Đà Lạt lặng lẽ trong mắt người làm du lịch

LÂM ĐỒNGKhu trung tâm Hòa Bình vắng lặng, cơn mưa bất chợt càng khiến phố xá vắng hơn, khu chợ thưa người khác với hình dung về Đà Lạt mùa hè.42

Lê Thị Uyên Trinh (1991), quê Ninh Thuận, sinh sống và làm việc tại TP Đà Lạt, Lâm Đồng từ 3 năm nay. Trinh làm việc trong lĩnh vực du lịch, vì ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên cô tạm thời chuyển nghề. Mỗi ngày đưa bạn đi làm, Trinh đều mang theo máy ảnh ghi lại khoảnh khắc khác nhau của thành phố. Riêng tháng 7 này, mỗi ngày cô đều đăng ảnh về Đà Lạt vào hội nhóm Ghiền Đà Lạt trên Facebook có hơn 1,2 triệu thành viên, giúp du khách đỡ “nhớ” thành phố.

Những ngày thế này, điều Trinh thích nhất là được hòa mình vào buổi sáng trời lạnh, ngắm nhìn thành phố, rừng thông và cả những căn biệt thự cổ chìm trong sương sớm, các lối nhỏ đầy hoa dại. “Khi đó, mọi thứ đều tĩnh lặng, có thể ngửi được mùi thơm của cỏ, lắng nghe tiếng chim vang bên những rừng thông bên kia đồi”, cô chia sẻ.

Đà Lạt mùa này bình yên, mỗi sáng 16 độ C, trời có mưa phùn nhẹ, Trinh ước được ngồi co ro ở một góc cà phê quen ngắm phố phường dòng người qua lại. “Mảnh đất hiền hòa này thôi thúc người ta khám phá, mình mong sớm qua dịch bệnh để thành phố trở lại cảnh nhộn nhịp như trước”, Trinh bày tỏ.

Gắn bó với Đà Lạt đủ lâu, Trinh thích trải nghiệm thành phố theo cách của riêng mình. Mỗi sáng cô đưa bạn đi làm, chạy xe qua những con phố thân quen, cảm nhận nhịp sống chậm rãi của cư dân.

Uyên nghĩ có lẽ bây giờ là lúc buồn nhất của thành phố, khi đang là mùa hè, mùa của du lịch nhưng lại vắng lặng vì Covid-19.

Từ ngày 4/7, TP Đà Lạt tạm dừng các hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời, chợ đêm, quán bar, karaoke, hàng quán ăn uống chỉ bán mang về… Các khu, điểm tham quan du lịch, cơ sở kinh doanh lưu trú cũng ngừng hoạt động từ 19/7 để thực hiện hiệu quả công tác phòng chống dịch Covid-19. Trong ảnh là du thuyền, thuyền đạp vịt đã neo đậu vào bờ tại danh thắng quốc gia hồ Tuyền Lâm.

Vườn hoa trong một quán cà phê ở ngoại ô thành phố nay đã khoe sắc, cải vàng rực rỡ, thạch thảo trắng tinh khôi. Cảnh đẹp nhưng vắng du khách.

Tại chợ Đà Lạt, mặt hàng rau củ quả hiện vẫn rất dồi dào nhưng sức mua đã giảm hơn so với trước.

Khu Trung tâm Hòa Bình từng đông đúc giờ chỉ còn người bán hàng và cư dân địa phương. “Những cơn mưa tháng 7 càng làm nơi này thêm buồn”, Trinh nói.

“Ngày mới đến Đà Lạt sống, thành phố này buồn và khác xa những gì mình tưởng tượng, mức lương thấp nhưng mức sống thì cao. Mình không có bạn bè, làm việc trong homestay trước mặt là thung lũng, tối thì không có ai. Dần mình quen được vài người bạn tại đây rồi bắt đầu thích nghi dần với nhịp sống ở Đà Lạt”, Trinh kể về ngày đầu bén duyên với thành phố ngàn hoa.

Huỳnh Nhi / Ảnh: Uyên Trinh

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không uống đủ nước?

Nước là vật trung gian tham gia truyền thông tin giữa các tế bào. Nếu thiếu nước, cơ thể sẽ lão hóa, dẫn đến mệt mỏi, phù nề, thậm chí là mắc bệnh ung thư.

Ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng mình đang nghỉ ngơi, tế bào trong cơ thể vẫn không ngừng hoạt động để chuyển năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết đến từng cơ quan khác nhau.

Chất dinh dưỡng được hấp thụ thông qua nước trong thức ăn sẽ được tích lũy trong gan rồi mới được máu chuyển đến nơi cần dùng, dù não không đưa ra mệnh lệnh nào đặc biệt. Quá trình này được gọi là “truyền thông tin giữa các tế bào”.

[…]

Yếu tố quan trọng nhất trong việc truyền thông tin giữa các tế bào là nước. Nước trở thành vật trung gian quan trọng nhất vì nó vừa hỗ trợ tiêu hóa, hấp thụ thức ăn, vừa giúp vận chuyển dinh dưỡng tới các cơ quan cần thiết thông qua máu, vừa truyền dưỡng chất từ máu đến các tế bào của cơ quan nội tạng.

Nếu việc truyền thông tin giữa các tế bào không thuận lợi thì một mặt không thể cung cấp chất dinh dưỡng đúng lúc, mặt khác không thể loại bỏ chất thải đúng thời điểm. Giả sử chất thải bị tù đọng trong dịch nội bào, các tế bào bị bỏ đói và bẩn cuối cùng sẽ già nua hoặc mắc bệnh.

Nói cách khác, năng lực truyền thông tin giữa các tế bào nếu giảm xuống sẽ dẫn đến bệnh tật cho các cơ quan liên quan và trong trường hợp nghiêm trọng sẽ có thể gây ra cả bệnh ung thư.

Uong thieu nuoc anh 1
Thiếu nước là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh tật. Ảnh: Shutterstock.

Nếu việc truyền thông tin giữa các tế bào không thuận lợi và nước tích tụ lại trong dịch nội bào thì đây chính là nguyên nhân gây ra phù nề. Một mặt, bên trong tế bào bị khô và nhiễm bẩn, mặt khác bên ngoài tế bào lại dư thừa nước và chất dinh dưỡng.

Khi không thể sử dụng được nước và các chất dinh dưỡng, cơ thể sẽ bị phù và thậm chí trọng lượng cơ thể cũng tăng lên. Hơn nữa, hơi ẩm tù đọng trong dịch ngoại bào còn dẫn đến rối loạn tuần hoàn.

Rối loạn tuần hoàn làm phá vỡ quá trình trao đổi chất, tuần hoàn của cơ thể bị chậm lại khiến nhiệt độ cơ thể và lượng trao đổi chất cơ bản cũng bị giảm xuống. Bệnh béo phì bắt đầu xuất hiện. Giống như sợi miến, mì nếu ngâm lâu trong nước sẽ nở to và mất ngon, dịch ngoại bào không thể thâm nhập dịch nội bào đúng thời điểm làm cho cơ thể chúng ta sưng phù và béo lên như sợi mì bị nở.

[…]

Mặt khác, khi bị thiếu dịch nội bào thì tế bào cũng mất khả năng đàn hồi và trở nên nhăn nheo. Hiện tượng sưng phù do dịch ngoại bào diễn ra trong thời gian ngắn nên vẻ bề ngoài trông vẫn căng mịn. Thế nhưng, sau khi dịch ngoại bào dư thừa rút đi hết, da sẽ xuất hiện nếp nhăn và trông bạn già đi nhanh chóng, cũng giống như khi bạn đột ngột tăng cân vậy.

Sự thiếu hụt độ ẩm bên trong cơ thể sẽ làm khô cả các tế bào, đây được coi như là con đường tắt dẫn đến lão hóa. Nếu chỉ đơn giản dừng lại ở việc già đi thôi thì sẽ không quá nghiêm trọng. Nhưng vấn đề là nó dẫn đến cả bệnh tật.

Nếu độ ẩm trong tế bào bị thiếu, dẫn đến cơ thể không được cung cấp dinh dưỡng đúng nghĩa thì sự trao đổi chất sẽ giảm xuống. Lý do là bởi ti thể trong tế bào không thể sản sinh năng lượng.

Cơ thể dễ cảm thấy mệt mỏi do việc sản sinh năng lượng giảm, đồng thời chức năng hoạt động não bộ hay chức năng của các cơ quan nội tạng khác cũng giảm xuống nên cơ thể dễ mất sinh khí và cảm thấy đau đớn, mệt mỏi.

Vấn đề lớn hơn là do chức năng của ti thể giảm nên tế bào bị tổn thương hay việc phục hồi ADN không thể thực hiện thuận lợi. Tế bào không được tái tạo thì vết thương không thể nhanh lành và còn dễ phát sinh biến chứng.

Giả sử có được tái tạo thì khi ADN bị phục hồi sai sẽ dẫn đến biến đổi gen và tạo thành tế bào bất thường, nếu tế bào bất thường ngày càng nhiều thì cũng có thể phát triển thành ung thư.

Khỏe hơn 10 tuổi nhờ uống nước đúng cách /  Seung Nam Lee/ Thái Hà Books và NXB Công thương

Truyện ngắn : Đa nghi

Tôi lạnh tê người đến mức sẵn sàng trả giá gấp đôi chỉ để nhanh chóng được người ta chở về nhà, được ở nơi ấm áp. Rồi bỗng nhiên… như thể từ dưới mặt đất có một chiếc taxi vắng khách hiện ra và dừng lại ngay bên tôi.

Tôi vội chạy đến nhưng không kịp đề nghị trả gấp đôi vì tài xế đã ra khỏi xe, mở cửa xe cho tôi và nói:

– Mời anh vào! Anh đã lạnh cóng rồi đúng không?

– Anh nói gì cơ? – tôi không hiểu và thậm chí hơi lùi lại.

– Tôi nói là anh ngồi vào xe đi, nhanh lên – anh ta khẽ mỉm cười – rồi tôi sẽ bật máy sưởi. Nếu anh thấy thế vẫn chưa đủ thì tôi đưa một chiếc khăn len dày để anh quấn chân của mình lại.

Tôi xem xét chiếc xe. Một chiếc đèn nhỏ nhấp nháy, những bảng tín hiệu kiểm tra… ra dáng một chiếc taxi.

– Nhưng mà tôi cần đến Chertanovo! – Tôi nói không được tự tin.

– Ừ thì Chertanovo! – Người tài xế lại mỉm cười nhẹ nhàng. – Hành khách cần đi đâu thì chúng tôi đi tới đó. Cứ yên tâm!

Cảnh giác, tôi leo lên xe.

– Nếu anh không phiền thì tôi sẽ đưa anh đi đường tắt? – Tài xế đề nghị.

– Không cần đi tắt đâu. – Tôi quyết định phải cảnh giác. – Chúng ta cứ đi như thường thôi.

– Đừng lo, anh cứ thư giãn đi – Tài xế cười bối rối – chúng ta sẽ làm mọi thứ cần làm.

Đôi chân tôi dần ấm lên một cách dễ chịu. Một chiếc đài bán dẫn được treo trước gương đang phát bản nhạc của Chopin. Nhưng tôi vẫn thấy tâm trạng không được thoải mái. Vì sao anh ta lại dụ mình lên xe rồi bây giờ đi vào con đường lạ? Tôi ép chặt chiếc túi đựng xúc xích vào ngực. Cần phải ngồi ở đằng trước, ở đó an toàn hơn. Dẫu sao tôi còn có vợ, hai đứa con sinh đôi… mà đứa lớn thì đã đi học…!

– Anh thích bản nhạc nào của Chopin nhất?

– Tôi thích… tất cả! Thế còn anh?

– Còn tôi thì thích bản “C sharp minor ” – Người tài xế trả lời.

“Anh ta muốn gì ở mình đây? Tôi bắt đầu sốt sắng đặt ra trong đầu những tình huống có thể xảy ra. Muốn moi thêm tiền boa ư? Nhưng sao lại trắng trợn thế?”.

Người tài xế kể cho tôi nghe về cuộc sống của Chopin ở quần đảo Balearic. Đôi khi, bị cuốn đi bởi tài hùng biện của chính mình, anh ta chuyển sang tiếng Anh, nhưng sau đó ngẫm nghĩ rồi trở lại với văn học Nga. Làm thế nào mà anh ta lại biết tất cả những điều đó? – tôi nghĩ. – Chẳng lẽ tài xế taxi có thời gian để học những điều này? Không! Sao mà có được? Và ở đâu? Chẳng lẽ?! Một sự phỏng đoán khủng khiếp lóe lên trong đầu tôi. Trong tù!!! Đó là nơi có rất nhiều thời gian! Có nghĩa đây là một kẻ trốn trại! Vì thế mà hắn ta xử sự sao cho khỏi bị nghi ngờ. Và chính hắn, chắc hẳn đã bóp cổ người tài xế thực sự, đã trói rồi giấu đi… Bây giờ hắn lại đang chèo kéo tiền bạc đây. Hắn ta muốn chạy trốn ra nước ngoài. Nghe nói có những trường hợp như vậy. Phải rồi. Đó là lý do vì sao hắn học tiếng Anh. Mười năm, có nghĩa là đã ngồi tù. Chà – chà – chà! Tôi đang gặp rắc rối! Nếu vậy, tôi sẽ chi tiền ngay. Có điều là đừng giết người!”.

– Đến nơi rồi – Bỗng nhiên người tài xế vui mừng thông báo.

Tôi nhìn qua cửa sổ, sau đó là nhìn vào bảng điện tử. Quả thật là chúng tôi đã đứng ngay trước cửa nhà tôi, còn việc thanh toán lại rẻ hơn mức thông thường 40 xu. “Một tên tù tái phạm! Kẻ sát nhân! Kẻ làm ẩu” – Tôi nghĩ và thận trọng đưa tay mở chốt cửa, mong sao ra khỏi xe càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, cửa xe… không mở được! Mà trên đường phố, cứ như thể trêu ngươi, chỉ có mỗi hai chúng tôi…

– Nó lại không mở được rồi – Người tài xế nhẹ nhàng nói – giờ thì…

– Tôi không có hơn nữa đâu! Chỉ có xúc xích thôi! – Tôi kêu lên và cầm chiếc cặp chuẩn bị phòng thủ.

– … Anh không lấy tiển thừa sao! – Hắn ngắt lời tôi và đưa trả lại tiền lẻ. Sau đó, hắn đứng lên, đi vòng qua đầu xe, mở cửa xe cho tôi và nói: – Chúc may mắn! Nhà anh đây rồi. Tôi chúc anh bây giờ ăn ngon miệng, sau đó là ngủ ngon, sau nữa là có những giấc mơ hạnh phúc. Và tất nhiên là một buổi sáng tốt lành! Còn nếu như tôi đã làm điều gì không phải thì cho tôi xin lỗi nhé, nếu có thể!

Tôi bối rối đứng ngây người trên vỉa hè. Tôi nghĩ rằng người ta đã lừa mình. Nhưng về chuyện gì thì tôi không hiểu. Có một người khách qua đường tối muộn đã dứt tôi ra khỏi cơn mê, ông ấy chạy về phía người tài xế taxi của tôi và e dè hỏi:

– Tài xế, anh có đi đến Megvedok không?

– Rất sẵn lòng! Mời ông vào xe! – Tài xế nói, bước tới mở cửa xe cho ông ấy.

Người đó bối rối, ngập ngừng, đưa ánh mắt bất lực về phía tôi nhưng rồi vẫn vào xe. Khi chiếc xe trườn đi thì tôi nghĩ: “Lại thêm một kẻ sa cơ!”. Và tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn.

Bích Nguyễn (dịch)Truyện vui của Mikhail Zadornov (Nga) / Vannghe CA

Vì sao VN cần mạnh dạn thúc đẩy việc sáp nhập tỉnh?

Vietnam

Ý kiến nói VN cần mạnh dạn sáp nhập tỉnh để loại bỏ quan chức địa phương yếu kém và tinh giản bộ máy đang thiếu ngân quỹ vì dịch Covid.

Mới đây thông tin từ Bộ Nội vụ VN cho biết cơ quan này đang tiến hành xây dựng đề án sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Theo tính toán, những tỉnh miền núi vùng cao diện tích dưới 8.000km2, dân số dưới 900.000 người, những tỉnh còn lại có diện tích dưới 5.000km2 dân số dưới 1,4 triệu người sẽ thuộc diện sáp nhập trong thời gian tới.

Theo thông tin báo chí nhà nước đưa hôm 17/7 thì dự kiến đề án sẽ được Bộ nội vụ trình lên Chính phủ, sau đó trong quý 4 năm 2021 Chính phủ sẽ trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương xem xét thông qua đề án này.

Nhưng sau khi thông tin việc sáp nhập tỉnh được đưa ra đã vấp phải một số ý kiến phản đối ví như của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu đã bày tỏ quan điểm trên các trang Facebook cá nhân.

Bản thân tôi qua theo dõi hầu như không thấy ai chia sẻ thông tin với một thái độ hưởng ứng đồng tình.

Hôm 17/7 tôi đăng hai ý kiến gần như đồng thời trên Facebook, một về thông tin nước Mỹ cam kết tặng thêm cho Việt Nam 3 triệu liều vaccine và một thông tin về việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Sau hai ngày sự tương tác nhận được rất khác nhau, số đông người bày tỏ sự quan tâm tới ý kiến về vaccine với hơn 350 lượt like, trong khi vấn đề còn lại nhận được rất ít sự quan tâm chỉ với hơn 20 lượt like.

Với xu hướng quan tâm ít ỏi như vậy lại cộng thêm việc có những ý kiến chỉ trích đề án sáp nhập, thành ra hôm 19/7 Bộ nội vụ đã tổ chức họp báo như một sự phân bua đáp lại những ý kiến chỉ trích.

Theo đó cho biết đề án này mới đang chỉ trong giai đoạn xin ý kiến, việc sáp nhập ngoài các yếu tố về diện tích và dân cư thì còn phải nghiên cứu tính thêm các yếu tố về quốc phòng và đặc tính văn hóa các vùng miền.

Bộ cũng cho biết chưa đề xuất cụ thể sẽ sáp nhập những tỉnh nào và sẽ trình đề án lên Chính phủ ở vào thời điểm thích hợp mà chưa ấn định thời điểm cụ thể.

Tôi thấy quả là đáng tiếc, một đề án cải cách tích cực bộ máy nhà nước lại không nhận được sự quan tâm thúc đẩy cần có của dư luận.

Và ngay cả những người thiết lập xây dựng đề án cũng thiếu tự tin vào công việc mình làm.

Vì sao cần sáp nhập?

Như tôi thấy thì vấn đề của bộ máy nhà nước và xã hội lâu nay đang dư thừa năng lực quản lý.

Không phải là thiếu mà chính sự quản lý quá kỹ lưỡng đã dẫn đến sự can thiệp chi li vào đời sống từ đó hạn chế sức vận động sáng tạo trong dân chúng.

Hãy hình dung một người có ý định bán buôn món hàng nào đấy ở góc phố nhưng sẽ nhanh chóng gặp đủ những thành phần ra hỏi điều kiện giấy phép lý do này nọ sẽ khiến người ta nản lòng mà từ bỏ.

Dẫu vậy các vấn đề vẫn cần sự quản lý, nhưng cách thức thì cần thay đổi. Khi xưa thì cần con người sử dụng tai mắt để giám sát việc làm, nhưng nay có thể ban hành luật pháp để người dân tự tuân thủ và thực hiện các biện pháp hậu kiểm.

Đó là sự tiến bộ theo nhận thức bộ máy hành chính là nhằm để phục vụ chứ không phải để quản lý kiểm soát dân chúng.

Những việc cũ mà báo chí đã phản ánh như có ông nông dân làm ra máy bay không được thử nghiệm bay, làm ra tàu ngầm không được thử nghiệm vận hành, cho thấy sự quản lý quá kỹ đã ảnh hưởng tới tư duy sáng tạo và năng lực phát triển thế nào.

Cho nên việc sáp nhập những tỉnh nhỏ nằm trong tổng thể chiến lược thu hẹp phạm vi bộ máy nhà nước, nếu thực sự có một đường hướng như vậy, thì đó là đường hướng đúng đắn vì mục tiêu thúc đẩy phát triển.

Mặt khác việc sáp nhập còn tạo khả năng nâng tầm năng lực lãnh đạo điều hành cho cấp địa phương

Lâu nay như tôi thấy thì hệ thống chính trị nhà nước ở Việt Nam có một thực tế là chính quyền ở trung ương cấp tiến hơn địa phương.

Sự cấp tiến đó là ở chỗ tinh thần cởi mở hơn, dân chủ hơn do chịu nhiều giám sát hơn, ý thức được các vấn đề khó khăn của quốc gia cũng như những quy luật vận động phát triển tất yếu hơn.

Trung ương thường có tiếp xúc với ngoại giao nước ngoài, thông qua hội thảo và thảo luận kiến thức được mở rộng hơn, cho nên hiểu việc hơn.

Và một lý do nữa là trung ương hơn cũng do bởi tập hợp chọn lọc được những người xuất sắc ở các địa phương đưa về.

Hiện nay nhiều địa phương cấp tỉnh tự dựng ra những rào cản ngăn sông cấm chợ do dịch bệnh covid gây ảnh hưởng lưu thông hàng hóa.

Hoặc như vị cán bộ phường ở Khánh Hòa nói ‘bánh mỳ không phải lương thực thiết yếu’ khi xử phạt người đi đường.

Đó đều cho thấy vấn đề ở năng lực lãnh đạo điều hành ở địa phương.

Nếu sáp nhập nhiều tỉnh lại làm một, sẽ chỉ có một Hội đồng nhân dân tỉnh và một Ủy ban nhân dân tỉnh thay vì nhiều thiết chế như cũ, khi đó sẽ chọn được một số ít những người giỏi nhất trong một số đông cá nhân ưu tú.

Và giả sử như cả nước sáp nhập lại chỉ còn 30 tỉnh, khi đó sẽ thuận lợi trong việc tập trung thúc đẩy tinh thần pháp quyền, tôn trọng các quyền tự do dân chủ của công dân.

Khi chất lượng năng lực phẩm chất được nâng lên thì đó sẽ là tiền đề tốt hơn cho phát triển.

Cần mạnh dạn làm ngay

Theo như được biết thì văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản vừa rồi đã thay thế từ Quản Lý Nhà Nước bằng từ Quản Trị Quốc Gia.

Theo đó như tôi hiểu thì công tác quản lý được yêu cầu nhắm đến tính hiệu quả, không chỉ là hiệu quả trong mục tiêu công việc cần quản lý mà còn là hiệu quả ở bình diện chi phí kinh tế nữa.

Đề án sáp nhập tỉnh như thế sẽ phù hợp với tinh thần mới này.

Từ lâu nay hệ thống bộ máy nhà nước được cho là áp dụng theo mô hình Xô Viết khi xưa với hai bộ máy đảng và nhà nước song hành với nhau.

Ví như một lĩnh vực như giáo dục phim ảnh hay báo chí sẽ do cả hai cơ quan là Sở Thông tin Truyền thông và Ban Tuyên giáo tỉnh quản lý.

Đứng trước thực tế hai hệ thống vận hành theo hàng dọc như vậy thì điều hợp lý cần làm là sáp nhập đơn vị hành chính theo hàng ngang, giúp tiệm cận đạt đến tính hiệu quả trong chi phí kinh tế.

Có ý kiến cho rằng sáp nhập chắc gì đã giúp tinh giản biên chế và tiết kiệm được chi phí trả lương mà sẽ chỉ dồn cục vào một chỗ mà thôi.

Điều lo ngại này là đúng. Song cũng nên nhìn nhận đó là vấn đề kỹ thuật thuộc về cách làm chứ điều đó không bác bỏ được việc sáp nhập như là một chính sách hợp lý đúng đắn.

Về mặt cơ học có thể khẳng định chắc chắn có việc giảm biên chế. Ví như chỉ có một Hội đồng nhân dân thay vì 2 hay 3 Hội đồng nhân dân thì rõ ràng là giảm biên chế rồi.

Cũng có những ý kiến khác cho rằng hiện nay đang bị dịch nên tập trung cho việc đó, thay vì làm xáo trộn tâm tư ảnh hưởng đến chống dịch.

Tôi thì cho rằng việc lãnh đạo điều hành đất nước cần có sự trù tính tương lai.

Hãy hình dung sau khi dịch Covid được khống chế, xã hội hoạt động trở lại bình thường, thì khi đó đất nước như vừa trải qua một cơn nghịch cảnh.

Điều hợp lý nhất cần xuất hiện khi đó là phải có một đề án cải cách sâu rộng mạnh mẽ theo hướng tiến bộ để thực hiện, để tạo động lực tinh thần vực dậy vừa tạo sự phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Dịch Covid chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trả lương, nếu sau dịch cơ thể kinh tế ốm yếu mà vẫn duy trì việc chi tiêu như cũ thì đó không phải là điều nên duy trì.

Cho nên thời điểm dịch dã như thế này chính là lý do thích hợp để đẩy mạnh quyết tâm sáp nhập đơn vị hành chính.

* Bài thể hiện quan điểm riêng của LS Ngô Ngọc Trai từ Hà Nội. / BBC

Những người giúp chữ Quốc ngữ ‘làm nên’

Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ sau khi đuổi hết quân Thanh đi
Chụp lại hình ảnh,Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ sau khi đuổi hết quân Thanh đi

Ở Việt Nam vừa có thêm một sáng kiến nhằm ghi công và vinh danh các vị truyền giáo Pháp, Bồ Đào Nha đã ‘xây dựng, phát triển’ chữ Quốc ngữ.

Nỗ lực tìm lại các nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc hình thành ký tự La Tinh của tiếng Việt luôn là việc cần làm và rất đáng khuyến khích.

Nhìn lại cuộc giao lưu Đông Tây ở Việt Nam, có lẽ ta cần tránh cả mặc cảm bài ngoại, đề cao người Việt quá mức cũng như tâm lý sùng bái các giáo sỹ người Âu.

Có ba lý do:

Một là việc tạo ra bộ mẫu tự La tinh cho tiếng Việt không có gì quá độc đáo, thậm chí xảy ra sau Trung văn khá lâu.

Hai là chính các nỗ lực của trí thức Việt Nam và chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương mới thực sự tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Ba là Đông Kinh Nghĩa Thục không đi tiên phong quảng bá Quốc ngữ mà chỉ xóa nốt rào cản tâm lý đã bị lạc hậu để trí thức bản địa yên tâm dùng Quốc ngữ.

1. La tinh hóa các tiếng ngoài châu Âu

Trong lịch sử ngôn ngữ, việc La tinh hóa (Romanisation) các tiếng ngoài châu Âu đã diễn ra khá nhiều và tiếng Việt không phải là biệt lệ.

Đến Trung Hoa vào cuối thế kỷ 16, nhà truyền giáo Matteo Ricci đã nhanh chóng soạn tự điển tiếng Trung bằng ký tự La tinh đầu tiên.

Sang đầu thế kỷ 17, ông cho xuất bản tại Bắc Kinh cuốn Tây Tự Kỳ Tích (Xizi Qiji – Miracle of Western Letters) bản tiếng Trung theo âm La Tinh.

Sách ra tại Bắc Kinh năm 1605, gần nửa thế kỷ trước khi cha Alexandre de Rhodes xuất bản ở Rome năm 1651 ‘Phép giảng tám ngày‘ tiếng Việt dạng La tinh và cuốn ‘Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum‘.

Cả Matteo Ricci và Michele Ruggieri đều dùng tiếng Bồ Đào Nha để phiên âm Hoa ngữ, như cách các giáo sỹ Bồ Đào Nha đầu tiên ghi ký âm tiếng Việt.

Sang năm 1626, một giáo sỹ dòng Tên khác, Nicolas Trigault (1577-1628) xuất bản cuốn ‘Tây Nho Nhĩ Mục Tư (Xiru Ermu Zi) ở Hàng Châu.

Hoàng đế Bảo Đại và Albert Sarraut tại Pháp năm 1933
Chụp lại hình ảnh,Hoàng đế Bảo Đại và Bộ trưởng Thuộc địa Albert Sarraut tại Pháp năm 1933. Ông Albert Sarraut sau khi làm Toàn quyền Đông Dương đã về nước và làm Bộ trưởng Thuộc địa trong hai nhiệm kỳ

Đến cuối thế kỷ 19, Thomas Wade và Herbert A. Giles soạn ‘Chinese-English Dictionary’ năm 1892, tạo chuẩn quốc tế cho Hoa ngữ dạng La tinh.

Sau này, Mao Trạch Đông cho tạo ra bộ bính âm (pinyin) ở CHND Trung Hoa nhưng ký âm Wade và Giles đến nay vẫn được dùng ở Hong Kong và Đài Loan.

Tại Ấn Độ, tiếng Hindi dạng Devanagari được học giả, nhà thống kê và quan chức thuộc địa người Scotland, William Hunter chuyển sang hệ La tinh cuối thế kỷ 19.

Hindi hệ Hunterian vẫn được chính phủ Ấn Độ ngày nay sử dụng và từng là chuẩn để các nước Nam Á nghiên cứu khi La tinh hóa tiếng của họ.

Vua Thái Lan hồi đầu thế kỷ 20 cũng cho soạn ra bộ chữ La tinh tiếng Thái, và tham khảo từ hệ Hunterian.

Việc La tinh hóa như thế không phải là quá khó khăn mà quan trọng hơn cả là môi trường chính trị, xã hội có thuận tiện để phể biến alphabet mới.

Ví dụ tiếng Ả Rập được người Pháp chuyển sang hệ La tinh nhưng bị phái dân tộc chủ nghĩa Ả Rập bác bỏ vì coi đó là một ‘âm mưu Do Thái’.

Nay, giới trẻ Trung Đông lại dùng không chính thức tiếng Ả Rập hệ La tinh cho mạng xã hội vì giản tiện khi viết trên smartphone .

Còn tại Thổ Nhĩ Kỳ, cải cách ký tự thời Ataturk năm 1932 đã nhanh chóng ‘Âu hóa’ văn tự hệ giống tiếng Ả Rập để chuyển sang La tinh toàn bộ như ngày nay.

Các tiếng Trung Á từng đổi hai lần, từ ký tự Ả Rập sang Cyrillic thời Liên Xô để gần đây lại chuyển sang hệ La tinh, với Kazachstan là muộn nhất, sẽ xong năm 2025.

Các vị truyền giáo đã có công đầu tạo ra bộ chữ Việt hệ La tinh nhưng giả sử không có họ thì việc đó cũng hoàn toàn có thể được làm sau này.

Theo Britannica, Alexandre de Rhodes muốn dùng chữ Quốc ngữ để “cải đạo Ky Tô cho toàn thể dân chúng” ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nhưng chỉ cải đạo được cho chừng 6500 người Việt, con số không đáng kể.

Người Pháp sau khi chiếm Đông Dương đã không ủng hộ việc biến người Việt thành dân tộc Thiên Chúa Giáo.

Thủ tướng Jules Ferry của Pháp thời kỳ đánh Bắc Kỳ
Chụp lại hình ảnh,Thủ tướng Jules Ferry của Pháp thời kỳ đánh Bắc Kỳ

Ngược lại, các lãnh đạo nền Cộng hòa Pháp khi đó nổi tiếng là chống tăng lữ (anti-clerical) và theo tinh thần giáo dục thế tục.

Họ đã đem Quốc ngữ dạy trong các trường dòng ra trường công lập cho toàn thể dân Việt, mở đường cho cách viết mới này trở thành phổ biến.

2. Vai trò của Jules Ferry và các quan chức Pháp

Hồi năm 2012, BBC News có bài nói về hai người khổng lồ của văn hóa Pháp, Jules Ferry và Marie Curie (Giants of French history: Jules Ferry and Marie Curie).

Bà Marie Sklodowska-Curie (1867-1934)) nhà khoa học Pháp gốc Ba Lan được hai giải Nobel, thì nhiều người ở Việt Nam đã biết đến.

Tên của bà được đặt cho trường học tại Đông Dương trước đây và Việt Nam hiện nay.

Còn Jules Ferry (1832-1893), thủ tướng Pháp, nhà cải cách giáo dục nổi tiếng, cũng từng có tên đặt cho đường phố ở Việt Nam nhưng sau bị xóa.

Người Việt Nam có thể chỉ coi ông là Pháp thực dân nhưng Ferry là nhân vật rất quan trọng đối với Đông Dương cuối thế kỷ 19.

Năm 1881, Jules Ferry đề ra cải cách giáo dục cho Cộng hòa Pháp, dựa trên bốn nguyên tắc: Phổ cập tiểu học; Miễn phí, Bình đẳng giới tính và Phi tôn giáo.

Cùng thời gian, chính quyền Pháp cho giải tán dòng Tên (Jesuits) và cấm mọi dòng tu và việc dạy tôn giáo nằm ngoài thỏa thuận Concordat với Vatican.

Luật Ferry trở thành tiêu chuẩn của giáo dục hiện đại ở Cộng hòa Pháp, đi trước Anh và Đức, rồi thành chuẩn cho toàn châu Âu sau này.

Là người nhiệt thành ủng hộ việc xâm chiếm thuộc địa ở Việt Nam, ông bị chính giới Pháp đặt cho cái tên ‘Người Bắc Kỳ’.

Năm 1885, Jules Ferry mất chức thủ tướng sau khi quân Pháp thua lính nhà Thanh ở trận Lạng Sơn.

Nhưng hệ thống giáo dục kiểu Pháp theo cải cách Jules Ferry được đem vào Việt Nam đã thay đổi diện mạo xứ sở này.

Tính phổ cập, không phân biệt giới tính trong giáo dục là những tư tưởng quá mới lạ ở nơi đa số người dân mù chữ, phụ nữ trong cả nghìn năm không được đi học.

Các trường thuộc địa đã đưa hàng vạn em trai và em gái người Việt đến lớp, học với thầy giáo và cô giáo Pháp theo hệ giáo dục văn minh nhất châu Âu.

Trong giáo trình này, Việt văn và Quốc ngữ đóng vai trò quan trọng nhờ vào cả chính sách của Pháp và sức thuyết phục của trí thức Việt.

3. Vì sao Pháp ủng hộ Quốc ngữ?
Thầy giáo và học sinh trường trung học bảo hộ Albert Sarraut, Hà Nội
Chụp lại hình ảnh,Thầy giáo và học sinh trường trung học bảo hộ Albert Sarraut, Hà Nội – ảnh tư liệu của C.A.O.M

Thời kỳ người Âu xâm chiếm, khai thác và khai hóa các thuộc địa kéo dài hàng trăm năm nên khó có một đánh giá chung đen trắng rõ rệt.

Nhìn chung thì các thuộc địa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là lạc hậu nhất, của Anh Pháp tốt hơn, và của Hà Lan, Bỉ thì kém cỏi, ít được đầu tư.

Ngoài việc truyền đạo, khai hóa và kiến thiết, các chế độ thực dân cũng tàn phá văn hóa bản địa, bóc lột nô lệ và còn gây tội ác diệt chủng như ở Brazil.

Nhưng khi Pháp sang Việt Nam vào thế kỷ 19, văn minh tại châu Âu và ý thức về dân quyền cũng đã được nâng cao.

Paris cho sang Đông Dương không ít nhà cai trị có uy tín về văn hóa, khoa học.

GS Trịnh Văn Thảo trong ‘L’ecole francaise en Indochine’ nói Gustave Domoutier, Paul Bert đều là những nhà cải cách theo trường phái Jules Ferry.

Ông Domoutier, giám đốc Viện Viễn đông Bác Cổ, không chỉ nghiên cứu về núi Ba Vì, về Cổ Loa, Hoa Lư bằng tiếng Pháp mà còn soạn ‘Bài tập tiếng Annam’.

Cùng thời, Paul Bert trước khi sang làm Thống sứ Trung kỳ và Bắc Kỳ đã là nhà khoa học lỗi lạc, cha đẻ của y học không gian (aviation medicine).

Ngày nay, các công trình mang tính tiên phong của ông về ảnh hưởng về mặt sinh lý của áp suất không khí và dưới nước vẫn được áp dụng cho hàng không vũ trụ.

Sau đó, toàn quyền Paul Doumer sang Đông Dương từ 1897 đến 1902 tiếp tục các công trình xây dựng Hà Nội và cải tổ hệ thống giáo dục.

Nhưng phải đến khi Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương hai lần (1911-14, 1916-19) thì chữ Quốc ngữ mới thực sự khởi sắc.

Theo Keith Taylor, nhờ ‘Kỷ nguyên Albert Sarraut’ mà tiếng Việt, văn hóa và sách báo Quốc ngữ được nâng cao chưa từng có.

“Ông mời các trí thức Việt Nam đến để cùng khai thác, định nghĩa thế nào là văn hóa Việt Nam ở thể thức có thể cùng tồn tại hài hòa với văn hóa Pháp….Cùng việc bỏ hệ thống khoa cử và chữ tượng hình, chữ Quốc ngữ được đẩy lên để đóng vai trò phương tiện chuyển tải và quảng bá văn hóa.”

Cô giáo Pháp dạy các nữ học sinh Việt - ảnh tư liệu của C.A.O.M
Chụp lại hình ảnh,Cô giáo Pháp dạy các nữ học sinh Việt – ảnh tư liệu của C.A.O.M

Ý tưởng ban đầu muốn xóa toàn bộ tiếng Việt và áp dụng tiếng Pháp cho toàn Đông Dương như đã làm ở châu Phi bị bác bỏ.

Mặt khác, các trí thức như Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh đã thuyết phục được người Pháp rằng tiếng Việt không phải là một thứ thổ ngữ (Patois) mà chuyển tải được các tư tưởng văn minh, tiến bộ.

Để người Việt dùng Quốc ngữ, chính quyền Pháp cũng đạt mục tiêu là phá bỏ quá khứ Hán hóa và xóa dần ảnh hưởng Trung Hoa ở Việt Nam.

Từ thời Albert Sarraut, Quốc ngữ thành ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Pháp và Hán văn.

Mô hình ba ngôn ngữ này được ông Hà Ngại, một vị quan triều Nguyễn kể lại trong cuốn ‘Tiếng Tơ Đồng’:

“Đến Tòa sứ Quy Nhơn, tôi được Công sứ Pháp Fries phái đến dịch án với các ông Phán toà. Án hình và án hộ do tỉnh đệ đến Tòa, bằng chữ Hán và Quốc ngữ, phải dịch ra chữ Pháp cho Công sứ duyệt. Các bản án nào cũng có một bản chữ Hán và một bản Quốc ngữ…”

Đây mới là điều độc đáo bậc nhất trong lịch sử thế giới: ba ngôn ngữ cùng tồn tại và được sử dụng tại Việt Nam cho cả mục đích hành chính và truyền thông.

Nam Phong
Chụp lại hình ảnh,Tạp chí Nam Phong đã đóng vai trò quan trọng để quảng bá Quốc ngữ

Hệ thống trường Pháp không chỉ dạy lịch sử Việt Nam ‘từ Hồng Bàng đến nhà Nguyễn’, và ‘Chuyện đời xưa’ (Trương Vĩnh Ký) mà còn dạy Việt văn gồm cả Chinh phụ ngâm khúc, Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim)…

Sách Quốc văn Giáo khoa thư đã thành nền tảng giáo dục cho nhiều thế hệ học sinh.

4. Đông Kinh Nghĩa Thục và sự tự ý thức

Nhưng sự phổ biến văn hóa Âu và chữ Quốc ngữ chưa lan ra cả nước vì phản ứng chống Pháp vẫn còn trong giới Nho học.

Phải đợi đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1917) thì Quốc ngữ mới được chấp nhận “toàn tâm toàn ý” để quảng bá tư tưởng dân tộc.

Nhưng ở Nam Kỳ, chữ Quốc ngữ, và cả sách báo đã có từ trước nhiều năm, với các tên tuổi như Diệp Văn Kỳ, Trương Vĩnh Ký… và cụ thể là Gia Định Báo có từ 1865.

Từ những năm 1880, Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và người Pháp trong Cơ quan Học chánh Nam kỳ đã soạn sách giáo khoa dạy Quốc ngữ ở cấp tiểu học.

Bởi thế Đông Kinh Nghĩa Thục ở miền Trung và miền Bắc là phong trào tự thức tỉnh của các nhà Nho để không bị thời cuộc bỏ rơi chứ họ không đi tiên phong.

Tuy nhiên, ý nghĩa chính trị của phong trào là xóa mặc cảm cuối cùng để giành lấy một phương tiện ngôn ngữ nhằm tự nâng mình lên.

Đông Kinh Nghĩa Thục cũng thúc đẩy tạo ra một thế hệ tư sản dân tộc là dùng Quốc ngữ, những người sẽ có đóng góp to lớn cho công cuộc độc lập sau này.

Cùng lúc, đây là thời kỳ thoái trào của Hán học.

Năm 1919, vua Khải Định cho bỏ khoa cử, coi chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của quốc gia.

Nhưng sự kiện quan trọng nhất cho sự phát triển của Quốc ngữ phải kể đến là sự ra đời của Nam Phong tạp chí năm 1917.

Nam Phong
Chụp lại hình ảnh,Trích báo Nam Phong

Lần đầu tiên, các tư tưởng Đông Tây, kim cổ, lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, hệ thống chính trị Mỹ, Pháp, vấn đề triết học Đức, nữ quyền ở Đông Dương… được Nam Phong chuyển tải hoàn toàn bằng Quốc ngữ đến người Việt Nam.

Nhà báo, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) có viễn kiến coi Quốc ngữ là phương tiện để nâng dân tộc lên hàng văn minh và Nam Phong tạp chí đóng vai trò đó hết sức xuất sắc.

C.A.O.M
Chụp lại hình ảnh,Các thầy giáo Pháp và học sinh Việt trường Petrus Ký, Sài Gòn – ảnh tư liệu C.A.O.M

Sau khi Pháp thua Nhật, vào tháng 4/1945, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt.

Bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Sau đó, Chính phủ VNDCCH từ tháng 9/1945 tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch xóa nạn mù chữ ở nông thôn bằng sắc lệnh ‘Bình dân học vụ’ nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam dù phụ thuộc người Pháp vẫn lấy tiếng Việt Quốc ngữ làm ngôn ngữ số một.

Tổng quan mà nói, chữ Quốc ngữ tuy không quá đặc biệt về mặt kỹ thuật La tinh hóa, nhưng qua thăng trầm lịch sử, nhờ nỗ lực của nhiều nhân vật độc đáo, cùng chính sách Đông-Tây hội tụ đúng lúc nên đã bén rễ và còn có sức sống vượt qua chiến tranh để kết nối cả một quốc gia như ngày nay.Nguyễn Giang

Nguyễn Giang / BBC World Service