Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn
Chủ nhân ngôi nhà là một người yêu sân vườn, thiên nhiên nhưng coi trọng tiêu chí “cái gì cũng phải thật đơn giản, không làm mình mất quá nhiều thời gian dọn dẹp, chăm sóc”.

Chị Trần Thùy, 38 tuổi, hiện làm việc trong lĩnh vực bất động sản ở thị trấn Xuân Mai, Hà Nội, vốn có niềm yêu thích với cỏ cây, sân vườn từ lâu. Chị rất yêu thích những ngôi nhà theo phong cách châu Âu có sân vườn rộng rãi, trồng nhiều cây xanh.

Cách đây 5 năm, chị quyết định dừng chân tại thị trấn Xuân Mai khi mua được một khu đất rộng tới 5.000 m2 để hiện thực hóa giấc mơ của mình. Tại thời điểm đó, giá đất ở khu vực này vẫn còn khá rẻ, vị trí lại không quá cách xa Hà Nội, chỉ mất 45 phút để đi ô tô vào thành phố. Sau 5 tháng thiết kế và thi công, ngôi nhà được hoàn thành đúng như mong muốn của chị Thùy và gia đình.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 1.

Vì xác định đó là ngôi nhà mà gia đình sẽ ở thường xuyên nên tiêu chí được gia đình chị Thùy đặt ra là thuận tiện, thiết thực phù hợp với gia đình 3 thế hệ cùng chung sống. KTS đã bố trí công năng ngôi nhà trên cùng 1 mặt sàn với 4 phòng ngủ, bếp và phòng khách rộng rãi, có sân vườn ngoài trời… để thi thoảng gia đình tổ chức những bữa tiệc nho nhỏ.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 2.
Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 3.

Toàn cảnh ngôi nhà từ trên cao.

Sân vườn cũng vậy, tiêu chí là gọn gàng, dễ chăm sóc nên chị Thùy yêu cầu KTS thiết kế và làm những bãi cỏ phẳng và trồng những loại cây như hoa giấy, thiên điểu, chuối cảnh, mẫu đơn, mộc hương… Những loại cây này rất ít phải chăm bón, chỉ cần chăm tưới nước hàng ngày.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 4.

Hoa súng trồng trong hồ trước nhà. Đây là loài hoa nở quanh năm, dễ trồng và không cần nhiều công chăm sóc.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 5.

Hàng cau trước sân nhà mỗi lần nở hoa là tỏa hương thơm ngào ngạt.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 6.

Cạnh cửa sổ bếp cũng được trồng hoa để vừa nấu ăn vừa ngắm.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 7.

Một chùm hoa hồng ngoại trong vườn.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 8.

Hoa giấy nở rực rỡ ở lối vào nhà.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 9.

Lối ra vườn cây ăn quả

Vườn nhà chị Thùy chia thành 2 khu: 1 khu trồng cây ăn quả có đầy đủ mít, ổi, na, bơ, táo, bưởi, đu đủ, chuối, khế…. khu còn lại là trồng các loại rau theo mùa.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 10.

Cây ăn quả thì là những loại cây nhiệt đới điển hình, phù hợp khí hậu: mít xoài, na, ổi, bưởi, đu đủ…

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 11.

Khu vườn trồng các loại rau theo mùa, đủ cung cấp cho bữa ăn của gia đình.

“Khi xây dựng ngôi nhà, tôi đặt tiêu chí cái gì cũng phải thật đơn giản, không làm mình mất quá nhiều thời gian dọn dẹp, chăm sóc. Vì nhịp sống hiện đại thì ai cũng bận rộn, thời gian ở nhà là để nghỉ ngơi thư giãn thôi”, chị Thùy chia sẻ.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 12.

Ao rộng hơn 1000m2 trước cửa nhà là nơi chị Thùy nuôi thả các loại cá và nuôi vịt.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 13.

Gia đình chị Thùy nuôi gà và chim bồ câu bên phía vườn cây ăn quả.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 14.

Sân chơi có phần thảm cỏ và phần sân gạch, bên cạnh đó là 1 sân cầu lông và rổ tập ném bóng. Đây là nơi gia đình rèn luyện sức khỏe mỗi chiều.

Nhà vườn 5.000m2 tuyệt đẹp ở ven đô Hà Nội: Không gian sống đơn giản, gần gũi với thiên nhiên nhưng mất ít công chăm sóc, để nhà thực sự là nơi nghỉ ngơi, thư giãn - Ảnh 15.

Chị Thùy thường tập thể dục, yoga rèn luyện sức khỏe ngay tại sân, vườn nhà.

Với diện tích rộng rãi, nhiều cây xanh, cuộc sống của gia đình chị Thùy rất gần gũi với thiên nhiên, và đặc biệt là có nguồn thực phẩm sạch, chuẩn organic được “sản xuất tại gia”.

“Đối với mình nhà không chỉ là nơi để ở mà nó thực sự là tổ ấm, chốn mong về. Vậy nên dù đang giãn cách xã hội vì dịch bệnh nhưng mình không hề thấy bức bối, mỗi giây phút ở nhà đều là những phút vui”, chị Thùy chia sẻ.

Ảnh: NVCC / Hoàng Lan / Theo Nhịp sống kinh tế

Vẻ đẹp trong truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke

Tuyển tập Akutagawa” với những tác phẩm được chọn lựa góp phần làm nổi bật nghệ thuật ngôn từ, cốt truyện của bậc thầy truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke.

Mới đây, Tuyển tập Akutagawa do Cung Điền và Nguyễn Nam Trân dịch, được Tao Đàn và NXB Hội Nhà văn ấn hành vừa ra mắt độc giả.

Truyen ngan hay anh 1
Tuyển tập Akutagawa được dịch bởi Cung Điền và Nguyễn Nam Trân. Ảnh: Trần B.A.

 Tuyển tập Akutagawa, ta bắt gặp Ngũ vị, một võ sĩ đến cái tên cũng không còn được nhớ, chỉ biết là họ Mỗ, thấp kém không chỉ bởi chức sắc ở hàng chót bảng, mà ngay cả con người, và ước mơ của Ngũ vị, cũng nhỏ bé qua truyện Cháo khoai.

Ngay ở hình dung, Ngũ vị đã hiện lên riêng khác, mà cũng thật hèn kém: “Người đã lùn tịt còn thêm cánh mũi đỏ và hai đuôi mắt xệ. Râu mép dĩ nhiên lưa thưa ba sợi, cặp má lại hóp khiến cho cái cằm choắt đi một cách khác thường. Cặp môi thì… thôi, kể từng thứ một thì biết bao giờ cho hết! Đó là tất cả cái bê bối trong tướng mạo của ông bạn họ Mỗ chúng ta”.

Từ tướng mạo thấp kém ấy, cũng mở ra cho độc giả về vị trí của Ngũ vị trong mắt người khác như thế nào khi anh không được coi trọng. Và đỉnh điểm cho giấc mơ cuộc đời của Ngũ vị, đơn giản, mà cũng thật đáng thương: Một bữa cháo khoai no nê, thừa mứa.

Khi đạt được ước mơ ấy đến mức chỉ nhìn cháo đã sợ, hình ảnh một Ngũ vị hội tụ đủ những thấp kém, yếu ớt, tội nghiệp, lại càng được điểm tô đậm nét hơn khi ở cạnh Toshihito, người mời cháo, giàu có, hào sảng và tài giỏi. Bản chất của dục vọng con người qua nhân vật Ngũ vị được tác giả khéo léo truyền tải.

Dừng ở truyện Trinh tiết, những hấp dẫn, cao trào được đẩy lên đỉnh điểm giữa gã hành khất Shinko của dòng họ danh giá Minamoto với cô hầu gái Otomi trong căn nhà bỏ hoang vì di tản chiến tranh.

Lấy con mèo Mikê làm cái cớ, những tình tiết được đan cài để làm nổi bật vẻ đẹp trinh trắng của Otomi, sự cao ngạo khác thường của gã hành khất Shinko bỏ qua tấm thân trinh trắng đã sẵn sàng trao cho gã.

Đi qua những trang viết của Akutagawa Ryunosuke trong tuyển tập, những truyện Mộng kê vàng, Ông tiên và người diễn trò… đưa độc giả đi vào thế giới truyện ngắn Akutagawa, cảm thụ, ngấm dần những vẻ đẹp dã sử, thần tiên sâu sắc và giàu hình tượng.

Ngôn từ của Akutagawa Ryunosuke đặt vào nhân vật, vào cảnh quan trong truyện, cũng như cấu tứ cốt truyện, giàu tính biểu đạt hình ảnh, để từ đó nội dung chính muốn gửi đến độc giả được nổi bật lên.

Nói tới Akutagawa Ryunosuke (1892-1927), dịch giả Nguyễn Nam Trân cho biết trong nền văn học hiện đại của Nhật Bản, ông được xem là một trong ba trụ cột cùng với Natsume Soseki và Mori Ogai.

Akutagawa được biết đến với sự linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ. Điều đó được thể hiện rõ nhất trong việc vận dụng “linh hồn chữ nghĩa” ở các truyện ngắn của ông. Nó góp phần tạo dấu ấn sâu đậm cũng như gợi mở nhiều suy tư, trăn trở đối với độc giả khi thưởng lãm.

Trần B.A / Zing

Covid-19 cho biết xã hội chính trị Việt Nam không thay đổi sau hơn 30 năm

Ai từng đi lại giữa miền Tây Nam bộ và Sài Gòn trong những năm cuối 1970, đầu 1980 hẳn phải biết trạm kiểm soát Tân Hương nằm gần thành phố Mỹ Tho.
Trạm này kiểm soát quốc lộ số 1 từ Sài Gòn về miền Tây (trước 1975 là quốc lộ 4). Gần như 24/7, bên ngoài trạm này là dòng xe rất dài cả hai chiều nằm chờ kiểm soát. Các nhân viên công an, quản lý thị trường chận bắt gạo, thịt, muối, cá mắm từ miền Tây đổ về nuôi sống hơn 3 triệu người Sài Gòn. Điều đặc biệt là xe hành khách (xe đò) nhiều hơn xe vận tải, mà những chiếc xe đò này cũng biến thành xe vận tải với các thứ hàng kể trên. Việc kiểm soát tịch thu diễn ra từng ly từng tí một, không để sót một thứ gì. Chiều ngược lại kiểm soát nhanh hơn vì ít hàng hóa hơn, nhưng cũng được làm rất cẩn thận.

Hình ảnh Sài Gòn "lạ thường" trong ngày đầu giãn cách xã hội - Ảnh 9.

Tân Hương trở thành nỗi kinh hoàng của dân chúng miền Nam lúc đó. Người đi buôn thì sợ mất hàng, khách lữ hành thì chờ cả vài tiếng đồng hồ để qua trạm là chuyện thường. Và dĩ nhiên, muốn qua nhanh thì mãi lộ!
Đó là thời kỳ mà sau này báo chí gọi là ngăn sông cấm chợ, nhưng lúc ấy thì trên báo chí người ta lại hay nhắc đến câu cửa miệng của ông tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, rằng Việt Nam đang xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, với 400 quận huyện là 400 pháo đài công, nông, lâm, ngư nghiệp. Mà đã là pháo đài thì không có chuyện vận chuyển hàng hóa qua lại. Các nhà quản lý cộng sản tuyên bố xử tử ngành thương nghiệp.

Việc kiểm soát đã tạo điều kiện cho các viên chức công an, quản lý thị trường phất lên. Sự nhũng lạm và hạch sách của họ trở thành hình ảnh tiêu biểu cho xã hội Việt Nam lúc đó. Đôi khi họ hạch hỏi, tịch thu cả những món đồ vật không phải là hàng hóa.
Nếu chính sách ngăn sông cấm chợ tuân theo ý thức hệ là điều đáng trách trên bình diện vĩ mô của nền kinh tế quốc gia, thì việc nhiệt tình cách mạng quá trớn của các viên chức là điều dễ thông cảm hơn vào lúc đó, khi họ là những người viên chức thấp nhất trong bộ máy toàn trị khổng lồ.
Nhưng hơn 30 năm sau ngày trạm Tân Hương bị đóng cửa, các viên chức nhiệt tình cách mạng quá trớn vẫn còn, và rất đông đảo. Họ xuất hiện trong chiến dịch phong tỏa, giới nghiêm các thành phố, khu phố, thị trấn Việt Nam trong đợt bùng phát dịch Covid-19 giữa năm 2021. Đúng hơn họ là thế hệ thứ hai, cũng có thể là thế hệ thứ ba, con cháu của những viên chức cấp thấp thời ngăn sông cấm chợ trước kia. Họ khác cha ông họ ở giày dép quần áo tinh tươm hơn, họ có điện thoại cầm tay,… nhưng nhiệt tình cách mạng của họ vẫn giống cha ông họ, ngăn chận từ ổ bánh mì cho tới băng vệ sinh phụ nữ.

Điều gì đang xảy ra ở Việt Nam vậy?

Sau hơn 30 năm của cái gọi là “đổi mới”, ý thức và năng lực của tầng lớp quan lại, sai dịch của hệ thống vẫn không thay đổi. Hệ thống toàn trị vô cùng đông đảo vẫn không giảm bớt, mặt khác phải tăng lên theo tỷ lệ tăng trưởng dân số, phải đảm bảo có đầy đủ các viên bí thư, từ tổng bí thư Đảng cho đến bí thư chi bộ khu phố.
Ở phía trên thượng tầng kiến trúc vẫn là một tầng lớp được ưu tiên, ăn trên ngồi trốc với những quyền lực tuyệt đối về chính trị như xưa và bây giờ lại được thêm những quyền lực về kinh tế.
Việc cải cách kinh tế hơn 30 năm qua làm cho những nhu cầu cơ bản của dân chúng được thỏa mãn phần nào. Sự đầy đủ cơ bản này che khuất đi một cấu trúc xưa cũ mà có người tưởng rằng đã biến mất trong quá trình “đổi mới.”
Đại dịch Covid-19 làm cho cấu trúc ấy lộ ra với một món hàng khan hiếm là vaccine trị Covid-19.
Câu chuyện người phụ nữ trẻ nhờ có bố (ông ngoại các con cô ta) là kẻ có thế lực mà được tiêm chủng trước, minh chứng rất cụ thể rằng cơ cấu xã hội cũ không hề thay đổi. Trong xã hội này, bề mặt là cào bằng thụ hưởng, nhưng cấu trúc thực của nó là mạnh ai nấy lo một cách rừng rú. Và trong khu rừng đó, những con thú có “ông ngoại” có thế lực, và những “con thú ông ngoại” luôn là những kẻ trục lợi nhiều nhất, sống an toàn nhất.
Nếu trước kia, là cửa hàng thực phẩm dành cho cán bộ cao cấp ở phố Tôn Đản, Hà Nội, là xe Volga dành cho cấp bộ trở lên, thì nay là thuốc “xịn” Pfizer dành cho cán bộ cao cấp (theo lời viên giám đốc bệnh viện Việt Xô trần tình với báo chí).
Vaccine Covid-19 năm 2021 chính là những lạng thịt bò của những năm 1975-1985.
Hệ thống toàn trị và tầng lớp có đặc quyền đã làm cho xã hội và quốc gia rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng trước kia với chính sách 400 pháo đài quái đản. Nay hệ thống đó có cơ không dập tắt được dịch bệnh mà làm nó trầm trọng hơn. Lẽ ra phải dành ưu tiên cho người già và người có bệnh “nền”, thuốc lại được ưu tiên cho tầng lớp lãnh đạo, đám công an che chắn cho chế độ. Lớp dân chúng già cả sẽ trở thành nơi lưu dưỡng virus, có thể tạo nên những biến dị nguy hiểm hơn.
Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là quốc lộ 1 Sài Gòn Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc Long Xuyên. Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.
Những nguồn tin từ bên trong cho biết rằng thành phố Sài Gòn bị “cầm tay chỉ việc” trong việc chống dịch với những viên chức từ Hà Nội vào.
Cấu trúc địa chính trị nội bộ đó tạo nên những điều quái gỡ như chuyện các nhân viên, học sinh y tế từ Hải Dương vào Sài Gòn, tưởng tượng mình đang đi “giải phóng miền Nam”. Hay là chuyện một cô nào đó gốc miền Bắc lên mạng xã hội móc mỉa người Sài Gòn, rằng thì là Hà Nội tuyệt vời hơn, “một thời đạn bom một thời hòa bình” (sic). Mà thành phố Sài Gòn lại là nơi cung cấp nhiều tiền của nhất cho ngân sách quốc gia.
Năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu cải cách kinh tế, đã có người hy vọng rằng cải cách kinh tế sẽ kéo theo chính trị, nhưng điều đó đã không xảy ra, và tệ hơn là xã hội vẫn không thay đổi. Những đặc quyền đặc lợi vẫn tồn tại, trước kia là lạng thịt bò, ký gạo, thì nay là du học, vaccine….
Nó không đổi vì cấu trúc chính trị tạo ra tầng lớp đặc quyền đó không thay đổi.
Với hệ thống chính trị xã hội đó, Việt Nam đã thất bại trong việc chuyển đổi một quốc gia nông nghiệp sang công nghiệp sau hơn 30 năm cải cách. Hàng chục ngàn công nhân từ Sài Gòn bỏ chạy về quê trong cơn dịch bệnh này là hình ảnh trái ngược với giấc mơ công nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công nhân vẫn coi cuộc sống của họ ở đô thị là tạm bợ. Các đô thị này không có một hệ thống an sinh xã hội để họ có thể định cư. Vẫn không có một lớp công nhân đúng nghĩa mà chỉ là những người nông dân bán sức lao động giản đơn cho các đại gia khu công nghiệp, hay những nhà tư bản nước ngoài.
Trong không khí xã hội chính trị ảm đạm đó người ta thấy lóe lên một ánh sáng nho nhỏ. Ông Nguyễn Văn Nên, bí thư thành ủy Sài Gòn công khai nói với báo chí rằng ông mong người dân lượng thứ. Có lẽ ông là người đầu tiên của lịch sử Việt Nam hiện đại xin lỗi dân chúng như vậy, không kể những giọt nước mắt mị dân sau cuộc giết chóc cải cách ruộng đất 1955.
Người dân sẵn sàng lượng thứ cho ông Nên thôi, nhưng còn hệ thống chính trị xã hội nhũng lạm vẫn ăn bám trên cơ thể Việt Nam thì sao?

Nguyễn Khoa / Viet-Studíes

Nguyễn Bính: Là bướm, là hoa, là con đò, là ngọn gió bất tận trên triền đê…

Trong đời Nguyễn Bính là những chuỗi ngày liên tục dịch chuyển, ông thèm đi, thèm khám phá, thèm tự do, thèm sống theo ý mình, như loài bướm đi tìm những nhuỵ hoa. Có lẽ vì thế trong thơ của ông, hình ảnh hoa và bướm xuất hiện thường xuyên…

Bờ đê ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội

Khi Phong trào thơ mới phát triển chừng dăm bảy năm, ngập trong làn gió cách tân, chịu ảnh hưởng xu hướng lãng mạn Pháp, thì những tên tuổi được công chúng mến mộ xuất hiện như Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử.

Chiếm lĩnh toàn bộ đời sống thi ca, có một giọng thơ mới mang hồn quê đất Việt, đứng riêng một chỗ, cất lời. Khi mà độc giả đô thị chếnh choáng trong men say của những dòng thơ tình phóng khoáng, tự do, thì một giọng thơ mới như thổi từ những miền quê ấm áp, gần gũi như ca dao len lỏi dần trên Văn đàn, nhắc cho người ta những kỷ niệm, mới đây thôi, của làng mạc ruộng đồng, của tiếng trống chèo, chiếc áo tứ thân, ánh nhìn e lệ cô gái quê thuần phác. Tác giả của những vần thơ như tiếng sáo trong lành đó là Nguyễn Bính, một tài nhân lãng tử. Ông làm thơ từ rất sớm, nhưng mãi đến ngoài 20 tuổi, năm 1940 ông mới cho xuất bản hai tập thơ đầu là “Lỡ bước sang ngang” và “Tâm hồn tôi 

Hai tập thơ đã làm nên tên tuổi Nguyễn Bính, một giọng thơ hiện đại, lãng mạn nhưng rất chân quê. Thơ ông đưa người đọc về lại những xúc cảm tinh tế, nguyên sơ thực đấy mà mộng đấy. Mỗi vần thơ là một nét bút tài hoa vẽ nên cảnh sắc của một miền thôn dã, rồi từ đó ông thả hồn mình qua một rặng mùng tơi, qua một chuyến đò, qua bãi nương dâu về nơi mộng ước. Mà lạ, hầu như những bài thơ tình nổi tiếng của ông đều gắn đến một dòng sông, một triền đê chờ đợi. Những cô thôn nữ trong thơ ông đều đến và đi theo những dòng sông, ước mơ cũng từ đó giã biệt cũng từ đó. Ông thật nặng tình với những chuyến đò, những triền đê.

Nhà văn Chu Văn đã viết một chi tiết thật cảm động sau cái chết của Nguyễn Bính về một cô lái đò vùng Hà Nam, nơi Nguyễn Bính công tác những năm cuối đời tại Ty Văn hoá. Gặp lại Chu Văn, cô lái đò nức nở khóc nói rằng: “Bác Bính đi rồi, người tài thế mà sao vội đi thế, giá cháu có thể chết thay cho bác ấy, để bác tiếp tục làm thơ…”. Lại có một lần, tôi được hầu rượu nhà văn Trần Lê Văn, một người bạn thân thiết của Nguyễn Bính, cụ Văn tủm tỉm cười kể rằng: “Bính đa tình và dễ xúc động lắm, ăn mặc thì cẩu thả, xuềnh xoàng, nhưng không ai nghiêm túc trong câu chữ như ông, ông thường chép nắn nót một bài thơ vào một nửa tờ giấy học sinh, thường gọi là giấy năm hào hai, đem tặng những người mình yêu thích, tất nhiên ưu tiên vẫn là phái nữ.

Trong số những người được tặng thơ đó, có một cô gái tên là Thoan. Cô Thoan đẹp lắm, lại tham gia Hội Phụ nữ xã nên tính tình thật mạnh dạn, cô thường chủ động hẹn nhà thơ tại một điếm canh đê cổ, lúc thì mang cho ông ca lạc luộc, một chút rượu, lúc là bắp ngô, củ khoai nướng rồi bắt ông đọc thơ. Nguyễn Bính tiếng thế thôi mà dát, ông không mấy khi dám vào cái điếm canh đê cổ đó, mà thường nằm dài trên triền đê, nhẩn nha đọc thơ.

Tất nhiên cô Thoan phải đinh ninh tất cả những bài đó là dành cho cô. Rồi một lần cô bắt nhà thơ chép lại một bài cô ưa thích. Nhà thơ về cặm cụi chép tặng, nhưng đãng trí làm sai, thay vì ghi tặng Thoan, lại nhầm thành tặng Ngoan! Vậy là cả tuần, cả tháng sau đó không một nhời nhắn hẹn. Trước ngày lấy chồng cô tìm gặp ông, cũng tại triền đê cũ, rồi nói trong nước mắt rằng: “Về nhà chồng em sẽ lấy tên là Ngoan, vì đó là tên của một người khác, còn tên Thoan, xin ông hãy giữ trọn kiếp này vì đó mới là em…”. Nguyễn Bính ngẩn ngơ cả tháng trời mới nguôi ngoai.

Trong đời Nguyễn Bính là những chuỗi ngày liên tục dịch chuyển, ông thèm đi, thèm khám phá, thèm tự do, thèm sống theo ý mình, như loài bướm đi tìm những nhuỵ hoa. Có lẽ vì thế trong thơ của ông, hình ảnh hoa và bướm xuất hiện thường xuyên. Đôi khi nó không còn là vật thể ngoài ông nữa mà đã hoá thân vào ông vào một nàng thơ nào đó.

Trong chuyến hành phương Nam dằng dặc của ông, nếm biết bao gian truân, khó nhọc, ông vẫn giữ cho mình lòng thuỷ chung trọn vẹn với thi ca, ông vẫn là con bướm nơi vùng đất lạ. Và dường như cuộc đời càng cơ cực bao nhiêu thơ ông càng đẫm tình bấy nhiêu. Ở vùng đất nào thì ông vẫn giữ cho mình một khoảng trời đất chân quê vốn đã nằm sẵn trong tâm khảm lòng ông. Ông đi để mà đi chứ không phải đi để mà đến.

Bước qua biết bao nhiêu chìm nổi, đa đoan, ông vẫn là bướm, là hoa, là con đò, là ngọn gió bất tận trên triền đê, là một thằng “Nhà quê” lành mạnh,trong suốt, là đóa hoa thơm ngát bốn mùa trong vườn thi ca Việt Nam.Nguyễn Bính tiếng thế thôi mà nhát, ông không mấy khi dám vào cái điếm canh đê cổ đó, mà thường nằm dài trên triền đê, nhẩn nha đọc thơ

Trịnh Tú / DânViet VN

Trước dịch Covid, công nhân VN đã làm việc kiệt sức và lương ‘dưới đáy châu Á’

  • T.K. TRAN
  • Gửi bài từ Stuttgart, Đức
Vietnamese factory
Chụp lại hình ảnh,Nhà máy VN -hình minh họa

Khi nói tới nền kinh tế Việt Nam, người ta hay ví von nước này bằng những từ ngữ như con hổ, con rồng châu Á do những thành tựu kinh tế với tăng trưởng GDP hàng năm gần đây quãng 6-7%.

Ngay trong năm 2020, khi dịch Covid bùng phát khắp nơi trên thế giới, tăng trưởng vẫn cao ở mức quãng 2,7%, đó là một thành tích mà chỉ vài nước trên thế giới đạt được.

Đầu năm 2021 Ngân hàng Phát triển Á châu dự báo tăng trưởng kinh tế của VN sẽ ở mức 6,7%, nay dưới ảnh hưởng của dịch Covid cũng còn được ở mức 5,8% .

Đằng sau những con số mỹ miều không mấy ai trong chúng ta ý thức rằng mồ hôi và nước mắt của những người lao động đã góp sức tạo nên những giá trị thặng dư đó.

Trong thời kỳ virút Covid hoành hành, phần nước mắt của họ lại nhiều lên gấp bội.

Trong bài viết này, tôi xin trích các nguồn chính thức để vẽ ra bức tranh khốn khó của người công nhân Việt Nam trước khi có dịch Covid.

Bài sau sẽ đi vào vấn đề họ là nạn nhân của dịch Covid ra sao, từ góc độ kinh tế.

Tiền lương tối thiểu không bảo đảm đời sống tối thiểu

Trên nguyên tắc, nhà nước VN không can thiệp vào thỏa thuận tiền lương được thương lượng giữa người chủ doanh nghiệp và người lao động.

Tuy nhiên cũng có một mức lương tối thiểu cho những công việc giản đơn nhất, được Hội đồng tiền lương quốc gia ấn định. Hội đồng này bao gồm đại diện của bộ Lao động, thương binh và xã hội, đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện của một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động và chuyên gia độc lập.

Mức lương tối thiểu này hiện nay cụ thể dao động vào quãng 4,4 triệu – 3,07 triệu VND, tùy theo vùng sinh hoạt thành thị hay nông thôn.

Người chủ xí nghiệp sẽ dựa vào mức tối thiểu này để trả lương và trả thêm phụ cấp độc hại, tay nghề và vài phúc lợi khác như đài thọ bữa ăn trưa, một vài xí nghiệp có xe đưa rước, có ký túc xá.

Ở Việt Nam, nhân viên cán bộ nhà nước làm việc 40 tiếng/tuần 5 ngày, nhưng Luật lao động lại ấn định công nhân làm việc 48 tiếng/tuần, 6 ngày dù công nhân làm việc nặng nhọc. Mặc dù vậy, tiền lương công nhân không đủ để trang trải cuộc sống.

Theo khảo sát năm 2018 của Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI), được báo Lao Động đăng thì:

“Từ năm 2010 thu nhập của người lao động có tăng lên nhưng so với thay đổi về nhu cầu và mặt bằng chung hiện nay còn thấp. Lương cơ bản trung bình của người lao động khoảng 5.119.000 VND/tháng nhưng mức chi trung bình trên 5,2 triệu/tháng. Mức chi cơ bản lớn hơn mức lương cơ bản”.

Để đáp ứng nhu cầu đời sống tối thiểu, người lao động buộc phải làm thêm giờ, gọi là tăng ca. Do đó trên thực tế, ít ra là 1/3 tổng số công nhân làm việc nhiều hơn 48 giờ/tuần. Việc làm tăng ca này được giới hạn theo luật pháp, nhưng nhiều xí nghiệp buộc công nhân làm nhiều giờ phụ trội vượt quá giới hạn.

Họ lách luật bằng cách làm 2 phiếu lương: 1 phiếu lương thực tế và 1 phiếu lương ảo chỉ để trưng ra khi bị kiểm soát. Cuối cùng công nhân phải làm quần quật từ sáng đến tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này tới tháng khác…, nhưng vẫn phải chấp nhận làm việc nhiều, bởi đó là cách duy nhất để sống còn.

Áp phích cổ động cho ngày bầu cử 23/5
Chụp lại hình ảnh,Áp phích cổ động cho ngày bầu cử 23/5 ở Hà Nội vẽ ra hình ảnh xã hội với công nông tưng bừng vui vẻ nhưng cuộc sống thật của công nhân VN thì khác hẳn, như chính báo chí nhà nước thừa nhận: làm việc 50 giờ một tuần, gày còm, thiếu thốn

Hiện tượng này tuy cũng được Nhà nước nhận thấy, song không tìm giải pháp để cải thiện.

Một quan chức nhà nước nhận xét, xin trích theo báo Lao Động:

“Tôi đi Bình Dương thấy rất đau lòng, công nhân thì gầy gò, ốm yếu nhưng vẫn xin được làm thêm giờ dù không bảo đảm sức khỏe. Nhưng như vậy, chẳng khác nào người lao động lúc trẻ bỏ sức ra kiếm tiền, già lại phải bỏ tiền mua sức khỏe. Trách nhiệm của nhà nước là ở chỗ này. Cơ quan y tế người ta cũng bảo làm thêm liên tục 50 giờ là sức khỏe sẽ rất có vấn đề. Vì vậy, 40 giờ là tột đỉnh rồi”, ông Bùi Sỹ Lợi nhấn mạnh.

Để so sánh: Myanmar có chế độ 44 tiếng/tuần, ít hơn Việt Nam.

Việt Nam hiện là một trong số 44 quốc gia trên Trái đất còn giữ chế độ làm việc 48 tiếng/tuần. Tuy nhiên không hẳn là số giờ làm việc nhiều là vấn đề, bởi vì có một số quốc gia tuy đã phát triển nhưng vẫn làm việc nhiều như Hàn Quốc (52 giờ/tuần) hay Singapore (60 giờ/tuần), mà vấn đề cốt lõi ở đây là tiền lương quá thấp.

Chúng ta hãy so sánh tiền lương của quãng 2,7 triệu công nhân ngành may mặc ở Việt Nam và ở vài quốc gia khác dựa theo dữ liệu năm 2020 của tổ chức „Fair wear foundation

Người công nhân may mặc ở những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn (vùng 1) lãnh lương căn bản là hơn 4,9 triệu/tháng VND cộng với phụ cấp về tay nghề và điều kiện làm việc độc hại, tổng cộng là hơn 6,1 triệu/tháng VND. Với số giờ làm 48 tiếng/tuần, lương mỗi phút làm việc là 533 VND, tính ra tiền USD là 0,0229 USD/phút (= 1,374 USD/giờ).

Ở nơi hẻo lánh, “vùng sâu vùng xa” (vùng 4), lương căn bản của công nhân là hơn 3,4 triệu/tháng VND, cộng với phụ cấp được hơn 4,2 triệu/tháng, lương 1 phút là 370 VND, tương đương 0,0159 USD/phút (= 0,95 USD/giờ).

Mức lương công nhân nghề may mặc ở các quốc gia khác, ví dụ như Thổ Nhĩ Kỳ là 0,0596 USD/phút, như Romania là 0,159 USD/phút, Bangladesh 0,0201 USD/phút, Myanmar 0,0161 USD/phút.

So sánh như vậy để thấy rằng các nhãn hiệu quần áo ở Âu châu hay Mỹ châu trả lương cho công nhân Việt Nam qua các xí nghiệp may mặc chỉ bằng 1/10 lương công nhân ở xứ hậu cộng sản Romania hay 1/3 lương ở Thổ Nhĩ Kỳ, và chỉ tương đương với công nhân Bangladesh, Myanmar.

Điều nghịch lý ở đây là sau quá nửa thế kỷ năm áp dụng chế độ danh nghĩa là ‘xã hội chủ nghĩa’ ở Việt Nam, từ 1975 trên cả nước tới nay, nơi mà giai cấp công nhân là “thành trì của chế độ”, là “giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa”, mà lương bổng công nhân không hơn gì công nhân ở những xứ chậm tiến nhất thế giới như Bangladesh, Myanmar.

Đây có phải là một lý do nhiều người trẻ liều chết bỏ nước sang các nước khác tìm việc, bất kể là làm gì để có thu nhập khá hơn?

Khắp nơi đó đây, trên truyền thông chính thức hay mạng xã hội, có nhiều thông tin giúp chúng ta có một cái nhìn về đời sống của công nhân ở Việt Nam:

“Chị Lương Thị Liên, khu công nghiệp Hưng Yên chia sẻ: Công việc tại công ty thường kết thúc khá muộn. Về đến nhà ai cũng mệt lả và gần như kiệt sức sau một ngày làm việc. Họ nói về việc phải vội vàng đi vệ sinh để quay về nơi làm việc và không sử dụng giờ nghỉ giải lao để tranh thủ làm, vậy mà họ vẫn không hoàn thành định mức mỗi ngày. Họ không có thời gian chăm sóc con cái, hay về thăm cha mẹ ở quê và không có thời gian dành cho giao lưu với bạn bè.” trích theo báo Lao Động.

Ngay báo Nhân Dân của ĐCS VN cũng viết về một công nhân:

“Rời Yên Bái ra Hà Nội làm công nhân may đã hơn 5 năm, tổng thu nhập của Nguyễn Thị Mến (công nhân một công ty may đặt tại quận Hoàng Mai, Hà Nội) hiện đạt 4,5 triệu đồng. Dù còn độc thân, chưa vướng bận gia đình, nhưng cuộc sống của Mến khá chật vật. Tiền nhà, tiền điện nước, tiền ăn uống, sinh hoạt… đủ các thứ phải chi tiêu, trong khi giá cả tiêu dùng thì đắt đỏ…”.

“Con gái chưa chồng nhưng nhiều lúc muốn mua chiếc áo mới, hay thỏi son, chút nước hoa làm điệu cũng không dám vì thấy nó xa xỉ quá, Mến chia sẻ.”

“Bà Kim Thị Thu Hà – Giám đốc điều hành Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)- cho biết: Mức lương tối thiểu theo quy định của Việt Nam thấp hơn nhiều so với mức lương một người cần để trang trải các chi phí cần thiết như thực phẩm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Nhưng ngay cả khi mức lương mà hầu hết công nhân kiếm được cao hơn mức lương tối thiểu quốc gia cũng chưa bằng mức lương được coi là lương đủ sống.

Tổn hại sức khoẻ lâu dài

Một thực tế ở Việt Nam hiện nay, theo chính các tờ báo chính thống là người lao động phải làm nhiều việc mới đủ sống.

UGC
Chụp lại hình ảnh,Người lao động nghèo bỏ chạy khỏi TP HCM về quê khi các biện pháp chống dịch Covid được áp đặt

Đồng lương tối thiểu không đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu, buộc người lao động phải cắt giảm chi phí hoặc tăng thời gian làm thêm giờ để tăng thu nhập.

“Càng tăng giờ làm thêm thì sức khỏe càng tiêu hao nhanh, mức độ tiêu hao sức khỏe sẽ tỉ lệ thuận với tăng thời gian làm thêm. Khi người lao động càng làm thêm giờ nhiều thì càng ít thời gian tái tạo sức khỏe dẫn đến ốm yếu, bệnh tật. Mặt khác, khi có thể yêu cầu người lao động làm thêm giờ thì càng nhiều người sử dụng lao động không muốn tuyển dụng thêm lao động, ” vẫn nguồn trên cho biết.

“Kết quả nghiên cứu khảo sát của Oxfam và nhóm chuyên gia thuộc Viện Công nhân và Công Đoàn năm 2019 về “Tiền lương không đủ sống và hệ lụy” của công nhân ngành dệt may cho thấy, có tới 69% công nhân cho biết họ không có đủ tiền để trang trải nhu cầu sinh hoạt của mình.

Báo Nhân Dân viết:

“Tiền lương không đủ sống cũng dẫn đến các hệ lụy như 31% số lao động không tiết kiệm được gì từ tiền lương, 37% luôn ở trong tình trạng vay nợ từ bạn bè, người thân để bù đắp thiếu hụt chi tiêu, 96% không bao giờ hoặc hiếm khi đi ăn hàng. Đặc biệt, có 23% số công nhân đang sống trong các điều kiện nhà ở tạm bợ và 44% cho biết đang sử dụng nước giếng và nước mưa.”

Công nhân ngành dệt may, giày dép, đồ gỗ có mức lương tồi tệ nhất.

Ở những ngành nghề khác, lương công nhân có khá hơn, song cũng không vượt trội, bởi theo thống kê chỉ có quãng 10% công nhânViệt Nam là có tay nghề vững vàng, được lãnh số lương cao tương xứng.

Tiền lương, đời sống công nhân VN khi rơi vào đại dịch Covid là một vấn đề lớn, khi giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm lương, nghỉ không lương…là các biện pháp chủ lao động áp dụng, theo Tổ chức Lao động Quốc tế.

Tính đến tháng 12/2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch, quý II/2021, có 12,8 triệu người bị ảnh hưởng, theo thống kê chính thức.

Đại dịch đang tác động xấu đến giai cấp công nhân VN và đó sẽ là vấn đề chúng tôi đánh giá trong bài sau.

Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả T.K. Tran, người theo dõi các hoạt động nghiệp đoàn ở châu Âu và Việt Nam, hiện sống ở Stuttgart, Đức.

Theo BBC