Những điều thú vị về 10 tỉnh thành nhỏ nhất Việt Nam

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước, nổi tiếng về dân ca quan họ và bảo tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay niên đại hơn 350 năm.6

Bắc Ninh (822,7 km2) là tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước. Không chỉ nổi tiếng về dân ca quan họ, Bắc Ninh còn là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng với nhiều ngôi chùa cổ. Bên cạnh chùa Dâu, chùa Phật Tích, nơi đây có chùa Bút Tháp được xây dựng từ thế kỷ 17, hiện vẫn lưu giữ nhiều tác phẩm tuyệt mỹ, đặc biệt là bảo tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay bằng gỗ niên đại hơn 350 năm. Ảnh: disanvanhoathuanthanh

Hà Nam (860,5 km2) là nơi phát hiện trống đồng Ngọc Lũ – trống đồng đẹp nhất, niên đại trên 2.500 năm của văn hóa Đông Sơn. Hà Nam cũng có chùa Tam Chúc là ngôi chùa lớn nhất Việt Nam, nằm tại thị trấn Ba Sao và xã Khả Phong, huyện Kim Bảng. Ảnh: Vietravel

Hưng Yên (926 km2) là một tỉnh văn hiến đến nay còn giữ hàng nghìn di tích có giá trị. Chùa Chuông phố Hiến được mệnh danh là “phố Hiến đệ nhất danh lam”. Nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch gắn liền với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung công chúa. Đặc biệt, quần thể di tích Phố Hiến minh chứng cho một thời thịnh vượng của mảnh đất “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Tỉnh còn có đặc sản nhãn lồng, mệnh danh là vua của loài nhãn. Ảnh: Trần Việt Anh

Vĩnh Phúc (1.238,6 km2) là vùng đất cổ, cùng với Phú Thọ là những nơi sinh tụ đầu tiên của cư dân nước Việt. Tại đây có quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: Vườn Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà… Nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như: Danh thắng Tây Thiên, tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu… Ảnh: Ngọc Thành

Đà Nẵng (1.285,4 km2) được coi là “thành phố đáng sống nhất Việt Nam”, thủ phủ miền Trung gần như chia đều khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội và TP HCM, đồng thời là trung tâm kết nối 3 di sản văn hóa thế giới là cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Thành phố du lịch mang tầm vóc quốc tế, thu hút du khách năm châu nhờ bãi tắm đẹp, khu nghỉ dưỡng sang trọng và các thắng cảnh: Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Bà Nà… Cầu Vàng ở Đà Nẵng được báo Anh chọn là một trong 7 “kỳ quan mới”, những công trình có tác động tức thì tới giới trẻ trong thời đại công nghệ số. Ảnh: Hien Phung Thu/Shutterstock

Ninh Bình (1.378,1 km2), nằm ở cực nam đồng bằng sông Hồng, nối liền miền Bắc với miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ. Ninh Bình được biết đến là vùng đất cố đô Hoa Lư “địa linh, nhân kiệt” gắn liền với 3 triều đại: Đinh, Lê, Lý. Quần thể Danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, ngoài ra nơi đây cũng có hàng trăm di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc – Bích Động, Địch Lộng, Vân Trình, nhà thờ đá Phát Diệm… Ảnh: James Cao

Cần Thơ (1.409 km2) được mệnh danh là Tây Đô – thủ phủ của miền Tây Nam Bộ từ hơn trăm năm trước. Thành phố nổi tiếng với các vườn trái cây bạt ngàn ở huyện Phong Điền gắn với đặc sản dâu Hạ Châu hay chợ nổi Cái Răng buôn bán sầm uất hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Những điểm đến mà du khách không thể bỏ qua ở mảnh đất “gạo trắng nước trong” này là bến Ninh Kiều, vườn cò Bằng Lăng, nhà cổ Bình Thủy… Ảnh: Khánh Trần

Vĩnh Long (1.475 km2) nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, tỉnh có cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền và cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu. Huyện Mang Thít còn có biệt danh là “vương quốc gạch gốm”, nơi từng có hàng nghìn lò gạch dựng san sát ven sông Cổ Chiên và rạch Thầy Cai. Trải qua chặng đường dài lịch sử, nơi này được mệnh danh là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với tinh thần hiếu học, sản sinh ra những nhân vật lịch sử – văn hóa, đóng góp lớn vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Ảnh: Nhựt Long

Hải Phòng (1.527,4 km2) còn được gọi là đất Cảng hay thành phố Cảng. Hoa phượng đỏ được trồng rộng rãi cũng khiến nơi này được biết đến với mỹ danh Thành phố Hoa Phượng Đỏ. Hải Phòng có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như: Đồ Sơn, đảo Cát Bà, vịnh Lan Hạ, động Trung Trang, động Trung Sơn, động Phù Long… Trong rừng nguyên sinh Cát Bà có loài voọc đầu vàng, loài thú cực quý hiếm trên thế giới chỉ có tại Cát Bà.

Thái Bình (1.570,5 km2) được sử sách tôn vinh là “quê lúa, đất nghề” vì có cư dân sớm đông đúc, giỏi thâm canh lúa nước, đánh bắt thủy hải sản và các nghề thủ công. Tỉnh có trên 2.000 công trình nghệ thuật kiến trúc cổ đặc sắc như Chùa Keo, đình An Cố, đền Đồng Xâm, đền Đồng Bằng, đền Tiên La và Khu di tích đền thờ các vua Trần…. Hàng trăm lễ hội truyền thống theo tâm thức “sáng rối, tối chèo” cùng nhiều loại hình diễn xướng dân gian còn lưu giữ đến ngày nay. Ảnh: Trần Việt Anh

Huỳnh Nhi tổng hợp /Vietnam Express

Tuổi thơ nghịch ngợm của Mark Twain

Thuở nhỏ, Mark Twain rất nghịch. Cậu ăn trộm dưa, bơi lội trên sông Mississippi, dù việc đó bị cấm.

Sinh ra dưới một ngôi sao may mắn – chính xác hơn là một ngôi sao chổi – Mark Twain đã sống sót qua một tuổi thơ phá phách đầy trò nghịch dại, bơi trên sông Mississippi và khám phá hang động cấm. Nhưng khi cha đột ngột qua đời, cậu thiếu niên tinh quái sinh ra tại Missouri buộc phải lớn nhanh trước tuổi.

Không lâu trước khi Mark Twain ra đời, một dải sáng rực rỡ quét qua bầu trời đêm làng Florida, bang Missouri, Mỹ. Đó chính là sao chổi Halley, và phải 75 năm nữa nó mới xuất hiện trở lại.

Một số người sau này coi sự xuất hiện của sao chổi là dấu hiệu từ thiên đàng rằng một đại văn hào đã đến với thế giới. Nhưng với cha mẹ cậu, đây dường như là một điềm xấu khiến họ thấp thỏm.

Samuel Langhorne Clemens sinh non hai tháng. Khi còn nhỏ, cậu gầy gò, xanh xao và ốm yếu đến mức chính mẹ cậu đã phải thú nhận: “Tôi không thấy được triển vọng gì nơi nó cả”. Mọi người đều gọi cậu là “Bé Sammy” vì cậu quá nhỏ bé và mong manh.

Tuoi tho cua Mark Twain anh 1
Mark Twain năm 15 tuổi. Ảnh: History.

Cha của Sam – ông John Marshall Clemens – là một người nghiêm khắc không biết cười, với ước mơ phất lên trong làm ăn nhưng lại hiếm khi thành công. Khi Sam bốn tuổi, gia đình ngày càng đông đúc của cậu chuyển đến Hannibal, bang Missouri – một thị trấn cảng tấp nập trên bờ sông Mississippi. Đáng buồn thay, vận may của cha cậu không được cải thiện. Nhiều năm sau, Sam nhớ lại rằng ông chưa từng thấy cha cười dù chỉ một lần.

Mẹ của Sam là một kiểu người rất khác. Jane Clemens là người hướng ngoại. Bà yêu âm nhạc, khiêu vũ và kể chuyện. Ngoài Sam là đứa áp út, bà còn sinh sáu người con khác và nhận nuôi mười chín con mèo hoang. Phần nhiều tính cách cởi mở của Sam là thừa hưởng từ bà.

Vì Sam thường ốm liệt giường, Jane đã bồi đắp nên tình cảm mật thiết với con trai. Bà nuông chiều cậu và thường mắt nhắm mắt mở bỏ qua mỗi khi cậu bày trò nghịch ngợm – một việc thường xuyên xảy ra.

Ví dụ, khi không ai để ý, Sam thích lén thả một con rắn sọc không độc nhỏ xíu vào giỏ đồ khâu của mẹ, rồi cười khúc khích khi mẹ mở nắp giỏ và ré lên kinh hãi.

Cậu còn ăn trộm dưa hấu từ ruộng của hàng xóm và tổ chức thi nhổ hạt dưa với các anh chị em. Một lần, Sam cắn phải miếng dưa chưa chín hẳn. Cậu bị cơn đau bụng hành hạ và suýt chết vì ngộ độc.

Một địa điểm in dấu đậm nét trong những cuộc phiêu lưu thời thơ ấu của Sam là dòng sông Mississippi, chỉ cách chỗ Sam ở một dãy nhà. Mỗi ngày có ba con tàu hơi nước đậu bên bờ. Sam thường nghe thấy tiếng còi tàu và mơ về ngày trở thành hoa tiêu rong ruổi trên một trong những con tàu nguy nga đó (nhiều năm sau, Sam sẽ thực hiện được ước mơ của mình và lấy bút danh là Mark Twain, theo một thuật ngữ tàu hơi nước chỉ độ sâu hai sải, tức sâu 3,6 m nước).

Tuoi tho cua Mark Twain anh 2
Tranh vẽ Tom Sawyer – nhân vật có nhiều nét tương đồng với nhà văn khi là chú bé nghịch ngợm, hiếu động. Ảnh: Englishthrought.

Khi không có tàu đậu quanh bến, Sam thích bơi trên sông Mississippi, dù việc đó bị nghiêm cấm vì nước xiết. Cậu suýt chết đuối mấy lần, nhưng lần nào cũng được các nô lệ gốc Phi làm việc gần đó cứu sống.

Mẹ của Sam không lo lắng lắm về việc cậu mất mạng trên sông. Bà nghĩ Chúa đã chuẩn bị một hình phạt nặng hơn cho đứa trẻ bất trị đến như vậy. “Kẻ sinh ra để bị treo cổ sẽ không gặp tai nạn dưới nước”, bà thường nói.

Khi lớn hơn, Sam tìm được đồng bọn trong thị trấn để cùng chia sẻ những cuộc phiêu lưu trên và quanh dòng sông. Một trong những người bạn thời thơ ấu thân thiết nhất của cậu là Tom Blankenship. Tom có bộ dạng nhọ nhem, nhếch nhác và lúc nào cũng tìm trò gây rối. Sam yêu quý cậu như anh em ruột thịt.

Tom thường trèo qua tường rào sau nhà Sam và huýt sáo làm ám hiệu mở màn cho những cuộc phiêu lưu tai hại của hai đứa. Sau khi Sam lẻn ra khỏi cửa sổ phòng ngủ, cả hai sẽ tụ tập các thành viên còn lại trong băng nhóm: John Briggs và Will Bowen học cùng trường.

Nếu thời tiết đẹp, lũ trẻ sẽ trốn học và “mượn” thuyền của hàng xóm để chèo ra Đảo Rùa. Chúng thường ở đó cả ngày để câu cá, đào trứng rùa và hút tẩu làm từ lõi ngô.

Đôi khi bốn người bạn sẽ giả làm thổ dân, hoặc làm Robin Hood cùng nhóm Bạn – Hữu – Vui – Vẻ, hoặc làm những người săn kho báu đang đi tìm vàng bị cướp biển chôn giấu. Một trong những địa điểm tìm kiếm của cải ưa thích của bọn trẻ là một hang động đá vôi sâu hút.

Cái hang này vốn gieo nỗi kinh hoàng trong tâm trí người dân thị trấn. Theo truyền thuyết địa phương, một bác sĩ điên đã mua lại hang động trên để dùng làm nơi thực hiện những thí nghiệm kinh dị trên xác chết. Người ta đồn rằng thí nghiệm rùng rợn nhất là khi ông ta thử bảo quản thi thể của chính con gái mình trong một ống đồng chứa đầy cồn.

Người ta còn nói rằng quân đội Liên minh Miền Nam đã giấu vũ khí trong hang trong cuộc Nội chiến Mỹ, rằng tên tội phạm Jesse James đã kí tên trên vách hang, và rằng một gã du thủ du thực trong vùng đã từng lạc trong hang, phải ăn thịt dơi để sống sót.

Sam kể với mẹ về những chuyến thăm hang của mình, nhưng bà không mấy để ý. Như mọi người trong thị trấn, bà biết rằng Sam có xu hướng ba hoa.

Trích trong Thời thơ ấu của các đại văn hào / David Stabler / NXB Kim Đồng

Lời thú tội kinh hoàng

Guy de Maupassant (5/8/1850 – 6/7/1893) là nhà văn nổi tiếng người Pháp. Ông được độc giả ngưỡng mộ và có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều nhà văn nổi tiếng thế giới như: Maugham (Anh), O. Henry (Mỹ), Anton Chekhov (Nga)… Cuối đời ông mắc chứng bệnh tâm thần và qua đời vào năm 1893.

Marguerite de Therelles đã chết – mặc dù cô mới 56 tuổi. Cô thở hổn hển, da mặt trắng hơn tờ giấy; thân thể co thắt run rẩy dữ dội. Cơ mặt cô co giật, đôi mắt hốc hác, phờ phạc như nhìn thấy một ảo ảnh ghê sợ. 

Suzanne chị gái cô hơn cô 6 tuổi đang quỳ cạnh giường khóc nức nở. Một chiếc bàn nhỏ kê sát chiếc ghế dài của người phụ nữ đang hấp hối nằm trên tấm ga trắng. Hai ngọn nến được thắp sáng đang chờ vị linh mục đến để tiến hành các thủ tục tôn giáo và cầu phúc cho người chết. 

Bên ngoài bao phủ không gian u tịch buồn bã như một ánh mắt vĩnh biệt. Trong phòng những chai lọ thuốc vứt lung tung, rác rưởi được quét dồn vào góc phòng. Những chiếc ghế dường như sợ hãi chạy lung tung tứ phía. Cái chết bí ẩn, khủng khiếp mang theo những lời thú tội muộn mằn…

*

Suzanne đã từng yêu say đắm Henry de Sampierre – một  chàng trai trẻ – và cô cũng được anh dành cho tình yêu sâu nặng. Họ đã đính ước để tiến tới kết hôn. Khi ngày cưới đã đến gần thì đột ngột anh qua đời. Nỗi tuyệt vọng của cô gái trẻ nặng nề đến nỗi cô không thể vượt qua. Cô thề sẽ không bao giờ lấy ai nữa, sẽ chung thủy với anh và mặc váy áo tang tới cuối đời.

Minh họa: Lê Tiến Vượng

Vào một buổi sáng cô đang thẫn thờ ngồi trong phòng thì Marguerite, đứa em gái 12 tuổi của cô, xông vào phòng quăng mình vào lòng cô khóc nức nở: “Chị ơi! Em không muốn chị phải cô đơn, bất hạnh. Em không muốn chị khóc thương anh ấy cả đời. Em sẽ luôn bên cạnh chị không bao giờ rời xa. Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ… Em cũng sẽ không bao giờ kết hôn với ai. Em sẽ suốt đời bên chị. Luôn luôn, mãi mãi…”.

Suzanne cảm động trước tình cảm và sự hiến dâng, hy sinh của đứa em gái. Nhưng cô nghĩ đó chỉ là sự bồng bột của trẻ con nên không tin vào lời hứa đó. Không ngờ khi em cô lớn lên nó kiên quyết trung thành với lời đã hứa. Là một thiếu nữ trẻ trung rất xinh đẹp, cô em gái đã từ chối nhiều thanh niên giàu có, đẹp trai dạm hỏi mặc cho bố mẹ và chị cô khuyên nhủ, van nài. Và thực tế là hai chị em đã dành cả cuộc đời cho nhau, vì nhau. 

Đi khắp nơi họ đều có nhau như hình với bóng. Họ luôn cạnh nhau chia sẻ buồn vui. Marguerite luôn trầm ngâm, u sầu hơn chị mình. Dường như sự hy sinh tận tụy, cao cả của cô cho người chị đã tác động vào tinh thần, tâm hồn cô, ngấm ngầm phá hủy thể xác cô. Cô già đi rất nhanh. Mới 30 tuổi mà tóc đã bạc trắng. Cô thường xuyên bị đau ốm. Nhan sắc cô xuống cấp thảm hại, da cô nhăn nheo như một bà già 80 tuổi. Cô đau xót nghĩ tới việc mình sẽ chết trước chị mình. Đã 24 giờ qua cô không nói một lời nào. Khi bình minh đến, cô chỉ thì thầm: “Hãy mời linh mục đến cho tôi”.

*

Cô nằm ngửa, toàn thân co giật đau đớn, đôi môi nhấp nháy nhưng không thốt ra những lời kinh khủng đang trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Khuôn mặt cô biểu cảm sự lo lắng, run sợ ghê gớm – nếu ai được chứng kiến vào lúc này. Còn Suzanne quá đau khổ, quẫn trí. Trán cô gục vào thành giường cay đắng khóc, lặp đi lặp lại những lời nhầm lẫn: “Marrgot (tên thân mật của em gái)! Marrgot… tội nghiệp con tôi, đứa con bé bỏng của tôi”. Cô luôn miệng gọi em gái là con.

Có tiếng bước chân bước lên cầu thang và cánh cửa phòng mở ra. Đi sau người trợ tế là linh mục già trong trang phục áo tế. Ngay khi nhìn thấy ông, người ốm bất ngờ ngồi dậy hé môi lắp bắp điều gì đó rồi hai bàn tay cào cấu vào ga trải giường. Cha Simon cúi xuống giữ lấy tay cô rồi hôn lên trán cô, giọng dịu dàng: “Xin Chúa tha thứ cho tội lỗi của con! Con gái của ta. Hãy can đảm lên. Giờ là lúc để con xưng tội với Chúa. Hãy nói ra đừng e sợ…”.

Marguerite thoáng rùng mình từ đầu đến chân mạnh đến nỗi làm chiếc giường rung lên. Cô thở hổn hển nói: “Hãy ngồi thẳng lên chị yêu quý của em, và hãy lắng nghe em nói đây!”. Vị linh mục cúi về phía Suzanne đang phủ phục nâng cô ngồi dậy và đỡ cô ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường. Hai tay ông nắm lấy mỗi tay của hai chị em rồi trịnh trọng tuyên bố: “Lạy Chúa lòng lành! Hãy cho họ sức mạnh. Hãy thương xót họ”.

Và Marguerite bắt đầu nói từng từ một rời rạc, run rẩy, giật giật, khàn khàn: “Xin lỗi… xin lỗi chị của em… xin lỗi… Ôi! Nếu chị biết em đã sợ khoảnh khắc này đến thế nào?”.

Suzanne môi run run ấp úng qua những giọt nước mắt: “Em nói gì vậy? Em không có một chút lỗi nào mà phải xin chị tha thứ. Em đã dành cuộc đời em cho chị, hy sinh tất cả vì chị. Em là thiên thần giáng thế”. Marguerite hơi gắt lên ngắt lời chị: “Im lặng! Hãy để em nói đừng cản trở làm đứt đoạn. Thật khủng khiếp! Hãy để em kể tất cả, tới lời cuối cùng. Chị hãy lắng nghe và nhớ lấy. Chị… chị… có nhớ Henry, anh Henry ấy…”. Suzanne run run nhìn em gái tiếp tục câu chuyện.

“Em quyết định nói cho chị hiểu tất cả mọi thứ. Khi em 12 tuổi, mới 12 tuổi chị nhớ chứ? Em đã hư hỏng… mọi người đã làm hại em, quá chiều chuộng em, em đòi gì được nấy cốt để em hài lòng… chị biết rồi đấy! Lần đầu tiên anh Henry đến. Khi anh xuống ngựa chân anh mang đôi ủng đỏ bóng lộn, chị nhớ không? Đừng nói, hãy nghe đã. Anh ấy đã gây ấn tượng mạnh và thu hút sự chú ý của em. Em ngưỡng mộ ngắm nghía không rời mắt trang phục và nét mặt cực kỳ đẹp trai của anh ấy. Em đã ngồi trong góc phòng khách say mê nuốt từng lời anh nói chuyện. Trẻ con thật lạ với những mơ ước viển vông. Em đã mơ ước về anh ấy. Mỗi lần anh ấy đến em nhìn anh ấy bằng cả trái tim. Chị biết rồi đấy. Tuy em mới 12 tuổi nhưng em đã phổng phao như một thiếu nữ. Anh ấy luôn trong ý nghĩ của em. Em thường thì thầm gọi tên anh ấy – Henry, Henry de Sampierre!

Rồi em được thông báo anh ấy sẽ cưới chị. Một cú đánh, một cú đánh khủng khiếp vào tâm trí em. Ba đêm liền em đã thức trắng, quằn quại, đau khổ… Vào một buổi chiều chị nhớ chứ? Chị đã làm những chiếc bánh với bơ và sữa mà anh ấy thích. Anh thong thả nhấm nháp, thỉnh thoảng hớp một ngụm bia miệng xuýt xoa: Chà chà! Ngon tuyệt, ngon quá! Chắc chị vẫn nhớ cái cách anh ấy nói. Em đã ghen tỵ, ghen kinh khủng. Ngày cưới của chị đang đến gần – chỉ còn nửa tháng nữa thôi. Em bị phân tâm, quẫn trí tự nhủ: Anh sẽ không cưới Suzanne, không thể. Anh ấy sẽ cưới mình khi mình đủ tuổi. Mình sẽ không bao giờ chịu cho ai chia nửa phần của anh ấy.

Vào một buổi tối mười ngày trước đám cưới, chị đã đi dạo với anh ấy dưới ánh trăng. Hai người đứng tựa vào gốc cây thông lớn và anh ấy đã ôm hôn chị. Cái hôn thật lâu, thật lâu như dài hàng thế kỷ. Đó là cái hôn đầu tiên của chị có đúng không? Khi chị trở lại phòng khách da mặt chị tái mét trông rất xanh xao. Em đã nấp trong bụi cây gần đó theo dõi từ đầu đến cuối. Cơn thịnh nộ trào lên trong lòng cùng ý nghĩ độc ác: Anh ta sẽ không bao giờ cưới được Suzanne, không bao giờ.

Ta sẽ không cho anh ta cưới ai cả. Từ buổi đó em đã ghen ghét anh ấy ghê gớm đến không chịu nổi…

*

Và chị có biết em đã làm gì không? Hãy nghe đây! Một lần em thấy người làm vườn đập những chai thủy tinh rồi lấy đá nghiền nát trộn với thịt nặn thành những chiếc bánh nhỏ đặt lên những mô đất để giết lũ chó hoang hay vào vườn phá hoại cây quả. Em đã lấy một chai thuốc vỏ thủy tinh từ phòng mẹ lấy búa đập nát nghiền đến khi thành thứ bột mịn lấp lánh. Em dùng chiếc dao sắc bổ đôi chiếc bánh rắc bột vào đó rồi nặn lại. Anh ấy đã ăn 3 cái, em ăn 1 cái để xem tác dụng. Còn 2 cái em ném xuống hồ nước. Hai con thiên nga ăn phải đã chết 3 ngày sau đó. Chị nhớ không? 

Ôi! Đừng nói, đừng nói lời nào hết. Em không chết nhưng ốm dai dẳng. Còn Henry đã chết vài ngày sau đó. Nhưng đó không phải là điều tồi tệ nhất. Tội ác lương tâm đã cắn xé suốt cuộc đời em, liên tục, kinh hoàng… và em xứng đáng nhận hình phạt đó vì tội lỗi man rợ của mình. Để bù đắp phần nào cho chị, em tự nhủ mình sẽ không bao giờ xa chị mình cho tới lúc lâm chung. Em nghĩ vào một ngày nào đó mình sẽ thú tội trước khi chết. Và giờ đây nó đã đến. Thật khủng khiếp. 

Ôi chị! Chị của em. Em không còn điều gì để nói nữa… Chỉ một lát nữa thôi là em chết. Em đang dần dần chết đây. Nghĩ đến giây phút gặp lại Henry dưới cõi âm, em vô cùng lo sợ chỉ dám âm ỷ trong ý nghĩ. Làm sao em dám gặp anh ấy khi chị không tha thứ cho em? Em cầu khẩn, van nài chị tha thứ cho em trước khi em nhắm mắt xuôi tay. Ôi! Chị hãy nói với anh ấy tha thứ cho em. Em không thể chết nếu không nhận được lời tha thứ từ chị…”. Cô trở mình nằm ngửa thở hổn hển, hai tay cào cấu chiếc ga trắng trải giường như muốn xé nó vụn ra.

Suzanne úp hai bàn tay vào mặt không nhúc nhích. Cô đang nghĩ, đang tưởng tượng về thời gan dài khi cô và Henry yêu nhau. Họ đã mường tượng ra một cuộc sống sau này tràn trề hạnh phúc. Cơ hội đó đã mất đi vĩnh viễn, chỉ còn lại những hình ảnh mờ nhạt xa xôi như một tiếng vang. Nó đang trỗi dậy giày xéo, vò nát trái tim cô. Một đời người, một nụ hôn đầu tiên đã dai dẳng, giữ mãi trong tâm hồn cô. Đó là điều khiến cô tồn tại – ngoài ra chẳng có điều gì khác có ý nghĩa.

Vị linh mục bất ngờ đứng dậy thông báo trịnh trọng với giọng cứng cỏi: “Suzanne! Em gái con đang hấp hối”.

Mademoiselle Suzanne giật mình ngửng khuôn mặt đẫm nước mắt lên, vòng hai tay ôm chặt lấy em gái vội vã như sợ em mình không kịp nghe: “Ôi em gái! Em gái đáng thương của chị. Hãy chờ một chút, hãy chờ một giây thôi… Chị tha thứ cho em!”.

Đinh Đức Cần (dịch)Guy de Maupassant (Pháp) /Vannghe CA

5 tính xấu của con người qua góc nhìn Phật giáo

Tham lam, Sân hận (nóng giận), kiêu ngạo, ghen tị, lười biếng – đó là 5 tính xấu của con người. Mỗi người thường có đủ cả 5 tính này, tuy nhiên mức độ  khác nhau. Trong đó có một tính luôn là mạnh  nhất, bởi mỗi người được sinh ra dưới một đặc tính này – như là một bản năng.

5 tính xấu của con người qua góc nhìn Phật giáo

Bạn thuộc loại nào? Nếu biết được, điều này sẽ giúp bạn rất nhiều. Bởi khi bạn hiểu mình là ai, bản năng của mình là gì, và điều chỉnh cho cái xấu giảm bớt, thì điểm mạnh của bản năng sẽ trỗi dậy. Giống như một chiếc gậy có 2 đầu nặng và nhẹ, bản năng có mặt xấu và tốt.

Tham lam

Mẫu người Tham lam sống bằng việc theo đuổi cái mình thích. Họ thích nhiều thứ, hết thứ này đến thứ khác. Còn thích thì theo đuổi bằng được. Hết thích là thôi.  Họ lại theo một điều mới. “Cả thèm chóng chán”  – là câu hay được gán cho kiểu người này

Có những cái rất thích – có thể trở thành nghiện ngập, say mê …

Nhạy cảm và nhạy cảm với cảm xúc của người khác vừa là điểm mạnh, vừa là điểm yếu của người Liên hoa bộ. Bạn có thể có tình thương bao la với mọi người,  cảm nhận và thấu hiểu nỗi đau của họ. Điểm yếu là bạn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của những người xung quanh quá nhiều, dẫn đến có thể làm thay đổi những hành vi của mình, trong khi nếu sáng suốt, bạn sẽ lựa chọn hành vi khác

Vì nhạy cảm, nên bạn có khả năng quan sát tốt, phân tích và cặn kẽ các vấn đề

Sân hận

Khuôn mẫu là đặc điểm của kiểu người Sân hận.

Mọi thứ trong cuộc sống của bạn và những người xung quanh bạn cần phải theo khuôn mẫu. Bất cứ cái gì ngoài khuôn mẫu đều gây cho bạn sự khó chịu, bực tức.

Và cuộc sống thì thường có bao giờ như ý, nên người Sân hận bộ hay nóng giận là vì thế.

Giận dữ, khó chịu thường chỉ mang lại cho chính bản thân sự mất bình tĩnh, hành động theo cảm xúc, và gây tổn thương cho người khác

Mẫu người Sân hận có điểm mạnh là sáng suốt và bình tĩnh. Trí tuệ tấm gương – mọi thứ diễn ra phản chiếu như một tấm gương. Nếu bạn bỏ đi được điểm yếu, điểm mạnh sẽ lộ ra.

Ghen tị

Mẫu người Ghen tị luôn muốn hơn người khác, không muốn ai hơn mình nên luôn luôn cố để được hơn người khác

Điểm mạnh là họ có sức mạnh để làm được điều mình muốn

Tuy nhiên ghen tị sẽ có thể che mờ các điều đúng đắn, vì thế chỉ nên giữ lại cho mình sức mạnh để làm điều mình muốn, còn bỏ đi lòng ghen tị sẽ khiến bạn hạnh phúc.

Kiêu ngạo 

Mẫu người Kiêu ngạo mặc nhiên coi mình hơn người khác, không cần lý do. Điều này khiến cho họ thường là người tự tin.

Điểm mạnh của họ là hòa đồng và hào phóng.

Điểm yếu của họ là quá kiêu ngạo nên có thể sẽ thiếu cảm thông và thấu hiểu.

Lười biếng

Mẫu người Lười biếng ít cho cái gì là quan trọng. Quan trọng thì mới làm, không quan trọng thì không làm. Điểm mạnh là họ hiểu và thấy bản chất của mọi việc.

*      *

*

Mỗi người khi sinh ra đã thuộc về một bộ – đó là bản năng, là xu hướng tất yếu. Vì thế cùng một hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, nhưng bản năng khác nhau tạo ra những con người với tư duy và hành vi khác nhau. Giáo dục và môi trường có ảnh hưởng nhiều đến mỗi người.

Vì vậy để hiểu chính xác bản năng của mình là gì, cần quan sát thật kỹ

Tuy nhiên chuyển hóa mặt xấu của bản năng như thế nào, hướng về mặt tốt như thế nào là tùy thuộc mỗi người

Ngoài ra, mỗi người không chỉ có 1 tính, mà thực chất có đầy đủ cả 5 tính trên, trong đó có 1 tính mạnh nhất. Có người có 2 tính mạnh, 1 chính 1 phụ.  Với 5 loại và vô vàn cấp độ, tạo ra vô vàn kiểu người khác nhau.

Bạn là ai? Hãy đối diện với những thói xấu bên trong ta và chuyển hóa chúng ngay trong cuộc sống hàng ngày

S.T / Theo Red VN

Doanh nhân Bạch Thái Bưởi trong con mắt vua Khải Định

Vào cuối thế kỷ 20, khi nhắc đến những người giàu có nhất của đất Việt, người dân thường truyền miệng nhau câu nói “nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Bưởi”. Nhân vật thứ tư được nhắc đến trong câu nói này là Doanh nhân Bạch Thái Bưởi, tuy đứng cuối cùng trong bốn người Việt Nam giàu nhất, nhưng Bạch Thái Bưởi luôn được người dân, các học giả, các nhà sử học, thậm chí là được vua Khải Định ca ngợi, kính trọng.

Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 trong một gia đình nông dân ở làng Yên Phú, Thanh Trì, Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Doanh nhân Bạch Thái Bưởi.

Nhà nghèo nhưng ông vẫn được cha mẹ cố gắng cho học chữ quốc ngữ, chữ Pháp. Hằng ngày, chàng trai Bạch Thái Bưởi thường đi vớt củi trầm hương ở sông Nhuệ. Tiền bán cây trầm hương vớt được trên sông, chính là những khoản vốn liếng đầu tiên để ông khởi nghiệp. Thạo tiếng Pháp, giỏi tính toán, anh nghỉ học làm thư ký cho Công sứ Bonnet – người Pháp ở phố Tràng Tiền, Hà Nội. Vì thế người đời đã gọi ông là “cậu ký Bưởi”.

Xuất thân là một thư ký cho viên công sứ Pháp Bonnet, đến năm 20 tuổi, Bạch Thái Bưởi bắt đầu quan tâm đến việc kinh doanh.

Nhờ tư chất thông minh, năm 21 tuổi, Phủ Thống Sứ Bắc Kỳ cử ông sang Pháp dự hội chợ Bordeaux. Trong những ngày ở Pháp, không như những người khác dành thời gian du hí đây đó, Bạch Thái Bưởi nỗ lực tìm hiểu, học hỏi cung cách buôn bán, cách tổ chức và quản lý sản xuất, nghệ thuật khuếch trương thương nghiệp…

Ông đi đâu, đến chỗ nào, cũng hí hoáy ghi chép. Trên chuyến tàu trở về nước, trong đầu Bạch Thái Bưởi đã định hình rõ con đường phía trước mà ông sẽ đi. Đó là con đường kinh doanh. Và quyết định nghỉ việc tại hãng thầu công chánh được xem là điểm khởi đầu cho sự nghiệp của Bạch Thái Bưởi.

Ông nhìn ra cơ hội kiếm tiền bằng cách trở thành đối tác chính cung cấp tà vẹt cho dự án xây dựng đường sắt lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ là đường sắt xuyên Việt Bắc – Trung – Nam và chiếc cầu bắc qua sông Cái (sông Hồng) là cầu Doumer (cầu Long Biên ngày nay).

Bạch Thái Bưởi đã dồn tất cả vốn liếng, trong suốt 3 năm, ông lặn lội khắp núi rừng tìm gỗ tốt làm tà-vẹt bán cho Sở Hỏa xa Đông Dương. Năm 1902, cầu Doumer được khánh thành, thiên hạ khắp nơi đổ về xem cầu như đi trẩy hội. Khi ấy, Bạch Thái Bưởi đã trở nên rất giàu có.

Tàu Bình Chuẩn trong lễ hạ thủy.

Không để đồng tiền trong túi mình ngủ yên, khoảng năm 1908 – 1909, Bạch Thái Bưởi đã quyết định chuyển hướng sang kinh doanh vận tải đường thủy, nơi mà những thương nhân Hoa Kiều gần như đang độc quyền chiếm lĩnh.

Ông lập công ty hàng hải mang tên mình là Bạch Thái Bưởi, thuê lại 3 chiếc Phenix, Dragron và Fai Tsi Long. Ông đổi tên chúng thành: Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long để kinh doanh vận tải đường thủy trên hai tuyến Nam Định – Bến Thủy (Nghệ An) và Nam Định – Hà Nội.

Dù vấp phải sự cạnh tranh không khoan nhượng đến từ các đối thủ là các công ty người Pháp và người Hoa, nhưng với ý chí quật cường, sự tài trí kết hợp khôn khéo, khách đi tàu của Bạch Thái Bưởi mỗi ngày một đông hơn. Đội tàu của ông ngày càng mạnh, các tuyến đường khai thác ngày càng vươn tới nhiều miền đất mới.

Năm Kỷ Mùi (1919), nhân chuyến ngự giá ra Bắc, vua Khải Định đã được nghe tiếng về Công ty Bạch Thái Bưởi. Trong buổi họp triều, vua Khải Định đã bàn với quần thần về công ty của ông. Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, quyển 4, điều 442 còn ghi chép lại như sau: “Trẫm Bắc tuần thấy thành phố Hà Nội chỉ có hai công ty Bạch Thái Bưởi và Nam Sinh đáng gọi là buôn bán lớn, ngoài ra cũng nhiều người nghèo khổ, việc sinh sống lại không bằng Trung Kỳ phần đông đều được bình thường”.

Bạch Thái Bưởi và khát vọng “ra biển lớn”.

Lại trong một buổi thiết triều khác vào giữa tháng 11.1920, vua Khải Định đã phê bảo quan Bộ Lại, Sách Khải Định chính yếu sơ tập, quyển 6, có viết: “Các nước khác sở dĩ trở nên giàu có, hùng mạnh đều là nhờ họ có được nhân tài để phát minh ra những máy móc tinh xảo, văn minh. Nước ta thì thuần chất quá, ít kiến thức, việc gì cũng chỉ làm theo sau các nước. Trẫm luôn coi đó là một mối lo ngại sâu sắc. May nhờ được quý bảo hộ dẫn dắt nên tình trạng dân ta cũng khá lên được một hai phần, trẫm rất lấy làm mừng, đáng nêu khen thưởng để khuyến khích.

Xem như việc Bạch Thái Bưởi ở Bắc kỳ mới chế tạo được chiếc tàu thủy gọi là Bình Chuẩn rất khéo, tốt không thua kém gì công nghệ bên châu Âu. Chiếc tàu này là do tay thợ nổi tiếng Nguyễn Văn Phúc làm ra, cả chủ và thợ đều là người Nam ta cả. Ngày 23 tháng 7 vừa qua, khi trẫm tới thăm Quý Toàn quyền và tham quan tàu chiến ở Đà Nẵng thì vừa gặp lúc tàu này cũng vừa cập bến vào cảng nên có may mắn được ngắm xem, quả nhiên tàu ấy là do chủ ta, thợ ta đồng lòng hợp sức mà chế tạo ra.

Nước ta vốn dĩ của ít thợ vụng. Nếu không có Bưởi dám bỏ tiền của ra thì đâu có việc cho Phúc thi thố, mà không có tài khéo của Phúc thì tiền của Bưởi cũng thành uổng phí mà thôi. Hai người này đã nêu cao tấm gương về sự tiến bộ văn minh cho người nước ta mai sau soi vào. Vậy truyền chuẩn thưởng cho Bạch Thái Bưởi hàm Thị độc Hàn Lâm viện, Nguyễn Văn Phúc hàm Kiểm thảo Hàn Lâm viện, để hai người được đội ơn mà càng thêm khích lệ phấn đấu hơn”.

Cầu Doumer (cầu Long Biên ngày nay) là điểm khởi đầu cho sự nghiệp lừng lẫy của Bạch Thái Bưởi.

Việc Bạch Thái Bưởi được vị vua thứ 12 của triều Nguyễn ban hàm Thị độc Hàn Lâm viện, cũng được sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, quyển 5, điều 640 chép rằng: “Tháng 11, chuẩn thưởng cho người Bắc Kỳ là Bạch Thái Bưởi hàm Thị độc Hàn Lâm viện, Nguyễn Văn Phúc hàm Kiểm thảo Hàn Lâm viện vì chế tạo được tàu máy Bình Chuẩn (tên tàu). Chủ tàu là Thái Bưởi tự xuất tiền bạc cùng thợ dưới tàu là Văn Phúc vận dụng trí tuệ chế ra chiếc tàu máy mới, so với tài khéo của người Âu xem ra không thua kém bao nhiêu. Lúc đầu, vua ngự giá tới Đà Nẵng ngự lãm chiến thuyền, gặp lúc tàu của Thái Bưởi neo ở vụng Trà Sơn, vua nhân xuống xem, nên đặc biệt khen thưởng ban cho hàm ấy để tỏ ý khuyến khích”.

Con tàu Bình Chuẩn được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp kinh doanh vận tải đường thủy của Bạch Thái Bưởi. Con tàu này dài 42m, trọng tải 600 tấn, động cơ 400 mã lực, được hạ thủy vào 7.9.1919 tại Cửa Cấm (Hải Phòng).

Khu mộ của gia tộc họ Bạch ở hồ Yên Trung, TP Uông Bí.

Không chỉ nổi tiếng là doanh nhân giàu có, gia đình Bạch Thái Bưởi còn rất siêng năng làm từ thiện. Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, quyển 4, điều 632 cho biết: “Ngày 21, vua coi triều. Thượng thư Bộ Lại kiêm Bộ Hộ Nguyễn Hữu Bài tâu: “Khánh Hòa bị bão, nhà bị tốc mái rất nhiều, Thanh Hóa cũng bị lụt lớn, các phủ huyện đều bị tổn hại mà Thiệu Hóa là nặng nhất… Vua nói: “Quảng Nam thế nào?”. Nguyễn Hữu Bài tâu: “Quảng Nam chỉ có Tiên Phước đói lớn, duyên do là vì hạt ấy trước nay chỉ dựa vào mối lợi lớn của trà và quế. Nay những sản vật ấy không bán được, không có gì tư cấp nên như thế”. Vua nói: “tiền quyên góp ở Quảng Nam hiện còn 3.000 đồng, cùng số nguyên trích 5.000 đồng và mẹ Bạch Thái Bưởi quyên 1.000 đồng, nên lập tức tư cho tỉnh ấy mau lẹ tiến hành cấp phát”.

Có thể nói, Bạch Thái Bưởi là người có gan làm giàu, từ hai bàn tay trắng đã làm nên nghiệp lớn. Gần 100 năm trôi qua, nhưng bài học mà Bạch Thái Bưởi để lại về sự nhạy bén trong kinh doanh, ý chí vượt khó, tự tin giong buồm ra biển lớn vẫn còn nguyên giá trị. Ông xứng đáng là ngọn cờ đầu trong ngành thương nghiệp nước nhà để các hậu bối noi theo.

Thơm Quang / Người Đô Thị