Chi tiền tỷ ‘bứng’ nhà cổ 100 tuổi về dựng lại

TP HCM – Ông Đỗ Văn Dũng, 62 tuổi, chi gần 20 tỷ đồng xây dựng khu nhà vườn 3.000 m2, trong đó có ngôi nhà cổ gần 100 tuổi, mang đặc trưng kiến trúc Nam Bộ.

Khu nghỉ dưỡng của ông Dũng, 62 tuổi, nằm ở phường Long Phước, TP Thủ Đức được xây dựng từ năm 2000. Trên mảnh đất rộng 3.000 m2, ông trồng cây, làm vườn, đào ao và xây nhà. Thay vì làm kiểu giả cổ như nhiều người, năm 2002 ông mua một căn nhà gần 100 năm tuổi ở Bình Dương về dựng lại.

“Từ nhỏ, tôi đã đam mê những kiến trúc xưa. Sau đó tôi tự mày mò tìm hiểu, học thêm từ các nghệ nhân, thợ cả… với mong muốn có ngôi nhà cho mình”, ông Dũng nói.

Căn nhà được ông Dũng được mua lại bằng vàng, tương đương 1,5 tỷ đồng so với thời giá hiện nay, chưa bao gồm nội thất. Nhà được dựng lại trong nửa năm và gần như nguyên bản, mang đặc trưng nhà cổ Nam Bộ với kiểu chữ đinh, bao quanh là sân vườn xanh mát.

“Khi dựng lại tôi có làm thêm một chái nữa cho rộng rãi. Đó là sự khác biệt duy nhất so với kiến trúc ban đầu của ngôi nhà”, ông Dũng cho biết.

Phần tường gạch, khung cửa sổ sắt, lỗ thông gió… cũng được giữ nguyên. “Riêng phần mái ngói thì hư hại nhiều nên tôi phải đặt mua ở Bình Dương, đúng nơi căn nhà cổ này từng toạ lạc và lợp kiểu vảy cá để đảm bảo sự đồng bộ”, gia chủ cho biết.

Diện tích căn nhà 200 m2, được dựng bằng 54 cột gỗ gõ mật. Ông Dũng cho biết, hệ thống kèo, cột, mái… của ngôi nhà còn rất chắc chắn nên khi dựng lại không phải trùng tu thêm.

Những chiếc đèn cổ vẫn được giữ nguyên và treo đúng vị trí ban đầu khi dựng lại nhà.

Các kiến trúc hoa văn trên cửa, cột, kèo… giữ nguyên nét tinh xảo.

Vì chủ nhà không bán nội thất nên ông Dũng phải sưu tầm thêm nhiều đồ xưa khác về trang trí để tôn thêm nét hoài cổ cho không gian sống của mình.

Đồ trong nhà như bộ trường kỷ, phản, án thờ, tủ, bàn ghế… hầu hết có tuổi đời khoảng 50 năm. Khi căn nhà hoàn thành, ông Dũng thường cho các đoàn phim mượn làm bối cảnh quay.

Bên ngoài nhà có ao rộng thả sen, khoảng sân trồng cau, mai chiếu thuỷ, đặt nhiều cây kiểng, hòn non bộ… tạo nên cảnh bình yên, mộc mạc như một miền quê.

Phần mái ngói cũ còn sử dụng được được ông Dũng sử dụng lợp mái của nhà thuỷ tạ, soi bóng bên ao nước rộng trước nhà. Sau khi dựng xong nhà chính, ông còn mua thêm vật liệu của vài nhà xưa khác để làm những công trình phụ xung quanh.

Ông làm nghề thiết kế sân vườn và thường ở quận Bình Thạnh để tiện đi làm. “Những lúc rảnh, tôi lại về đây, có khi cả tuần để nghỉ ngơi, uống trà, câu cá, làm vườn… rời xa cuộc sống đô thị”, người đàn ông 62 tuổi nói.

Toàn cảnh không gian rộng 3.000 m2 của ông Dũng. Ông cho biết, chưa tính tiền đất thì đã bỏ ra gần 20 tỷ đồng đầu tư vào khu nhà vuờn mình của mình.

Quỳnh Trần / Vietnam Express

Những sự thật kỳ lạ về tình yêu và tình dục

Các nhà khoa học phát hiện khiêm tốn giúp bạn tăng “chỉ số đào hoa”, người yêu nhau thường có ADN tương tự và đói bụng sẽ làm tăng xung đột, cãi vã.

Những điều kỳ lạ về tình yêu và tình dục không phải ai cũng biết
1. Khiêm tốn có thể cải thiện tình duyên

Đây là phát hiện theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm lý tích cực của Mỹ. Các tình nguyện viên đánh giá “khiêm tốn” cao hơn những phẩm chất khác như “hài hước, thân thiện, vui vẻ”. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy khi đối phương khiêm tốn sẽ dễ được tha thứ lỗi lầm.

Điều này cho thấy sự khiêm tốn trong mối quan hệ không chỉ có thể tăng tỷ lệ hẹn hò thành công mà còn giúp hàn gắn tình cảm. Không ai muốn yêu một người khoe khoang, hách dịch dù điều kiện tốt cỡ nào đi nữa.

2. Xem phim lãng mạn củng cố mối quan hệ

Xem phim có thể là chìa khóa của một cuộc hôn nhân hạnh phúc, theo kết quả của Phòng nghiên cứu hôn nhân và gia đình, Đại học Binghamton (New York, Mỹ). Các cặp vợ chồng xem phim lãng mạn và thảo luận cùng nhau, tỷ lệ ly hôn sẽ giảm một nửa sau ba năm.

Mấu chốt của việc này là hai bạn thảo luận về mối quan hệ của mình trong bối cảnh của bộ phim, thay vì bắt đối phương xem phim và áp dụng vào cuộc sống. Khá nhiều cô gái xem phim và yêu cầu bạn trai hành động như nam diễn viên chính, còn mình thì không làm gì, như vậy chỉ gây hại cho mối quan hệ.

3. Tình dục giống như ma túy

Tình dục làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu. Cảm giác này phần lớn có được do sự giải phóng dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh kích hoạt khu vực phần thưởng trong não bộ.

Các nghiên cứu đã chỉ ra mặc dù cảm giác khi sử dụng cocaine và sex mang lại không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều kích thích lên một số khu vực giống nhau trên não. Tương tự, caffeine, nicotine và chocolate cũng kích thích lên trung tâm khen thưởng của não bộ.

Tình dục giống như ma túy, bởi đều tác động lên những khu vực giống nhau trên não bộ.
Tình dục giống như ma túy, bởi đều tác động lên những khu vực giống nhau trên não bộ. (Ảnh: Timesofindia)

4. Nhu cầu “chuyện ấy” ở mỗi người khác nhau

Theo một nghiên cứu của Đại học California, Mỹ, hệ thống dây dẫn trong não có thể ảnh hưởng đến số lượng bạn tình mà bạn có.

Các nhà nghiên cứu đã quét não những tình nguyện viên tham gia thí nghiệm khi họ xem ảnh khiêu dâm, từ đó phát hiện những người có não hoạt động nhiều nhất khi xem ảnh có xu hướng có nhiều bạn tình hơn và ham muốn nhiều hơn.

Mỗi người có một nhu cầu khác nhau. Một số người chỉ cần duy trì đều đặn, nhưng một số không ngừng tìm kiếm sự kích thích để thỏa mãn ham muốn.

5. Ôm sau khi quan hệ tình dục tăng hài lòng với mối quan hệ

Đây là kết quả từ nghiên cứu năm 2014 của Đại học Toronto. Nguyên nhân có thể liên quan đến việc giải phóng oxytocin – một loại hormone được tiết ra khi sex và cả khi tiếp xúc da kề da.

Cho dù trước hay sau khi làm “chuyện ấy”, những cái ôm, nụ hôn hoặc các hành vi khác để nâng cao sự thỏa mãn tình dục của nhau, có thể củng cố mối liên hệ tình cảm giữa hai người.

6. Lượng đường trong máu thấp dễ dẫn ra cãi vã

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Ohio đã có một nghiên cứu chỉ ra những cuộc cãi vã giữa vợ chồng đôi khi là kết quả của lượng đường trong máu thấp.

Nghiên cứu năm 2014 yêu cầu hơn 100 cặp vợ chồng kiểm tra lượng đường trong máu vào mỗi sáng và tối, kéo dài trong 21 ngày. Từ đó phát hiện vợ chồng tranh cãi, xung đột nhiều hơn khi lượng đường trong máu thấp.

“Trước khi vợ chồng tranh cãi, hãy đảm bảo rằng bạn không đói”, tiến sĩ Brad Bushman, trưởng nhóm nghiên cứu khuyên.

7. Bạn đời thường có ADN tương tự

Các nhà khoa học đã xác định được con người có xu hướng chọn bạn đời có những đặc điểm giống nhau, như tuổi tác, chủng tộc, ngoại hình, thu nhập và trình độ học vấn.

Một nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ năm 2014 cho thấy mọi người cũng có xu hướng kết hôn với những người có ADN tương tự. Với hơn 800 cặp đôi da trắng tham gia, các nhà nghiên cứu tìm thấy những đôi đã kết hôn có sự khác biệt ADN nhỏ hơn những đôi cùng chủng tộc được chọn ngẫu nhiên.

8. Du lịch giúp cặp đôi thêm gắn kết

Bất kể bạn đang trong giai đoạn hẹn hò hay đã yêu và muốn hâm nóng mối quan hệ, du lịch luôn là một lựa chọn tốt.

Đôi khi, việc đi du lịch cùng nhau không chỉ phản ánh cách quan tâm nhau, làm tăng cảm giác thân thuộc, hiểu hơn về tính cách, con người. Trên hành trình đi chơi rất dễ nảy ra những tình huống, buộc cặp đôi phải suy nghĩ, cùng nhau giải quyết. Đây sẽ là nền tảng giải quyết xung đột cho tương lai. Nếu cả hai có thể cùng tiến cùng lùi trong chuyến đi, tình cảm sẽ thêm sâu sắc.

 Theo VnExpress

Chồng tôi Bắc kỳ 54 – Jeanne K . NTL


Hồi nhỏ, mỗi lần nhắc đến hai chữ “Bắc Kỳ” tôi tự nhiên thấy mất cảm tình. Những hình ảnh của các bà, các cô khăn quấn mỏ quạ, răng đen ánh hạt huyền, còn các ông thì hút thuốc lào kêu két két, đi đâu cũng đủng đẳng đeo theo cái điếu cày, của những màn đánh ghen, chửi thề nghe như hát cải lương mà không hiểu gì, của cái tính keo kiệt dân xứ Bắc là những gì vẫn thường ám ảnh trong đầu bọn trẻ chúng tôi.

Trong trường gặp mấy cô em “Bắc Kỳ nhỏ nhỏ” là bọn Nam Kỳ Lục Tỉnh chạy xa. Ăn uống thì một con tôm cõng ba hạt muối, chém to kho mặn, rau muống luộc chấm mắm tôm cũng xong một bữa cơm, dư đồng nào dắt vào ruột tượng.

Mấy nơi dân Bắc Kỳ tụ lại sống chung với nhau như Phú Nhuận, Lăng Cha Cả, Xóm Mới, Vườn Chuối, Vườn Xoài, Cái Sắn, Hố Nai, Gia Kiệm thì đến “Việt Cộng” trước và sau tháng 4 năm 1975 cũng phải chào thua!  Nhà thờ mọc lên san sát, xứ này đến xứ kia sáng sáng chuông nhà thờ thi nhau đổ có muốn ngủ nướng cũng phải bò dậy. Vậy mà nếu ai đụng đến một chút là “tiên sư tổ bố nhà mày, để ông, để bà dậy cho mà biết nhá!…”  Những tài xế lái xe chạy qua ngả Hối Nai, Gia Kiệm nhiều lần phải toát mồ hôi hột mỗi khi sơ ý để xẩy ra tai nạn.

Trở lên là những hình ảnh tôi có được về người Bắc Kỳ. Những hình ảnh này dường như nó đã ăn sâu vào tâm trí tôi trong suốt thời gian còn cắp sách đến trường.  Sau này nhờ ơn ông chồng Bắc Kỳ “giải phóng” mà tôi mới biết mình sai, và cũng từ đó, tôi yêu, tôi mến người Bắc.  Nếu ai hỏi tôi, thì tôi rất hãnh diện trả lời: “Chồng tôi là Bắc Kỳ 54 đấy!”

Nhớ lại thời còn là nữ sinh St. Paul, đa số bọn con gái chúng tôi đều mơ mộng các chàng Tabert hay một trường Tây vì đa số dân ở đó là con nhà giầu, công tử có nhiều tiền, nói tiếng Pháp, và nhiều chàng còn mang song tịch Việt-Pháp.

Nhưng thói đời dường như trái ngược, phần đông dân St. Paul chúng tôi đều bị mấy anh Bắc Kỳ “dzớt”.  Có phải là “ghét của nào trời trao của đó” không?  Hay tại con trai Bắc Kỳ dẻo mép, lỳ, và biết tâm lý con gái.  Ba tôi thường nói với chúng tôi phải tránh xa bọn con trai Bắc Kỳ. Chúng nó nói “con kiến trong lỗ nghe bùi tai cũng bò ra”. Nhưng nghe rồi thì khổ cả đời!!!

Riêng tôi thì chẳng lo gì trai Bắc Kỳ theo tán tỉnh, vì cả tuần trong trường với các Soeur. Đi về đã có tài xế đưa xe đến đón chung với chị và em gái.  Ngoài ra trong nhà còn có hai ông anh một ông đệ tam, một ông đệ tứ đẳng huyền đai Thái Cực Đạo (Tae Kwon Do) thì lo gì bị trai Bắc Kỳ tấn công hay bắt cóc.  Còn những ngày nghỉ lại được ba bảo chú tài xế chở về quê ngoại ở Cái Bè để đùa chơi với sông nước, với vườn trái cây, với đồng ruộng thẳng cánh cò bay.  Đã vậy ông già tôi thuộc loại nghiêm khắc, đi đứng, giờ giấc luôn phải rõ ràng. Thí dụ, đi đâu, với ai, và lúc nào, bao giờ về. Tóm lại, từ ba má đến các anh chị tôi, và cả chính tôi “hổng” ưa Bắc Kỳ.

Ghét Bắc Kỳ nhưng lại lấy Bắc Kỳ. Chuyện tình của tôi với chàng trai Bắc Kỳ bắt đầu từ một chiều thứ Bảy.  Hôm đó, anh Năm của tôi, thiếu úy tùy viên cho một vị chỉ huy trưởng nào đó về chơi và dẫn theo một sỹ quan bạn của anh.

“Người đâu nước họ, chẳng nọ thời kia,” vừa gặp tôi là cứ chăm chăm nhìn từ đầu xuống chân làm tôi thấy mắc cở muốn chết.  Sau này tôi mới biết chàng là một trung úy làm trong phòng hành quân và là bạn thân của anh Năm.  Người trông lịch sự, trí thức, và thêm chất lính nên không đến nỗi tệ. Khổ cái vừa mở miệng ra đã biết đó là Bắc Kỳ:

“Không dám ạ!

Vâng! Không dám ạ!”

Lại còn gọi tôi là “bé”. Tôi nghe chàng ta nói thầm với anh Năm:

“Mày cho tao làm em rể mày nha. Em mày xinh gái quá!”

Chuyện gì thì được chứ chuyện “làm em rể” coi bộ khó. Bởi sau lần đầu ra mắt đó, toàn bộ gia đình tôi đều “chê” chàng.

1- Thứ nhất, vì tôi đang có chàng võ sĩ bạn của anh Tư trồng cây si, mà chàng là người Nam.

2- Thứ hai, ba má tôi rất khó về chuyện tình cảm của các con.

3- Thứ ba, cả nhà tôi đều không ưa Bắc Kỳ!

Nhưng đúng như lời ba tôi nói, “Bắc Kỳ nó nói con kiến trong lỗ nghe bùi tai cũng bò ra”.

Một vài tuần sau đó, anh Năm đánh lừa chở tôi đi ăn kem với chàng và tôi thấy “mê” cái lối nói chuyện và phong cách người lớn của chàng.

Không như những tin đồn về Bắc Kỳ keo, Bắc Kỳ kẹo kéo, chàng chi cách rất hào sảng, mặc dù mỗi lần đi chơi như vậy với anh Năm và với tôi, chàng đã phải dành dụm, và nhịn ăn cả nửa tháng lương.

Còn về cái tài thu hút và kể chuyện thì khỏi nói. Người ta chỉ cần cái miệng, nụ cười, và ánh mắtlà đủ để làm mê mẩn lòng người rồi, nhưng ở chàng thì có cả ba.

1- Nụ cười và ánh mắt chàng trông rất đa tình,

2- còn cái miệng thì giẻo như kẹo kéo. “Bé! Bé của anh”, “Bé muốn gì anh mua tặng bé!”, “Nhìn bé là trái tim anh thổn thức!”…

Một hôm chàng trổ tài nói tiếng Pháp với anh Năm và tôi. Chàng thừa biết là gia đình tôi ai cũng học trường Pháp từ nhỏ, nhưng không biết vì cao hứng hay vì để tán tỉnh, chàng kể câu chuyện tiếng Pháp mà mãi đến hôm nay mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy cái xạo, nhưng lại đã trót yêu cái xạo của chàng.

Chàng kể là một anh lính nọ trong phiên gác đêm ở bìa rừng, không biết vì ngủ gật hay vì sợ, anh nổ súng khiến cả đồn lính nhốn nháo.  Cấp chỉ huy Phap của anh ra hỏi, anh diễn tả bằng một loại tiếp Pháp nhà quê: “Lúy bớp, lúy pá bớp. Lúy gầm, lúy gừ, lúy măng dê me xừ, lúy măng dê mỏa, mỏa tia rê lúy”. Tôi và anh Năm nghe xong nhìn nhau không hiểu gì. Anh Năm hỏi lại:

– Mày nói gì, tụi tao học tiếng Pháp từ nhỏ sao nghe không hiểu?

Chàng tỉnh bơ trả lời:

– Tại tiếng Pháp cậu không tới. Này nhá, anh lính đó trả lời vị chỉ huy là trong ban đêm anh nhìn thấy một con cọp tiến vào đồn lính nên anh phải nổ súng. Cọp nghe tiếng súng đã bỏ chạy.

Thấy anh Năm và tôi còn ngơ ngác, chàng lên mặt cắt nghĩa tiếp:

– Lúy bớp (nó là con bò), lúy pá bớp (nó không phải bò), lúy gầm, lúy gừ. Trông như bò mà không phải là bò lại còn biết gầm, biết gừ, biết ăn thịt ông và ăn thịt tôi nữa thì là con cọp chứ con gì. Vì vậy mà phải bắn nó.

Nghe chàng cắt nghĩa, anh em tôi cười quá chừng. Thì ra đó là câu truyện ông thày Pháp văn của chàng đã bịa ra để dậy về động từ manger (ăn) và động từ tirer (bắn).

Chuyện tình của tôi và chàng vừa bước vào những chặng đầu êm ả của bốn mắt nhìn nhau không nói ấy, bỗng nhiên biến cố 30 tháng 4 năm 1975 ập xuống cho cả miền Nam. Chúng tôi mất liên lạc.

Sau khi tốt nghiệp năm đó, tôi về nhà giúp ba má, trông nom công việc nhà, vì ba tôi không muốn để bọn Cộng Sản nhòm ngó. Nếp sống sống đài các tiểu thư của tôi và anh chị em tôi chấm dứt từ đây.

Dưới những khắc nghiệt của đời sống trong chế độ Cộng Sản, năm 1980 ba má lo cho tôi và em trai Út vượt biên.  May mắn chuyến đi tuy vất vả nhưng trót lọt, chúng tôi qua đến Thái lan trong tình trạng rất khó khăn.  Phần vì quen lối sống tiểu thư nên hòa mình trong trường như vậy thấy khó sống quá. Nhưng rồi cũng phải sống. Lo lắng về những chuyện gì sẽ xẩy ra cho mình và em trai mình trong những ngày tháng kể tiếp, và hôm đó, sau thánh lễ Chúa Nhật, tôi đang còn nán lại dưới chân đài Đức Mẹ lòng tràn đầy khổ đau thì bỗng nhiên có ai động nhẹ vào vai. Quay lại thì là chàng.

– Bé sang đây bao giờ, sao không thấy đến trình diện Ban Trại Trưởng?

– Mới tới hồi qua. Ủa mà sao anh cũng ở đây?

– Chuyện dài nhân dân tự vệ, để mai mốt rảnh anh kể cho nghe. Bây giờ “bé” ở khu nào? Cần gì cho anh biết nào?

Thì ra sau khi miền Nam mất, chàng trốn lên Hố Nai rồi Gia Kiệm, và sau cùng xuống Cái Sắn ở ẩn tìm đường vượt biên.  Ba lần thất bại, bị rượt bắt thoát chết.  Lần thứ 4 may mắn qua được Thái lan. Nhờ gốc gác nhà binh, lại thêm chút vốn liếng Anh Văn, chàng đang làm thiện nguyện cho cơ quan thông dịch của trại. Tôi cũng nhờ có tiếng Pháp, nên được chàng giới thiệu vào làm giúp thông dịch các hồ sơ đi Pháp. Cũng nhờ ở đây tôi mới khám phá ra khả năng tiếng Pháp của chàng chỉ là vừa đủ để thi tú tài Việt.  Tiếng Pháp mà sau này tôi vẫn chọc quê chàng là tiếng Tây “Tây Ninh”. Mỗi lần như vậy, chàng đều chống chế: “Anh mà không xổ nho như vậy thì sao có người lúc đó tròn xoe con mắt ngó anh để anh tìm thấy hình ảnh của anh trong đôi mắt đó chứ?” Nghe mà thấy ghét.

Khi nghe tin tôi quen lại với chàng ở xứ lạ, quê người, cả nhà đều lo lắng chỉ sợ tôi bị gạt.

Riêng ba má tôi khi nghe anh chị em nói tôi gặp lại chàng đã phản ứng rất gay gắt:

“Thà nó lấy ba Tàu, Tây đen, Mỹ, Thái, Mên, Lào gì cũng được. Lấy Bắc Kỳ là tao không ưng.”

Có lẽ ông không có thiện cảm với người Bắc vì ông hay kể cho chúng tôi nghe ở đồn điền Bàu Cá của ông, hàng đêm vẫn có những người dân di cư chung quanh nhảy rào vào ăn cắp trái cây, gây thiệt hại nhiều cho ông. Ông còn nói, làm xui với Bắc Kỳ họ nói gì tao không hiểu. Tao không biết ăn thịt chó. Tao không ăn được rau muống và mắm tôm…

Được gia đình chấp thuận hay không, cuối cùng thì tôi cũng từ giã chàng sang định cư ở Orange County, California sống với người cậu họ.  Tại Mỹ chúng tôi thường xuyên liên lạc với nhau qua thư từ và điện thoại, nhưng chuyện tình cảm thì không thể tiến xa được một bước.

Tôi vừa đi làm nhà hàng vừa đi học, còn chàng cũng vừa lao động vừa đi học. Một sự tình cờ xẩy ra khiến cho tình cảm của chúng tôi đi vào thêm những rắc rối.  Số là ông cậu bà mợ của tôi rất mê nhẩy đầm. Tuần nào không đi thì nhớ. Nhưng đi nhẩy đầm riết kiếm đâu ra tiền, đành bắt tôi trở thành cái mỏ vàng khai thác. Bởi vì khi tôi đi với cậu mợ thì đương nhiên có những chàng khác cùng đi, và như vậy cậu mợ tôi được vào cửa free.

Hồi đó một chàng tự xưng là không quân theo bám tôi rất sát. Hầu như tuần nào cũng ghé nhà cậu mợ để đón chúng tôi đi nhẩy đầm.

Đã có lần chàng hào sảng đưa cho tôi mấy cái Visa và Credit Card, cho tôi luôn cả passwords của chàng và nói tôi muốn xài gì tùy ý. Mợ tôi thấy vậy nói với tôi: “Dại gì mà không xài. Tiền cho gái mà!”, nhưng tôi không muốn vì trong tim tôi lúc này vẫn chỉ có chàng. Tôi đã trả lại những thẻ đó, và cầu cứu chàng. Nghe tôi nói, chàng bảo tôi cho chàng vài ngày để thu xếp công việc và sang với tôi.

Sở làm chàng không có chi nhánh ở California, nên chàng đành phải làm đơn thôi việc. Nhưng có một điều khiến tôi lo sợ, đó là nghe rằng ông không quân này dân Bình Định có võ dữ lắm. Và tôi đã nói với chàng:

– Ông phi công đó có võ anh ơi! Coi ổng cũng ngầu lắm.

– Nó là lính, anh cũng là lính. Nó có võ, anh cũng có võ chưa chắc ai hơn ai?

Nghe chàng nói chàng có võ, tôi nghĩ lại vốn liếng tiếng Pháp của chàng, nên hỏi chàng:

– Em hỏi thiệt anh đừng buồn nghe. Anh có võ thiệt không? Em sợ anh có võ cũng như anh biết tiếng Pháp vậy.

Nghe vậy, chàng không buồn mà còn cười như nắc nẻ ở đầu dây:

– Tiếng Pháp của anh đâu đến nỗi tệ chứ. Miễn sao có người học trường đầm nghe mà không hiểu là đủ rồi.

Qua California cỡ chừng 3 tháng thì chàng mới tìm được việc làm và ổn định nơi ăn chốn ở. Nhờ chàng, tôi tự tin hơn và nhất định không đi nhẩy đầm nữa. Cũng nhờ một vị hảo tâm đã nhận tôi làm con nuôi giúp đỡ về kinh tế, nên tôi và cậu Út ra ở riêng để trở lại học full time. Điều này làm phiền lòng cậu mợ.

Thời gian quen nhau cũng đã dài, và đã làm hao mòn nhiều kiên nhẫn, tuy nhiên, việc cưới xin vẫn dậm chân tại chỗ.

Cả nhà chỉ có anh Năm là tán đồng, vì anh biết chàng từ trong đơn vị.

Ngoài ra người chống đối nhất vẫn là anh Tư vì bạn anh Tư chính là người từng trồng cây si trước cửa nhà tôi, và đến bây giờ anh vẫn còn độc thân.  Mấy năm trước khi có dịp về thăm quê, tôi gặp anh sang chơi và hỏi anh sao anh không lo lập gia đình. Anh trả lời: “Anh đã có một người rồi, nhưng người ấy lại bỏ anh đi lấy chồng.”

Tôi rất trân trọng sự chung tình của anh, nhưng đối với tôi người chồng Bắc Kỳ 54 vẫn là number one.

Sau gần 5 năm chờ đợi, có lẽ ba tôi sợ tôi ế chồng và làm gái già ở ngoại quốc chăng. Cũng nhờ có ông cậu bên Mỹ nói vô, và anh Năm ở Việt Nam nói vào, ba tôi cuối cùng cho chúng tôi tổ chức đám cưới.

Sau ngày cưới, chúng tôi thường xuyên thư từ và điện thoại với ba má tôi, nên lần lần ông đã bị chàng cảm hóa. Trước khi ông qua đời 10 năm trước đây, ông đã sang Mỹ và ở với chúng tôi 2 tuần.

Mặc dù tôi cũng có các anh chị em khác ở Mỹ, Pháp, Bỉ, Hòa Lan nhưng ông nhất định dành thời giờ ở với chúng tôi. Không biết chàng làm gì với ông bố vợ mà trước khi về lại Việt Nam, lúc chỉ có hai cha con, ông đã nói với tôi một câu rất yên ủi:

“Mày có phước đa. Kiếm được thằng Bắc Kỳ tốt quá ta. Ba biết vậy gả phức mày cho nó từ sớm để mày đỡ cực khổ!” Nhưng có lẽ ông ưng ý nhất là một lần sau khi ăn cơm xong, chàng lao vào bếp rửa bát. Thấy vậy, ba tôi nói với chàng:

– Việc đàn bà con gái, sao làm chuyện đó làm gì con?

Nghe ba tôi nói với chàng bằng tiếng “con” ngọt ngào, thân thương quá khiến tôi rươm rướm nước mắt. Và chàng đã gọn ghẽ đáp lại:

– Việc trong nhà là việc chung thưa ba. Con chỉ sợ con gái ba mệt thôi!”

Nói đến ông xã của tôi, Bắc Kỳ thứ thiệt. Theo cha mẹ di cư vào Nam năm 54 bằng tàu há mồm. Sống và lớn lên ở Gia Kiệm, sau đó lên Sàigòn học và đậu Tú Tài II ban Toán rồi đi lính làm sĩ quan. Tính tình cẩn thận và tiết kiệm chứ không keo kiệt. Hồi đầu tôi thường lẫn lộn mấy chữ tiết kiệm và keo kiệt nên hiểu lầm chàng. Dĩ nhiên chàng hào hoa và nói năng khéo léo. Thêm vào đó là có tính khôi hài hết xẩy. Chịu khó và thực tế hơn mấy công tử Tabert ông xã của vài đứa bạn tôi.

Sau những năm tháng chung sống, đúng như lời ba tôi đã nhận xét, tôi may mắn và hạnh phúc vì có người chồng với ý thức trưởng thành và sự chung thủy tuyệt đối. Câu nói “Trai Bắc Kỳ lấy vợ Nam Kỳ phè cánh nhạn” với tôi chỉ đúng một nửa, vì trong trường hợp của tôi, người phè cánh nhạn chính là tôi, và các con. Nói ra sợ mắc cỡ, nhiều hôm công việc bề bộn tôi không kịp nấu ăn thì chàng là người đầu bếp tốt nhất. Ngoài ra còn là ủi quần áo cho vợ con nữa. Còn việc rửa chén bát sau bữa ăn là “chuyện nhỏ” đối với chàng. Chàng thường nói: “Vợ cũng như chồng, ai cũng phải có trách nhiệm chung. Trong gia đình, ai cũng mệt, cũng cực cả, nên làm gì được cho nhau thì cố mà làm. Tình yêu là cái “chó” gì khi chỉ nói cái miệng!”. Tôi thích nhất câu nói kiểu Bắc Kỳ này của chàng. Nói cho đúng Bắc, Trung, hay Nam cũng tùy từng người. Và đó là lý do tôi vẫn tự hào “Chồng tôi là Bắc Kỳ 54”.

Jeanne K /NTL/ /(Nguồn : vnthuquan.net)

Tại sao tiếng Anh trở thành ngôn ngữ của khoa học trên toàn thế giới?

Sử dụng nhiều ngôn ngữ gây ra sự lãng phí, khi bạn phải dành toàn bộ thời gian của mình để học nhiều ngôn ngữ nhằm đọc được các nghiên cứu mới nhất về tự nhiên và chẳng còn thời gian nào để làm nghiên cứu.

If you can read this sentence, you can talk with a scientist. Well, maybe not about the details of her research, but at least you would share a common language” – Nếu bạn có thể đọc được câu này, bạn có thể nói chuyện với một nhà khoa học. Có thể không phải về chi tiết nghiên cứu của họ, nhưng ít nhất bạn có thể chia sẻ ngôn ngữ chung với họ.

Gần như tuyệt đại đa số việc liên lạc trong giới khoa học ngày nay – vật lý học, hóa học, sinh học, địa lý học – đều diễn ra bằng tiếng Anh. Điều này diễn ra trên báo chí, trong các hội nghị, trong email và trong các cuộc trao đổi qua Skype, trên giảng đường của bất kỳ trung tâm nghiên cứu khoa học nào ở Kuala Lumpur, hay Montevideo hay Haifa.

Tiếng Anh đang thống trị tuyệt đối trong nền khoa học đương đại.

Đáng nói hơn, mọi người trong giới khoa học đương đại ngày nay hầu như đều sử dụng tiếng Anh để thay thế cho các ngôn ngữ khác. Một thế kỷ trước, phần lớn các nhà khoa học phương Tây dù biết một chút về tiếng Anh, nhưng họ có thể đọc viết và nói chuyện bằng tiếng Pháp và tiếng Đức, đôi khi bằng các ngôn ngữ ít thông dụng hơn, ví dụ tiếng Nga hoặc tiếng Ý.

Phải chăng việc dùng một thứ ngôn ngữ duy nhất sẽ giúp khoa học trở nên hiệu quả hơn?

Nếu mọi người cùng sử dụng một ngôn ngữ, có lẽ các xung đột do vấn đề dịch thuật gây ra sẽ ít hơn, cũng như ít phải lãng phí thời gian dành cho vấn đề sư phạm hơn.

Với quan điểm này, khoa học hiện đại đang tiến bộ nhanh như vậy là nhờ việc tập trung hoàn toàn vào vấn đề khoa học hơn là các vấn đề bên ngoài như ngôn ngữ.

Tuy nhiên điều này chỉ dễ dàng hơn đối với các nhà khoa học lớn lên tại các nước nói tiếng Anh, trong khi đó, phần lớn các nhà khoa học ngày nay lại không nói tiếng Anh bản địa.

Khi tính đến thời gian dành cho việc học tiếng Anh, rõ ràng nó cũng không hiệu quả hơn so với đa ngôn ngữ trong giao tiếp khoa học là mấy. Vẫn cần nhiều bước phiên dịch và chuyển ngữ đối với các từ ngữ chuyên ngành, chỉ là nó không xảy ra tại các nước như Mỹ hay Anh, Úc.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học và nhân văn cho rằng, điều này vẫn xảy ra từ nhiều thế hệ nay. Giao tiếp bằng tiếng Anh trong khoa học chỉ để thay thế cho sự độc tôn trước đây của tiếng Đức. Và trước đó nữa là tiếng Latin và tiếng Pháp từ buổi bình minh của khoa học phương Tây, vốn chỉ được trình diễn bằng tiếng Hy Lạp. Dựa trên cách hiểu đó, lịch sử khoa học là một chuỗi chuyển giao đơn ngôn ngữ, tuy nhiên điều đó không phải là sự thật. Chưa bao giờ là vậy.

Để hiểu điều này, chúng ta có thể thấy có hai chế độ ngôn ngữ cơ bản trong khoa học phương Tây: đa ngôn ngữ và đơn ngôn ngữ.

Trong đó chế độ đa ngôn ngữ đã kéo dài nhiều thế kỷ nay trong lịch sử khoa học phương Tây và chỉ bị đánh bại bởi xu hướng đơn ngôn ngữ khi nó nổi lên vào những năm 1920.

Giới khoa học đang được giao tiếp bằng tiếng Anh, nhưng thế hệ những người đầu tiên lớn lên trong thời kỳ đa ngôn ngữ vẫn còn sống. Để hiểu điều quan trọng này đã xảy ra như thế nào, chúng ta cần quay ngược thời gian một chút.

Lịch sử đa ngôn ngữ của khoa học phương Tây

Trong thế kỷ 15 ở châu Âu phương tây, triết học tự nhiên và khoa học tự nhiên – hai ngành học chính vào thời đó được xem như các môn thuộc khoa học – về cơ bản, đều được học bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Điều này đặc biệt ở chỗ vào thời điểm đó, ngôn ngữ chính dành cho việc trong thời kỳ đầu Trung cổ và Phục Hưng đều là tiếng Latin.

Cho dù việc sử dụng tiếng Latin trong lĩnh vực triết lý tự nhiên đã có từ thời huy hoàng của La Mã, nhưng trước đó nhiều thế kỷ, các ngôn ngữ thống trị trong giới học giả lại là tiếng Hy Lạp cổ và tiếng Ả rập.

Chính việc dịch các tác phẩm triết lý kinh điển từ tiếng Ả rập sang Latin đã giúp hồi sinh nền giáo dục ở phương Tây. Do vậy, việc học, học những gì mọi người biết, là một hoạt động đa ngôn ngữ.

Trên thực tế, trừ những người quá nhiệt tình, có rất ít người học tiếng Latin như là ngôn ngữ đầu tiên của mình và sử dụng nó để nói chuyện. Tuy nhiên, tiếng Latin vẫn được sử dụng như một ngôn ngữ chính, để kết nối các cộng đồng ngôn ngữ như một phương tiện trung lập. Có lẽ điều quan trọng nhất là vì tiếng Latin không phải là ngôn ngữ bản xứ của một quốc gia cụ thể nào, và các học giả trên khắp châu Âu và Ả rập đều có thể sử dụng nó mà không ai “sở hữu” ngôn ngữ đó.

Vì những lý do này, tiếng Latin trở thành phương tiện phù hợp cho các lập luận về tính phổ quát. Nhưng mọi người trong các cuộc hội thoại này đều sử dụng đa ngôn ngữ và họ có thể chọn ra ngôn ngữ phù hợp với người nghe của mình. Ví dụ khi viết thư cho các nhà hóa học quốc tế, người Thụy Điển sẽ chọn tiếng Latin, nhưng khi nói chuyện với các kỹ sư khai mỏ, họ sẽ sử dụng tiếng Thụy Điển.

Hệ thống này bắt đầu rạn vỡ vào thế kỷ 17, về cơ bản một phần là do “cuộc cách mạng khoa học” trong thời điểm đó. Galileo Galilei xuất bản phát hiện của mình về các mặt trăng của Sao Mộc (Jupiter) bằng tiếng Latin trong quyển Sidereus Nuncius vào năm 1610, nhưng công trình sau đó của ông lại bằng tiếng Ý. Tương tự như vậy, quyển Principia của Newton xuất hiện bằng tiếng Latin vào 1687, nhưng sau đó cuốn Opticks xuất bản năm 1704 lại viết bằng tiếng Anh.

Trên toàn châu Âu, các nhà học giả bắt đầu sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau và dịch chúng về tiếng Latin và tiếng Pháp để tiện cho việc học tập.

Đến cuối thế kỷ 18, các nghiên cứu về hóa học, vật lý, sinh lý học và thực vật học không chỉ xuất hiện ngày càng nhiều bằng tiếng Anh, Pháp, Đức và mà còn cả tiếng Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch và các ngôn ngữ khác. Nhưng cho đến những năm đầu của thế kỷ 19, nhiều học giả ưu tú vẫn chọn tiếng Latin làm ngôn ngữ cho nghiên cứu của mình.

Tuy nhiên đi kèm với quá trình công nghiệp hóa tại châu Âu trong thế kỷ 19, mối quan tâm đến việc giao tiếp hiệu quả đã trở thành một nhân tố không thể tránh khỏi.

Sử dụng nhiều ngôn ngữ gây ra sự lãng phí, khi bạn phải dành toàn bộ thời gian của mình để học nhiều ngôn ngữ nhằm đọc được các nghiên cứu mới nhất về tự nhiên và chẳng còn thời gian nào để làm nghiên cứu nữa.

Trong khoảng những năm 1850, ngôn ngữ của khoa học bắt đầu thu gọn lại vào 3 ngôn ngữ chính, tiếng Anh, tiếng Pháp và Đức, mỗi ngôn ngữ chiếm một tỷ lệ gần như nhau trong tổng các nghiên cứu. (Mặc dù mỗi ngôn ngữ lại phổ biến trong một lĩnh vực riêng, ví dụ đến cuối thế kỷ 19, tiếng Đức vẫn được ưa chuộng trong ngành hóa học).

Xu hướng đơn ngôn ngữ bắt đầu xuất hiện với Quốc tế ngữ Esperanto

Dù đã gọn gàng hơn rất nhiều, nhưng rõ ràng có đến 3 ngôn ngữ khác nhau vẫn là một gánh nặng đáng kể. Đó là lúc có những chủ trương về một ngôn ngữ duy nhất cho kiến thức khoa học, với các đặc tính chính xác về tính phổ quát và sự trung lập mà tiếng Latin mang lại từ nhiều thế kỷ trước. Nỗ lực này có tên gọi là quốc tế ngữ Esperanto.

Ban đầu, Esperanto cũng được nhiều cái tên nổi tiếng ủng hộ, ví dụ như Wilhelm Ostwald, người giành giải Nobel Hóa học năm 1909 và Otto Jespersen, nhà ngôn ngữ học người Đan Mạch. Nhưng rồi việc nó sớm trở nên mờ nhạt cho thấy một điều rõ ràng rằng, khoa học không thể tồn tại trong một môi trường đa ngôn ngữ.

Esperanto đã thất bại, nhưng giấc mơ của nó đã thành hiện thực nhưng ngôn ngữ phổ quát cho khoa học tự nhiên lại là tiếng Anh, ngôn ngữ bản địa của những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và là hệ quả của một loạt hành động dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống đa ngôn ngữ trong khoa học.

Chiến tranh thế giới thứ nhất – khởi đầu cho sự lên ngôi của tiếng Anh

Khi chiến tranh thế giới thứ Nhất nổ ra vào năm 1914, giữa phe Hiệp ước (Entente), bao gồm Anh, Pháp, Nga và các nước khối Trung tâm (Central Powers), bao gồm Đức Áo Hung, kéo theo sự tham gia của cả các nhà khoa học và các nhà học giả của Đức trong việc hỗ trợ cho lực lượng chủ chiến của nước này.

Chính vì vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Hội đồng Nghiên cứu Quốc tế (International Research Council), được thành lập dưới sự bảo hộ của các nước thắng trận – bao gồm cả Mỹ, nhưng không có Nga – đã bắt đầu tiến hành tẩy chay các nhà khoa học đến từ khối Trung tâm.

Cùng với đó là nhiều tổ chức khoa học quốc tế mới được dựng lên đầu những năm 1920 cũng khóa chặt cánh cửa đối với các nhà khoa học đến từ những nước nói tiếng Đức bại trận.

Dần dần, việc tẩy chay kéo dài đến nhiều thập kỷ này đã góp phần làm nên cái chết của tiếng Đức như một ngôn ngữ hàng đầu trong khoa học. Như vậy, hệ thống 3 ngôn ngữ chủ đạo của khoa học trước kia đã rút xuống chỉ còn hai. Hệ thống đa ngôn ngữ trong khoa học đã bắt đầu cho thấy vết rạn đầu tiên của mình, nhưng chính Mỹ là người hoàn toàn phá vỡ nó.

Cùng với việc Mỹ tham chiến vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, tiếng Đức trở nên bị kỳ thị ngay trên chính đất Mỹ. Đến cuối năm 1923, hơn một nửa số bang trong Liên bang Mỹ đã hạn chế sử dụng tiếng Đức ở các nơi công cộng, trên điện báo và các đường dây điện thoại, cũng như trong giáo dục.

Không những vậy, việc học tiếng nước ngoài cũng gần như biến mất, ngay cả đối với tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, và vì vậy cả một thế hệ người Mỹ, bao gồm cả các nhà khoa học tương lai, lớn lên mà không tiếp xúc với các ngôn ngữ nước ngoài.

Vị thế gia tăng của tiếng Anh và sự đi xuống của tiếng Đức càng lớn hơn khi Hitler lên nắm quyền tại Đức và tiến hành sa thải các giáo sư cánh tả cũng như những người “không phải Aryan“.

Khi những nhà khoa học may mắn kịp nhập cư vào nước Mỹ trong những năm 1930, họ đều phải chấp nhận xuất bản nghiên cứu của mình bằng tiếng Anh để có thể tiếp cận với giới khoa học của nước này. Ngay cả Einstein cũng phải dựa vào các phiên dịch viên và các cộng tác viên cho các nghiên cứu của mình.

Chiến tranh Lạnh và sự thống trị của tiếng Anh

Sau thế chiến thứ hai, việc sử dụng ngôn ngữ trong lại càng mang nhiều màu sắc địa chính trị hơn. Lúc này các nhà khoa học từ nước Mỹ đang lên của thế kỷ 20 không sẵn sàng đón nhận tri thức thông qua các ngôn ngữ nước ngoài.

Hơn nữa, với một lượng lớn các nhà khoa học và kỹ sư Xô Viết trưởng thành sau chiến tranh, Liên Xô đã trở thành đối thủ mới cạnh tranh với Mỹ trong lĩnh vực khoa học.

Đã có thời điểm tiếng Nga trở thành ngôn ngữ dành cho khoa học lớn thứ hai trên toàn cầu khi chiếm khoảng 25% các nghiên cứu được xuất bản. Nhưng đến những năm 1970, tỷ lệ các tài liệu nghiên cứu được xuất bản bằng tiếng Nga bắt đầu sụt giảm khi các nhà khoa học toàn cầu chuyển sang dùng tiếng Anh.

Vị thế của tiếng Anh trong ngôn ngữ khoa học còn đến từ sự sẵn sàng của các nhà khoa học châu Âu, châu Mỹ Latin và những nơi khác. Do họ muốn các nghiên cứu của mình được những người đứng đầu trong các lĩnh vực này trích dẫn, những nhà khoa học người Hà Lan, người vùng Scandinavi và Iberian đã dừng xuất bản bằng tiếng Pháp hay Đức và chuyển sang tiếng Anh.

Đến đầu những năm 1980, tiếng Anh đã chiếm hơn 80% các xuất bản trên toàn cầu về khoa học tự nhiên. Giờ đây con số này có lẽ đã lên tới 99%.

Trong lịch sử khoa học thế giới, chưa từng có một hệ thống đơn ngôn ngữ nào có khả năng thống trị lớn đến vậy cho giao tiếp trong giới khoa học. Đó là còn chưa nói đến việc tiếng Anh đang len lỏi đến mọi ngóc ngách trên toàn cầu để trở thành sự lựa chọn ngôn ngữ mặc định trong các lĩnh vực như quân sự hay kinh tế.

Phải mất rất nhiều năng lượng để duy trì một hệ thống đơn ngôn ngữ với quy mô khổng lồ như vậy, cũng như những nguồn lực khổng lồ được rót vào việc đào tạo ngôn ngữ và dịch thuật ở các nước không nói tiếng Anh.

Tuy nhiên, khi đã đạt đến vị thế như hiện nay, nó đang trở nên khá ổn định và ngay cả khi các quốc gia nói tiếng Anh biến mất vào ngày mai, tiếng Anh vẫn sẽ là một ngôn ngữ quan trọng của khoa học, đơn giản là vì quán tính quá lớn của những gì đang tồn tại.

Theo TRÍ THỨC TRẺ 

The Economist: Việt Nam đã ‘sản sinh’ ra thế hệ doanh nhân tỷ phú mới

The Economist: Việt Nam đã 'sản sinh' ra thế hệ doanh nhân tỷ phú mới
The Economist (Anh) nhận định, thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh đồng nghĩa với việc danh sách tỷ phú có thể sẽ dài hơn.

Sau khi khoản đầu tư vào Cao đẳng Linacre trị giá 207 triệu USD của Sovico Group được công bố vào đầu tháng 11, ngôi trường thuộc Đại học Oxford sẽ đổi tên theo nữ tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Sovico Group. Tờ báo Anh nhận xét, Thao College đã đánh dấu một bước chuyển mình đáng kể, nền kinh tế phát triển của Việt Nam hiện nay đã có một “tượng đài vĩnh cửu” ở một trong những nơi học tập uy tín nhất thế giới.

Vào thời điểm 2012, Việt Nam là một nơi không hề có tỷ phú đô la. Tuy nhiên, đến hiện tại, đã có 6 người gia nhập vào câu lạc bộ tỷ phú theo bảng xếp hạng của Forbes. The Economist nhận định, thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh đồng nghĩa với việc danh sách tỷ phú có thể sẽ dài hơn. 

Đứng đầu danh sách những người giàu nhất phải kể đến tỷ phú Phạm Nhật Vượng, người sáng lập Vingroup, và là người đầu tiên gia nhập “câu lạc bộ” những người giàu nhất Việt Nam. The Economist cho biết, rất khó tìm thấy mảng dịch vụ trong nước mà Vingroup chưa tham gia, từ du lịch, bệnh viện, đến giáo dục cho đến sản xuất ô tô. Giá trị của doanh nghiệp có thể hơn 15 tỷ USD, một thang điểm có thể đưa một công ty Mỹ vào danh sách chỉ số S&P 500.

The Economist: Việt Nam đã sản sinh ra thế hệ doanh nhân tỷ phú mới - Ảnh 1.

Tổng giá trị tài sản ròng của các tỷ phú Việt Nam. Nguồn: The Economist

Sau đó, Việt Nam xuất hiện thêm nhiều tỷ phú hơn, trong đó có bà Nguyễn Thị Phương Thảo. Ngoài ra còn có nhà sáng lập Masan Group, ông Nguyễn Đăng Quang và ông Hồ Hùng Anh, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Techcombank. Theo The Economist, cả bốn vị tỷ phú đều có một điểm chung: nơi khởi đầu cho sự nghiệp kinh doanh của họ đều từ Liên Xô cũ.
javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(4092);}else{parent.admSspPageRg.draw(4092);}

Cụ thể, ông Vượng đã cho ra đời thương hiệu mì ăn liền Mivina, trở thành mặt hàng chủ lực ở Ukraine. Còn bà Thảo đã kiếm được 1 triệu USD đầu tiên tại trường đại học ở Moscow bằng việc nhập khẩu thiết bị văn phòng và các mặt hàng tiêu dùng từ Đông Á.

Sau đó, khi Việt Nam bắt đầu ở trong giai đoạn phát triển, họ là một số ít công dân ở nước ngoài có cơ hội đầu tư tại quê nhà. Theo Bill Hayton, tác giả của cuốn sách “Vietnam: Rising Dragon“, những vị tỷ phú phát triển hơn vào thời điểm Việt Nam cần họ.

Theo nghiên cứu của chuyên gia Nguyễn Xuân Thành, Đại học Fulbright Việt Nam, trong hầu hết các công ty do các tỷ phú đứng đầu đều phục vụ tầng lớp trung lưu Việt Nam, phần lớn tài sản của họ đến từ bất động sản và ngân hàng. Tài chính và bất động sản là những lĩnh vực điển hình của giới tài phiệt trên khắp thế giới.

Cũng trong tháng 11, SK Group, một trong những tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc, đã công bố khoản đầu tư trị giá 340 triệu USD vào Masan Group. Tập đoàn này hiện cũng sở hữu 6% cổ phần của Vingroup. Trước đó, vào đầu năm nay, Alibaba, gã khổng lồ thương mại điện tử của Trung Quốc cũng đầu tư 400 triệu USD vào Masan Group.

Giang Anh (lược dịch)

Theo Doanh nghiệp và Tiếp thịTheo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Việt Nam: Đất nước thống nhất nhưng chống dịch bất nhất

  • Trần Việt
  • Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn

Việt Nam không có các tiểu bang như Mỹ hoặc các tiểu vương quốc như UAE. Nhưng tính bất nhất thể hiện từ tổ chức, con người đến chủ trương, chính sách về dịch Covid 19 và các biến thể đã biến các tỉnh, thành Việt Nam thành những tiểu vương quốc.

Không ai ngờ dịch bệnh lại kéo dài dai dẳng và nguy hiểm như vậy. Thời gian đầu chủ quan, làm được vài chuyện hiệu quả thì tự mãn ngút trời. Khi dịch bùng phát mạnh thì lúng túng.

Vài tháng đầu, lúng túng là đương nhiên nhưng gần hai năm vẫn lúng túng thì quá vô duyên và vô lý.

Ban đầu chống dịch bằng giăng dây, dán niêm phong nhà, xe; sau đó phân loại vùng xanh, vàng, cam, đỏ.

Nay bỏ, phân loại theo cấp độ 1, 2, 3, 4. Có người bảo, gọi là gì cũng được, miễn là chống dịch hiệu quả. Hiệu quả chưa thấy, chỉ thấy rối ren và lúng túng.

Trên dưới bất nhất

Ngày 27/11 Chủ tịch Hà Nội đề nghị phân loại F1, F2 theo đặc thù đô thị lớn.

Theo đề nghị này, mỗi F ở Việt Nam sẽ có hàng chục loại. Từ F thủ đô, F Sài Gòn, F Đà Nẵng đến F tỉnh. Từ F quận, thành phố trực thuộc đến F thị xã, F huyện; rồi F dân tộc, F vùng sâu…Ngày 25/11, Bí thư Hà Nội chỉ đạo thí điểm cách ly F0 nhẹ tại trung tâm y tế lưu động, F1 cách ly tại nhà, trừ 4 quận trung tâm. Có vẻ như Covid 19 khoái nhà giàu nên mới vậy. Đà Nẵng nhân rộng mô hình cách ly F1 tại nhà.

Sài Gòn thì cách ly F0, F1 tại nhà; F0 nặng mới đi viện từ 1/10/2021, sau khi dỡ phong tỏa. Cách này các nước làm bình thường từ đầu dịch, trừ Trung Quốc. Từ chiến lược “Zero Covid” do Trung Quốc khởi xướng, nay chuyển sang “Sống chung với virus” của Mỹ và thế giới.

Cứ F0, F1 là gom cách ly ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam đã phải trả giá bằng hàng chục ngàn sinh mạng oan ức. Đã gọi là dã chiến thì không thể đủ điều kiện bình thường, từ không gian, dinh dưỡng, vệ sinh, điều trị đến nhân lực. Có bệnh viện dã chiến ở Bình Dương 37.000 giường. Vào đó, là lây chéo, khỏe thành bệnh, bệnh là chết chắc, trừ mấy người được trời cứu, chưa đến số.

Lấy cơ quan, trường học làm khu cách ly lại càng tệ. Người khỏe bình thường còn không chịu nổi nữa là người bệnh. Thậm chí có nơi còn dựng lều như cắm trại cách đây nửa thế kỷ. Nói vậy vì lều trại hiện nay đủ tiện nghi chứ không phải chỉ là tấm bạt làm mái. Không ít người khỏi bệnh nhưng vẫn bị ám ảnh lâu dài về các khu cách ly mình từng trải.

Có nhà hàng ở Đà Lạt treo bảng tổ chẳng “Không bán cho người ngoài tỉnh” và có nhiều người bị hỏi “Có phải người Sài Gòn?”. Đã bán còn bảo cho. Đáng buồn, cấp quản lý và nhiều người xem đó là bình thường, cho đến khi dư luận dậy sóng.

Có tỉnh miền Tây buộc niêm phong cửa xe ô tô khi đi qua tỉnh. Không biết xe gắn máy thì niêm phong gì? Một vài tỉnh còn cấm người dân ra khỏi nhà ban đêm. Cứ như virus ngủ ban ngày, đêm mới ra hoạt động.

Ở Việt Nam chống dịch như chống giặc nên phải huy động tổng lực, toàn dân. Khổ nỗi, nhiều cấp quản lý hiểu chống giặc theo nghĩa đen, vô tình làm khổ dân, xem dân như giặc. Mỗi ngành có kế hoạch chống giặc riêng, chẳng ai chịu ai, thành ra chống đủ thứ.

Có người nửa đùa nửa thật “Kinh tế nói chung và chống dịch nói riêng, Việt Nam có rất nhiều thế mạnh, mà mạnh nhất là – Mạnh ai nấy làm”.

Doanh nghiệp ‘chịu đòn’

Tôi có anh bạn là sếp của một công ty du lịch rủ uống cà phê bệt để nhớ lại thủa nghèo khó, chân ướt chân ráo vào Sài Gòn lập nghiệp. Anh bảo thích cái không gian đặc thù, được tiếp xúc với dân lao động, nghe và biết đủ thứ tin của thông tấn vỉa hè. Cứ nghĩ chắc có tin vui du lịch. Đọc báo thấy du lịch khởi sắc, các nơi rộn ràng đón khách, cả nội địa lẫn quốc.

Gặp bạn, vẫn phong cách bụi dị, hơi tưng tửng. “Bạn già. Có chuyện vui buồn hả”. “Vui buồn có đủ, ai chẳng vậy. Nhưng đang chán”. Mấy chục năm thân quen, lần đầu nghe bạn kêu chán. “Vui vì vẫn còn sống qua đại dịch, ít nhất là tới hôm nay. Hehe. Buồn, ngày nào cũng có, nhưng không sao”.

Bạn bảo đáng chán, tính bỏ nghề du lịch. Không phải vì dịch bệnh mà bị hành bởi các quy định, nhất là giao thông vận tải. Bạn trút bầu tâm sự, cứ như truyện dài nhiều tập. Mới bỏ phong tỏa, du lịch rục rịch khởi động, ngành giao thông vận tải buộc các xe chở khách phải có giấy phép với mã quét QR. Cứ như xe cộ cũng bị F0, F1 như người.

Du khách Hàn Quốc đến chờ lấy hành lý tại sân bay quốc tế Phú Quốc vào ngày 20 tháng 11 năm 2021. Đây là chuyến bay thí điểm chương trình Hộ chiếu vaccine của Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Du khách Hàn Quốc đến chờ lấy hành lý tại sân bay quốc tế Phú Quốc vào ngày 20 tháng 11 năm 2021. Đây là chuyến bay thí điểm chương trình Hộ chiếu vaccine của Việt Nam

Công ty có đội xe riêng, phải tất tả xin giấy phép từng chiếc. Được mấy bữa, “đùng một cái”, hủy quy định.

Phiền nhất là đi máy bay. Ngày 25/10/2021, hàng không buộc du khách khai báo thông tin cá nhân và cam kết chịu trách nhiệm nếu khai báo không trung thực. Cả hai việc đều quá thừa. Thông tin cá nhân đã có trong Sổ sức khỏe điện tử, còn khai báo trung thực là đương nhiên, không cần cam kết. Bị phản ứng vì cách làm thủ công, mất thời gian, có thể trễ chuyến bay, ùn tắc phòng chờ, dễ lây dịch, nên 0 giờ ngày 25/10, quy định bị hủy bỏ.

12g ngày 26/10, Cục Hàng không lại tái lập quy định cũ do áp lực từ các tỉnh thành. Danh sách hành khách còn được gửi về từng địa phương để giám sát, quản lý. Không biết là khách đi xe đò, xe bút, xe tự lái, xe lửa, xe gắn máy, tắc ráng, xuồng ba lá… thì giám sát và quản lý thế nào? Tới 0 giờ ngày 29/10, một lần nữa, quy định này bị hủy vô thời hạn.

Bạn bảo vừa được mời dự liên hoan phim Việt Nam ở Huế. Đã chích đủ 2 liều vaccine, vẫn phải test dịch vụ âm tính mới được lên máy bay. Xuống khách sạn xét nghiệm dịch vụ tiếp vì kết quả ở Sài Gòn chỉ để đi máy bay.

Vào Huế, phải test Huế. Hơi phiền nhưng không sao. Khổ nhất là mấy người bay chuyến tối. Dịch vụ test hết giờ làm việc. Không có test Huế, không được vào khách sạn ở Huế. Có khách sạn tự test thì hôm sau bị phạt vì khách sạn không được phép, test là độc quyền của ngành y.

Anh nói chán nhất là xoay xở đưa khách đi du lịch. Báo đăng du khách nhộn nhịp xuống Cần Giờ (TP HCM). Khách đăng ký tour, hỏi khu du lịch Rừng Sác thì bảo chưa mở cửa. Chỉ thí điểm đón vài đoàn y bác sĩ tuyến đầu chống dịch. Ngày Truyền thống Phụ nữ Việt Nam 20/10, kiếm được vài đoàn nhỏ du thuyền trên kênh Nhiêu Lộc, mừng như trúng số. Đặt dịch vụ, nhà thuyền trả lời, đầu tháng 11 mới hoạt động lại. Khách đợi không được, mất luôn, tiếc đứt ruột.

Getty Images

Nhờ nhân viên tháo vát, kiếm được mối khách đi xem dự án bất động sản ở tỉnh B. Đoàn đầu tiên đi 9 xe 45 chỗ, rất hoành tráng. Cả hướng dẫn viên, lái xe, hành khách đều phải tiêm đủ 2 liều, test dịch vụ âm tính, triệt để thực hiện 5K. Công ty gửi danh sách làm công văn xin phép dừng dọc đường 1 điểm để vệ sinh. Ăn sáng và trưa trên xe.

Xuống dự án xong, lên xe đi qua xem dự án đối thủ, đang ở vùng cam nên chỉ được ngồi trong xe, tham quan qua cửa kính. Được vậy, phải cậy nhờ, điện thoại cho cho Phó chủ tịch tỉnh, rồi chủ tịch thành phố, nhờ hỗ trợ, đề phòng trực trặc. Cả nhân viên công ty, lẫn khách đều phấn khởi.

Mấy đoàn sau đi vài ba xe mỗi tuần đều xuôi chèo. Tuần này lại gặp khó. Ngành giao thông vận tải và UBND tỉnh chỉ thị cấm tất cả xe chở khách đi vào vùng 3 (vùng cam trước đây). Cứ như virus có thể lây từ xa và xuyên qua cả xe bít kín cửa kính. Xin phép chỉ vào xem đất dự án, không tiếp xúc với ai, không được. Hạ bậc, chỉ ngồi trên, cũng không được.

Mỗi nơi một kiểu

Lãnh đạo địa phương thật lòng chỉ cách. Chỉ thị cấm xe chở khách chứ không cấm xe riêng. Có thể đi xe nhà thì được. Như vậy là thêm phát hiện mới, virus thích đi xe lớn, thoáng hơn nên mới bị cấm. Điều đáng nói là mấy resort gần đó, ngành du lịch cho phép mở cửa đón khách. Vì cấm xe vận chuyển khách, các công ty lữ hành coi như chết trước giờ G. Chỉ khách gia đình, đi xe tự lái, du lịch tự túc mới đi được.

Bạn cho biết, vừa rồi, anh em ở Đà Nẵng phản ứng vì Sở Du lịch ban hành công văn (số 4122/HD-BVHTTDL) quy định các doanh nghiệp lữ hành phải chịu toàn bộ trách nhiệm và chi phí nếu để lịch lây lan.

Du khách bị lây dịch, không rõ nguồn gốc, có khi từ điểm đến như khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan, mua sắm mà doanh nghiệp lữ hành phải chịu toàn bộ trách nhiệm và chi phí thì chỉ có thể phá sản, thậm chí “cách ly dài hạn” (đi tù). Lời chẳng bao nhiêu và chưa thấy nhưng nhãn tiền khả năng khách nhiễm F0 là nhãn tiền. Thà bỏ nghề còn hơn. Không chán sao được.

Du khách Hàn Quốc chụp ảnh sau khi đến sân bay quốc tế Phú Quốc vào ngày 20 tháng 11 năm 2021
Chụp lại hình ảnh,Du khách Hàn Quốc chụp ảnh sau khi đến sân bay quốc tế Phú Quốc vào ngày 20 tháng 11 năm 2021

Tôi chẳng biết nói gì để chia sẻ, càng không dám khuyên lơn. Khẳng định “sống chung với virus” mà thiếu bản lĩnh, tự tin (không phải chủ quan); lúc nào cũng phập phồng, hoảng loạn thì không khéo, sống chung thành chết chung. Cũng khó trách các địa phương tùy tiện. Tỉnh thành nào dám chống lệnh trung ương nếu các chỉ thị cứ “Yêu cầu”, “Đề nghị”, như năn nỉ cấp dưới. Sao không “Ra lệnh”? Đã “Chỉ thị” là bắt buộc.

Chỉ thị nào cũng thòng câu “Các địa phương chủ động, linh hoạt theo tình hình thực tế” làm sao thống nhất hành động được. Sợ trách nhiệm, thừa hành chỉ thị một cách máy móc như robot, cần phải tránh nhưng chủ động như các tiểu vương quốc, lại càng phải tránh. Nhất là chủ động chỉ làm khổ dân, hành doanh nghiệp là chính.

Quyết đoán, nhạy bén và hiệu quả như Thái Lan mà họ tuyên bố, phải 3 năm du lịch mới trở lại như trước dịch. Chống dịch kiểu Việt Nam, chẳng biết tới bao giờ, du lịch mới phục hồi như xưa.

Tác giả Trần Việt là hưu trí sinh sống tại Sài Gòn, từng nhiều năm làm việc trong lĩnh vực du lịch.

BBC