Biệt thự kiểu Nhật trên núi Ba Vì

HÀ NỘI – Biệt thự song lập với nội thất gỗ và cửa trượt đậm chất Nhật cho gia chủ chỗ “trốn phố” gần gũi với thiên nhiên Ba Vì.

Biệt thự song lập (gồm hai căn liền, đối xứng nhau) trên khu đất 500 m2 ở xóm Quýt, Yên Bài, Ba Vì là chỗ “trốn phố” của một đôi vợ chồng trẻ. Họ mua đất xây nhà ngoại ô để nghỉ ngơi thư giãn, mời bố mẹ đến chơi, trồng rau mỗi cuối tuần.

Theo sở thích của gia chủ, công trình được thiết kế theo kiểu Nhật và chống cột bê tông. Phương án phù hợp với địa hình và giúp giấu các thiết bị kỹ thuật, dây điện – nước, cục nóng điều hòa dưới sàn, nhờ đó nhà đẹp, gọn trong khung cảnh khung cảnh núi đồi trùng điệp.

Diện tích xây dựng là 164 m2 (82 m2 mỗi căn). Nhà cao một tầng rưỡi, bao quanh bởi hàng hiên rộng, cho phép gia chủ vừa ngồi uống trà vừa ngắm mây núi. Hiên cũng kết nối hai khối nhà với nhau.

Không gian chính trong nhà là phòng khách và bếp, có vai trò kéo những người trong gia đình lại gần nhau hơn. Những kệ ngồi gia cố bằng lõi sắt dày bọc gỗ, nhẹ nhàng nhưng vẫn đủ chắc chắn.

Tiểu cảnh với đá cuội tự nhiên, bồn đá, vòi nước tre tạo điểm nhấn và đem thiên nhiên vào nhà.

Sàn bếp được nâng cao nhằm phân tách khu nấu nướng với phòng khách đồng thời giúp không gian nhà không bị nhàm chán.

Như những công trình theo phong cách Nhật, nhà sử dụng nhiều nội thất gỗ và cửa trượt. Cửa trượt kết hợp kính chống nóng giúp không gian tiếp xúc với ánh sáng cùng gió tự nhiên, từ đó tiết kiệm điện.

Nhóm thiết kế còn dùng vật liệu xây dựng mới là betong khí chưng áp để nhà mát về mùa hè, ấm vào mùa đông.

Phòng ngủ master cũng nằm ở tầng một, có ô cửa kính nhìn ra bể ngâm bên ngoài. Hàng trúc trồng cạnh cửa kính phòng ngủ như một bức tranh và mang ý nghĩa đem lại tốt lành cho cả gia đình.

Trúc cũng được trồng bên ngoài ô cửa kính tròn ở phòng vệ sinh tầng một. Ánh sáng từ ngoài cửa kính và trên mái đem tới cảm giác như tắm ngoài trời.

Cầu thang xương sắt, bậc và tay nắm gỗ dẫn từ tầng một lên tầng áp mái.

Tầng hai gồm một phòng ngủ và phòng vệ sinh khép kín. Những ô cửa kính tròn được nhắc lại, biến cảnh núi Ba Vì thành bức tranh để người ở ngắm mỗi khi thức dậy. Đầu giường làm bằng gỗ công nghiệp vân vải và khắc hình lá trúc.

Biệt thự hoàn thành sau năm tháng thi công với chi phí 3,8 tỷ mỗi căn. Hình thức song lập giúp công trình không bị lọt thỏm giữa không gian lớn nhưng vẫn ấm cúng và tạo cảm giác an toàn.

Ngoài nội thất nhà, gia chủ còn đầu tư làm đường xá, cây cối xung quanh, che đi những thiết bị bên dưới.

Minh Trang / Ảnh: Abluebird Photography / Thiết kế: Combo Home

Đỉnh cao của người sống hạnh phúc chính là làm được 5 điều này, nếu không sung túc thì cũng an vui cả đời

Được làm những điều mình thích chính là niềm hạnh phúc “đỉnh cao” nhất của con người.

Từ nhỏ, chúng ta đã được dạy dỗ rằng phải biết ơn với đời thì mới có được hạnh phúc. Lớn lên, chúng ta nhận ra, sức khỏe tràn đầy, gia đình mỹ mãn, hưởng thụ cuộc sống, được làm những điều mình thích mới là hạnh phúc.

Hạnh phúc là khi con người có được cảm giác thỏa mãn đối với những việc phát sinh trong cuộc sống thường ngày, hay đó cũng chính là một sắc thái của cảm xúc. Hạnh phúc của một người không phải phụ thuộc vào việc bạn có bao nhiêu tài sản, mà là bạn có cảm thấy thỏa mãn với cuộc sống hiện tại hay không.

Đỉnh cao của người sống hạnh phúc chính là làm được 5 điều này, nếu không sung túc thì cũng an vui cả đời - Ảnh 1.

Sở hữu được 5 điều sau đây thì xác định cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa, an nhàn cả đời:

1. Sức khỏe đủ đầy

Con người chúng ta, cho dù công việc hay cuộc sống đều cần đến sức khỏe, vì nó chính là căn nguyên của vận mệnh. Không có một cơ thể kiện toàn, chúng ta không thể nào sống hạnh phúc.

Nỗ lực làm việc để tích lũy tài sản là một trong những yếu tố căn bản của cuộc sống, nhưng sức khỏe phải được xem là nguồn tài lực hàng đầu của con người, là công cụ để giúp chúng ta có thể tận hưởng mọi điều trong cuộc sống.

Liệu bạn có thể cảm thấy vui vẻ hay hạnh phúc khi trong người mang đầy bệnh? Câu hỏi này khiến bạn thức tỉnh được tầm quan trọng của sức khỏe.

2. Gia đình mỹ mãn
Đỉnh cao của người sống hạnh phúc chính là làm được 5 điều này, nếu không sung túc thì cũng an vui cả đời - Ảnh 2.

Hạnh phúc là một sắc thái cảm xúc của con người được kiến tạo dựa trên nền tảng cuộc sống. Có một người bạn đời tương thân tương ái, nuôi con dưỡng cái, kính dưỡng trưởng bối,… Tất cả hợp thành một gia đình trọn vẹn khiến chúng ta hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Nếu còn độc thân hoặc vẫn chưa “nên gia lập thất”, bạn sẽ không thể cảm nhận được loại hạnh phúc to lớn này.

3. Biết ơn với đời

Được sống trong hiện tại chính là phúc phần và sự may mắn của mỗi người. Đất nước ấm no, người người an vui, vật chất đủ đầy, cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Nhưng vẫn luôn có một số người ngày nào cũng than vãn và oán trách cuộc sống, chỉ muốn nhận mà không biết cho đi. Kiểu người này không bao giờ chạm tay được đến cánh cửa của hạnh phúc.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, đời người luôn gặp phải trắc trở và thử thách. Chỉ khi biết đứng lên sau vấp ngã, bạn mới có cơ hội để tìm kiếm được an vui cuối cùng. Cầu vồng hiện ra sau cơn mưa, người biết ơn với cuộc sống chắc chắn sẽ trải nghiệm được nhiều điều mới mẻ.

4. Hưởng thụ cuộc sống

Công việc là một thứ rất quan trọng với con người. Có công việc, chúng ta mới có thể kiếm tiền chăm lo cho gia đình, mua nhà mua xe, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây cũng có lẽ là một loại hạnh phúc.

Tiền là nền tảng của cuộc sống. Có tiền, chúng ta mới đủ năng lực để biến những thứ khác thành hạnh phúc, mới có thể sống trong cuộc đời mơ ước, làm những chuyện mình thích.

Nhưng tiền đề chính là: Bạn phải nỗ lực làm việc, xây dựng tài phúc bằng chính đôi bàn tay của mình. Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể hưởng thụ cuộc sống một cách đúng nghĩa nhất.

5. Làm những việc mình thích 
Đỉnh cao của người sống hạnh phúc chính là làm được 5 điều này, nếu không sung túc thì cũng an vui cả đời - Ảnh 3.

Tin chắc rằng trong xã hội hiện nay, rất nhiều người đang phải làm công việc mà bản thân không hề yêu thích. Thế nhưng không còn cách nào khác, chúng ta phải cố gắng chịu đựng để kiếm tiền chu toàn cho bản thân và gia đình.

Con người tất bật trong cuộc sống vồn vã vì muốn có cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Nhưng nhiều người cứ mãi làm việc trong trạng thái bản thân không hề vui vẻ. Điều này có thật sự đúng đắn với mục tiêu sống cuối cùng của chúng ta?

Được làm những điều mình thích chính là niềm hạnh phúc “đỉnh cao” nhất của con người.

(Nguồn: Zhihu) / Theo Phan / Pháp luật & Bạn đọc

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT NGÀY CÀNG MÊ TÍN?

Cảnh cúng sao giải hạn ở Chùa Phúc Khánh, Ngã Tư Sở Hà Nội. Nguồn internet.
Cảnh cúng sao giải hạn ở Chùa Phúc Khánh, Ngã Tư Sở Hà Nội. Nguồn internet.

Có lẽ trong lịch sử xã hội VN chưa bao giờ tình trạng mê tín lại ngập ngụa như bây giờ, từ bói toán, phong thủy, tu hành; từ nhà ra phố tới chùa… không đâu không thấy sự mê muội đến ngớ ngẩn, bệnh hoạn như như thời này.

Người nhà chết nhiều ngày mà vẫn không chịu chôn vì…chưa được giờ; làm cái nhà lại quay lưng ra đường vì gia chủ không hợp với hướng đường, xây nhà phải kiếm người đặt móng vì khổ chủ không được tuổi, nào là nhẫn phong thủy, vòng phong thủy; đôi lứa phải chia lìa vì cha mẹ quyết ngăn cản bởi…không hợp tuổi; nhiều người sinh con bằng cách…mổ cho đúng giờ đại cát; sự mê tín hoành hành cả vào trường học với những thủ tục quái gở liên quan tới cúng bái trước các kì thi; chùa chiền chật ních những ngày tết vì người đi…cầu lộc, cầu an, thậm chí chen lấn dẫm đạp lên nhau mà tranh cướp ấn lộc… Sự mê tín bủa vây đầu óc từ người nông dân, đến thương gia, trí thức, giới chính trị…

Mê tín là một niềm tin mê muội. Tin mà không có cơ sở, tin một cách mù quáng, rằng vì mọi người cũng tin như vậy. Tại sao ngày tết lên chùa đốt nhang khấn vái trước tượng phật lại có thể cầu được lộc được an? Ông Phật có lộc để ban ư? An hay nguy do cách mỗi người sống trong sự đối người tiếp vật chứ sao lại giao phó cho một pho tượng bằng đất đang ngồi bất động ?

Khi nào con người ném cuộc đời mình cho sự may rủi? Làm sao thánh thần lại phải gánh lấy cuộc đời chúng ta? Tại sao trời đất với bốn phương tám hướng với xuân hạ thu đông vô tư này lại phải quyết định số mệnh của mỗi người? Và con người là gì giữa vạn sự vạn vật ? Đạo đức nô lệ mới có những sự sợ hãi hoang dã, nền luân lý của chủ ông (Nietszche) là hành xử của kẻ trượng phu tự gánh vác lấy cuộc đời mình và biết chịu trách nhiệm về những gì mình làm. Một xã hội nô lệ tất sinh ra mê tín.

Ai là giáo chủ của thời này? Danh và lợi – hư danh và ô lợi. Khi một xã hội tuyên bố rằng kinh tế quyết định ý thức, vật chất quyết đinh tinh thần thì tất yếu nó phải dẫn tới sự sùng bái vật chất bằng cách khinh miệt và chà đạp lên những giá trị văn hóa, rẻ rúng những giá trị nhân văn và bức hại các giá trị nhân bản. Mọi sáng tạo trên hành tinh này đều đi ra từ những suy tưởng và lao động trí óc chân chính của con người. Quá trình đô hộ ngược đã được chứng mình bằng cuộc xâm lược văn hóa của người Hi Lạp đối với kẻ thắng cuộc La Mã; người Mông cổ, Mãn Thanh đã thất bại và bị Hán hóa dù chiến thắng trên mặt trận quân sự. Một đất nước lấy sự hiểu biết và trí tuệ làm ngọn đuốc soi đường, đất nước ấy tất đi vào quỹ đạo văn minh.

Chúng ta đang đi ngược lại con đường của thế giới khi nhất loạt quay về thời cổ đại của bái vật giáo, đa thần giáo cho đến nhất thần giáo. Trong khi nhân loại đang ngày càng tự chủ và tự tin vào sức mạnh của chính mình thì chúng ta lại đi ném cuộc đời mình cho ngày giờ, phương hướng, ma quỷ, thần thánh. Nỗi sợ hãi sinh ra vái tứ phương, phủ phục trước những thẻ tre, lạy lục trước tờ giấy ấn…

Nhưng cái gì sinh ra nỗi sợ hãi này? Lòng tham. Tham thì muốn có, sợ hãi nếu không có được, đau đớn nếu mất đi. Lòng tham trước tiền bạc của cải như một thượng đế toàn năng đã dẫn con người tới chỗ luôn sống trong sợ hãi và đánh mất bản thân mình trong những mớ bong bong tinh thần của Tootem / vật tổ giáo, của quỷ thần.

Nhưng cái gì sinh ra nỗi sợ hãi ấy? Sự thiếu hiểu biết đồng nghĩa với đánh mất chủ thể tính nơi mỗi người. Khi con người không hiểu mình và mờ mịt về thế giới thì tất sinh ra sự dựa dẫm. Nó ném cuộc đời mình cho những thứ vô tri được tôn lên hàng thần thánh.

VN có một hệ thống giáo dục thất bại và một nền khoa học què quặt không đảm đương được sứ mệnh khai minh cho dân tộc, khiến nó phải kéo dài thời kì bán khai đến tận thế kỉ XXI này. Nền giáo dục và khoa học ấy là con ruột của một thiết chế xã hội sai lầm đầy bi kịch.

Ở phương diện tín ngưỡng, xã hội VN đang bị phân hóa thành 2 bộ phận: vô thần và đa thần. Bộ phận vô thần này không phải kiểu vô thần như Nietszche, Sartre, Camus mà là vô thần theo nghĩa hoang dã chỉ tôn thờ một thứ duy nhất là Tiền và sẵn sàng nện dày lên mọi giá trị làm người miễn là kiếm và giữ được tiền. Bộ phận đa thần thì sống trong sự dựa dẫm và sợ hãi nguyên thủy. Mọi việc trong cuộc đời họ từ lấy vợ, làm nhà, sinh con, chọn nghề đều do thầy bói quyết định. Họ không dám tự định đoạt một việc gì cả, họ giao phó cuộc đời mình cho 12 con vật trong thế giới động vật.

Cả 2 bộ phận này cùng một thủy tổ là chủ nghĩa Tư lợi

Những người Phật giáo thuộc loại nào? Phần đa là thuộc về đa thần giáo vì họ đã biến ông Phật thành một thần linh có khả năng ban phước giáng họa. Họ đến chùa không phải là đến trường học Phật giáo để nghiên cứu, quán xét, tư duy, để trao đổi thảo luận với ông thầy (sư) mà đến với nải chuối và cầu xin. Họ cúng dường cho thầy chùa để mong được chiếu cố, họ lạy Phật để mong được ban ơn. Những sư sãi ở chùa đã phần nhiều không còn đảm trách công việc trí tuệ mà vị thầy tổ của mình đã di huấn; họ tổ chức cúng sao, giải hạn, cầu siêu để thu tiền. Họ tổ chức lễ lạt với mâm cao cỗ đầy, với ngàn ngạt những tràng hoa, với ngựa xe như nước áo quần như nêm. Cái công việc dạy và học ở chùa gần như biến mất, có chăng là vài thời khắc tụng kinh hình thức đọc như những con vẹt ngủ gật mà quên mất rằng việc đọc kinh là để hiểu chân lý được cất giữ trong ấy, từ đó mà mang vào đời sống để kiến lập một cuộc đời và xã hội hạnh phúc, an định. Sự thức hành mê tín trong chốn “Duy tuệ thị nghiệp” là một điển hình cho tình trạng mê tín đến tàn mạt ở thời đổ nát của mọi giá trị này.

Chùa là trường học, sư là thầy giáo, kinh là sách giáo khoa. Mỗi người đến chùa đúng nghĩa là để học hỏi trở thành con người tự chủ, tự do và đầy dũng khí; là để tiếp xúc với ánh sáng chân lý mà dẫn dắt lấy cuộc đời mình chứ không phải đến đó để biến mình thành một tên nô lệ hay một kẻ ăn mày cuối đầu cầu xin đủ thứ trên đời. Những người Phật giáo chân chính càng phải có trách nhiệm với cuộc đời chứ không phải mũ ni che tai, dùng vài từ tự lừa mị mình như “buông bỏ”, “tánh không” để che đi sự lười biếng và hèn nhát của mình trước các vấn nạn xã hội.

Để giải quyết những khủng hoảng của xã hội VN đương thời không có cách nào khác là chấn hưng nền khoa học và giáo dục của nước nhà. Ở đó, những người trí thức phải trở thành lương tâm của dân tộc, trở thành não bộ của của xã hội, hòng dẫn dắt đất nước ra khỏi tình trạng mông muội. Những người trí thức nếu cứ ngồi đó mà đổ lỗi và chờ đợi lịch sử sang trang thì mới có thể thi triển tài năng và cống hiến thì cũng hệt như người bệnh nói “đợi khỏe mạnh đã tôi mới đi bệnh viện được”. Lúc xã tắc lâm nguy là lúc cần người trí thức hơn bao giờ hết.

Sẽ không một nhà khoa học hay nhà giáo nào có thể thành tựu được lý tưởng nghề nghiệp chân chính của mình trong một cơ thể xã hội bệnh hoạn, nên việc cần làm trước tiên là chung tay chữa trị cho cơ thể xã hội ấy được lành lặn đã.

“Bi kịch tột cùng không phải là sự đàn áp của kẻ xấu mà là sự im lặng của những người tốt” – M. Luther King

Sự im lặng của người có học là không thể biện minh và tha thứ.
Thái Hạo / Bức tranh Vân Cẩu

Những cái tết của gia đình Nhất Linh

Lịch sử có thể được ghi chép theo rất nhiều cách, mà một trong số đó là theo dòng nước chìm nổi của những gia tộc lớn. Nguyễn Tường – nơi nhà văn Nhất Linh sinh ra, một dòng tộc khoa bảng từng nổi danh ở đất Hội An xưa với công khai quốc thời vua Gia Long, là một trong số đó. Trong các ghi chép của hậu duệ đời sau với những đóng góp quan trọng trong làn sóng đổi mới văn hóa, người đọc dễ thấy những khoảnh khắc đầu năm mới của gia đình Nhất Linh trong các trang viết, từ đó tái hiện một thời đoạn lịch sử riêng biệt mà cũng đặc biệt.

Gần đây, hai cuốn sách của con trai nhà văn Nhất Linh – Nguyễn Tường Thiết, đã được phát hành, đó là cuốn Nhất Linh, Cha tôi và cuốn Căn nhà An Đông của mẹ tôi. Bên cạnh đó, cuốn Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường của bà Nguyễn Thị Thế, em gái nhà văn Nhất Linh cũng được xuất bản. Qua tác phẩm của bà Nguyễn Thị Thế mới được in lại, những cái Tết đặc biệt của gia đình Nhất Linh đã hiện lên từ ấu thời ở Hà Nội cho đến khi ở trại Cẩm Giàng. Trong khi đó, hai cuốn sách của Nguyễn Tường Thiết lại tập trung viết về Nhất Linh trong quá trình sáng tác Xóm Cầu Mới bên dòng suối Đa Mê ở rừng Fin Nôm, Đà Lạt. Đó thực sự là những lát cắt rất riêng, như tiếng nói về thời đoạn của một thế hệ, hiện lên vừa gần gũi vừa mới mẻ.

NHỮNG CÁI TẾT TỪ ĐẦM ẤM ĐẾN NGẬP TRONG NỢ NẦN

Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường là những trang viết chân thật và rất tiệm cận với những thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Nguyễn Thị Thế là người con gái duy nhất trong số các anh em Nguyễn Tường, bà không tham gia sáng tác văn chương nhưng ngược lại, có sự quan sát và trí nhớ vô cùng tốt. Những cái Tết từ thời còn sung túc cho đến đói khổ, được bà họa lại một cách chân thành như những câu chuyện bên bếp lửa Tết.

Bà viết về những khoảnh khắc cận kề Tết, khi cả gia đình mới rời Hà Nội chuyển về Cẩm Giàng, bà thích mặc quần áo đẹp để nhận tiền mừng tuổi, và đặc biệt là được đi đón các anh ở xa về. Những ngày ấy trong nhà nhộn nhịp tưng bừng, với những câu chuyện về việc học hành, về thầy giáo nào khó, ông giám thị nào dữ… Trong dư âm của những đêm quây quần ấy, bà nội sẽ đem quần áo ra soạn để khâu lại những chỗ rách, còn cái nào ngắn để lại ở nhà cho các em mặc. Chính chất liệu này rồi sau sẽ xuất hiện trở lại trong tiểu thuyết Xóm Cầu Mới ở chương về gia đình bác Lê. Đối với các anh lớn, năm mới nào mẹ bà cũng mua một tấm vải chúc bâu để may cho mỗi người một bộ, với tiếng vải mới kêu sột soạt nghe rất lạ tai.

Cuốn Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường của bà Nguyễn Thị Thế.

Thế nhưng khó khăn đến liền sau đó. Trong một lần gặp ông Công sứ Hải Tường, thân phụ của bà đã quyết định sang Lào để làm việc, với mức lương cao và nếu mẹ bà muốn buôn bán thì cũng dễ. Nhưng chỉ một năm sau đó, dây thép báo về Thầy đã mất bên đó. Và kể từ đó, những năm túng thiếu trong gia đình Nguyễn Tường bắt đầu. Bà Nguyễn Thị Thế ghi lại những lần bị đòi nợ đầy sầu não như sau: “Những năm túng thiếu, Tết nhiều người đến đòi nợ, mẹ tôi phải nằm trốn trong buồng dặn anh Tráng ra khất nói mẹ tôi đi vắng. Ai thấy anh với hai con mắt xếch lúc đó lại xếch thêm rất dữ nên đứng lâu một lúc họ bỏ về không dám nói gì. Anh quay vào nói với mẹ tôi: ‘Thôi từ nay có thì ăn không thì nhịn chứ mợ đừng vay mượn chi của họ, họ nói nghe khổ lắm’”.

Cái khó khăn ấy còn đứng giữa những sự tan tác trong gia đình hai bên nội – ngoại với những trận cãi khó mà hàn gắn. Bà viết: “Nhà tôi tiền không có, ngày Hai mươi tám Tết rồi, bánh cũng không. Bên ngoại thì mổ heo gói bánh om sòm. Gia đình tôi chỉ thấy người đòi nợ thôi. Lúc hai bà cãi nhau, chị em tôi nấp vào một chỗ ngồi xem như đi xem hát vậy. Hình như bà nào nói bà ấy nghe, hai bà cùng nói một lượt, thích gì thì nói cho hả thôi, chẳng ai nghe ai cả. Mẹ tôi bảo ăn Tết xong sẽ bán cái nhà này lấy tiền trả nợ cho mợ. Mợ tôi nhất định đòi ngay bây giờ. Hai bà cứ găng như vậy tôi biết khó có thể chấm dứt được”.

Thế nhưng dù có khó khăn đến đâu, thì những cái Tết nghèo ấy lại để lại những cảm xúc rất riêng, về việc quét vôi nhà cửa, lau dọn bàn thờ hay các bức tranh tứ bình. Phiên chợ đông đúc ngày Hai mươi chín Tết cuối năm cũng được bà kể lại: “Dân từ các làng xa xôi đổ về, họ đi từ gà gáy cho kịp chợ. Ngoài thức ăn còn bán tranh Tết, pháo, mứt, hoa giấy. Hai chị em tôi thế nào cũng xin cho bằng được vài hào ra mua mấy bức tranh đám cưới chuột, thầy đồ ngồi dạy học, ông trạng vinh quy bái tổ, cả tranh con gà, cá chép, đem về dán la liệt trên vách tường. Mẹ tôi mua hai bức vẽ ông tiến tài, tiến lộc dán hai bên cánh cổng. Các anh lấy vô vẽ cung tên trước cửa để đuổi ma quỷ. Tôi nghĩ chả cần đuổi, ma quỷ nó thấy cũng chạy mất vì có năm gian nhà nhỏ chỗ nào cũng người là người”. Sự khó khăn cũng dần chấm dứt khi các anh lần lượt thi đậu, có tiền để giúp đỡ gia đình. Đó là cái Tết “thoát nghèo” đầu tiên khi không còn cảnh trốn nợ, bị đòi nợ và cãi nhau.

GIẤC MƠ VỀ CĂN NHÀ BÊN SUỐI

Có lẽ chính từ cảm hứng về Xóm chợ ở quê ngoại Cẩm Giàng toàn những người làm ruộng quê ở Hà Nam, Phủ Lý, vì bị lụt lội không đủ sống nên đưa nhau đến đây mà Nhất Linh có chất liệu để viết nên Xóm Cầu Mới. Nói về tác phẩm này, thì đó chính là “cao vọng” trong nghiệp viết của ông, với tham vọng tạo nên một cuốn “Đông chu liệt quốc” của những thân phận bình thường. Quá trình viết kéo dài nhiều năm, khi thì ở Hương Cảng, khi thì ở Việt Nam, mà một trong số những địa điểm quan trọng “thai nghén” nên nó là suối Đa Mê ở Đà Lạt.

Viết về nơi chốn này, tác giả Nguyễn Tường Thiết trong cuốn Nhất Linh, Cha tôi đã có những gợi nhắc về kỉ niệm rất đặc biệt. Theo đó Thanh Ngọc Đình là tên mà thân phụ ông đặt cho căn nhà do chính Nhất Linh họa đồ và định xây cất giữa rừng Fim Nôm để nghỉ ngơi và… làm thơ. Cái tên Thanh Ngọc Đình xuất phát từ loài hoa mà ông thích nhất. Nhất Linh cũng từng thi hứng về nơi chốn này như sau:

“Sắc trong Thanh Ngọc hương thơm mộng

Một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần…”

(Nhất Linh 28-10-1957)

Hai tác phẩm của ông Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn Nhất Linh.

Thế nhưng, giấc mơ về căn nhà ấy thành dang dở. Năm 1959 căn nhà bị sụp trong một đêm giông gió, sau cái Tết Kỷ Hợi. Trùng hợp rằng đó cũng là năm đầu tiên mà Nhất Linh tổ chức ăn Tết trong rừng. Theo tác giả Nguyễn Tường Thiết, khởi nguồn của ý tưởng này có thể là bởi ông muốn ăn mừng căn nhà mới, nhưng cũng có thể là muốn làm sống lại những cái Tết xưa ở trại Cẩm Giàng mà bà Nguyễn Thị Thế đã từng kể lại trong cuốn hồi kí của mình.

Nhà thơ Huy Cận trong những ghi chép sau này cũng có lần kể lại về cái Tết mà Nhất Linh và Thạch Lam rủ Xuân Diệu cùng ông về ăn Tết ở Cẩm Giàng. Ông viết: “Đêm Giao thừa chúng tôi thức để đi bẻ lộc trong vườn, và sau khi ăn bát chè đậu xanh giữa phút Giao thừa thì chúng tôi trải chiếu ngủ trên ổ rơm rất ấm và thỉnh thoảng ngâm thơ Thế Lữ […] Ấn tượng tổng quát mà Nhất Linh để lại trong tôi ở giai đoạn ấy là một tâm hồn nghệ sĩ say mê, một người đứng đầu một trường phái văn học có hoài bão, một người bạn văn chương có con mắt sành biết khám phá và biết ủng hộ những tài năng. Đó là giai đoạn đẹp trong đời Nhất Linh”.

Và căn nhà mà ở đó giữa ánh lửa của nồi bánh chưng Nhất Linh ngồi viết cuốn trường thiên Xóm Cầu Mới thật ra chỉ là căn bếp của Thanh Ngọc Đình, khi được xây trước để dùng làm chỗ ở tạm đợi căn nhà bên suối hoàn thành. Do chưa có điện nên hầu như chỉ bóng tối tràn ngập, ở bên ngoài là rừng thưa Fim Nôm xào xạc gió. Trong những đêm tối trời với căn nhà tĩnh mịch ấy, tiếng kèn clarinette của Nhất Linh vang lên giữa rừng khuya vắng.

*

Từ những ghi chép được lưu giữ ấy, thời khắc đặc biệt của gia đình văn nhân đặc biệt thêm lần nữa được ghi và kể lại, như những khói trầm ngun ngút bay lên không trung. Như trong cái Tết năm 1953, vào mùng 1 Tết Nhất Linh đã viết “Trong hương trầm của đêm 30 Tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích… tôi có mấy lời cảm xúc này – và cũng là chúc thư luôn thể – với một bài thơ để gửi các anh em cũ (bất cứ từ khu nào)… Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm công việc mình đã làm tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp, lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác…”

Và những cái Tết đầy ấn tượng ấy cũng kể lại với người đọc về một gia tộc nhiều chìm nổi, cũng như chân dung của một thủ lĩnh văn học một thời, luôn luôn hiện diện quanh quất với cái đẹp và nét ý nhị trong những tác phẩm của mình.

NGÔ THUẬN PHÁT /VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI

Bức tranh kiều hối

Người Việt ở Mỹ đã gửi về nước chín tỷ đôla, chiếm một nửa lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được trong năm 2021.

Kiều hối về Việt Nam tăng liên tục qua các năm. Đồ họa của VNExpress dựa theo dữ liệu của WB và KNOMAD

Bất chấp đại dịch COVID-19 và kinh tế suy thoái ở hầu hết các nước trên thế giới, lượng tiền mà người Việt Nam sinh sống làm ăn ở nước ngoài gửi về cho thân nhân và gia đình ở trong nước, gọi là kiều hối, vẫn tăng rất mạnh trong năm 2021, lên mức $18.06 tỷ, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác Quốc tế về người Di cư KNOMAD.

Đây là năm thứ năm liên tiếp, lượng kiều hối gửi về Việt Nam tăng mạnh, từ mức $13.8 tỷ năm 2017, $15.9 tỷ năm 2018, $17 tỷ năm 2019, $17.2 tỷ năm 2020. Nhờ vậy, Việt Nam vẫn nằm trong số 10 quốc gia có lượng kiều hối cao nhất thế giới và nước nhận nhiều kiều hối thứ ba ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, sau Trung Quốc và Philippines.

Lượng kiều hối nhận về tương đương 5.1% tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam năm 2021, nhưng đáng chú ý kiều hối là nguồn thu nhập “từ trên trời rơi xuống”, người nhận không cần phải đầu tư vốn liếng hoặc công sức sản xuất kinh doanh. So với sản xuất kinh doanh, lượng kiều hối Việt Nam nhận được nhiều gấp bốn lần khoản xuất siêu (giá trị xuất cảng nhiều hơn nhập cảng) cả năm 2021; xấp xỉ khoản đóng góp của ngành xây dựng cả nước vào GDP năm 2020 và bằng 8% tổng số tiền gửi của người dân vào hệ thống ngân hàng ở trong nước.

Theo thông tin trên trang VNExpress, có một nửa lượng kiều hối về Việt Nam được gửi từ Mỹ, nơi có hơn 1.4 triệu người Việt định cư tạo thành cộng đồng người Việt đông đảo nhất ngoài Việt Nam. Các nước có nguồn kiều hối gửi về nhiều nhất lần lượt là Mỹ, Úc, Canada, Đức và Pháp.

Thành phố Sài Gòn, trung tâm kinh tế của đất nước, cũng là nơi nhận được nhiều kiều hối nhất, khoảng 53% tổng số kiều hối của cả nước.

Những dữ kiện trên cho thấy, phần lớn nguồn tiền kiều hối là từ những người Việt định cư tại các nước công nghiệp phát triển – những người đã phải rời bỏ quê hương vì nhiều lý do, nổi bật là sự áp bức về chính trị hoặc bế tắc về kinh tế. Những năm gần đây, đã có vài triệu người Việt đi làm thuê ở nước ngoài, trong nước gọi là “xuất khẩu lao động”, cũng gửi tiền về giúp gia đình hoặc trả nợ, nhưng lượng kiều hối của thành phần “lao động xuất khẩu” chưa nhiều bằng nguồn tiền của người định cư. Phần lớn người ra nước ngoài làm thuê là người nghèo, làm việc tay chân, thu nhập không cao và không ổn định nên số tiền gửi về bị hạn chế.

Trong hai năm dịch COVID 2020-2021, phần lớn người Việt định cư ở Bắc Mỹ, Úc và châu Âu đều gặp khó khăn về kinh tế-tài chính, nhiều người mất việc, công việc kinh doanh bị đình đốn, nhiều gia đình phải sống nhờ các khoản trợ cấp của chính phủ. Nhưng lượng tiền gửi về Việt Nam chẳng những không giảm sút mà còn gia tăng đáng kể, chứng tỏ tấm lòng của người tha hương đối với thân nhân và quê nhà là hết sức đáng trân trọng. Nếu không bị dịch bệnh cản trở thì có thể lượng tiền gửi về từ cộng đồng người Việt định cư ở phương Tây còn tăng mạnh hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Với tỷ lệ 5.1% GDP mà không phải đầu tư gì, kiều hối là nguồn thu nhập hết sức quan trọng giúp Việt Nam gia tăng dự trữ ngoại tệ bằng đồng đôla Mỹ và euro châu Âu, ổn định cán cân thanh toán, thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư của người dân giữa lúc các ngành kinh tế-du lịch khốn đốn vì đại dịch.

Hào hứng trước lượng tiền khổng lồ từ nước ngoài gửi về, tại buổi liên hoan đón người Việt về ăn Tết Nhâm Dần, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã tức cảnh đọc hai câu vè: “Mỗi năm Tết đến Xuân về. Quê hương đất mẹ đề huề mong con” làm trò cười cho người dân trong và ngoài nước.

Ấy thế nhưng cho đến nay, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn chưa có những chính sách đối xử đúng mực và trân trọng với người Việt Nam xa quê ngoài những lời đãi bôi ngoài cửa miệng. Các đại sứ quán, lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài vẫn tìm đủ cách để bắt chẹt người có nhu cầu về nước thăm gia đình mà vụ scandal “chuyến bay giải cứu” với giá trên trời bị vỡ lở gần đây là ví dụ nổi bật.

Bình Phương / Saigon Nhỏ