Ai ‘núp’ sau đội quân KOL tạo ra các cuộc chiến thông tin trên Facebook?

Ở Việt Nam, nơi chính phủ đang có cuộc chiến khốc liệt chống lại những tiếng nói bất đồng, những “người có ảnh hưởng” trên mạng xã hội (KOL) thường là bộ đội, chứ không phải người nổi tiếng, theo Reuters.

Lực lượng 47, được biết đến với vai trò là đơn vị đấu tranh trên không gian mạng của quân đội Việt Nam, bao gồm hàng nghìn binh sĩ, ngoài nhiệm vụ thông thường, họ còn thiết lập, kiểm duyệt và đăng tải thông tin trên các trang Facebook ủng hộ nhà nước, và điều chỉnh những “quan điểm sai trái”.

Theo đánh giá của Reuters, Lực lượng 47 kể từ khi thành lập vào năm 2016 đã thiết lập hàng trăm nhóm và trang Facebook, đồng thời xuất bản hàng nghìn bài báo và bài đăng ủng hộ chính phủ.

Các nhà nghiên cứu truyền thông xã hội cho biết Lực lượng 47 của Việt Nam có thể là mạng lưới ảnh hưởng nhất và phức tạp nhất ở Đông Nam Á. Lực lượng này hiện đang đóng một vai trò quan trọng trong cuộc xung đột ngày càng gay gắt giữa Việt Nam với Facebook.

Một nguồn tin từ Facebook cho Reuters biết công ty này đã xóa một nhóm có tên “E47”. Nhóm này đã huy động thành viên trong và ngoài quân đội để báo cáo các bài đăng mà họ không thích lên Facebook nhằm khiến chúng bị gỡ bỏ. Nguồn tin cho biết nhóm này có liên quan đến Lực lượng 47.

Vietnam, censorship, Facebook, KOL

Nhưng nhiều tài khoản và nhóm trên Facebook của Lực lượng 47 vẫn hoạt động, theo điều tra của Reuters. Vì chúng được vận hành bởi người dùng dưới tên thật của họ nên chúng không vi phạm các chính sách của Facebook.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã không trả lời ngay lập tức yêu cầu bình luận của Reuters về vụ việc này.

Không giống như ở quốc gia láng giềng Trung Quốc, Facebook không bị chặn ở Việt Nam, nơi có từ 60 đến 70 triệu người dùng. Đây là nền tảng chính của Việt Nam cho thương mại điện tử và tạo ra khoảng 1 tỷ đô la doanh thu hàng năm cho Facebook.

Vietnam, censorship, Facebook, KOL

Ông Điền Lượng, một thành viên của Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore, nói rằng Việt Nam không có đủ tiềm lực để duy trì một “Tường lửa” kiểu Trung Quốc cũng như phát triển các mạng xã hội địa phương.

“Điều này đã mở đường cho Facebook trở thành nền tảng được lựa chọn cho Lực lượng 47 để bảo vệ đường lối của đảng, định hình dư luận và truyền bá tư tưởng của nhà nước.”

‘Kỹ năng và ý thức’

Lực lượng 47 lấy tên từ Chỉ thị 47, một văn bản do Tổng cục Chính trị của quân đội Việt Nam ban hành vào ngày 8/1/2016.

Các nhà phân tích nói rằng nó được tạo ra như một giải pháp thay thế cho việc thuê “dư luận viên” – vốn hoạt động ở quy mô nhỏ hơn, ít thành công hơn.

“Các ‘dư luận viên’ không được đào tạo bài bản về tư tưởng của Đảng hoặc không bảo thủ như lực lượng quân đội, nên hiệu quả hoạt động của họ không được như mong đợi. Lực lượng 47 ít tốn kém hơn. Các viên chức quân đội coi đó là một phần công việc của họ và không yêu cầu phụ cấp,” Nguyễn Thế Phương, nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Sài Gòn, nói.

Quy mô của Lực lượng 47 không rõ ràng, nhưng vào năm 2017, Tổng phụ trách của đơn vị này lúc đó là Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết có 10.000 thành viên “đỏ và có năng lực”. Con số thực có thể cao hơn nhiều.

Hiện nay ông Nghĩa đứng đầu cánh tay tuyên truyền chính của Đảng. Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam gần đây đã ban hành quy tắc ứng xử trên mạng xã hội gần giống với chỉ thị của Lực lượng 47, kêu gọi mọi người đăng bài về những “việc tốt” và cấm bất cứ điều gì ảnh hưởng đến “lợi ích của nhà nước.”

‘Cuộc chiến trên Internet’

Vào tháng Ba, các hội nghị được tổ chức tại các căn cứ quân sự trên khắp Việt Nam để đánh dấu 5 năm kể từ khi Lực lượng 47 được thành lập, Reuters cho hay.

Báo chí nhà nước đưa tin về các cuộc họp có tên ít nhất 15 trang và nhóm Facebook do Lực lượng 47 kiểm soát, có hơn 300.000 người theo dõi, theo phân tích của Reuters.

Getty Images

Ngoài Facebook, Lực lượng 47 tạo ra các địa chỉ Gmail và Yahoo ẩn danh, các tài khoản trên YouTube và Twitter của Google.

Nhiều nhóm Facebook mà Reuters quan sát đã thể hiện tình yêu nước với những cái tên như “Tôi yêu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Việt Nam trong trái tim tôi”, “Tiếng nói của Tổ quốc” và “Tin vào Đảng”.

Các bài viết đăng trên các nhóm này đa dạng, nhiều bài ca ngợi quân đội Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh, hoặc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Một số đăng ảnh chụp màn hình những ‘thông tin sai trái’ của người dùng Facebook khác, bị gạch chéo màu đỏ.

Dhevy Sivaprakasam, cố vấn chính sách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của tổ chức Quyền internet Access Now, nói: “Những điều này đang diễn ra ở Việt Nam thật đáng sợ và mức độ trừng phạt đang gia tăng”.

“Chúng tôi đang chứng kiến thực tế đang xảy ra tại nơi người dân không an toàn để nói chuyện tự do trên mạng và nơi không có khái niệm về quyền riêng tư của cá nhân.”

BBC

Trái cây chín mọng trong trang trại của vợ chồng Việt – Pháp

PHÁPĐược thừa hưởng từ ông bà nội chồng trang trại 80 hecta, vợ chồng chị Ngô Phương chỉ sử dụng một phần vườn quả, mỗi lần về thăm thu hái cả xe.29

Vợ chồng chị Phương quen và yêu nhau khi cùng là nghiên cứu sinh ngành sinh thái học môi trường, tại Đại học Pierre&Marie Curie (Pháp). Lần đầu tiên được anh dẫn về quê nhà tại vùng Champagne, chị mê mẩn trước những cánh đồng lúa mì bạt ngàn, vườn trái sum suê.

“Khi biết đó là đất của gia đình anh tôi đã rất ngạc nhiên vì diện tích quá rộng, bao gồm 60 hecta đất nông nghiệp và 20 hecta đất lâm nghiệp. Tuy nhiên sau này tôi mới biết như thế là bình thường vì bên này đất rộng người thưa và cơ giới hóa, nên một gia đình làm nông có thể đảm đương được hàng trăm hecta”, chị Phương chia sẻ.

Tại đây, họ trồng cấy theo kiểu thuận tự nhiên, không dùng phân bón hóa học, chỉ dùng phân ủ hữu cơ từ cành lá cây. Mùa đông lạnh, tuyết kéo dài sẽ tiêu diệt mầm bệnh trong đất. Khi xuân sang, tuyết tan sẽ là nguồn nước cung cấp cho cây. Cuối thu, gia đình chị chỉ phải cào lá và quả rụng, để giữ cho gốc cây luôn sạch. Cây trồng cách xa nhau để tránh lây bệnh chéo và đón được nhiều nắng.

“Chính vì vậy vườn luôn nhiều ong bướm, chim muông thụ phấn cho cây đơm hoa, kết quả. Điều này đồng nghĩa chim và ong cũng sẽ ăn quả, nhưng không ai đuổi hết. Nhà chúng tôi quan niệm người và chim cùng được hưởng”, chị cho hay.

Vợ chồng chị Phương thường về trang trại vào dịp nghỉ xuân, hè và cuối tuần. Những dịp này trùng với mùa thu hoạch các loại quả.

Mùa hè là mùa của các loại đào, mận. Đây là loại mận ngọt có nguồn gốc từ vùng Alsace của nước Pháp, làm bánh hay mứt đều ngon.

Đây là giống mận vàng mirabelle siêu ngọt – được xem như biểu tượng của miền đông bắc nước Pháp. Vườn có hai cây to, cho hàng tạ quả mỗi năm. Mỗi lần về lấy ngoài ăn và làm bánh, chị Phương còn làm mứt để ăn quanh năm.

“Thích nhất là lúc rung cho những quả chín mọng nhất rơi xuống cỏ. Con gái lớn nhanh nhảu nhặt quả vào thùng, miệng líu lô. ‘Đi siêu thị cũng không thể mua được những quả chín cây siêu ngọt thế’”, chị kể.

Sang thu, khu vườn la liệt các loại lê, táo. Nhà chị Phương trồng nhiều giống táo khác nhau, mỗi loại lại cho thu hoạch vào từng thời điểm, kéo dài từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 12.

Trong vườn còn có nhiều loại nho chuỗi ngọc, dâu tây, mâm xôi, cherry… Những loại này ăn ngon và còn rất hợp trang trí các loại bánh.

Một thú vui khác của gia đình là vào rừng nhặt hạt dẻ, óc chó, hái nấm. Trong đó có loại nấm thông, mọc dưới gốc cây sồi rất ngon. Những lần hái được nhiều ăn không xuể, chị xào qua với tỏi rồi cấp đông ăn dần.

Mỗi lần về trang trại, vợ chồng chị Phương khuân về đầy xe hoa quả và các loại hạt, nấm. Đặc biệt vào mùa táo, nhiều lúc ông bà chở lên cho gia đình chị cả thùng xe hơn 50 kg. Nhà chị thường trữ táo và các loại hạt dưới tầng hầm suốt mùa đông, với nhiệt độ chỉ khoảng 3 độ C. Có giống táo thậm chí trữ được 9 tháng.

Trong những ngày đông giá rét này, cả nhà chị Phương thích nhất là nhâm nhi hạt dẻ nóng với ly rượu vang và vài lát bánh táo. “Nghề nông ở đâu cũng là nghề vất vả, đặc biệt là chăn nuôi, phải thức khuya dậy sớm, đối mặt với mất mùa, dịch bệnh… Gia đình mình hài lòng với cuộc sống hiện tại với công việc ở thành phố ven biển, có nhà vườn rộng rãi và thi thoảng về trang trại”, chị Phương chia sẻ.

Phan Dương /Ảnh: Ngo Phuong

Người Bắc vào Nam nửa đầu thế kỷ 20

Phạm công Luận

Từ năm 1910, đã có người Bắc vào Sài Gòn làm ăn sinh sống nhưng số lượng rất ít, chỉ có vài công chức bị thuyên chuyển hoặc những người có chuyện bất mãn ngoài đó nên tìm vào. Ký giả Vũ Xuân Tự kể: Một ông cụ người Bắc vào rất sớm đã than vãn là đầu thập niên 1920, ông mới vào Sài Gòn, đi hàng nửa ngày trời mới gặp được một người Bắc, rất vui mừng. Từ năm 1920 đến 1928, số người Bắc vào Nam phần lớn lại là người đang có công ăn việc làm hoặc buôn bán, hoặc có chuyện phải bỏ xứ. Họ trở thành lớp người Bắc khá giả ở thập niên 1940 nhờ vào sớm còn nhiều thuận lợi.

Từ thập niên 1930 đến 1940, người Bắc vào ngày càng đông. Người khôn của khó, người mới vào không còn thuận lợi như trước nữa, nhất là nhằm lúc kinh tế đang khủng hoảng. Tuy vậy, cũng có ba người từ tay trắng trở nên giàu có ở Sài Gòn là chủ hiệu sách Tín Đức và hai tiệm may Hòa San và An Thành.

Trước khi khánh thành đường xe lửa xuyên Đông Dương, người Bắc ở Sài Gòn đã có trên mười mấy ngàn người. Sau do giao thông thuận tiện hơn, con số ấy càng tăng. Hội Giác Quang tự, Bắc Kỳ nghĩa trang và Bắc Kỳ ái hữu là ba hội được phép thành lập ở Sài Gòn, tuy có liên quan đến “đền chùa” nhưng có giúp đỡ cho người đồng xứ chẳng may thất lộc nơi xứ xa. Dù sao, người Bắc ở Sài Gòn tự hoạt động kinh doanh là chính, tạo dựng được sự nghiệp, gây nhiều cảm tình cho người Nam để càng lúc càng hiểu nhau hơn. Cho đến đầu thập niên 1940, hầu như lĩnh vực nào ở miền Nam đều có người Bắc tham gia.

Hội đồng hương làng Lai Xá từ Hà Tây vào, mở nhiều tiệm ảnh có tiếng ở Sài Gòn (Ảnh: Đinh Tiến Mậu)

Giới viết lách là những người thông tin khá cặn kẽ về chuyện làm ăn sinh sống cùng những chuyện đồng nhất và khác biệt giữa đời sống, sinh hoạt, phong tục hai miền cho đồng bào xứ Bắc biết về miền Nam, vùng đất mới nhiều hứa hẹn. Họ còn dẫn chứng nhiều trường hợp thành công của người miền Bắc đi trước. Có người như ký giả Yên Sơn từ miền Bắc vào sống ở Sài Gòn, ghi nhận khá tỉ mỉ cuộc sống đời thường của xã hội, rồi về Hà Nội tổ chức diễn thuyết mấy buổi, có chê có khen, có lúc so sánh nếp sống hai miền quá thẳng thắn và chủ quan đến mức bị phản ứng của người nghe ngoài ấy. Các bài nói của ông còn được đăng lại trong loạt bài Phong tục và tiếng nói Nam kỳ trên nhật báo Hà thành Ngọ Báo số 1715, 1718 và 1719 năm 1933.

Một nhà báo nổi tiếng khác là Đào Trinh Nhất viết cuốn Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ xuất bản từ năm 1924, gần như là cuốn cẩm nang chi tiết cho người miền Bắc về chuyện làm ăn sinh sống ở miền Nam, về thế lực của người Hoa khuynh đảo nền kinh tế Nam kỳ. Nó đã khiến bao người quyết tâm vào Nam và giúp giới làm ăn miền Bắc có đủ thông tin để cân nhắc khi đầu tư tiền của vào xứ Nam kỳ, trong đó có câu chuyện vua tàu đường sông Bạch Thái Bưởi vì đọc cuốn này mà dừng lại ý định đầu tư vào Sài Gòn vì e ngại thế lực người Hoa.

Một cuốn khác, khá lý thú của ký giả Vũ Xuân Tự, cuốn Túi bạc Sài Gòn viết ở giai đoạn sau khi đã có một số người Bắc vào sống ở Sài gòn và tham gia làm ăn buôn bán. Không nặng theo hướng nghiên cứu như ký giả Đào Trinh Nhất, cuốn sách này viết bằng giọng văn phóng sự sinh động, có cái nhìn quan sát sắc bén của người ký giả lăn lộn nhiều ngoài xã hội.

Tiệm ảnh Mỹ Lai rất có tiếng được gia đình mở ra từ 1930 khi vừa vào Nam. Hiện tiệm vẫn tồn tại trên đường Phan Đình Phùng, Phú Nhuận (Ảnh tư liệu gia đình anh Đức Vượng)

Theo Vũ Xuân Tự, năm 1941, con đường Catinat (nay là Đồng Khởi) và đường Charner (Nguyễn Huệ), hai con đường phồn thịnh và đẹp của Sài Gòn là khu thương mại của người Pháp. Tuy nhiên người Bắc vẫn mở nhiều cửa hàng và thậm chí đã nhiều hơn cả người Hoa, vốn được Pháp thừa nhận vai trò buôn bán, phân phối sản phẩm thời thuộc địa. Đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn), Bonard (Lê Lợi) là chỗ thương trường mà người Hoa và Việt chen lấn nhau. Người Việt gồm cả ba miền nhưng người Bắc vẫn nhiều hơn ở đây.

Người Bắc và người Trung vào Nam sinh sống thời đó có nhiều người làm công, buôn bán, mở công nghệ, lập hội… Dân làm công bao gồm cả dân thầy, dân viết báo, dân thợ, kéo xe… chung đụng với đồng bào bản xứ. Khác với người Trung mang sức học vấn hay sức lao động vào dạy học, làm nghề may mặc, kéo xe hay thợ điện, có những người Bắc mang vào cả vốn liếng để phát triển sự nghiệp. Các cửa hàng người Bắc nhan nhản khắp nơi, tập trung nhiều nhất ở đường Sabourain (Lưu Văn Lang) và đường Espagne (Lê Thánh Tôn).

Ở đường Sabourain, nhiều người còn nhớ nhà sách Nguyễn Khánh Đàm ở số 14 đường này tổ chức một sự kiện mà giới báo chí còn nhắc là tổ chức triển lãm về lịch sử báo chí lần đầu tiên năm 1943. Những hiệu buôn nhiều hơn bán lẻ, chiếm cả một góc phố Lagrandière (Gia Long; nay là Lý Tự Trọng) gần chợ Mới (được xây từ 1914, nay là chợ Bến Thành để phân biệt với chợ Cũ đã có trước ở đường Hàm Nghi ngày nay) phần nhiều bán vải tuýt-so, lụa, rau quả. Các cửa hàng thêu, đăng ten đều ở đường Catinat, d’Ormay (Mạc Thị Bưởi), Bonard (Lê Lợi) và xa tít trên đường Chasseloup – Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai), trước nhà “sẹc” Tây (nay là Cung Văn hóa Lao động).

Chung quanh chợ Bến Thành đều có quán guốc của người Bắc mà sau này còn dấu ấn các cửa hàng giày dép ở đường Lê Thánh Tôn phía cửa Bắc chợ. Khoảng gần Chiến tranh thế giới thứ II, người Bắc mở thêm một dãy quán trên đường Espagne và Chợ Cũ và dọn một dãy hàng bên Chợ Mới bán lẻ tơ lụa Hà Đông. Có lẽ đây chính là lúc danh tiếng lụa Hà Đông bắt đầu phát triển và thành nguồn cảm hứng trong thơ Nguyên Sa “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”?

Họa sĩ Bé Ký từ một em bé mồ côi cha mẹ, vào Nam từ 1954 và đã thành danh từ một người vẽ và bán tranh dạo / Ảnh: Mạnh Đan, báo Sáng Dội Miền Nam số 4 (10) loại II

Sản vật miền Bắc lúc đó có gì ở Sài Gòn ngoài lụa Hà Đông? Đó là nữ trang, the lụa, thuốc lào và cả mắm tôm. The, lĩnh, xuyến miền Bắc thấy bán được quá, người Hoa ở Lục tỉnh (đồng bằng sông Cửu Long) nhảy vào buôn. Hàng tussor Tonkin (tên tiếng Pháp của Bắc kỳ) được người Chà và và Bombay (đều gọi người gốc Ấn độ) ra Bắc buôn chuyến.

Kỹ nghệ miền Bắc cũng được hoan nghênh ở Sài Gòn và Lục tỉnh. Đa số từ miền Bắc gửi vào sản phẩm đã hoàn chỉnh vì chưa có xưởng sản xuất trong Nam. Đó là đồ đồng bán ở đường Espagne gồm hai tiệm khách nước ngoài cũng thích, sơn Resistance (đường Charner), sơn Gecko (đường Lagrandière), cạnh tranh được với sơn ngoại quốc. Tuy nhiên, các mặt hàng khác như đồ thủy tinh Bắc Hà, chiếu Phát Diệm bán chậm vì kém quảng cáo. Có một hiệu lấy tên Au petit Ha Dong mở gần Chợ Mới, bán và quảng cáo nghề thủ công và sản vật Hà Đông. Dãy phố Filippini (nay là Nguyễn Trung Trực) có hiệu làm và bán vòng hoa cườm.

Nghệ sĩ Kim Chung đưa cả đoàn cải lương Kim Chung vào Nam năm 1954 (ảnh tư liệu của tác giả)

Những hiệu giày, may đầm, va li, mũ, bán đồ gỗ hầu hết của người Bắc. Cùng với dân Nam – Trung, họ cũng mở hiệu giặt ủi, may quần áo Tây, hiệu ảnh… Giữa thế kỷ 20, một số gia đình ở làng Ngũ Xã (Hà Nội) vào định cư tại vùng Hòa Hưng (nay thuộc quận 10) mang theo nghề đúc đồng cẩn tam khí, hình thành một xóm nhỏ chuyên đúc đồng tam khí ở đây. Sản phẩm của họ là các tượng thờ và đồ gia dụng. Tuy sanh sau đẻ muộn, song giữ độc quyền sản xuất, lại có tay nghề cao, sản phẩm đẹp nên đồng tam khí Hòa Hưng được nhiều người biết tiếng đặt hàng. Làng nhiếp ảnh Lai Xá ở Hà Tây đã có vài chục gia đình theo chân cụ Khánh Ký, người đã sớm mở hiệu ảnh “Photo Khanh Ky Saigon” từ năm 1907 ở số 54 Boulevard Bonard (Lê Lợi). Người làng tạo dựng nghề ảnh ở đây và đã nắm phần lớn ngành dịch vụ nhiếp ảnh ở thành phố này từ những năm đầu thế kỷ 20 và nhiều năm sau đó, với 32 hiệu ảnh mở ra tại Sài Gòn từ thập niên 1930-1940.

Quảng cáo phở Bắc từ thập niên 1930 trên báo (Thư viện Quốc gia VN; ảnh tư liệu của tác giả)
Tiệm bán nón casque của người Bắc trên đường d’Espagne (Thư viện Quốc gia VN; ảnh tư liệu của tác giả)

Tuần báo Phú Thọ Công Thương, là cơ quan liên lạc các nhà công nghệ và thương mãi có tòa sọan ở số 17 đường Galliéni (Trần Hưng Đạo, quận I) đã có nhiều cố gắng giới thiệu để quảng bá sản phẩm miền Bắc qua các bài viết trong các số báo trước năm 1945. Trong vài số báo, có: bài giới thiệu về trà Phú Xuân của ông Cao Đắc Tiếu có các loại trà Tàu, trà đen và trà ướp hoa… nổi tiếng ở ngoài Bắc và muốn phổ biến mạnh trong Nam. Cùng số này, có bài giới thiệu xưởng chế tạo máy xay lúa của ông Ngô Ngọc Dư ở số 69 quai de Belgique (nay là Bến Chương Dương và góc Hồ Tùng Mậu), học trường công nghệ Hải Phòng, năm 1927 vào Nam làm cho người Pháp và sau đó mở hãng riêng. Đến thời điểm 1941, xưởng của ông đã có tới hơn một trăm người thợ từ thợ cả đến học việc (số 3 tháng 11/1941).

Một bài khác viết về ông Mai Ban, chủ tiệm gỗ Tân Hưng số 196 đường Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai), đến Sài Gòn năm 1927, trải qua nhiều khó khăn mới phát triển từ 1934 cho đến lúc 1941 có hơn 30 người thợ (số 5-6 tháng 11/1941). Ông Trương Văn Quanh ở số 7 quai de Belgique (Tôn Đức Thắng) từ miền Bắc vào nhận thấy Sài Gòn khan hiếm dầu lửa đã chế ra loại đèn lấy tên là đèn “Họ Trương” đốt bằng mỡ heo, dầu phộng, dầu cao su, dầu cá, dầu dừa… (số 4 tháng 11/1941), về ông Bùi Kỳ với nghề làm nón ở số 172 đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn) với 21 năm hành nghề.

Ông Lương Văn Thí, chủ tiệm may Kim Sơn trên đường Amiral Dupre (Đông Du ngày nay) từ năm 1930, được mở khi ông vừa vào Sài Gòn (Tư liệu gia đình)
Thợ Bắc ở tiệm giày Trần Mỹ ở Sài Gòn (Tư liệu: Nguyễn Xuân Phúc)

Trong số báo 2 ra tháng 5 năm 1942, có bài Phụ nữ Bắc kỳ bán tơ lụa nói lên sự gắng gỏi của phụ nữ Bắc đi bán dạo sản phẩm tơ lụa xứ Bắc cho người miền Nam. Tác giả mô tả họ đi khắp nơi ở khắp lục tỉnh, bận áo dài vải đồng lầm, quấn khăn trên đầu, túi vải trên vai, dùng tài năng và mánh lới riêng giới thiệu hàng, cạnh tranh với người Hoa để giành một chỗ bán hàng ở các chợ bằng giọng nói nửa Nam nửa Bắc.

Về ăn uống, người Bắc mở các cửa hàng ăn theo kiểu Bắc với các món đặc sản và hai hàng cháo lòng tiết canh trên Tân Định – Chợ Mới nhưng chỉ thu hút người Bắc, thời điểm trước năm 1945 chưa quyến rũ nổi dân Trung và Nam (cho đến nay món tiết canh cũng phổ biến chủ yếu trong cộng đồng người Bắc). Món phở lại được ưa chuộng ngay từ đầu, rất phổ biến từ giữa thập niên 1950 cho đến tận bây giờ. Người Bắc đã góp cho ẩm thực phương Nam một món ăn ngon thuộc đầu bảng ẩm thực rất được ưa chuộng.

Khác với quan niệm cho là người Bắc vào Nam năm 1954 mang theo món “thịt cầy”: mà khu chuyên bán món nổi tiếng này còn tồn tại là ngã ba Ông Tạ. Khoảng năm 1943-1944, thịt cầy đã có tại miền Nam cho dù người Pháp không cho phép làm thịt chó. Những người miền Bắc buôn chuyến, vào Sài Gòn, nhớ thịt cầy đã mang theo từ miền Bắc mẻ, củ riềng để làm món quốc hồn quốc túy của mình. Họ phải làm lén lút. Sau năm 1945, thịt cầy bắt đầu xuất hiện công khai ở Sài Gòn.

Sự kiện cuộc đại di cư năm 1954 của người miền Bắc vào Sài Gòn đã tác động vào đời sống xã hội miền Nam. Khác với từng nhóm nhỏ lẻ lần lượt vào Nam trước kia, người Bắc di cư ở giai đoạn này đông đúc, có nhiều trí thức và văn nghệ sĩ, đã góp một dòng chảy mạnh mẽ vào dòng đời sống miền Nam đều khắp trong mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật và giáo dục. Riêng về ẩm thực, các món ăn xuất phát từ đất Bắc như phở, bún riêu, bún thang, bún măng, chả cá, giò lụa, bánh chưng… đã trở thành quen thuộc đến mức người sinh sau đẻ muộn ở miền Nam không biết đó là món từ phương xa đến. Với tính chất dễ dung nạp, đời sống xã hội Sài Gòn-Gia Định ngày càng phát triển phong phú. Đây là đề tài lớn dành cho giới nghiên cứu.

Trăm năm trôi qua, người dân gốc miền Bắc và các thế hệ con cháu đã trở thành những người Sài Gòn đích thực, hòa nhập lối sống của mình vào thành phố rộng lớn này.

(Trích chương VI “Vài nguồn nhân lực” trong cuốn “Sài Gòn ngoảnh lại trăm năm” của Phạm Công Luận do công ty Phan Book và NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2021)

Theo Saigon nhỏ

Định kiến của con người: Bản chất, hậu quả và cách xóa bỏ

Định kiến luôn tồn tại và phổ biến, điều quan trọng là phải thừa nhận sự tồn tại của nó, để quản lý và tránh gây hại cho những người thuộc nhóm yếu thế.

Định kiến của con người: Bản chất, hậu quả và cách xóa bỏ

Sau gần một thế kỷ nghiên cứu, các nhà tâm lý học đã chứng minh hầu như tất cả mọi người đều có những định kiến một cách vô thức, vô hại hoặc gián tiếp.

Tuy nhiên, những định kiến này thường là cơ sở của những kỳ thị thậm chí phân biệt đối xử: chỉ cảm thấy thoải mái với những người thuộc “nhóm của mình”, và né tránh hoặc loại bỏ những người thuộc “nhóm của họ”. Những định kiến kiểu này thường do những khác biệt về văn hóa mang lại. Bên cạnh đó, có một nhóm nhỏ có những kỳ thị trực tiếp, cực đoan thậm chí gây hại, bao gồm cả các hành vi tội ác. Những kỳ thị loại này thường xuất phát từ định kiến về xung đột lợi ích và giá trị trong một xã hội đầy biến động.

Về bản chất, conngười luôn tìm kiếm và cảm thấy thoải mái khi ở bên những người được cho là giống họ, hoặc thuộc một nhóm xã hội với họ. Từ việc cảm thấy thoải mái và an toàn với những người trong nhóm của mình, họ có thể e ngại, lo lắng hoặc thậm chí có thái độ và hành vi tiêu cực với những người được cho là không thuộc nhóm với họ. Trong những nền dân chủ phương Tây, khoảng 80% người dân không có vấn đề gì liên quan đến việc tiếp xúc với các nhóm xã hội khác với họ, nhưng vẫn có khoảng 10% có thái độ công khai khá thù địch với những nhóm bị cho là đe dọa giá trị của họ.

Về cơ bản, định kiến thường tồn tại một cách ngầm và ẩn. Ngay đối với những người được cho là không có định kiến về chủng tộc, nhưng nhiều thí nghiệm cho thấy, trong những hoàn cảnh bột phát, định kiến chủng tộc vẫn bị bộc lộ. Ví dụ, trong một thí nghiệm với cảnh sát Mỹ, họ cho các khuôn mặt tội phạm và không tội phạm lần lượt xuất hiện theo tần suất khá nhanh. Nếu tội phạm xuất hiện, cảnh sát sẽ bắn ngay lập tức. Kết quả cho thấy, tỉ lệ khuôn mặt người da đen bị bắn nhầm cao hơn rất nhiều so với khuôn mặt da trắng. Điều này cho thấy có một sự định kiến cho rằng người da đen gắn với tội phạm. Cho dù khi nói chuyện, không cảnh sát nào tự nhận mình có định kiến với người da đen.

Về cơ bản, dù là ẩn hay công khai, các nhóm thường chấp nhận các hành vi, đặc tính và giá trị chuẩn (nguyên mẫu) gắn với thành viên nhóm mình. Đây chính là cơ sở để tạo ra sự phân chia “chúng ta” và “họ”. “Chúng ta” thường chiếm ưu thế và “cao quý” hơn “họ” vì chúng ta có những đặc điểm vượt trội. Ví dụ, một người có các đặc điểm là “đàn ông”, “da trắng” và “dị tính” có các đặc tính “thống trị” nên không gặp khó khăn gì trong việc phát triển lòng tự tôn cao. Một người là “phụ nữ”, “châu Á” và “đồng tính” thuộc nhóm thiểu số nên gặp khó khăn trong quá trình phát triển lòng tự tôn cao, phải đối mặt với phản ứng tiêu cực của các nhóm khác. Trong xã hội có những nhóm đặc biệt, ví dụ như người đồng tính da đen ở Mỹ chịu sự kỳ thị cao nhất vì họ phải đối mặt với sự kì thị người da đen trong cộng đồng đồng tính đa phần da trắng, và sự kỳ thị đồng tính trong cộng đồng người da đen đa phần dị tính.

Những người có đặc tính thống trị/phổ biến không gặp khó khăn gì trong việc có lòng tự tôn cao. Ngoài ra, họ dùng quyền lực sẵn có để duy trì hiện trạng có lợi. tiếp cận nguồn lực xã hội và định ra luật chơi. Ngược lại, những nhóm thiểu số gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình xây dựng lòng tự tôn cho mình. Họ phải đối mặt với những định kiến kỳ thị của các nhóm đa số, và phải trải nghiệm những bất công trong công việc, tiếp cận dịch vụ và cơ hội phát triển.

Để dần xóa bỏ định kiến nhóm, việc tạo cơ hội cho các nhóm xã hội giao lưu, tìm hiểu, và làm việc cùng nhau rất quan trọng. Khi các thành viên từ các nhóm khác nhau, với những quá khứ trải nghiệm, điều kiện kinh tế, đặc điểm xã hội, và niềm tin tôn giáo khác nhau làm việc cùng, họ sẽ có cơ hội tìm hiểu và bổ trợ cho nhau về cách nhìn, cũng như đóng góp giải quyết vấn đề. Từ đó, nó xóa bỏ những định kiến sẵn có, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm.

Nhưng để xóa bỏ những định kiến đã được thể chế hóa gây ra những bất công trong việc tiếp cận nguồn lực, cơ hội phát triển hay quá trình xây dựng lòng tự tôn, thì luật pháp phải can thiệp, và luật pháp phải được xây dựng dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử, và bảo vệ nhóm yếu thế. Có như vậy, thì những định kiến, kỳ thị và bất công dựa trên sự khác biệt mới được xóa bỏ hoàn toàn.

Định kiến luôn tồn tại và phổ biến, điều quan trọng là phải thừa nhận sự tồn tại của nó, để quản lý và tránh gây hại cho những người thuộc nhóm yếu thế.

Theo LÊ QUANG / DIENNGON.VN

Sự liên quan của nhóm máu tới tuổi thọ: Nếu bạn thuộc “nhóm máu trường thọ” này thì không khó để sống đến 87 tuổi

Sự liên quan của nhóm máu tới tuổi thọ: Nếu bạn thuộc "nhóm máu trường thọ" này thì không khó để sống đến 87 tuổi
NHÓM MÁU CÓ MỐI LIÊN HỆ NHƯ THẾ NÀO VỚI SỨC KHỎE VÀ CẢ TUỔI THỌ CỦA CON NGƯỜI?

Người thuộc nhóm máu nào sống thọ nhất?

Chúng ta không thể thay đổi nhóm máu của bản thân. Khoa học đã chứng minh, nhóm máu có mối liên hệ tới tính cách, sức khỏe và cả tuổi thọ của con người.

Các chuyên gia tin rằng, những người có nhóm máu O thường có tuổi thọ cao hơn. Người mang nhóm máu O phần lớn là những người sống thực tế, có thể chất tốt hơn, họ cũng rất quan tâm đến sức khỏe, thể chất của mình. 

Theo một cuộc khảo sát, tuổi thọ trung bình của những người mang nhóm máu O là khoảng 87. Họ cũng là những người có cuộc sống tinh thần tuyệt vời, luôn giữ được thái độ lạc quan, vui vẻ với mọi việc. Có lẽ, đó cũng là 1 trong những lý do giúp tuổi thọ của người nhóm máu O lâu hơn.

Sự liên quan của nhóm máu tới tuổi thọ: Nếu bạn thuộc nhóm máu trường thọ này thì không khó để sống đến 87 tuổi - Ảnh 1.

Tuổi thọ trung bình của những người nhóm máu AB là 70 tuổi, sau đó là những người thuộc nhóm máu A. Những người thuộc nhóm máu này có xu hướng lo lắng nhiều khiến tim bị quá tải, hao mòn.

Khi kiểm tra mối liên hệ giữa nhóm máu và bệnh ung thư dạ dày, các nhà nghiên cứu phát hiện, những người có nhóm máu ngoài nhóm O có đến 55% bị bệnh này, nghiên cứu được công bố vào ngày 16/1/2015.

Trong một nghiên cứu khác, 11.000 người được đo sinh tiết máu, bao gồm mức độ cholesterol, lượng đường và huyết áp. Kết quả cho thấy, những người có nhóm máu A có mức độ cholesterol cao hơn cả. Có thể đây là lý do mà nhóm máu A có tuổi thọ ngắn hơn

Người mang nhóm máu B dễ bị sâu răng, tỉ lệ mắc bệnh lao, ung thư miệng, ung thư vú và bệnh bạch cầu cao hơn so với những người thuộc nhóm máu khác. Trong khi đó, người thuộc nhóm máu AB mặc dù tỉ lệ mắc bệnh ung thư và các cơn đột quỵ thấp, nhưng tỉ lệ mắc bệnh tim mạch vành, nhồi máu cơ tim tương đối cao.

Làm thế nào để cải thiện tuổi thọ?

Nhóm máu của mỗi người đã được xác định khi sinh ra và không thể thay đổi. Nếu bạn không mang nhóm máu O, có thể làm như thế nào để cải thiện tuổi thọ của mình?

Chế độ ăn uống: Bạn cần hình thành thói quen ăn đủ 3 bữa/ngày. Cơ thể chỉ có thể hoạt động bình thường với chế độ dinh dưỡng đầy đủ và ăn uống điều độ. Nếu chế độ ăn uống thất thường kéo dài, cơ thể có thể gặp phải những rối loạn, ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe.

Trong chế độ ăn uống hàng ngày, bạn cần chú ý kết hợp hợp lý các nhóm dưỡng chất, vitamin và khoáng chất…

Sự liên quan của nhóm máu tới tuổi thọ: Nếu bạn thuộc nhóm máu trường thọ này thì không khó để sống đến 87 tuổi - Ảnh 2.

Thói quen uống trà xanh: Phần lớn những người sống thọ đều có thói quen uống trà. Trà xanh giúp tăng mức độ trao đổi chất của cơ thể, thải độc và trì hoãn hiệu quả sự lão hóa. Ngoài ra, trà xanh cũng có lợi ích đối với người mách bệnh tim mạch, hạn chế việc mất canxi trong xương… Những người có xương dễ gãy có thể uống nhiều trà xanh hơn.

Đặc điểm tâm lý : Những người sống thọ là sự tích cực, luôn suy nghĩ mọi việc theo chiều hướng tốt hơn. Điều quan trọng nhất là, đời sống tinh thần tích cực sẽ giúp cải thiện hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao, ung thư……

Tinh thần tích cực cũng giúp bạn có khả năng chịu đựng tốt hơn, xử lý mọi việc một cách bình tĩnh. Đó là những lý do giúp người lạc quan sống thọ hơn.

Hoạt động thể chất: Những người tích cực tập thể dục cũng có tuổi thọ cao hơn. Hoạt động thể chất tích cực giúp cải thiện chức năng tim phổi, tuần hoàn máu, hệ hô hấp, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và mạch máu não. Tập thể dục thường xuyên cũng giúp giải tỏa căng thẳng, cải thiện giấc ngủ.

Người có nhóm máu O có tuổi thọ cao nhất so với các nhóm máu khác. Nhưng việc có một lối sống lành mạnh, đời sống tinh thần tích cực, thường xuyên hoạt động thể chất mới là yếu tố giúp bạn có một cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài.

Theo Aboluowang / Doanh nghiêp & Tiếp thị

Hai bài phát biểu ‘lừa người dối mình’ của Tập Cận Bình

Ngày 6/7 khi lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình phát biểu tại “Hội nghị thượng đỉnh Đảng chính trị toàn cầu” đã xảy ra sự cố nhỏ: khi ông Tập đọc đến cuối bản thảo thì đột ngột lặp lại phần đầu đã đọc, sau đó cặm cụi lật tài liệu và trầm giọng hỏi: “Tôi nói xong chưa?”. Sau một chút im lặng, ông Tập mới quay lại đoạn kết và tiếp tục bài phát biểu của mình. Tình trạng tâm thái không bình thường này của ông Tập có thể gợi nhiều vấn đề suy nghĩ.

Ông Tập Cận Bình tại Quảng trường Thiên An Môn hôm 1/7 (Nguồn: Ảnh chụp màn hình video của SCMP)


Trong phát biểu tại “đại hội đảng” toàn cầu này, ông Tập đã 4 lần hỏi “Tôi nói xong chưa?”. Liệu đây có phải thói quen thường thấy, hay vấn đề tâm lý bị lẫn? Hay thậm chí ông Tập cũng không biết mình đang nói gì? Nội dung chính trong bản thảo ông Tập đọc là “có nhiều cách để thực hiện dân chủ, không thể mọi nơi đều giống nhau”, tuyên bố đó nhằm biện hộ cho thể chế chuyên chế của ĐCSTQ nhưng nhân danh ương ngạnh hoang đường là “dân chủ”. Ông nói “một đất nước dân chủ hay không phải được đánh giá bởi người dân của đất nước này, không phải bởi một thiểu số người tuyên bố mà được”.

Một số nhà quan sát đã thông qua tình huống lúng túng đó đánh giá thực trạng nội tâm ông Tập không tự tin. Ông Tập có chột dạ không khi gán mác dân chủ cho Trung Quốc? Ông thực sự tin rằng bằng cách nói từ dân chủ hàng ngàn lần như vậy thì mọi người sẽ tin rằng Trung Quốc là một xã hội dân chủ? Sẽ tin những sự việc ở Trung Quốc do người dân đánh giá, chứ không phải do “thiểu số” người như Tập Cận Bình đánh giá?

Bài phát biểu của ông Tập tại cổng Thiên An Môn vào lễ kỷ niệm ngày 1/7 của ĐCSTQ cũng như bài phát biểu tại hội nghị cấp cao sau đó, cho đến nay chắc hẳn còn làm ám ảnh nhiều người.

Có phân tích cho rằng ông Tập đang nói dối, nói dối đến mức bản thân ông cũng tin vào lời nói dối đó; cũng có phân tích cho rằng ông Tập vẫn chưa đến mức đó, sở dĩ ông ta nói như vậy là do trong lòng ông ta có cảm giác lo lắng, nên cuối bài phát biểu đã lúng túng hỏi “Tôi đã nói xong chưa?”. Một số cư dân mạng cho rằng những lời nói như thế của ông Tập là không may mắn vì nghe có cảm giác như “xong rồi sao?”, “thế là xong!”

Một bài bình luận đăng trên tờ New York Times ngày 6/7 đã chỉ ra rằng hệ thống của ĐCSTQ dựa trên sự dối trá, không thể che đậy được trước thế giới tự do. Bài phát biểu ngày 1/7 của ông Tập đã dùng ngôn từ cực kỳ đanh thép để cảnh báo rằng bất cứ ai muốn “ức hiếp, đàn áp và nô dịch” Trung Quốc sẽ “đập đầu đổ máu”. Bản thân tuyên bố này đã là một lời nói dối lớn, vì thực tế “không ai muốn bắt nạt, đàn áp hoặc nô dịch Trung Quốc. Thế kỷ sỉ nhục đã qua lâu rồi”. Bài viết nhắc lại chuyến thăm bí mật của Kissinger tới Bắc Kinh 50 năm trước đã mở màn cho hai đảng tại Mỹ hợp tác lâu dài với Trung Quốc, cứu nước này ra khỏi vực sâu dưới sự lãnh đạo thảm hại của Mao Trạch Đông. Nỗ lực này đã thành công biến một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một trong những nước giàu nhất.

Ông Tập Cận Bình đã đe dọa nhân danh cái gọi là thế lực nước ngoài, nhiều cư dân mạng nghe thấy mâu thuẫn, phản bác rằng người của ĐCSTQ sùng bái Tuyên ngôn Cộng sản do người Đức viết, hát Quốc tế ca do người Pháp viết, và thề thốt dưới búa liềm do người Nga chế ra, sùng bái đô la Mỹ mang gửi ngân hàng Thụy Sĩ, cho con cái đi du học phương Tây, vậy mà còn không biết xấu hổ khi tuyên bố lên án người khác nô lệ ngoại bang và thế lực ngoại bang!

Bài báo của New York Times cho rằng rạn nứt ở Bắc Kinh là do chế độ dựa trên sự dối trá. Trong bài phát biểu ngày 1/7, ông Tập đã bỏ qua những thảm họa do ĐCSTQ gây ra như nạn đói lớn (1958 – 1961) do chính sách kinh tế như Đại nhảy vọt, hay Cách mạng Văn hóa, chính sách tàn bạo của Mao Trạch Đông đã giết chết hơn 80 triệu người dân Trung Quốc vô tội; không chỉ thế, còn vô số tội ác khác như hành động tàn bạo nhân quyền chống lại người Duy Ngô Nhĩ, từ bỏ cam kết “một nước, hai chế độ” với Hồng Kông… Vấn đề là hệ quả của dối trá đó là cuối cùng sẽ tự lừa dối chính mình, như che giấu dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán (COVID-19) để đến khi có người tố giác thông tin mới biết được rằng dịch bệnh đang tồn tại. Khi khởi phát dịch bệnh, ĐCSTQ đã che giấu, để rồi sau đó lại cần thêm nhiều lời nói dối khác nhằm bác bỏ sự thật, cái giá phải trả là sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Họ cũng thúc đẩy loại vắc-xin kém chất lượng cho các nước nghèo trên thế giới.

Hậu quả của “đàn áp sự thật” là cả thế giới ‘thất thủ’
Nhà triết học Ba Lan Krakowski đã chỉ ra rằng kẻ cai trị tại nước độc tài cũng muốn có được thông tin thực, nhưng không thể tránh khỏi vấn đề họ trở thành nạn nhân của tình trạng dối trá của chính họ, từ đó chuốc lấy tai ương mà bản thân họ không thể ngờ.

Trong bài phát biểu ngày 1/7, ông Tập nói rằng “đất nước là của nhân dân, cho nên nhân dân chiến đấu bảo vệ đất nước”, tuyên bố đánh đồng ĐCSTQ với nhân dân và với đất nước, tự xưng ĐCSTQ đại diện cho nhân dân, thậm chí ông Tập còn nói rằng bất kỳ ảo tưởng nào chia rẽ ĐCSTQ và người dân Trung Quốc sẽ chuốc lấy thất bại, 95 triệu Đảng viên ĐCSTQ và 1,4 tỷ người dân Trung Quốc không chấp nhận.

Sự nhấn mạnh cực đoan này đã nhắc nhở một số nhà quan sát nhớ lại thời kỳ Cách mạng Văn hóa, khi đó những tờ báo trung ương thường tuyên bố “Nhân dân cả nước không đồng ý”, trong khi các tờ báo Đảng ở các tỉnh thì đổi thành “người dân của tỉnh không đồng ý”… khi phản bác một điều gì đó trái ý ĐCSTQ.

Trong một cuộc phỏng vấn với Đài Á châu Tự do ngày 5/7, ông Dư Mậu Xuân (Miles Yu), cựu cố vấn chính về hoạch định chính sách của Trung Quốc của ông Pompeo khi là Ngoại trưởng Mỹ dưới chính quyền Trump, cho biết: “1,3 tỷ người Trung Quốc sẽ không bao giờ đồng ý với quan điểm của Tập Cận Bình, chẳng qua ông ta tuyên bố để tự cổ vũ bản thân! Ông ấy không có bằng chứng để cho thấy ĐCSTQ đại diện cho lợi ích của người dân Trung Quốc. ĐCSTQ muốn dùng ngày kỷ niệm 100 năm để tự tô vẽ hình ảnh của họ, cho nên đã sử dụng bộ máy cảnh sát và bộ máy chuyên chế để buộc người dân phục tùng, khiến không ai dám lên tiếng, trong tình cảnh như vậy mà ông ta tuyên bố 1,4 tỷ người dân Trung Quốc sẽ không bao giờ đồng ý (tách khỏi ĐCSTQ) thì không thể tin được”.

Dư Mậu Xuân: ĐCSTQ không thể đại diện cho người dân Trung Quốc
Về tuyên bố của ông Tập rằng ĐCSTQ không có bất kỳ lợi ích đặc biệt nào, học giả độc lập Đặng Duật Văn (Deng Yuwen) bình luận rằng ông Tập Cận Bình đã không thật thà khi tuyên bố ĐCSTQ và không bao giờ đại diện cho lợi ích của bất kỳ nhóm lợi ích nào, bất kỳ nhóm quyền lực nào, hoặc bất kỳ tầng lớp đặc quyền nào. Kiểu dối trá như vậy sẽ chỉ khiến ĐCSTQ và hơn 95 triệu đảng viên của nó trở nên vô cùng đạo đức giả.

Giới phân tích cũng chỉ ra bài phát biểu trong đại lễ mừng 100 năm ở cổng Thiên An Môn và khi tổ chức hội nghị các đảng phái chính trị trên thế giới, cho thấy ông Tập không thể che giấu được sự lo lắng và thách thức ông gặp phải. Điều này chủ yếu liên quan đến những thay đổi lớn trong môi trường quốc tế và trong nước mà Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình đang phải đối mặt.

Trên bình diện quốc tế, Trung Quốc bị cô lập chưa từng có, còn Mỹ thì đã rất hiệu quả trong đoàn kết các nước dân chủ để kiềm chế Trung Quốc. Ông Thời Ân Hồng (Shi Yinhong), giáo sư tại Đại học Nhân dân Trung Quốc tin rằng sau hội nghị thượng đỉnh G7, NATO và thượng đỉnh Mỹ-EU cách đây chưa lâu, các nước phát triển phương Tây về cơ bản đã đạt được đồng thuận về tất cả các vấn đề lớn liên quan đến Trung Quốc. Có thể cho rằng Mỹ và các nước phát triển có sức mạnh trên biển đã hợp lực thành mặt trận thống nhất.

Còn trong bài báo “Bốn ngọn núi lớn trước lễ kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCSTQ”, giáo sư danh dự Triệu Xuân Sơn (Zhao Chunshan) tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc Đại lục thuộc Đại học Tamkang Đài Loan thì phân tích rằng quan hệ Trung-Mỹ đã chuyển từ cạnh tranh sang nguy cơ xung đột. Hiện nay Mỹ vẫn có lợi thế so sánh, việc chính quyền Biden “lôi kéo đồng minh” để kiềm chế Trung Quốc ít nhất cũng khiến ĐCSTQ rơi vào cảnh suy kiệt; ĐCSTQ muốn thống nhất Đài Loan, nhưng Đài Loan không phải là Hồng Kông, ĐCSTQ sẽ đối mặt với “tình thế tiến thoái lưỡng nan về hòa bình và chiến tranh”, nếu không được xử lý tốt thì Đài Loan có thể trở thành “cọng rơm cuối cùng làm quỵ lạc đà” và làm tan nát “giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình; suy cho cùng, quyền lợi của Tập Cận Bình dựa trên chủ nghĩa dân tộc và mức độ độc tài kiểm soát cao, nhưng nước có thể nâng thuyền và cũng có thể làm lật thuyền. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan có thể khiến ông Tập đưa ra những quyết định phi lý trí, gây nguy cơ rủi ro chính trị.

An Đức Liệt
(Bài viết thể hiện quan điểm của ​​cá nhân tác giả)
Nguồn: RFI