, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, NATO về cơ bản là nhảy theo nhạc của Mỹ.

Ra đời được ba năm thì NATO bắt đầu mở rộng lần thứ nhất: cả Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, khi ấy vẫn còn hữu hảo, cùng gia nhập NATO vào tháng 2-1952 để nối dài vành đai bảo vệ về phía nam châu Âu, đồng thời đe dọa Liên Xô từ phía nam nước này.

Năm 1945, nước Đức bại trận bị chia hai, một vùng do ba nước phương Tây là Mỹ, Anh, Pháp chiếm giữ, bên kia do Liên Xô kiểm soát. Năm 1949, Mỹ, Anh, Pháp thống nhất những vùng họ kiểm soát thành nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức); cùng năm, Liên Xô đáp trả, hình thành nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức).

Ngày 5.5.1955, các lực lượng vũ trang Mỹ, Anh, Pháp chấm dứt chiếm đóng và Tây Đức trở thành quốc gia độc lập. 4 ngày sau, bất chấp sự e dè của Pháp nhưng được Mỹ ủng hộ, Tây Đức gia nhập NATO (đến năm 1990, tư cách thành viên NATO của Tây Đức được chuyển cho nước Đức thống nhất).

Việc Tây Đức trở thành thành viên chính thức của NATO ngày 9.5.1955 gây ra phản ứng cấp kỳ từ Liên Xô: ngày 14.5.1955, Liên Xô thành lập Tổ chức Hiệp ước Warszawa gồm Liên Xô, Ba Lan, Bulgaria, Hungary, Romania, Tiệp Khắc, Albania và Đông Đức (năm 1961, Albania rút lui do bất đồng với Liên Xô và các thành viên còn lại).

Từ đó, đối đầu giữa hai khối quân sự NATO và Warszawa trở thành xương sống chủ đạo chi phối đời sống chính trị quốc tế suốt chiến tranh lạnh.

Trong hai thập niên 1950-1960, tùy theo tình hình, NATO sử dụng chính sách “cây gậy” và “củ cà rốt” để duy trì sức mạnh đối trọng với khối Warszawa. Tuy nhiên, Liên Xô không phải là con thỏ nên “củ cà rốt” của NATO thường không mấy tác dụng, trong khi “cây gậy” lại không đủ mạnh để Liên Xô e sợ.

Bằng chứng là Liên Xô, dưới danh nghĩa Hiệp ước Warszawa, đã hai lần sử dụng quân đội can thiệp vào Hungary năm 1957 và Tiệp Khắc năm 1968 để duy trì chính quyền cộng sản, trong khi NATO trơ mắt đứng nhìn.

Bên phía NATO cũng có chia rẽ. Trở thành tổng thống vào đầu năm 1959, Charles De Gaulle đưa nước Pháp theo con đường độc lập và rút lực lượng Pháp khỏi Hạm đội Địa Trung Hải của NATO. Trong hai cuộc khủng hoảng Berlin và tên lửa Cuba sau đó, Pháp không có lập trường cứng rắn như Anh và Mỹ.

Đến năm 1966, Pháp rút khỏi Bộ chỉ huy quân sự NATO (tuy vẫn ở trong NATO), đến tận năm 2009 mới quay lại làm thành viên đầy đủ dưới thời Tổng thống Nikolas Sarkozy.

Các mốc thời gian mở rộng NATO ở châu Âu. Ảnh: Statista

 Cuộc đông tiến

Sự sụp đổ của Liên Xô và sự tan rã của khối Hiệp ước Warszawa vào năm 1991 bất thần để lại một khoảng trống mênh mông dưới chân NATO. Cả một khối liên minh quân sự đối trọng bấy lâu nay đột nhiên biến mất.

Nước Nga kế thừa Liên Xô cũ run rẩy trên nền kinh tế hoang tàn như một nước thuộc thế giới thứ ba, chính trị hỗn loạn và một quân đội trang bị vũ khí thông thường lạc hậu, chậm tiến so với đối thủ. Chỉ duy nhất có lực lượng vũ khí tiến công chiến lược tiếp tục được duy trì mới giúp nước Nga giữ lại đôi chút vị thế của một cường quốc.

Khi Nga tạm thời không còn đủ sức giải quyết các vấn đề an ninh quốc tế ở ngay châu Âu, thời cơ của NATO đã tới.

Ở Nam Tư, nhà lãnh đạo Josip Tito vào năm 1946 đã xây dựng một đất nước liên bang gồm 6 “nước cộng hòa” (Serbia, Croatia, Slovenia, Bosnia, Montenegro và Macedonia) và “hai tỉnh tự trị” (Kosovo và Vojvodina).

Suốt 34 năm sau đó, bất chấp những o ép của Liên Xô, Tito đã duy trì thành công một nhà nước liên bang Nam Tư theo chiều hướng trung lập và hòa hợp, trấn áp được mọi khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa. Tuy nhiên, sau cái chết của ông vào năm 1980, các khuynh hướng này bắt đầu trỗi dậy.

Đến 1989, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Nam Tư lập tức rơi vào hỗn loạn. Các nước cộng hòa chia tách, đem quân đánh lẫn nhau và thực hiện nhiều vụ thảm sát, thanh lọc sắc tộc tàn bạo.

Ở Serbia, khu vực tỉnh tự trị Kosovo với đa số sắc dân là người Albania nổi lên đòi độc lập. Thoạt đầu, họ đấu tranh tương đối ôn hòa, nhưng rồi thành lập các đơn vị vũ trang để thực hiện mục tiêu của mình. Năm 1989, Tổng thống Serbia Slobodan Milosevic ra lệnh tấn công quét sạch lực lượng vũ trang Kosovo.

Mọi nỗ lực hòa giải quốc tế đều thất bại. Mỹ và NATO lên tiếng cảnh cáo Milosevic không được phép tiến hành các cuộc thảm sát dân thường, nhưng ông này phớt lờ. Vào thời điểm đó, hơn 800.000 người Kosovo bị ép buộc phải rời quê hương, hơn 10.000 người chết.

Tháng 3.1999, NATO với Mỹ dẫn đầu lần đầu tiên trong lịch sử, với tư cách là một liên minh phòng thủ, bắt đầu không kích dữ dội Serbia.

Cuộc không kích kéo dài suốt 78 ngày đêm cuối cùng buộc Milosevic phải rút quân đội khỏi Kosovo. 50.000 quân NATO được cử đến Kosovo để giữ gìn hòa bình, trong khi một nghị quyết của LHQ do Nga hậu thuẫn vẫn coi Kosovo nằm trong thành phần Serbia.

Với Kosovo, NATO lần đầu “tự diễn biến”, thực hiện các chiến dịch tấn công quân sự nhằm vào lãnh thổ một nước có chủ quyền và tự thiết lập luật chơi mới.

Cuộc không kích Serbia không phải là điểm mới duy nhất của NATO sau khi Liên Xô: tổ chức quân sự này cũng đã kết nạp hàng loạt thành viên mới và không ngừng mở rộng về phía đông.

Sau lần kết nạp thêm Tây Ban Nha vào tháng 5.1982, đến tháng 3.1999, NATO tiến hành đợt kết nạp đầu tiên các nước Đông Âu: Ba Lan, CH Czech (tách ra từ Tiệp Khắc) và Hungary; năm 2004, đến lượt Bulgaria, Romania, Slovakia (tách ra từ Tiệp Khắc), Slovenia (thuộc Nam Tư cũ) và đặc biệt là ba nước cộng hòa Baltic là Estonia, Latvia, Litva. Địa giới của NATO vậy là đã chạm vào địa giới nước Nga!

Từ 2009 đến 2020, NATO kết nạp thêm Croatia, Albania, Montenegro và Bắc Macedonia, hình thành một NATO với 30 thành viên, gấp đôi so với thời điểm năm 1955. Toàn bộ các thành viên mới kết nạp sau năm 1991 đều ở phía đông.

Trong mắt giới lãnh đạo Nga, hành trình đông tiến đấy giống như câu chuyện cổ tích về một con sói lấn tới từng bước để rồi cuối cùng ngoạm cả con mồi là nước Nga. Lập luận của phía NATO là họ vẫn chỉ là một liên minh phòng thủ, và không một ai dám đe dọa an ninh nước Nga, siêu cường hạt nhân số một thế giới. Nhưng có vẻ như việc xây dựng lòng tin cuối cùng đã thất bại.

Tư duy chính trị cường quyền

Giới lãnh đạo Nga đã nhiều lần lên tiếng cảnh cáo NATO về cuộc “hành binh hướng đông” này, và coi Mỹ cũng như NATO phải chịu trách nhiệm chính trong mọi cuộc khủng hoảng chính trị – quân sự vì các động thái mở rộng của họ.

Theo quan điểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin, một khi xuất hiện mối nguy cơ an ninh với nước Nga, dù chỉ ở dạng tiềm năng, thì việc của ông là phải dập tắt nguy cơ đó bằng mọi giá!

Đó chính là tư duy chính trị cường quyền thường thấy các nước lớn, như giới lãnh đạo bành trướng Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979, như Mỹ năm 2003 cho quân đánh sập Iraq với lý do ngụy tạo “vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Dù thích hay không, những cung cách tư duy cường quyền như thế vẫn tồn tại trong nền chính trị ngày nay.

Năm 2008, tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush (con) lần đầu tiên công khai ủng hộ ý tưởng hai nước cộng hòa cũ trong thành phần Liên Xô là Gruzia và Ukraine gia nhập NATO.

Ngay trong năm 2008, cuộc chiến tranh chớp nhoáng Nga – Gruzia bùng nổ sau khi Gruzia mở cuộc tấn công vào khu vực ly khai Nam Ossetia được Nga hậu thuẫn.

Chỉ sau 5 ngày giao tranh, Gruzia mất đứt hai vùng lãnh thổ là Nam Ossetia và Abkhazia, đồng thời cũng đánh mất luôn cơ hội gia nhập NATO bởi quy định của tổ chức này là chỉ kết nạp những quốc gia đang không có tranh chấp lãnh thổ!

Rồi những ngày đầu năm 2022, khi các đề xuất của Nga với phương Tây về việc đảm bảo bằng văn bản rằng NATO sẽ không bao giờ kết nạp Ukraine bị phương Tây bác bỏ, ông Putin đã quyết định hành động…

YÊN BA / VĂN VN

Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus

Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus
CNN cho biết, một quan chức cao cấp Ukraine nói: Không có nơi nào im tiếng báo động dù Nga tuyên bố sẽ giảm cường độ tác chiến ở Kiev và phía Bắc thành phố Chernihiv.
Quân đội Nga tiếp tục chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine

Quân đội Ukraine, Mỹ và phương Tây thông tin chiến sự

Quan chức cấp cao Ukraine cho biết, trong đêm, trên khắp lãnh thổ nước này nơi đâu cũng có tiếng báo động, bất chấp phía Nga tuyên bố giảm cường độ hoạt động quân sự ở xung quanh thủ đô Kiev và ở phía Bắc thành phố Chernihiv. Cụ thể, ông Vadym Denysenko, cố vấn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ukraine nói:

“Trong đêm, báo động phòng không liên tục trên khắp đất nước… Trên thực tế, chẳng có khu vực nào là không phải báo động phòng không. Sáng nay cũng vậy, liên tục lặp lại, đặc biệt ở ở Donbass — Kramatorsk, Bakhmut — thủ đô Kiev và vùng Kiev. Đạn vẫn nã vào Chernihiv, Khmelnytsky. Tại Kiev, một số quả rocket đã bị bắn hạ trên vùng trời thủ đô”.

– Tên lửa phóng từ đường không có độ chính xác cao đã phá hủy các kho nhiên liệu lớn ở quận STAROKONSTANTYNOV và KHMELNYTSKY, nơi cung cấp nhiên liệu cho các xe bọc thép của quân đội Ukraine ở Donbass.

– Hệ thống tên lửa chiến thuật – chiến dịch Iskander đã phá hủy hai kho vũ khí tên lửa và pháo lớn ở làng KAMENKA, vùng Donetsk.

– Trong một trận không chiến, 1 máy bay ném bom Su-24 của Không quân Ukraine bị bắn rơi tại khu vực làng TUMEN, vùng Rivne, gần biên giới Ukraine-Belarus .

– Phòng không của lực lượng hàng không vũ trụ Nga đã phá hủy 10 máy bay không người lái của Ukraine trong các khu vực định cư IZYUM, NOVAYA KAKHOVKA, DONETSK, NIKOLAEV, BERDYANSK, GORLOVKA, LUGANSK và RUBEZHNOE mỗi ngày.

– Trong ngày, lực lượng hàng không chiến thuật và tên lửa đã tấn công 64 cơ sở quân sự của Ukraine.

Gồm: 4 sở chỉ huy, bao gồm sở chỉ huy của lực lượng hoạt động đặc biệt Ukraine gần làng BEREZNIGOVATOE, vùng Mykolaiv, 3 hệ thống tên lửa phòng không – 1 S-300 gần thị trấn MALIN, vùng Zhytomyr và 2 Buk-M1 ở các khu vực của UGLEDAR và SLAVYANSK.

3 cơ sở lắp đặt nhiều hệ thống tên lửa phóng, hai khẩu đội pháo và 49 khu vực tập trung thiết bị quân sự và căn cứ của Lực lượng vũ trang Ukraine cũng bị phá hủy.

– Tổng cộng, kể từ khi bắt đầu hoạt động quân sự đặc biệt (24/02/2022), Quân đội Nga đã phá hủy: 124 máy bay và 77 trực thăng, 214 hệ thống tên lửa phòng không, 321 máy bay không người lái, 1.752 xe tăng và các phương tiện chiến đấu bọc thép khác, 184 hệ thống tên lửa phóng loạt, 734 khẩu pháo dã chiến và súng cối, cũng như 1.640 đơn vị xe quân sự đặc chủng của Ukraine.

Hôm nay, Quân đội Nga tiết lộ những hình ảnh hủy diệt tên lửa phóng không S-300 Ukraine ở thủ đô Kiev, Ukraine. Đồng thời cho biết nhiều tên lửa đã tiếp tục được nã vào Brovary ở phía Đông Kiev để phá huỷ kho tàng.

Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 5.
Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 6.
Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 7.
Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 8.

Tên lửa S-300 của phòng không Ukraine bị Nga hủy diệt.

Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 9.

Tên lửa Nga phá hủy kho tàng của Quân đội Ukraine tại Brovary ở phía Đông Kiev.

Nga khẳng định đàm phán với Ukraine vẫn tiếp diễn

Sẽ tiếp tục đàm phán

Hôm nay, 30/03/2022, Sputnik dẫn tuyên bố của Trưởng đoàn đàm phán Nga, ông Vladimir Medinsky cho biết cuộc đàm phán giữa nước này với Ukraine vẫn tiếp tục diễn ra, đồng thời khẳng định quan điểm của Moscow về vùng Donbass và Crimea vẫn không có gì thay đổi.

Phát biểu trên kênh truyền hình Rossiya 24, ông Vladimir Medinsky nói: “Công việc vẫn tiếp diễn, đàm phán vẫn tiếp diễn. Tôi muốn nhấn mạnh rằng quan điểm mang tính nguyên tắc của chúng tôi về vấn đề Donbass và Crimea vẫn vậy”.

Bước tiến quan trọng trong đàm phán Nga – Ukraine

Cuộc đàm phán giữa Nga và Ukraine tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) không kéo dài sang ngày 30/3 như kế hoạch ban đầu.

Sau khoảng 4 giờ đàm phán chiều qua, 29/3, đoàn đàm phán Nga đã trở về Moscow vào tối cùng ngày, mang theo đề xuất bằng văn bản của Ukraine về một “thỏa thuận hòa bình” giữa hai bên. Kết quả này được đánh giá là bước tiến đáng kể trong tiến trình đàm phán khó khăn nhằm chấm dứt cuộc xung đột đã kéo dài hơn 1 tháng tại Ukraine.

Nội dung văn bản trên không được công bố, song căn cứ vào những gì các đại diện đàm phán của hai bên thông báo, Ukraine đã đề xuất quy chế trung lập cho nước này để đổi lấy việc đảm bảo an ninh.

Tuy nhiên, hôm nay người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết Nga và Ukraine vẫn chưa đạt được đột phá sau vòng đàm phán hòa bình tại thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ trước đó một ngày.

Các nước Đông Âu bất đồng quan điểm về cuộc xung đột Nga-Ukraine

Theo Euronews ngày 29/3, một hội nghị của các bộ trưởng quốc phòng dự kiến diễn ra ở Hungary đã bị hủy sau khi Ba Lan và Séc quyết định không tham dự do lập trường trung lập của Budapest về cuộc xung đột Nga-Ukraine.

Các bộ trưởng quốc phòng Ba Lan và Séc cho biết họ sẽ không đến Hungary để tham dự cuộc họp theo kế hoạch từ ngày 30-31/3/2022.

Toàn cảnh chiến sự Ukraine tối 30/03: QĐ Nga thiệt hại nặng, nhiều đơn vị rút về Belarus - Ảnh 11.

Mỹ và các nước phương Tây vẫn đang tiếp tục “bơm” vũ khí cho Ukraine.

Hungary cũng xác nhận rằng họ đã hủy hội nghị thượng đỉnh theo kế hoạch của cái gọi là Nhóm Visegrád (V4), gồm Séc, Hungary, Ba Lan và Slovakia. Bất đồng trong nhóm V4 đã xuất hiện sau cuộc xung đột Nga – Ukraine, trong đó Hungary tuyên bố quan điểm trung lập.

Thủ tướng Hungary Viktor Orbán đã phản đối chiến dịch quân sự của Nga, nhưng nhiều lần tuyên bố rằng nước này sẽ không hỗ trợ thiết bị quân sự cho Ukraine. Ông Orbán cũng từ chối ủng hộ lệnh cấm vận nhập khẩu dầu và khí đốt của Nga.

Ngược lại, Ba Lan đã ủng hộ mạnh mẽ lệnh cấm vận năng lượng của Nga, và cuộc xung đột đã làm căng thẳng mối quan hệ gần gũi giữa Warsaw và Budapest.

Bình Nguyên / Shoha

Nhà Trắng khẳng định quan chức Nga báo cáo sai cho Tổng thống Putin vì “quá sợ”

Nhà Trắng khẳng định quan chức Nga báo cáo sai cho Tổng thống Putin vì "quá sợ"

Tổng thống Nga Vladimir Putin. Ảnh: AP

Thông tin này nằm trong tài liệu tình báo mới được chính quyền Mỹ giải mật.

Theo tài liệu tình báo mới được giải mật, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nhận được các thông tin sai lệch về hoạt động của quân đội Nga ở Ukraine, New York Times đưa tin. 

Các quan chức Nhà Trắng cho hay, họ giải mật thông tin tình báo nói trên là nhằm đem đến một góc nhìn toàn diện về cái mà họ cho là tính toán nhầm của Tổng thống Nga. 

“Chúng tôi tin rằng ông ấy đang nhận được thông tin sai lệch từ các cố vấn về tình trạng tồi tệ của quân đội Nga và mức độ thiệt hại mà cấm vận phương Tây gây ra”, Giám đốc Truyền thông Nhà Trắng Kate Bedingfield nói với báo giới, “Bởi các cố vấn cấp cao quá sợ nói ra sự thật”. 

Bà Bedingfield cũng nhấn mạnh rằng, ông Putin đang ở trong trạng thái căng thẳng với các quan chức quân đội cấp cao của Nga. “Chúng tôi nhận được thông tin rằng ông Putin cảm thấy bị quân đội Nga lừa dối, dẫn tới căng thẳng thường trực giữa ông Putin và giới lãnh đạo quân đội”.

NYT cho biết, bà Bedingfield từ chối chia sẻ về những kỳ vọng mà Nhà Trắng mong đạt được khi công bố tin tình báo nhưng nhấn mạnh rằng:

“Đưa ra thông tin này chỉ đơn giản góp phần vào quan điểm cho rằng đây là một sai lầm chiến lược đối với họ”, bà Bedingfield nói. 

Quyết định giải mật tin tình báo công khai của Washington phản ánh chiến lược mà Mỹ đã theo đuổi ngay từ trước khi chiến dịch của Nga diễn ra ở Ukraine. Theo NYT, đây là một phần trong chiến dịch chiến tranh thông tin kéo dài nhiều tháng của chính quyền Mỹ.

Phía Mỹ khẳng định, nỗ lực này đã được khởi động từ trước chiến dịch của Nga bằng động thái công bố các thông tin mật “một cách bài bản”, tiết lộ các “chiến thuật” của ông Putin. Một quan chức trong chính quyền Mỹ cho biết, nỗ lực này của phía Mỹ có thể “khiến ông Putin phải cân nhắc lại, xem có thể tin tưởng được ai”. 

Thi Anh / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

Vì sao Nga xâm lược Ukraine và Putin muốn gì?

Khi Vladimir Putin phá tan hòa bình ở châu Âu bằng việc đánh vào một quốc gia dân chủ 44 triệu dân, cái cớ của ông là nước Ukraine hiện đại, nghiêng về phương Tây là một đe dọa thường xuyên và Nga không thể thấy “an toàn, phát triển và tồn tại” được.

Nhưng sau năm tuần bắn phá, hàng ngàn người thiệt mạng, nhiều thành phố bị phá hủy và hơn 10 ngàn người mất nhà cửa trong cũng như ngoài Ukraine, những câu hỏi lớn vẫn được đặt ra: mục tiêu của Putin là gì và liệu có lối thoát nào?

Mục tiêu của Putin là gì?

Mục tiêu ban đầu của vị tổng thống Nga là chiếm Ukraine và lật đổ chính quyền, chấm dứt vĩnh viễn mong muốn gia nhập liên minh quân sự phương Tây NATO. Nhưng cuộc xâm lược của Nga đã bị sa lầy và Putin dường như đã thu bớt tham vọng của mình.

Khi mở chiến dịch xâm lược hôm 24/2, ông nói với người dân Nga rằng mục tiêu của ông là “phi quân sự hóa và phi phát xít hóa Ukraine”, để bảo vệ người dân Ukraine, những người đã phải chịu đựng cái mà ông gọi là tám năm đàn áp và diệt chủng của chính phủ Ukraine.

“Kế hoạch của chúng ta không phải là chiếm lãnh thổ Ukraine. Chúng ta không định áp đặt điều gì lên bất kỳ ai bằng vũ lực,” ông khẳng định.

Ông ta còn nói đây không phải là một cuộc chiến hay cuộc xâm lược, mà chỉ là một “chiến dịch quân sự đặc biệt”, cụm từ mà truyền thông Nga do nhà nước kiểm soát buộc phải dùng.

Cáo buộc về phát xít và diệt chủng ở Ukraine là hoàn toàn không có cơ sở, nhưng điều rõ ràng là Nga thấy thời điểm này là cốt yếu. “Tương lai của Nga và vị trí của Nga trên thế giới đang bị đe dọa,” giám đốc tình báo Nga Sergei Naryshkin nói.

Quân đội Nga có mục tiêu tràn vào thủ đô Kyiv, xâm lược Ukraine từ Belarus ở phía Bắc, cũng như từ phía Nam và Đông.

Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói về việc giải phóng Ukraine khỏi áp bức, trong khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky được bầu lên theo quá trình dân chủ thì nói “kẻ thù đã xác định tôi là mục tiêu số một; gia đình tôi là mục tiêu số hai”.

Nhưng sự chống trả quyết liệt của Ukraine đã gây ra thiệt hại nặng nề, và ở một số vùng, thậm chí đẩy lùi quân Nga.

Map showing Russian advances and Ukrainian counter-attacks
Chụp lại hình ảnh,Bản đồ cho thấy bước tiến của quân Nga và các khu vực quân Ukraine phản công
Putin đã thay đổi mục tiêu?

Nga dường như đã hạ thấp tham vọng của họ, tuyên bố rằng Nga “nói chung đã hoàn thành” mục tiêu của giai đoạn một – làm giảm đáng kể khả năng chiến đấu của Ukraine.

Phía Nga tuyên bố tại các vòng đàm phán hòa bình rằng họ sẽ “giảm đáng kể” hoạt động quân sự quanh thủ đô Kyiv và quanh thành phố Chernihiv ở phía Bắc.

Điều này vẫn chưa được xác nhận và Tổng thống Ukraine Zelensky nói Ukraine chỉ tin vào những kết quả cụ thể, chứ không tin được lời nói.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn, nhất là ở phía Đông và phía Nam, nơi quân Nga cố gắng tạo một hành lang đất liền dọc bờ biển phía Nam nối tới biên giới Nga.

Sau một tháng xâm lược, Nga tuyên bố mục tiêu chính của họ là “giải phóng Donbas” – nói chung gồm 2 vùng Luhansk và Donetsk ở Đông Ukraine.

Hơn một phần ba khu vực này đã do các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn chiếm trong cuộc chiến bắt đầu từ năm 2014.

Map of Donbas
Chụp lại hình ảnh,Bản đồ vùng Donbas
2px presentational grey line

Trước khi cuộc xâm lược bắt đầu, điều rõ ràng là Tổng thống Putin muốn chiếm tất cả Đông Ukraine. Ông đã công nhận cả vùng này là thuộc về hai tiểu nhà nước do Nga giật dây. Người đứng đầu tiểu nhà nước Luhansk đề xuất tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga, tương tự như cuộc trưng cầu được tổ chức lặng lẽ ở Crimea hồi 2014.

Ngoài mục tiêu quân sự, yêu sách lớn hơn của Tổng thống Putin là có được sự đảm bảo về trung lập trong tương lai của Ukraine.

Phía Ukraine đã đồng ý điều đó với điều kiện có đảm bảo về an ninh từ các nước đồng minh như một phần của thỏa thuận hòa bình rộng hơn được đưa ra trong vòng đàm phán ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Vì sao Putin muốn một nước Ukraine trung lập?

Putin coi việc Liên Xô sụp đổ là “sự tan rã của nước Nga lịch sử.” Ông tuyên bố người Nga và người Ukraine là một và phủ nhận lịch sử lâu dài của Ukraine.

Chính việc ông gây áp lực lên cựu tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych, người nghiêng về phía Nga, không ký một hiệp ước với Liên minh Châu Âu hồi 2013 đã dẫn đến các cuộc biểu tình và cuối cùng làm ông Yanukovych phải ra đi hồi tháng 2/2014.

Sau đó Nga đã chiếm vùng Crimea ở phía Nam Ukraine và châm ngòi cho phong trào ly khai nổi dậy ở phía Đông và một cuộc chiến khiến 14.000 người thiệt mạng.

Khi Putin chuẩn bị xâm lược Nga vào tháng Hai, ông xé tan thỏa thuận hòa bình Minsk 2015 và cáo buộc NATO đã đe dọa “tương lai của chúng ta như một dân tộc”. Ông tuyên bố mà không có cơ cở nào rằng các nước NATO muốn mang chiến tranh tới Crimea.

Một nước Ukraine trung lập là thế nào?

Trước khi Ukraine đưa ra kế hoạch hòa bình, Nga nói họ sẽ cân nhắc một nước Ukraine “trung lập, phi quân sự” với quân đội và hải quân riêng, tương tự như các nước Áo và Thụy Điển, cả hai đều là thành viên EU. Áo là nước trung lập trong khi Thụy Điển là nước không liên kết.

Tổng thống Zelensky đã tuyên bố rằng người Ukraine hiểu rằng họ sẽ không được vào NATO: “Đó là sự thực và điều đó cần được công nhận.”

Volodymyr Zelensky

EPA/Ukraine presidency

Security guarantees and neutrality, the non-nuclear status of our state – we are ready to go for it… If I remember correctly, this is why [Russia] started the warVolodymyr Zelensky
President of Ukraine

Nga không coi các đề nghị hòa bình của Ukraine là hứa hẹn hay đột phá, nên cuộc chiến vẫn tiếp diễn.

Nhưng đây là những gì Kyiv đề xuất:

•Ukraine sẽ trở thành một quốc gia “không theo khối nào (hay không liên kết) và phi hạt nhân”, và không có căn cứ quân sự hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ

•Các đảm bảo nghiêm ngặt và mang tính pháp lý sẽ yêu cầu các quốc gia như Anh, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Canada, Ý, Ba Lan và Israel bảo vệ nước Ukraine trung lập trong trường hợp nước này bị tấn công

•Trong vòng ba ngày Ukraine bị tấn công, các quốc gia bảo lãnh sẽ phải bàn bạc và tham gia bảo vệ Ukraine

•Ukraine sẽ được phép gia nhập Liên minh Châu Âu

•Ukraine sẽ không tham gia các liên minh quân sự – chính trị và bất kỳ cuộc tập trận quốc tế nào sẽ phải được sự đồng ý của các quốc gia bảo lãnh.

Đơn xin gia nhập NATO (và EU) của Ukraine được ghi trong hiến pháp 2019 của nước này, nên bất kỳ thay đổi nào sẽ cần có một cuộc trưng cầu dân ý sau đó vài tháng.

Còn Crimea và vùng Đông Ukraine thì sao?

Cho tới giờ, Nga không ấn tượng với đề xuất của Ukraine về số phận tương lai của Crimea, mà Nga xâm chiếm hồi 2014. Điện Kremlin nói Crimea giờ đây là lãnh thổ của Nga và hiến pháp Nga cấm việc bàn thảo địa vị của Crimea với bất kỳ bên nào khác.

Theo đề nghị hòa bình của Urkraine, tất cả quân Nga sẽ rời lãnh thổ Ukraine và tương lai của các khu vực phía Đông do quân ly khai chiếm giữ sẽ được đàm phán giữa hai tổng thống như một phần của cuộc gặp thượng đỉnh đình chiến.

Tuy nhiên, Tổng thống Putin sẽ không từ bỏ bất kỳ vùng lãnh thổ nào Nga chiếm được trong chiến tranh, nhất là khi mục tiêu ông tuyên bố là “giải phóng” miền Đông Ukraine. Trong khi đó, Kyiv sẽ không bao giờ đồng ý khoan nhượng toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Ukraine chưa bao giờ coi trọng yêu cầu phi quân sự hóa của Nga, và việc Moscow khăng khăng phải “phi Phát xít hóa” chỉ là tuyên truyền của Nga. Theo lời của ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba: “Thật là điên rồ, đôi khi họ thậm chí còn không giải thích được họ muốn nói đến điều gì.”

Vấn đề của Putin với NATO là gì?

Với nhà lãnh đạo Nga, liên minh quân sự có 30 thành viên của phương Tây chỉ có một mục đích – chia rẽ xã hội Nga và cuối cùng là hủy hoại nó.

Trước khi cuộc chiến bắt đầu, ông yêu cầu NATO quay lại thời 1997 và đảo ngược việc mở rộng sang phía Đông, rút quân và bỏ các căn cứ quân sự từ các nước thành viên gia nhập liên minh này từ năm 1997 và không triển khai “vũ khí tấn công gần biên giới với Nga”.

Điều đó có nghĩa là Trung Âu, Đông Âu và các nước vùng Baltic.

Graphic showing Nato's expansion since 1997
Chụp lại hình ảnh,Bản đồ cho thấy sự mở rộng của NATO kể từ 1997
2px presentational grey line

Trong con mắt của ông Putin, phương Tây đã hứa từ những năm 1990 rằng NATO sẽ “không mở rộng một tí nào về phía Đông”, nhưng vẫn làm như vậy.

Tuy nhiên, đó là việc trước khi Liên Xô sụp đổ, và lời hứa “không mở rộng về phía Đông” được đưa ra cho Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev chỉ nói đến Đông Đức trong bối cảnh một nước Đức thống nhất. Chính ông Gorbachev sau đó đã nói rằng “chủ đề NATO mở rộng chưa bao giờ được bàn tới” vào lúc đó.

Putin có tham vọng xa hơn Ukraine không?

Nếu có, thì những thất bại quân sự của ông ở Ukraine có lẽ đã làm giảm những tham vọng rộng hơn của Putin ngoài Ukraine.

Sau nhiều giờ nói chuyện với vị lãnh đạo chuyên quyền Nga, Thủ tướng Đức Olaf Scholz kết luận:

“Putin muốn xây dựng một đế chế Nga…Ông ta muốn định hình lại một cách cơ bản hiện trạng của châu Âu theo tầm nhìn của ông ta. Và ông ta không ngần ngại gì về việc sử dụng quân đội để đạt mục đích này.”

Bà Tatiana Stanovaya của hãng phân tích RPolitik và trung tâm Carnegie Moscow Center lo ngại về sự đối đầu Chiến tranh lạnh xoáy ốc: “Tôi có một cảm giác chắc chắn rằng chúng ta phải chuẩn bị nhận một tối hậu thư mà Nga đưa cho phương Tây, một tối hậu thư quân sự hóa hơn và hiếu chiến hơn chúng ta có thể tưởng tượng.”

Sau khi chứng kiến việc ông Putin sẵn sàng san phẳng các thành phố châu Âu để đạt được mục tiêu, các lãnh đạo phương Tây không còn ảo tưởng gì nữa. Tổng thống Joe Biden đã gọi Putin là một tội phạm chiến tranh và lãnh đạo Đức và Pháp coi cuộc chiến này là một bước ngoặt trong lịch sử châu Âu.

Trước cuộc chiến, Nga yêu cầu tất cả vũ khí hạt nhân Mỹ bị cấm sử dụng bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã gợi ý bắt đầu đàm phán về hạn chế sử dụng tên lửa tầm ngắn và tầm trung, cũng như một hiệp ước mới về tên lửa xuyên lục địa, nhưng ít có khả năng chuyện này sẽ xảy ra lúc này.

Ukrainian President Volodymyr Zelensky visiting positions on the frontline with pro-Russian militants in the Donetsk region, Ukraine, 06 December 2021
Chụp lại hình ảnh,Trước khi chiến tranh nổ ra, Tổng thống Volodymyr Zelensky thường xuyên đi thăm các chiến trường ở Đông Ukraine