Người đàn bà… họa tình

Cuối cùng rồi Nguyễn Phương Liên định vị trên văn đàn bằng truyện ngắn được viết một cách chậm rãi, cẩn trọng, nhiều tìm tòi nghệ thuật, nhiều suy nghiệm, đặc biệt rõ trong “Họa tình”.

Mới chỉ in ba tập truyện ngắn “Ngôi nhà cát trắng” (2002), “Đối thoại chiều” (2005) và “Họa tình” (2020), nếu tính số lượng, thì cũng còn khó để nói Nguyễn Phương Liên là người tương tư … truyện ngắn (nếu so sánh với Võ Thị Xuân Hà đã in 17 tập truyện ngắn tính đến 2020). 

Nhưng tôi lại muốn nhìn ở khía cạnh khác của sự viết – đó là sự nung nấu, đầu tư, chuyên tâm với/vì truyện ngắn (dù cho tổng số truyện đã in trong ba tập chưa đầy con số bốn mươi). Cuối cùng rồi Nguyễn Phương Liên định vị trên văn đàn bằng truyện ngắn được viết một cách chậm rãi, cẩn trọng, nhiều tìm tòi nghệ thuật, nhiều suy nghiệm, đặc biệt rõ trong “Họa tình”.

Nhà văn Nguyễn Phương Liên.

Đọc hết 12 truyện (cũng theo lối đọc chậm) trong “Họa tình”, tôi chợt nghĩ, tác giả không viết về những cái “lưng chừng” (ở giữa, trung bình, trung tính, trung dung, trung hòa, trung lập,…), mà viết về những cái ở “đỉnh cao” hoặc “vực sâu”. Giữa chúng có  một lằn ranh giới thật mong manh, đôi khi rất “phiêu”, tình cảm đã đành, ngay lý trí của con người cũng không phải lúc nào cũng sáng suốt để nhận biết đủ đầy và kịp thời. 

Đời sống trong truyện Nguyễn phương Liên vì thế thường ở thế chênh vênh, lung lay, nghiêng ngả, bối rối khiến con người lâm vào tình thế như nghệ sỹ xiếc biểu diễn trên dây. Vì thế càng ngày con người càng ít khả năng làm chủ bản thân (trước kia duy ý chí, chúng ta mường tượng ra sức mạnh vô song của con người có thể làm chủ tất cả, trong đó có bản thân mình). Nên nhiều khi “để gió cuốn đi” (nhan đề một truyện trong tập). 

Chàng Hưng, một đàn ông mã thượng, nhiều năng lực làm việc nhưng đời tư thì rối như canh hẹ (vì chỉ có hôn nhân không có tình yêu), yêu Hoài nhưng không làm gì hay được để giải thoát bạn tình (và chính mình). Một đàn ông trông bên ngoài bản lĩnh nhưng trong lòng thì rối bời vì: “Sóng cũng đang cuốn anh đi không thể nào dừng. Sóng của những vòng quay cuộc đời nghiệt ngã (…). Nhiều lúc anh chỉ muốn buông xuôi, muốn phá tung mà không nổi, lại bất lực phó mặc, vô cảm cuốn theo”. 

Hưng không là cá biệt cho thế giới đàn ông hiện đại. Nó như một thực thể dễ bị tổn thương, nhọc nhằn xây tổ ấm nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo âu hạnh phúc riêng tây (ngôi nhà/ gia đình bé mọn) bị “bứng” ra khỏi sự yên ổn, bình an, bình thường.

Đàn ông Luân (trong truyện “Như bóng người xưa”), nào có khác chi Hưng, cũng ba chìm bảy nổi chín lênh đênh chủ yếu do trường tình gây bão tố sóng gió. Anh đã trải qua quân ngũ, bộ quần áo lính đã rèn luyện anh rắn rỏi, xông pha; nhưng thời hậu chiến anh gần như thất nghiệp nếu không may mắn tìm được một chỗ làm ở cơ sở vật lý trị liệu. 

Ở đó anh gặp người khách (người tình thuở xưa), nhưng oái oăm thay, “nàng” đã trở nên giàu có, quý phái, kiêu sa, không còn mảy may nhận ra anh. Sau sự kiện ấy Luân bỏ việc ở phố về quê bởi: “Người con gái đã đi qua một giờ duy nhất trong cuộc đời. Như cái đẹp hoàn mỹ, thanh khiết chợt thoáng qua không bao giờ trở lại. Như bóng người xưa trong trẻo vẹn đây còn lưu luyến mãi trong tâm tưởng, không rời. 

Rồi một ngày Luân quyết định thu vén chút tài sản nhỏ nhoi suốt bao năm trời chắt bóp, quay trở về làng. Ở đó, mẹ vẫn đêm ngày mong đợi. Chưa có một nàng dâu như ý, song Luân nghĩ mẹ sẽ vui hơn khi thấy con trai thuê thêm đất, mở rộng vườn hoa để sớm tối cùng nhau”.

Bìa cuốn “Họa tình” của nhà văn Nguyễn Phương Liên.

Nhân vật của Nguyễn Phương Liên hay “du hành” (hay là “lạc trôi”) trong những giấc mơ. Truyện “Một giấc mơ” rất tiêu biểu cho không gian/ miền tâm linh của nhân vật tồn tại, hoạt động, nghĩ suy. Nhân vật “chị”, người đã trải qua chiến tranh, trở về với hai bàn tay trắng, gánh trên đôi vai gầy yếu của mình một gánh nặng mưu sinh của gia đình bé mọn. Lúc thì chị lạc vào giấc mơ của thời đạn bom chiến tranh, lúc thì như chìm trong sự bảng lảng, rối ren của ngày đang sống nhọc nhằn. Nhân vật “ông” như là một nét mờ nhòe của sự trộn lẫn giữa quá khứ và hiện tại đã đến với chị bằng tất cả sự chân thành, quyến luyến nâng niu. Nhưng cuối cùng, tất cả cũng chỉ như trong một giấc mơ (vì giấc mơ thường đẹp, thường để lại nỗi niềm luyến tiếc). 

Riêng tôi thấy, qua Hưng, Luân, chị, ông,…. nhân vật của Nguyễn Phương Liên thường ở trong trạng thái dang dở, chờ đợi, tìm tòi những điều mơ hồ, khó khăn khi thực hiện. Họ nhiều khát khao hạnh phúc nhưng trên con đường đi tìm thường gặp nhiều cản trở, khó khăn và chính vì thế cuộc đời hay có những khúc rẽ, thậm chí đôi khi là những “cú nhảy đứng”, không thể nói là ngoạn mục.

Truyện của Nguyễn Phương Liên không có cái tính chất gọi là “cập thời vũ” (mưa đúng lúc), theo nghĩa là cập nhật, thời sự nóng bỏng (như là thế mạnh trong tay nhà văn nữ khác). Nhưng có một truyện cuối tập (“Vỡ”), có vẻ rất “hot”: những chuyện trong thời COVID-19 mới và đang xảy ra. Không khí truyện nóng rãy: “Không thể chậm được, Bắc Kinh, Thượng Hải sắp phong tỏa vì đại dịch nCoV, công ty còn mấy lô hàng đọng phải tìm cách thoát về nếu không mất đứt cả triệu đô. Gã nhấn ga, chiếc Porsche gầm cao chồm lên vút đi như một chiến mã”. Nhưng mà chỉ có 1/12 truyện nóng sôi không khí “chống dịch như chống giặc” như thế thôi, nói cho cùng cũng là một thứ gia vị tăng thêm sự hấp dẫn cho các món ăn tinh thần.

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Phương Liên, tôi chú ý đến cách thức, tạm gọi là “ướm mình vào nhân vật để viết” (chưa đến mức xưng “tôi”, kể chuyện ở ngôi thứ nhất). Chữ “ướm” trong Từ điển tiếng Việt giải thích: “đặt thử/ khoác thử/ dò hỏi có ưng thuận không”. Vận vào văn Nguyễn Phương Liên, có thể hiểu là, tác giả “ướm thử” mình nếu là nhân vật thì trong cảnh ngộ, tình huống ấy sẽ suy nghĩ và hành xử như thế nào cho thuận tình, hợp lý. Cách thức này, khi đọc văn chương đương đại, trong khu vực văn xuôi, tôi thấy Nguyễn Phương Liên gần gũi với Lý Lan.

Truyện của Nguyễn Phương Liên, theo cách đọc của tôi, rất thú vị khi hiển hiện một “nhịp điệu” (rythme) văn xuôi ấn tượng. Nhịp điệu trong văn liên quan đến cái gọi là “điệu tâm hồn” của chủ thể sáng tác. Cây bút Nguyễn Phương Liên, trong phạm vi quan sát của tôi, là một cá tính (mạnh) trong sống và viết. Sống thì rõ rồi, vả lại đây là không – thời gian cá nhân, thế giới riêng tư nên tôi không muốn chạm đến (vì tôn trọng tự do cá nhân). Nhưng viết thì có thể bàn tới, bàn lui vì chỉ thuần túy trên chữ nghĩa. 

Thuộc thế hệ 7X (được gọi là thế hệ F), nên nhịp độ/ tốc độ sống của họ chói gắt, mạnh mẽ, khẩn trương và quyết liệt. Chất sống của họ bị truyền thông chi phối mạnh mẽ. Nguyễn Phương Liên không ra khỏi quỹ đạo này. Nhưng là người viết văn nên không thể không điều hòa giữa “sống chậm” và “sống nhanh”, quan trọng hơn cả là “đồng hành với Đẹp”. 

Nhịp điệu trong văn Nguyễn Phương Liên, theo tôi mang tính “nước đôi” (tùy thuộc vào đối tượng miêu tả). Nếu là nhân vật có tuổi, thì khi đó “nhịp” chậm, khoan thai: “Dường như bên kia hồ có ai đốt lửa. Mà không. Chị dụi mắt, ngẩng lên. Chỉ là nhấp nháy ánh đèn vàng, đỏ hắt xuống mặt hồ từ một nhà hàng đồ sộ… Ừ nhỉ, buồn cười thật, ai mà đốt lửa nơi một cái hồ đẹp đẽ, văn minh như thế này, lại vào lúc trời còn nhập nhọ” (“Một giấc mơ”). 

Nếu là người trẻ tuổi thì nhịp văn sẽ gấp gáp hẳn lên: “Tuổi 17 của tôi hong phơi trên bờ biển quê nhà chang nắng và nhã nhượi mồ hôi rơi trên ruộng muối của bà. Mẹ chờ bố mười năm chiến trận. Bố đợi mẹ năm năm đi lao động nước ngoài. Mẹ đã không trở về vì yêu cái lạnh của xứ tuyết hơn cái nóng ẩm của miền nhiệt đới quê nhà, chỉ hồi âm bằng những thùng hàng và thưa thớt thư từ luôn một giọng “lỡ lầm… van xin” chán ngắt. Bố thành bức tượng khủng khiếp về đêm với đáy chai cạn khốc cùng chiếc gạt tàn đầy ứ”.

“Họa tình” của Nguyễn Phương Liên chưa phải là một cái gì một toàn bích. Tất nhiên. Riêng cái tên sách cũng đã khiến không ít phân vân ở người đọc. Có lẽ tác giả ảnh hưởng từ thơ Xuân Diệu “yêu là chết…” chăng(?!). Nếu so với hai tập truyện đầu thì tập thứ ba có vẻ hơi mỏng (tôi có ý nói về số trang, số truyện). Nhưng đọc, nghiền ngẫm, sẽ thấy nhiều điều thú vì về đời sống và con người thời hiện đại qua ngôn ngữ nghệ thuật cô đọng, lấy ít nói nhiều, lấy diện nói điểm vốn là ưu trội của thể loại truyện ngắn. Nói Nguyễn Phương Liên là người đàn bà hoạ tình và tương tư… truyện ngắn cũng không sợ quá lời.

              Bùi Việt Thắng

Nhà văn Thạch Lam trong ký ức của người chị

Đọc những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn và những hồi ức về họ, nhiều người có thể tưởng tượng cuộc sống của nhà văn Thạch Lam ít ra cũng thuộc hàng trung lưu. Nhưng sau này, khi được đọc cuốn sách của tác giả Nguyễn Thị Thế “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường – Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam”, người đọc mới cảm nhận sâu sắc hơn về nhà văn tài hoa nhất của dòng họ Nguyễn Tường. Bà Nguyễn Thị Thế là chị ruột của Thạch Lam. Bà cho in cuốn hồi ký này vào năm ngoài 60 tuổi.

Thạch Lam sống nhẹ nhàng, yêu quyết liệt

Người cha của Thạch Lam là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918). Ông biết chữ Hán và tiếng Pháp, làm Thông phán tại Tòa sứ. Mẹ là bà Lê Thị Sâm, con gái đầu của cụ Lê Quang Thuật. Cụ Thuật người Huế nhưng  nhiều đời làm quan ở đất Bắc. Bấy giờ, tri huyện Cẩm Giàng là ông Nguyễn Tường Tiếp, quê gốc Quảng Nam, có con trai là Nguyễn Tường Nhu, đến tuổi lấy vợ. Bà mối đã giới thiệu cô Lê Thị Sâm về làm dâu họ Nguyễn Tường. Cha mẹ Thạch Lam sinh được 7 người con. Sáu trai và một gái. Thạch Lam là con thứ sáu, sinh năm Canh Tuất (1910). Bà Nguyễn Thị Thế là chị, sinh năm Kỷ Dậu (1909).

Trong khoảng mười năm đầu, cha mẹ Thạch Lam ở ấp Thái Hà. Sau đó thuê nhà ở phố Hàng Bạc, nhà số 10. Bà Thế nhớ lại, hồi về Hàng Bạc, bà mới 5 tuổi. Tính bà nhút nhát, đi đâu cũng sợ. Nhưng Thạch Lam lại bạo dạn, đi chỗ nào cũng kết bạn được ngay. Ngôi nhà ở Hàng Bạc cổ kính, tối tăm. Cửa hàng bên ngoài cho người đàn bà tên Bảy thuê. Bà Bảy không chồng con, sống một mình. Bà bán các thứ lặt vặt như dầu mỡ mắm muối tương cà.

Gia đình Thạch Lam ở giữa. Bên trong là căn buồng mà ngày cũng như đêm, đều tối om. Bên trong nữa cũng là căn buồng nhỏ. Căn này cho một ông nấu bếp cho người Pháp thuê.  Khoảng sân tối đó làm hai chị em sợ ma. Một hôm, hai người chạy vào nhà trong, chị Thế chạy trước. Thạch Lam chạy sau. Bỗng Thạch Lam vấp ngã, cằm đập xuống nền gạch. Bà Thế quay lại, thấy mặt em đầy máu. Bà sợ, khóc thét lên. Nhưng Thạch Lam vẫn điềm nhiên không khóc. Bà nghĩ, có lẽ em mình sợ ma nên quên đau. Sau này, chỗ vấp ở cằm thành cái sẹo.

Ở Hàng Bạc được ít lâu, ông Thông phán nghỉ việc ở Thái Hà. Gia đình thu xếp về Cẩm Giàng. Lần đầu được đi tàu hỏa, Thạch Lam rất thích, luôn miệng hỏi, tại sao tàu chạy được? Chạy bằng gì? Người cha lại giảng giải rành rọt cho cậu con.

Ở Cẩm Giàng, bà mẹ Thạch Lam làm nhà mới ở gần ga, buôn bán thuốc lào, mua lại thóc của nông dân… Ông bà tần tảo nuôi bốn người con trai ăn học ở Hà Nội, Hải Dương. Bà Thế được học ít, phải ở nhà giúp mẹ. Sau này, có người mách, ông bố Thạch Lam sang Lào làm việc. Nhưng chỉ không đầy một năm, ông mắc bệnh, mất ở bên Lào. Bà mẹ Thạch Lam ôm đứa con út, sau này là bác sĩ Nguyễn Tường Bách, về lại Cẩm  Giàng.

Ở quê buồn. Hai chị em thường có thú vui, mỗi khi có chuyến tàu Hà Nội xuống Hải Phòng, đến gần nhà, dừng lại, là chạy ra coi. Thạch Lam thường chỉ cho chị xem các bánh xe, sờ vào chỗ nhẵn, sáng bóng. Người chị thì sợ, người xung quanh cũng hoảng, nhỡ tàu chạy thì tai nạn xảy ra. Nhưng Thạch Lam vẫn bình thản. Bởi hai chị em đều biết, bao giờ tàu cũng tới đó là lùi lại chứ không bao giờ đi quá vạch vôi mà Thạch Lam đã đánh dấu.

Sau này, Thạch Lam viết truyện “Hai đứa trẻ”. Bà Thế đọc và nghĩ, không  ngờ em mình  “Có trí nhớ dai như thế, như chuyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tàu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có 9 tuổi, em tôi lên 8 mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ có bán rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại.

Tối đến, hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới…”. Nhưng trong truyện ngắn này, Thạch Lam còn vẽ nên khung cảnh heo hút, buồn bã của một vùng quê với nhà chị Tý bán nước chè, bác Siêu bán phở, bà cụ Thi hơi điên, nghiện rượu,  cảnh cô đơn mà ấm áp của hai chị em tần tảo…

Rồi gia đình Thạch Lam lại chuyển về Thái Bình, theo chân người anh cả là Nguyễn Tường Thụy. Anh Thụy làm đốc học ở một trường có mỗi ông giáo, nhưng học trò có đến trăm người. Và Thạch Lam được đi học. Nhưng phải ở trọ. Bà Thế nhớ lại: “Một tháng sau được nghỉ lễ, bà tôi lên đón về chơi. Giở hòm quần áo ra, ôi thôi mùi mốc đưa lên tận mũi. Quần áo cái nào cũng mốc meo chẳng cái nào sạch. Hỏi, em tôi nói em không biết giặt mà chẳng có ai giặt cho em cả. Em cứ thay hết một lượt quần áo em lại mặc lại. Bà tôi chỉ cười thôi, bà bảo cũng quên không chỉ cho nó cách giặt, làm sao nó biết được. Từ bé đến giờ đã phải giặt lần nào đâu”.

Tuổi thơ qua đi. Mặc dù gia đình Thạch Lam luôn sống trong cảnh nghèo túng, nhưng bà mẹ vẫn nhất quyết vay mượn cho các con ăn học đầy đủ. Tất cả đều trưởng thành, có danh tiếng và sự nghiệp. Nhưng trong bảy gia đình của những người con họ Nguyễn Tường, chỉ có gia đình Thạch Lam và gia đình bà Nguyễn Thị Thế sống đạm bạc nhất. Nhà Thạch Lam ở Hồ Tây, nhưng đều là nhà thuê.

Và hai căn nhà mà Thạch Lam thuê, đều do người chị nhượng lại. Không như những người anh, lấy vợ nhờ bà mối, Thạch Lam tự chọn vợ cho mình. Người vợ của Thạch Lam là bà Nguyễn Thị Sáu. Họ sinh được ba người con. Thạch Lam định đặt tên các con là Bạch – Đằng – Giang. Nhưng người con đầu lòng là con gái. Thạch Lam đổi tên con là Nguyễn Tường Nhung. Còn hai người con trai sau vẫn giữ nguyên tên. Nguyễn Tường Giang sau này vừa là bác sĩ vừa viết văn.

Thạch Lam viết văn, làm báo Phong hóa cùng các anh mình. Nhưng do tin người, báo Phong hóa bị người làm trộm cắp tiền bạc. Bà Thế kể, gia đình Thạch Lam rất nghèo. Mùa đông không có chăn ấm. Nhưng Thạch Lam có rất nhiều bạn như Đinh Hùng, Huyền Kiêu, Thế Lữ… Khi nhà có khách, người vợ vẫn làm cơm, đãi rượu những người bạn của chồng với nét mặt tươi sáng. Và Thạch Lam có mong ước nhỏ. Theo lời bà Thế, “Lúc nào chú cũng ao ước có một cái ghế mây có nệm ngồi êm ái, hoặc cái ghế có thể nằm hay ngồi cũng được mà chả có tiền mua. Sẵn người bạn thân biếu chú hai cái ghế mây, chú lấy làm thích lắm, ngồi cho tới khi chết”.

Tết năm 1942, gia đình họ Nguyễn Tường tản mác. Thạch Lam mắc bệnh lao phổi. Bà Thế kể, sau Tết, “Thạch Lam bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tôi, thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm, chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn.

Lúc tiễn chú ra cổng, tôi thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn, nhưng không rõ vì sao…”.

Thạch Lam bị bệnh, thích yên tĩnh. Bà Thế nhớ lại, mỗi lần sang thăm em “phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể, nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không.

Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên chơi ở ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói, gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú nói tôi có sang thì để lũ trẻ con ở nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ mà đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác. Tôi thấy chú cười nói, tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở”.

Thạch Lam được cả gia đình tận tình chăm sóc. Em trai Nguyễn Tường Bách đã tốt nghiệp bác sĩ, hàng ngày xuống chích thuốc cho anh, nhưng không đỡ vì nhà văn đã lao phổi nặng. Bà Thế kể, “Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi lại mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm”.

Rồi những giờ phút cuối cùng của Thạch Lam trước khi từ giã cõi đời, cũng đến. Bà Thế viết: “Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm ấy thím sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân, biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ.

Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó (chú người ở) chặt mất cành thấp rủ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế.

Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi lại bảo, tháng Sáu hoặc tháng Bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá”.

Khoảng 12 giờ ngày 27 tháng Sáu năm 1942, nhà văn Thạch Lam từ trần. Năm ấy nhà văn mới 32 tuổi. Mộ của ông được đặt trong nghĩa trang Hợp Thiện thuộc làng Mai Động, phía Nam Hà Nội. Sau này, nghĩa trang giải tỏa. Hài cốt của ông được chuyển lên Yên Kỳ. Năm 2004, sau nhiều lần tìm kiếm, người con út của ông là nhà văn – bác sĩ Nguyễn Tường Giang đã tìm thấy mộ cha.

Đoàn Tuấn /Vanghe CA

Giáo Sư Đàm Trung Pháp: “Gìn Vàng Giữ Ngọc” Cho Các “Hàng Hàng Gấm Thêu” (Phiên Bản Hoàn Chỉnh 2021)

Tác phẩm Truyện Kiều

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã nổi hứng rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Johann Wolfgang von Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Francois-René Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và William Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. 

Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên Die Leiden des jungen Werthers (Nỗi ưu sầu chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một số thanh niên đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện tự kết liễu cuộc đời mà trong túi quần vẫn còn cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết Atala, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Samuel Taylor Coleridge xuất bản tập thơ Lyrical Ballads, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong nền văn học quốc gia ấy. 

Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (1861-1941, giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac (1883-1940) đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh).  Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị ngoại quốc kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.                         

Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm thủ tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là tiến sĩ Nguyễn Khản, thượng thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm trấn thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu tam trường (tú tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi hương (cử nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều, trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813? Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị. Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ?  Đúng là:

Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nội dung TK gồm 3254 câu thơ làm theo thể lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh: 

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.

Phạm Quỳnh (1892 - 1945)
Phạm Quỳnh ( 1892-1945 )

PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên (343BC-278BC) bên Tàu và  văn chương của Jean-Baptiste Racine (1639-1699) và Jacques-Bénigne Bossuet (1627-1704) bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ lên án quá nặng tay này ở một đoạn sau).

NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được … Tôi xin nói quyết một lời rằng: Mong được một quyển truyện nào hay hơn Truyện Kiều là mộng tưởng. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi.” Nhận định về câu thơ thuộc loại văn hữu dư ba là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành,” Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc.  Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như: 

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy: 

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu! 

VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “TK thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa … Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là Thần Thơ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như:

Thưa rằng đừng lấy làm chơi

Rẽ cho thưa hết một lời đã nao

 Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

Còn non, còn nước, còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay

Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh : 

Sầu giong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !

Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn :

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn :

Phòng văn hơi giá như đồng

Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan

Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai – vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát :

Mành tương phân phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

LƯU TRỌNG LƯ:  Để đáp lễ lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất  là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại … Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít …” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như : 

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Câu chuyện học giả Đào Duy Anh soạn "Hán - Việt từ điển" – Thư Viện Huệ  Quang
Học giả Đào Duy Anh

ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta.” Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký … viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.

TRẦN TRỌNG KIM & BÙI KỶ: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” hiệu khảo và xuất bản năm 1925, đồng tác giả họ Trần và họ Bùi nhận thấy ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa

Mã Giám Sinh:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Tú Bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

Sở Khanh:

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng

Từ Hải:

Râu hùm hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao

HOÀI THANH: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ say Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Ông nghè lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây … Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào … TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống …”

NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây:

Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

là rút ra từ câu ca dao:

Tiễn đưa một chén rượu nồng

Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi

Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như : 

Xót thay huyên cỗi xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Chốc đà mười mấy năm trời

Còn ra khi đã da mồi tóc sương

ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

hoặc:

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao

Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách lẩy hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của TK: 

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần

Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

Hai câu:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai

Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về Truyện Kiều thì 3254 câu thơ viết theo thể lục-bát để dựng nên tuyệt tác phẩm này của thiên tài Nguyễn Du quả thực là những lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.  

Nhưng đau đớn thay, mức nhiễm độc của tiếng Việt tại quê hương ngày nay thật đáng lo sợ – nó đã tràn sang cả đại tác phẩm Truyện Kiều của dân tộc Việt. Một báo động đỏ thực sự! Truyện Kiều mà học giả Phạm Quỳnh –trong ngày giỗ cụ Nguyễn Du linh đình năm 1924 tại Hà Nội – đã tôn vinh với câu nói trước anh linh tiền nhân rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” đang bị phỉ báng và bức hại tại quê nhà. Khai pháo bởi ông kỹ sư cơ khí Đỗ Minh Xuân khi ông ta phổ biến cuốn sách có một tựa đề ngạo nghễ  “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” trong một cuộc hội thảo về Truyện Kiều tổ chức cuối năm 2012 tại khu di tích Nguyễn Du ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Trong “công trình” ấy, ông đã “sửa” khoảng 1.000 chỗ trong tổng số 3.524 câu thơ Truyện Kiều.

Tại sao ông kỹ sư cơ khí lại làm chuyện động trời như vậy? Đây là lý do tại sao ông quyết định sửa đại tác phẩm của thi hào Nguyễn Du: “Truyện Kiều không còn thịnh như trước, do rào cản điển tích, chữ Hán, từ cổ, từ địa phương – chữ nghĩa Truyện Kiều rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh.” Một công việc quái đản xưa nay chưa thấy như vậy mà lại được “anh hùng lao động” Vũ Khiêu – một học giả từng làm viện trưởng Viện xã hội học – khuyến khích và tán dương, với lời nói quả quyết  rằng sách này “là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều.”

Còn nhớ xưa kia, vua Tự Đức rất giỏi văn thơ mà chỉ dám “nhuận sắc” vài chỗ không đáng kể trong Truyện Kiều rồi cho in nó thành “bản kinh” phổ biến trong dân gian.  Chúng ta cùng xem vài thí dụ về nỗ lực “sửa” Truyện Kiều  kỳ dị, lệch lạc, ngớ ngẩn, đoán mò, làm tối ý nghĩa của ông Đỗ Minh Xuân [dựa vào bài viết sắc bén có tựa đề “Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều” (khuyết danh tác giả) đăng tải trên Đời Sống Pháp Luật Online ngày 28-4-2014]: 

Lạ gì bỉ sắc tư phong >> “Mỗi người thứ có thứ không”  [Lời văn cục súc, quê mùa].

Thời trân thức thức sẵn bày >> “Quả ngon thức thức xách tay” [Một hành động thanh nhã, cao sang, dịu dàng trở thành một hành vi thô lỗ – như thể cô Kiều hái trái cây nhà mình,  bỏ vào giỏ, rồi xách tay sang đưa cho Kim Trọng ăn]. 

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch tương >> “Chưa xong điều nghĩ đã chào vừng dương” [Chứng tỏ sự dốt nát, đoán mò, không hiểu “mạch tương” nghĩa là “nước mắt” và “đã dào mạch tương” nghĩa là “nước mắt đã dào dạt ra”].

Theo cái kiểu “sửa chữa” Truyện Kiều như hiện nay ở quê nhà thì chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ không còn Truyện Kiều, dẫn đến chuyện không còn tiếng ta nữa, rồi bước kế tiếp là không còn nước ta nữa! Thi hào Nguyễn  Du và  học giả Phạm Quỳnh nơi cửu tuyền làm sao tránh khỏi  nỗi đoạn trường khi biết đến điều đau đớn này?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1925) Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim: Truyện Thúy Kiều (NXB Đại Nam in lại tại Hoa Kỳ, không ghi năm nào).

(1970) Vũ Hoàng Chương: Loạn Trung Bút (NXB Khai Trí, Saigon).

(1970) Hà Như Chi: Việt Nam Thi Văn Giảng Luận Toàn Tập (NXB Sống Mới, Saigon).

(1974) Đào Duy Anh: Từ Điển Truyện Kiều (NXB Giáo Dục, Hà Nội).

(1997) Nguyễn Lộc: Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XVIII (NXB Đại Học và Trung Học, Hà Nội).

(2005) Đặng Cao Ruyên: Truyện Kiều: Tác Giả, Nhân Vật, và Luân Lý (NXB Cành Nam, Arlington, Virginia).

(2005) Thái Văn Kiểm: Việt Nam Thăng Hoa (NXB Làng Văn, Toronto, Canada).

(2015) Trần Ngọc Ninh: Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh (NXB Thế Giới, Hà Nội).

(2017) Đàm Trung Pháp: Gìn Vàng Giữ Ngọc cho Tiếng Việt tại hải ngoại (Diễn văn chủ đề của GS Đàm Trung Pháp trong Lễ khai giảng khóa tu nghiệp sư phạm các Trung tâm Việt ngữ Nam California ngày 28/7/2017 tại Little Saigon).

(2020) Đàm Duy Tạo: Kim Vân Kiều Đính Giải (Di cảo 600 trang viết tay do thứ nam Đàm Trung Pháp hiệu đính và phổ biến năm 2020 trên Tập San Việt Học <viethocjournal.com>).

Theo Diễn đàn Thế kỷ.

Vì sao người Hán không thể Hán hóa người Việt dù đô hộ 1.000 năm?

Nhà nghiên cứu Trần Gia Ninh vừa công bố kết quả nghiên cứu về lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt với nhiều diễn giải mới xung quanh các vấn đề lịch sử đang còn gây tranh cãi cho giới nghiên cứu trong lẫn ngoài nước.

Vì sao người Hán không thể Hán hóa người Việt dù đô hộ 1.000 năm?

Trả lời Thanh Niên, ông nhấn mạnh: “Người Việt vốn là cộng đồng dân cư tinh túy nhất còn sót lại của tộc Bách Việt cũ”.

– Hiện nay, vẫn đang tồn tại nhiều tranh cãi xoay quanh nguồn gốc của người Việt (Kinh) và không phải ai cũng cho rằng cội nguồn của người Việt là tộc Bách Việt. Ông có thể chia sẻ quan điểm về vấn đề này?

– Tôi cho rằng trải qua một tiến trình lịch sử với quá nhiều biến động, không thể có người Việt (Kinh) thuần chủng là hậu duệ của duy nhất một tộc người. Hiện có nhiều giả thuyết đối chọi nhau về vấn đề này. Tôi chia sẻ với ý kiến cho rằng cội nguồn của người Việt ít nhất là hợp bởi ba tộc người chính: người Bách Việt (bao gồm người Việt bản địa và các tộc Bách Việt ở nơi khác chuyển đến), người Thục (thời Thục Phán) và người Hoa Hạ.

Khi nước Thục bị nước Tần diệt, một cộng đồng dân cư đã chạy thoát xuống phương Nam và chiếm đất Âu Việt, tức thượng nguồn sông Hồng. Những ghi chép trong cổ sử đầu Công nguyên đã có chép về Thục Phán. Thậm chí, còn ghi rõ, Thục Phán đem quân đánh Hùng Vương. Hùng Vương thua, Thục Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Không phải chỉ có trong truyền thuyết dân gian Việt, mà sử sách cổ của Trung Quốc cũng ghi chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương, chuyện nỏ thần An Dương Vương, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy. Người Thục ngày xưa có nền văn minh phát triển rực rỡ không thua kém Hoa Hạ mà có khi còn hơn. Có thể người Thục đã có chữ viết dù sau đó bị mất.

Còn về nhóm cư dân từ tộc Bách Việt cũ có phần đặc biệt. Khi Trung Quốc xâm chiếm và tìm cách đồng hóa các tộc Bách Việt, việc đầu tiên họ làm là tìm cách tiêu diệt những thành phần ưu tú nhất, bởi vậy những người đó đã phải di chuyển về phía nam, mang trong mình tinh hoa của văn hóa Bách Việt. Họ tìm chỗ trốn và nơi định cư an toàn về sau chính là nước VN bây giờ.

– Ông có thể lý giải sức mạnh nào khiến người Việt không bị Hán hóa dù trải qua 1.000 năm Bắc thuộc?

– Có thể thấy, những vùng đất ở phương Nam như Vân Nam, Hải Nam, Quảng Đông… mặc dù cách xa Trung Nguyên nhưng sau khi Trung Quốc xâm chiếm đều bị đồng hóa. Đến cuối nhà Minh, dù người Hán đã bị người Mãn Châu đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ, nhưng cuối cùng, người Mãn Châu lại bị chính người Hán đồng hóa. Thế nhưng, người Việt trải qua tới 1.000 năm Bắc thuộc lại không bị như vậy.

Theo tôi, một số nguyên nhân có thể tóm tắt như sau: Mưu đồ đồng hóa một dân tộc sẽ khó thành công nếu dân tộc đó hội tụ đủ ba yếu tố. Một là có sức sống sinh học và sức sống xã hội mãnh liệt; hai là có trình độ văn hóa và nền văn minh cao hơn dân tộc đi đồng hóa; ba là có tổ chức xã hội tốt, cố kết các thành viên bền chặt. Nhìn lại, thấy người Việt (Kinh) có đủ ba yếu tố này. Dù là mục tiêu tàn sát của dân tộc đi xâm chiếm, nhưng họ đã thoát thân thành công và “an cư” ở mảnh đất cuối trời của Bách Việt, chính là Việt Nam ngày nay. Điều đó chứng minh, đây là cộng đồng có sức sống mãnh liệt. Mặt khác, chính vì mang trong mình tinh hoa của văn hóa Bách Việt, văn hóa Thục và cả Hoa Hạ nữa, nên nền văn minh của cộng đồng dân cư này có lẽ còn vượt trội hơn cả Hoa Hạ. Cuối cùng, chính sử Trung Quốc đã ghi chép rất rõ về thời Hùng Vương. Qua đó có thể thấy, người Việt đã có nhà nước, có tổ chức xã hội, có sự gắn kết bền vững trong cộng đồng. Đó là lý do người Việt khó có thể bị một dân tộc nào đó đồng hóa.

– Không những không bị đồng hóa và vẫn giữ được tiếng nói của dân tộc mình, người Việt còn tiến hành “đồng hóa” ngược. Ông có thể nói rõ hơn về “kỳ tích” này?

– Thời Bắc thuộc, người Việt có thể không có chữ viết, hoặc có thể đã có chữ viết nhưng bị xóa sạch qua 1.000 năm bị Bắc thuộc. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là họ vẫn giữ được ngôn ngữ (tức là kho từ vựng, phát âm, ngữ pháp, cấu trúc) Việt. Người Việt khá thông minh. Họ đã học chữ của người Hán để lưu giữ tiếng nói của dân tộc mình, giữ nguyên cách tư duy ngôn ngữ của mình, bởi vì ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Họ khôn khéo biến “kho” Hán ngữ thành “kho” Hán – Việt để làm giàu thêm ngôn ngữ của mình. Có thể thấy, nhiều từ mà chúng ta vẫn thường dùng bây giờ như vô duyên, lãng mạn, bá đạo, triền miên, mạch lạc, la liệt… là từ gốc Hán 100% trong kho tàng Hán – Việt mà ông cha ta đã thu thập để thành vốn từ Việt.

Đây là điều mà các nhóm dân tộc khác xưa cũng thuộc tộc Bách Việt không làm được. Chẳng hạn, người Quảng Đông, Phúc Kiến, Vân Nam đã mất hẳn ngôn ngữ “gốc”. Về mặt ngôn ngữ, họ hoàn toàn bị Trung Hoa đồng hóa, chỉ phát âm khác mà thôi.

Nhà nghiên cứu Trần Gia Ninh là cây bút quen thuộc viết chính luận, khoa học, văn học sử và tiểu thuyết. Một vài công trình bằng tiếng Việt của ông công bố gần đây: Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn (tiểu thuyết lịch sử, NXB Văn học – 2015), Thánh dạy: Bốn chục tuổi, không lầm lẫn nữa…Với công trình Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, Trần Gia Ninh đã tiến hành nghiên cứu nhiều tư liệu lịch sử như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh tập, Đại Việt sử ký toàn thư. Đặc biệt, ông dành nhiều công sức nghiên cứu các tài liệu sử học của Trung Quốc như Hán thư, bộ sách Thái Bình Ngự lãm, Hoa Dương quốc chí, Thủy Kinh chú sớ…

Theo THANH NIÊN ONLINE

Kiến trúc linh hoạt

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm linh hoạt trong kiến trúc và nội thất, đó có thể là sự tùy biến về công năng để thích ứng với các nhu cầu khác nhau trong từng thời điểm nhất định. Cũng có thể là sự linh hoạt thích ứng với phong cách mà chủ đầu tư muốn hướng tới. Ngôi nhà này có thể xem là một ví dụ.

Mặt tiền, hướng tiếp cận chính của ngôi nhà với các góc nhìn và thời điểm khác nhau trong ngày.

Tọa lạc trong khu Thảo Điền, quận 2, khu đất có vị trí đắc địa với hai mặt tiền mở ra hai con đường, đặc biệt là một hướng mở tầm nhìn ra sông thoáng mát và lộng gió.

Với tổng diện tích mặt bằng trên 200m2, chủ đầu tư xác định sẽ đặt vào đó một ngôi nhà với những không gian khai thác tối đa lợi thế của khu đất, tạo lập một lối sống chan hòa với thiên nhiên và có không gian kiến trúc tùy biến, dễ dàng thay đổi để thích nghi với các phong cách nội thất khác nhau.

Với quy mô xây dựng một trệt, một lửng và hai lầu, hồ bơi trên sân thượng… ngôi nhà có hai mặt tiền và được xử lý với hình khối đơn giản, vật liệu cơ bản cũng là hoàn thiện, xi măng thô, beton trần… Đặc biệt, mảng xanh và các yếu tố tự nhiên như nắng gió cũng là một loại vật liệu góp phần tạo nên hiệu quả của không gian sống này.

Ngay từ mảng sân vườn trước nhà đã góp phần định hình cảm nhận của khách ghé chơi về một phong cách sống của gia chủ – gần gũi với thiên nhiên.

Và với lựa chọn thiết kế như tổng thể về kiến trúc, không gian và mảng xanh đã trở thành nền tảng để phát huy các yếu tố nội thất. Người ta có thể đặt để vào đó mọi loại đồ đạc nội thất theo phong cách khác nhau mà vẫn không thấy “sai”, nhờ vậy, hoàn toàn có thể thay đổi phong cách của ngôi nhà tùy theo từng thời điểm và theo cá tính riêng của mỗi chủ nhân ở từng giai đoạn.

Như ở thời điểm này, toàn bộ nội thất là các món đồ sẵn có được đưa về, các món đồ cổ, đồ cũ được tích hợp từ nhiều nguồn gốc khác nhau, được phối trộn một cách hài hòa và hợp lý, sự hài hòa và hợp lý ấy dựa trên nguyên tắc vừa mắt, vừa với cảm xúc và nhu cầu sử dụng, nhờ vậy ngôi nhà có một cá tính riêng.

Và nếu loại trừ các món đồ đạc nội thất và hình dung cũng trong không gian ấy là các món đồ nội thất mới hiện đại, sẽ hoàn toàn ổn và thú vị không kém. Có thể nói, chính sự linh hoạt và tùy biến của không gian với phong cách nội thất cũng là ưu thế của thiết kế.

Gian bếp tách với phòng khách chỉ nhờ sự thay đổi cao độ.

Sự hài hòa của các món đồ nội thất từ nhiều nguồn khác nhau tạo nên cá tính và sự linh hoạt của không gian kiến trúc khi thích ứng với nội thất.

Với những hình ảnh này, dường như không thấy có sự phân giới giữa nội thất và ngoại thất, giữa con người và thiên nhiên.

Hệ thống cầu thang trong ngôi nhà với sự kết hợp của mảng xanh và màu sắc vật liệu, ánh sáng…

Thiên nhiên cũng là một yếu tố góp phần đem lại cảm giác thư giãn trong không gian nghe nhạc, giải trí. Đặc biệt là một tầm nhìn rộng mở ra mặt sông.

Góp phần đem lại giá trị lớn cho ngôi nhà là hồ bơi trên sân thượng, đây cũng là nơi khai thác tối đa lợi thế vị trí với view sông và những buổi hoàng hôn quyến rũ.

Một phòng ngủ tiêu biểu.

Phòng ngủ khác với phần giường ngủ được biến tấu thấp hơn mặt sàn.

Hai phòng tắm khác nhau với mảng xanh như một bức tranh thiên nhiên lớn được đóng khung, luôn sinh động và thay đổi.

“Mặt tiền” thứ hai của ngôi nhà.

Thiết kế: KTS Phạm Thị Mỹ An – KTS Michael Charruault – KTS Đinh Công Khang

Công ty MM++ ARCHITECTS – MIMYA

58 Phan Bội Châu, P. Bến Thành, Q.1, TP.HCM

Điện thoại: (028) 38226248 – 368358803

Website: http://www.mmarchitects.net

Nam Khương – Ảnh: Hiroyuki Oki

3 bí quyết của thành công mà các nhà khoa học phải mất đến 81 năm để nghiên cứu: Làm được thì cầm chắc chiến thắng trong tay

3 bí quyết của thành công mà các nhà khoa học phải mất đến 81 năm để nghiên cứu: Làm được thì cầm chắc chiến thắng trong tay
Vào những năm 1940, các nhà khoa học của đại học Harvard đã tiến hành một nghiên cứu khoa học được xem là dài nhất trong lịch sử. Tới tận ngày nay, nghiên cứu này vẫn đang được tiếp tục.

Dự án nghiên cứu dài hơi này có sự tham gia của 700 nam giới trưởng thành đến từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Nhóm đầu tiên gồm 268 sinh viên đại học. Nhóm thứ hai là 456 người đến từ những khu ổ chuột ở phía đông Boston, Hoa Kỳ. Trong số những người tham gia có nhiều chính trị gia nổi tiếng, thậm chí có cả tổng thống thứ 36 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Johnson Kennedy. Trong suốt thời gian tiến hành dự án, có rất nhiều người đã thay đổi và trở nên thành công. Dựa trên những dữ liệu thu được, các nhà khoa học đã rút ra được nhiều điểm chung của sự thành công.

1. Thành công chỉ đến khi ta biết thiết lập các mối quan hệ xã hội

Đa số những người thành công thuộc dự án nghiên cứu đều có những mối quan hệ xã hội rất tốt, ngay cả khi họ không có nền tảng kinh tế vững chắc. Những người có mối quan hệ tích cực thường có xu hướng sống hạnh phúc. Hơn thế nữa, một mối quan hệ tích cực là cấu nối dẫn đến sự thành công. Phần lớn công việc của bạn là thông qua các mối quan hệ, và để duy trì nó thì bạn cần phải có những mối quan hệ nào đấy. Xây dựng cho mình một mạng lưới quan hệ sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc.

2. Thành công chỉ đến khi ta biết cách cân bằng các mối quan hệ xã hội

Các nhà khoa học đã nhận thấy những người có khả năng cân bằng các mối quan hệ giữa gia đình, bạn bè và công việc có xu hướng thành công cao hơn. Bởi những người này luôn tràn đầy năng lượng, có kĩ năng xử lý tình huống khéo léo. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất họ vẫn sẽ tìm ra những giải pháp phù hợp.

Đối với cấp trên, đồng nghiệp, hãy có một thái độ chuyên nghiệp. Thay vì đưa ra ý kiến một cách chủ quan, hãy học cách làm việc nhóm với mọi người để đưa ra một lựa chọn tốt nhất. Điều mà mọi người mong muốn ở môi trường làm việc là một người có thể hỗ trợ và triển khai công việc với chứ không phải một cá nhân chỉ biết làm việc một mình.

Đối với gia đình, hãy giành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu bởi khi cuộc sống gia đình hạnh phúc, bạn sẽ có tinh thần tập trung và hoàn thành công việc. Thành công chính là kết quả của sự cộng hưởng khi cân bằng được gia đình và công việc.

3 bí quyết của thành công mà các nhà khoa học phải mất đến 81 năm để nghiên cứu: Làm được thì cầm chắc chiến thắng trong tay - Ảnh 2.

3. Những người thành công có xu hướng thích giúp đỡ người khác và tự biết chừng mực trong công việc.

“Hãy tặng ai đó một bông hồng và bàn tay bạn sẽ tỏa hương thơm”. Xuất sắc có nghĩa là đạt được những giấc mơ cao nhất của mình. Thành công của cá nhân sẽ là vô nghĩa nếu như bạn không cảm thấy mình đã tác động một cách tích cực đến cuộc sống của người khác.

Đôi khi “quá nhiều lại chính là không đủ”. Mọi việc trên đời phải được giải quyết ở mức độ vừa phải. Chúng ta có thể hiểu theo một cách đơn giản như sau. Khi được sếp giao việc, bạn chỉ cần hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Còn nếu cố gắng thể hiện thêm để lấy lòng sếp hoặc chứng minh bản thân tài giỏi, ngay lập tức sẽ bị cho là xu nịnh, tự tin quá đà.

Theo Trí thức trẻ

Sài Gòn thành ổ dịch và chuyện ‘cây táo nở hoa’

Một bức tranh cổ vũ tinh thần cho Sài Gòn trong mùa dịch 2021
Chụp lại hình ảnh,Một bức tranh cổ vũ tinh thần cho Sài Gòn trong mùa dịch

“Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa

Tại sao cây táo lại nở hoa

Sao rãnh nước trong veo đến thế?”

(Phố ta, Lưu Quang Vũ 1970)

Hôm đầu tháng 6, hai ngày sau khi đợt giãn cách trong năm 2021 bắt đầu, Ủy ban phường Tân Hưng Thuận (quận 12, TP HCM) đã tặng 12 hộ dân ở một điểm phong tỏa mỗi hộ một cây táo để chăm sóc. Sau 20 ngày, ban giám khảo sẽ chấm điểm và trao giải, có tặng tiền cho các giải.

Việc làm này bắt nguồn từ trend bộ phim ‘Cây táo nở hoa’ đang chiếu trên TV, và nhằm giúp những người dân trong khu phong tỏa có tinh thần tươi tắn hơn.

Không biết những người dân kia có đủ đất để trồng một cây táo không, hay là sau một thời gian hết phong tỏa và đã nhận tiền thưởng thì táo đi đường táo người đi đường người. Nhưng thông điệp thú vị từ việc làm này cho người ta nhớ rằng, ủa Sài Gòn đang bịnh mà Sài Gòn vẫn thiệt tỉnh, thiệt tửng, vẫn… thiệt là Sài Gòn, không lẫn đi đâu được.

Tinh thần tương thân tương ái

Hơn 3 tuần giãn cách, hết 15 đến 15 +, hàng quán đóng cửa, nhân viên văn phòng làm việc ở nhà, đường phố đột ngột vắng tanh, những ngôi chợ lao xao bỗng một ngày trống trơn không còn lấy chút bóng dáng người mua người bán. Nay đã là đợt sóng đại dịch thứ tư. Cho dù là Sài Gòn – mảnh đất giàu có nhất và cách sống lắm khi bất cần ngày mai nhất, thì cũng đã thấm mệt.

Tuy vậy, cái bản tính giúp người của dân Sài Gòn vẫn y chang. Ngót 500 điểm dân cư bị phong tỏa chằng chịt trên bản đồ, không khu phong tỏa nào bị khổ sở. Người dân xung quanh tự động mua đồ ăn tới cho, hoặc thế nào cũng có ai đó đứng ra kêu gọi quyên góp trên mạng, và chỉ vài giờ sau là được đáp ứng.

Tranh cổ vũ tinh thần cho người Sài Gòn khi thành phố thành ổ dịch lớn
Chụp lại hình ảnh,Tranh cổ vũ tinh thần cho người Sài Gòn khi thành phố thành ổ dịch lớn do họa sỹ DAD thiết kế được nhiều người chia sẻ

ATM gạo năm nay không có mặt ở nhiều nơi như năm ngoái, một phần do một số “ATM” vận hành quá cồng kềnh nên mạnh thường quân chuyển sang cách chia phần trao trực tiếp, gọn nhẹ hơn. Nhưng tại các quận hơi xa trung tâm như Tân Phú, Bình Tân, Nhà Bè, quận 12… cây ATM gạo của công ty Vũ trụ xanh ngay lập tức hoạt động, mỗi lần nhả ra 1,5 kg gạo. Ở các quận khác như quận 1, 10, 4, 8… có ATM di động. Tới 17/6, riêng hệ thống này đã phát ra cho 30.000 lượt người với 50 tấn gạo.

Nhưng không thể kể hết các hội nhóm thiện nguyện lâu năm hoặc mới nở, những cá nhân “tự nhiên muốn làm gì đó ” cho những người kém may mắn hơn ở khắp đất nước, cả ở nước ngoài.

Có một hôm, nửa đêm, trên một group ai đó viết mấy dòng xin giúp bác xe ôm già hay ngồi ở ngã tư đường bên quận 3. Người viết cho biết bác không vợ con, từ miền Tây lên ở trọ chạy xe ôm kiếm sống, nhưng lệnh giãn cách khiến khách vãn hẳn đi, mà chạy xe ôm công nghệ giao hàng thì bác không có điện thoại đời mới, cũng không biết dùng.

Đến tối hôm sau, nhiều trang mạng xã hội đã chia sẻ ào ạt hình ảnh rất nhiều người đến tận nơi tặng gạo, mì, thực phẩm, đồ đạc, khẩu trang và cả tiền cho bác xe ôm, phải đến ba xe máy chở về giúp mới hết. Có người tặng luôn cả chiếc xe máy mới và rao số điện thoại để các shop hàng tạo việc làm cho bác. Có người kể mang tiền ra đến nơi, thấy nhiều người cho quá nên lại mang về, để đi giúp người khác.

Ca sĩ Hà Anh Tuấn phát động “Sài Gòn cùng nhau nấu cơm”, tặng gạo, trứng, dầu ăn cho các bếp ăn thiện nguyện. Các trại rau, doanh nhân gom tiền chở rau quả từ Đà Lạt xuống, từ Đồng Tháp lên góp cho các bếp, các cửa hàng 0 đồng trong khu phong tỏa.

Hàng ngày, các chị trong hội phụ nữ cùng với công an, dân phòng phường sẽ đi phát lương thực, thực phẩm. Tùy chỗ mà có nơi được nhiều người cho hơn nơi khác, nhưng không có gia đình nào đang cách ly mà bị đói.

Một ATM phát đồ ăn miễn phí ở Quận Tân Bình, TP HCM
Chụp lại hình ảnh,Một ATM phát đồ ăn miễn phí ở Quận Tân Bình, TP HCM

Xin rồi lại xinđâm ra ỷ lại

Nhưng hãn hữu cũng có nơi vì xin dễ quá nên người ta đâm ỷ lại. Cũng trên một nhóm Facebook, cách đây hai ba hôm có người đứng ra cầu xin bữa ăn cho 50 hộ bị phong tỏa với lời lẽ rất thảm thiết, nghe tưởng như cái xóm đó đói lả tới nơi rồi. Thậm chí-họ kể khổ-nhà công nhân và sinh viên còn không sắm nổi cái ấm để nấu nước.

Bà con thương quá ngay lập tức bay vào cho gạo. Người đi xin cũng nhận tuốt luốt. Ơ kìa ấm nấu nước còn không có thì nhận gạo về nhai sống hay gì? Mãi khi có người nghi ngờ hỏi lại thì hóa ra ngay từ khi bị phong tỏa, phường đã đến phát mỗi hộ 5 ký gạo, 5 gói mì và 1 chai xì dầu.

Nhưng do khu nhà trọ có những người chỉ quen cơm đường cháo chợ, mua nước bình 15 ngàn/20 lít về uống, ngoài ra không chuẩn bị bất cứ gì khác nên họ cũng chỉ muốn được cho bữa ăn nấu sẵn.

Thói sống tạm bợ như thế không thể chấp nhận trong bối cảnh đại dịch đã diễn ra suốt 18 tháng với nhiều đợt bùng phát. Ít nhất mỗi người đều phải tự chuẩn bị các điều kiện sống tối thiểu cho chính bản thân chứ, đó là trách nhiệm bắt buộc đầu tiên với cuộc sống của họ cơ mà?

Nhưng…người Sài Gòn nhiều khi rộng lòng đến xuê xoa, dễ dãi. Chỉ vài ý kiến nghi hoặc được nói ra và chìm nhanh trong làn sóng thương xót và cho tặng ồ ạt. Nhiều người hô hào đừng nghĩ quá nhiều, cho được thì cho, đừng nghi hoặc thắc mắc.

Thế thì sướng quá còn gì! Thôi gạo mì phường cho thì hết cách ly đem bán, giờ cứ nằm khểnh đấy hàng ngày cũng có bao người đem bữa ăn đến dâng tận miệng, tính toán tự lo làm gì cho nhọc xác.

Hôm Đồng Tháp bị ứ khoai lang tím, nhiều người bạn tôi cũng đi mua về tặng lại những người đang khó khăn hoặc bị phong tỏa. Nhiều người vui vẻ nhận và cảm ơn, nhưng cũng một số người đòi khoai phải luộc sẵn mới nhận chứ không nhận khoai sống!

Khoai lang tím Đồng Tháp
Chụp lại hình ảnh,Khoai lang tím được chở từ Đồng Tháp lên cho người dân trong khu vực phong tỏa, nhưng có người chỉ nhận khoai luộc sẵn, không nhận khoai sống

Nói rộng hơn, nhiều năm nay có những nhóm từ thiện chuyên phát cơm ở bệnh viện đã rất buồn vì có những người nhận kén cá chọn canh, nhận một lúc vài phần (vì có nhiều nhóm cùng phát) xong lựa thức ăn còn cơm trắng đem vứt bỏ bừa bãi.

Cách đây khoảng 4 năm, cũng trên diễn đàn này từng có bài viết của một tác giả người Việt sống ở Anh bàn về hậu quả xấu khi các quán cơm từ thiện 2.000 VND được kỳ vọng mở ra ngày càng nhiều ở Sài Gòn, dẫn đến một số người lười biếng và ỷ lại vào cộng đồng.

Một số người tuy rất hảo tâm, nhưng sự hảo tâm đó có phần câu chấp vào niềm tin tín ngưỡng. Họ tin cứ cho đi là tạo được phúc (cho mình), còn người nhận có “nghiệp” của người nhận. Tức là nếu vì được cho không lý trí mà một số người nhận trở nên lười biếng ỷ lại thì cũng chẳng liên quan gì đến người cho.

Đấy là một là sự ích kỷ và u mê thể hiện dưới dạng lòng tốt, hay nói cách khác, nó là một thứ lòng tốt chưa tiến hóa, gây hại nhiều hơn lợi.

Chưa kể đằng sau một số lời kêu gọi quyên góp lại là những âm mưu chiếm đoạt.

Những phần đồ ăn miễn phí được phát cho những ai cần trong khu vực phong tỏa
Chụp lại hình ảnh,Những phần đồ ăn miễn phí được phát cho những ai cần trong khu vực phong tỏa

Việt Nam mỗi ngày lại thêm vài tỉnh có ca dịch. Sài Gòn hôm nay đã trở thành ổ dịch lớn nhất nước. Trong khi vaccine mới chỉ được tiêm cho chưa đến 2% dân số thì việc sống trong đại dịch sẽ còn kéo rất dài. Sẽ còn nhiều người thiếu thốn và cần giúp đỡ thực sự về lâu dài.

Vài câu chuyện rất nhỏ (tôi mong rằng hy hữu) vừa kể ở trên mong muốn lòng tốt được cho đi một cách có lý trí, tiết kiệm và chắt chiu nó để xài đúng lúc, đúng người.

Cây táo cần được nở hoa hết mùa này đến mùa khác chứ đừng chơi xịt thuốc kích thích để “một phút huy hoàng rồi chợt tắt” (Xuân Diệu), nó rầu lắm đa!

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Hoa Mai, một nhà báo tự do ở TP HCM.

Hoa Mai / Gửi cho BBC từ TP HCM

Việt Nam: Vụ án quan chức tình báo Nguyễn Duy Linh ‘rất đặc biệt’

Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Bị cáo Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ Nhôm), cựu sỹ quan tình báo, nhà doanh nghiệp, hầu tòa tại Hà Nội hôm 30/01/2019

Vụ việc mới được cơ quan điều tra Bộ Công an Việt Nam công bố liên quan cáo buộc ‘nhận hối lộ’ của một cựu Phó tổng Cục trưởng tình báo thuộc Bộ này được cho là ‘thần tốc’ và ‘chưa từng thấy’, theo ý kiến bình luận từ trong giới quan sát thời sự Việt Nam nói với BBC hôm 25/6/2021.

Hôm thứ Năm, nhiều báo chính thống cho hay cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam đã hoàn tất kết luận điều tra bổ sung vụ án đưa và nhận hối lộ liên quan đến Phan Văn Anh Vũ và bị cáo Nguyễn Duy Linh, cựu cán bộ thuộc Bộ Công an, từ Hà Nội.

Nhà báo tự do Nguyễn Hữu Vinh, cựu Thiếu tá an ninh bình luận với BBC:

“Chiều nay vừa có thông tin cơ quan điều tra Bộ Công an đã có kết luận điều tra và đề nghị truy tố Nguyễn Duy Linh và hai đồng phạm vụ đưa, nhận hối lộ. Theo tôi phải nói đây là một vụ án thần tốc chưa từng thấy, vì việc khởi tố, khám xét, bắt giam Nguyễn Duy Linh cách đây mới có 10 ngày.

Xin chưa bình luận tới tính chất pháp lý, tới hoạt động tố tụng như vậy có phù hợp hay không, mà tôi chỉ xin bàn về lý do tại sao lại “thần tốc”.

“Tôi cho rằng trường hợp ông Linh là rất đặc biệt bởi bản thân và gia thế của ông, lại rơi vào tình huống phải chịu bản án rất nặng nề (cao nhất là tử hình), nên không thể không có lo ngại sẽ có những can thiệp, thậm chí là cả hành động táo tợn làm hỏng quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

“Mặt khác, vừa kết thúc cuộc bầu cử Quốc hội, sẽ có “nội các” mới, mà theo thông tin đồn thổi thì sẽ có kha khá thay đổi, theo dự kiến. Vậy việc đưa vụ án vào giai đoạn kết thúc sẽ có tác động nào đó tới một số vị trí trong bộ máy quyền lực.

“Một vụ tưởng như không liên quan, là vụ Thủ Thiêm, dư luận đều biết là đang rất gai góc, nhưng mới đây đã có yêu cầu mạnh mẽ từ bên đảng là phải “khắc phục” một phần hậu quả (26 ngàn tỉ) cuối tháng 6, nếu không sẽ chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Vậy nếu làm mạnh vụ Nguyễn Duy Linh, sẽ đánh đi một tín hiệu về sức mạnh và độ quyết tâm chống tham nhũng, từ người lãnh đạo cao nhất, làm nhụt bớt ý chí của thế lực đen tối đang cản trở vấn đề xử lý vụ Thủ Thiêm.”

‘Các ung nhọt sẽ còn vỡ lở?’
Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Chính quyền và ĐCSVN đang tiếp tục tiến hành xử lý nhiều vụ trọng án trong cả nước nhằm chống tham nhũng

Từ Nha Trang cùng ngày thứ Sáu, nhà báo Võ Văn Tạo bình luận với BBC:

“Vụ án đưa hối lộ, môi giới hối lộ và nhận hối lộ liên quan đến Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”) – thượng tá an ninh Bộ Công an gây chấn động dư luận cả nước. Hàng loạt tướng tá bị kỷ luật, lâm vòng lao lý.

“Sự kiện mới đây, ông Nguyễn Duy Linh, tổng cục phó Tổng cục tình báo của Bộ bị khởi tố về tội nhận hối lộ, có hơi đặc biệt một chút là quá trình điều tra, công bố kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có “lựng khựng”, ngập ngừng.

“Đó là cách nay khá lâu, Vũ “nhôm” đã bị khởi tố về tội “đưa hối lộ”, Hồ Hữu Hòa bị khởi tố tội “môi giới hối lộ”, nhưng khi đó, Nguyễn Duy Linh không nhận tội “nhận hối lộ”. Cơ quan điều tra chỉ kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý hành chính với Nguyễn Duy Linh. Vậy mà Vũ “nhôm” và Hồ Hữu Hòa vẫn bị khởi tố theo các tội trên. Không có người nhận hối lộ, làm sao có thể kết luận có người đưa hối lộ và có người môi giới hối lộ?

“Tôi cho rằng qua vụ án này, công chúng mong mỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý nghiêm minh, không bao che hay nương nhẹ đối những cán bộ, sĩ quan công an cao cấp thoái hóa, biến chất, hư hỏng. Không “nhẹ hều” như mức án đối với hai cựu thứ trưởng Trần Việt Tân và Bùi Văn Thành.

“Tôi cũng thấy rằng truyền thông nhà nước khi đưa tin những vụ việc tiêu cực của giới chức công an khá dè dặt. Tất cả đều chép nguyên văn thông cáo báo chí của bộ công an, như kiểu “bắt gà chết”. Không tờ báo nào dám điều tra độc lập.

“Tuy nhiên, liên tiếp các lãnh đạo chủ chốt, các sĩ quan cao cấp của bộ Công an lâm vòng lao lý cho thấy lực lượng “còn đảng, còn mình”, “lá chắn của đảng” đã và đang biến chất nghiêm trọng, đe dọa tồn vong của thể chế, của ngôi vị độc tôn cai trị, cùng đặc quyền đặc lợi của Đảng cộng sản Việt Nam.

“Tôi cho rằng nhận thức rõ nguy cơ ấy, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trương mạnh tay chống tiêu cực, gọi nôm na là công cuộc đốt lò. Bản thân ông phải tiếp tục trực tiếp tham gia Thường vụ Đảng ủy công an trung ương, và như thế rất có thể tới đây, các ung nhọt trong ngành công an sẽ còn vỡ lở,” nhà báo Võ Văn Tạo nói với BBC cùng trên quan điểm riêng.

Báo chí nhà nước nói gì?
Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng được kỳ vọng sẽ tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến ‘đốt lò’ chống tham nhũng đang diễn ra

Hôm thứ Sáu, báo Công an TP Hồ Chí Minh đưa tin về vụ việc cho hay:

“Theo kết luận điều tra, bị can Nguyễn Duy Linh là cán bộ cấp cao trong ngành công an, được đào tạo cơ bản và có trình độ hiểu biết pháp luật.

“Nguyễn Duy Linh biết Phan Văn Anh Vũ đang bị Cơ quan An ninh điều tra triệu tập làm việc, các phương tiện truyền thông liên tục đăng tin về sai phạm liên quan đến Phan Văn Anh Vũ và Nguyễn Duy Linh được tham dự cuộc họp của lãnh đạo Tổng cục Tình báo để cho ý kiến xử lý ban đầu đối với những sai phạm của Phan Văn Anh Vũ.

“Khi Nguyễn Hữu Hòa đặt vấn đề cho Vũ giao tiếp trực tiếp qua điện thoại với Linh, bị can Linh đã đồng ý, sau đó nhiều lần nói chuyện điện thoại với Vũ.

Vẫn theo báo Công an TP Hồ Chí Minh, kết luận điều tra cho hay khi nói chuyện điện thoại, bị can Linh nói với ông Vũ: “Tao đã đọc hồ sơ của mày rồi, lúc nào ra Hà Nội gặp nhau tao sẽ nói chuyện sau”. Bị cáo Linh còn khuyên Vũ: “Đi du lịch qua màn ảnh nhỏ một thời gian, càng xa càng tốt, cố gắng qua châu Âu…”. Sau khi nói chuyện với Vũ xong, bị can Linh nói với Hòa: “Vũ nó có ý định ủng hộ tôi về tài chính để lo công việc”, “Cậu về nói với nó sớm”.

Cùng ngày, báo điện tử VietnamPlus thuộc Thông tấn xã Việt Nam cho biết thêm:

“Ngày 16/8/2017, bị can Phan Văn Anh Vũ giao 5 tỉ đồng cho lái xe để đưa cho Hồ Hữu Hòa. Tiếp đó, Hòa đưa tiền cho một người khác rồi giao cho Hoàng Nam Trung để vào phòng làm việc của ông Nguyễn Duy Linh.

“Đến ngày 28 và 29/8/2017, bị can Linh tiếp tục nhắn tin nhờ bị can Hồ Hữu Hòa đôn đốc Phan Văn Anh Vũ gửi đồ vật, tài sản để lo công việc. Sau đó Vũ đã 4 lần chuyển các túi quà, hộp quà và thông qua Hoàng Nam Trung gửi đến cho cựu Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo.

“Tại cơ quan điều tra, trước ngày 14/10/2020, bị can Linh không thừa nhận quen biết, liên lạc cũng như nhận quà, tiền từ Phan Văn Anh Vũ. Sau khi cơ quan điều tra sử dụng chứng cứ thu thập được để chứng minh thì bị can Linh mới thừa nhận thông qua Hồ Hữu Hòa nói chuyện điện thoại với Vũ nhưng chỉ để “chia sẻ, động viên Vũ.”

“Bị can Linh thừa nhận đã chỉ đạo Hoàng Nam Trung đi nhận quà của Phan Văn Anh Vũ là rượu, cigar nhưng không biết giá trị và nhãn hiệu gì.

“Theo kết luận của cơ quan công an, trong quá trình điều tra, bị can Linh luôn có hành vi che giấu những hành vi của mình cũng như đồng phạm, khai báo quanh co thiếu trung thực. “Từ khi bị bắt tạm giam, bị can Nguyễn Duy Linh vẫn chưa thành khẩn khai báo về những hành vi vi phạm pháp luật của mình cũng như đồng phạm,” kết luận nêu.

“Cơ quan điều tra kết luận hành vi của Nguyễn Duy Linh đủ yếu tố cấu thành tội “Nhận hối lộ” được quy định tại khoản 4, Điều 354 -Bộ luật Hình sự năm 2015,” theo báo VietnamPlus.

Theo BBC

Ngô Nhân Dụng: Người Trăm Năm Cũ

Từ trái: Trần Mộng Tú, Linh Bảo, Ngô Nhân Dụng, Doãn Quốc Sỹ.

“Người Trăm Năm Cũ” là tên một cuốn tiểu thuyết của Hoàng Khởi Phong, kể chuyện lịch sử thời Đề Thám chống Pháp. Tôi nhớ cái tựa đề này khi đến thăm nhà văn Linh Bảo, gặp cả nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã tới trước. Hai người đều gần 100 tuổi. Bà Linh Bảo thì còn trẻ, mới 95. Ông Doãn Quốc Sỹ mấy lần nói mình đã 100 tuổi. Doãn Cẩm Liên cải chính: Bố mới 98. Cụ cứ nói mình đã 100, mấy lần, cô con gái đành chịu thua!
Linh Bảo trí nhớ còn tốt nguyên. Năm 18 tuổi bà đã bỏ nhà đi sang Trung Quốc. Nhưng bây giờ nói “tiếng Huế” vẫn còn rất đúng giọng. Tôi đọc cuốn Gió Bấc của bà khi 15 tuổi, bây giờ vẫn còn nhớ mấy chuyện vui, đem kể lại cho tác giả nghe.
Doãn Quốc Sỹ bắt đầu quên từ hơn 10 năm nay. Trí nhớ cụ được xóa bớt dần dần những chuyện vụn vặt. Mươi năm trước, gặp nhau cụ còn hỏi: “Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan hay Hoàng Cầm nhỉ?” Hoặc, “Quê Toàn ở Bắc Ninh phải không? Bà mẹ cụ Nguyễn Du cũng quê Bắc Ninh.” Doãn Quốc Sỹ nhớ bút hiệu Tô Giang Khách, vì nhà ở gần sông Tô Lịch. Rồi kể sau này về thăm, con sông Tô đã biến mất. Lại đọc thơ Trần Tế Xương: “Sông kia nay đã nên đồng – Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô, khoai …” Trong mười mấy năm, trí nhớ cứ thế nhẹ dần, nhẹ dần; giờ không nghe Doãn Quốc Sỹ hỏi đến Màu Tím Hoa Sim, đến Bắc Ninh nữa.
Nhưng có một chuyện Doãn Quốc Sỹ lâu lâu vẫn nhắc lại. Đó là hai câu thơ của Tú Mỡ có đủ tên tám người con. Doãn Quốc Sỹ lấy người con thứ ba của nhà thơ trào phúng trong Tự Lực Văn Đoàn. Trước ngày cưới, ông bố vợ hỏi nhỏ chàng rể: Anh có biết lễ không? Câu thơ Tú Mỡ viết: “Năm trai, ba gái, tám con – Trung, Hiền, Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vỹ, Cường.” Doãn Quốc Sỹ ngậm ngùi: “Bây giờ chỉ chú Cường còn sống, ở Hà Nội.” Mấy năm sau, ngậm ngùi hơn: “Chú Cường cũng mất rồi.”

Đỗ Quý Toàn đang đọc vài đoạn sách cho
Doãn Quốc Sỹ (ngồi ghế) nghe.

Ngày hôm qua thấy Doãn Quốc Sỹ còn nhớ nhiều lắm. Tôi hỏi trong hồi ký Cát Bụi Chân Ai “Tô Hoài nói anh đã dùng tên hiệu Quan Sơn, đúng không?” Ông nhớ liền: Quan Sơn. Dương Quan Sơn, vì có ba chữ DQS giống như tên thật. Tô Hoài kể “Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút.” Thời 1970 Tô Hoài phụ trách một mục “địch vận” mang tên “Thư Hà Nội” trên đài phát thanh. Tô Hoài viết thư cho Quan Sơn, đó là tên Doãn Quốc Sỹ ký trên báo Tiểu Thuyết Thứ Năm khi đăng truyện ngắn đầu tiên.
Tô Hoài viết cuốn hồi ký năm 1990, đặt câu hỏi về Doãn Quốc Sỹ: “Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với gia đình … này không, tin là không, thế mà sao Doãn Quốc Sỹ viết chửi cộng sản hăng thế?” Đọc mà buồn cho Tô Hoài. Sống kiểu cộng sản lâu năm quá nên nhiễm cái thói suy nghĩ hẹp hòi.
Bao nhiêu người chống chế độ cộng sản, nêu ra những sai lầm của chủ nghĩa cộng sản, đâu phải vì thù oán cá nhân. Doãn Quốc Sỹ bài bác cộng sản, ông không “chửi.” Chưa bao giờ nghe ông chửi ai một tiếng nào. Ông đúng là một nhà giáo. Thấy cái gì tốt thì khen, cái gì xấu thì nói cho mọi người biết để tránh. Không chửi bới. Những người trăm năm cũ vẫn được ông bà cha mẹ tập cho thói quen đó.
Đọc Tô Hoài kể chuyện Tú Mỡ thì thấy hai người, nhà thơ bố vợ và nhà văn chàng rể, tính tình, tư cách rất giống nhau.
Tô Hoài kể những đợt “chỉnh huấn” từ 1951 “theo phương pháp Hoa Nam” của Trung Cộng; rồi tới đợt các văn nghệ sĩ đi “đấu tranh cải cách ruộng đất” hồi 1954. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm tham gia đợt đấu tranh giảm tô ở Thái Nguyên. Cả tuần lễ Nguyễn Tư Nghiêm không “bắt rễ” được một bần cố nông nào, chỉ lo bị phạt “ngồi chuồng trâu kiểm thảo.” Hoảng quá, phát dại, ông không nhớ đường về xóm mình ngụ, “Suốt ngày ở ngoài đồng bắt cào cào châu chấu ăn.”
Tô Hoài làm tổ trưởng một nhóm có những Phan Khôi, Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Văn Cao, Trần Đức Thảo, Bác sĩ Đặng Vũ Hỉ. Phải đấu tranh, kiểm thảo gắt gao trong nhóm. Tô Hoài kể, “Người khó đánh đổ không phải bác Phan Khôi ương bướng mà … lại là bác Tú Mỡ hiền lành, củ mỉ, ít nói.”
Được “học tập” kết án Nguyễn Tường Tam về những tội hại dân hại nước, lập đảng Đại Việt, phản bội, kẻ thù dân tộc, vân vân, Tú Mỡ nói, “Nhưng tôi không quên được Nguyễn Tường Tam đã có ơn với tôi. Nói thẳng, không có Nguyễn Tường Tam thì không có Tú Mỡ!” Cứ như thế mãi, sau cùng, Tú Mỡ đấu dịu, “Các anh phân tích thế thì tôi đã nghe ra …” Nhưng, nếu mai sau có bắt được “cái thằng chết chém” ấy mà tình cờ có Tú Mỡ ở đấy thì… xin chính phủ đừng cử Tú Mỡ ra chém Nguyễn Tường Tam! Tô Hoài viết: “Nghiêm nghị, Tú Mỡ nói, không nhìn ai: ‘Tôi đề nghị các anh thế.’”

Đỗ Quý Toàn, Linh Bảo, Trần Mộng Tú

Giữa thế kỷ trước, Bà Linh Bảo cùng các thanh niên Việt Nam qua bên Trung Quốc “làm cách mạng.” Họ được chính phủ Tưởng Giới Thạch cấp học bổng chín năm, học Đại học Quảng Châu. Khi Cộng sản chiếm hết Trung Quốc, bà chạy qua Hương Cảng. Ở đó bà gặp Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, đưa ông coi tập nhật ký của mình. Nhất Linh đem xuất bản. May mắn, bà không sống trong chế độ cộng sản để phải chịu trận như Tú Mỡ.
Sống giữa một thế giới tàn ác, gian trá, quỷ quyệt, Tú Mỡ vẫn suy nghĩ, nói năng, cư xử với tấm lòng chung thủy, thật thà, đôn hậu. Ông bà, cha mẹ dạy như thế từ thuở ấu thơ. Sau khi đình chiến Tú Mỡ trở về Hà Nội và được đề nghị “kết nạp” vào đảng; nhưng “ở trên” không cho. Tô Hoài có nhiệm vụ báo tin buồn này; còn đề nghị Tú Mỡ “lên gặp trên” nữa. Nhưng “Tú Mỡ bắt tay tôi, về hể hả.” Ông ở hiền gặp lành, trước khi chạy khỏi Hà Nội đi kháng chiến, ông gửi căn nhà ở Cầu Giấy cho một gia đình ở. Lúc trở về, người ta trả lại, theo Tô Hoài thì “nhà cửa, vườn tược gần y nguyên.”
Tôi lại nhớ câu chuyện một người trăm năm cũ khác. Thân phụ một người bạn tôi, làm công chức từ thời Pháp thuộc. Năm 1945 Nhật đảo chánh, người Pháp bỏ Hà Nội đi tị nạn. Ông thân sinh bạn tôi được một người Pháp trong sở đem tới nhà nhờ giữ một cái hộp. Cụ nhận lời. Mấy năm sau, người “sếp cũ” trở về, đến thăm. Cụ đưa trả cái hộp, còn niêm kín. Lúc đó người chủ hộp mới cho biết trong hộp đầy vàng bạc, châu ngọc, và tiền mặt. Cụ không bao giờ nghĩ đến chuyện mở ra coi, và cũng không nhận một món quà đền ơn nào.
Những người trăm năm cũHồn ở đâu bây giờ?
Doãn Quốc Sỹ nhiều lần nhắc lại tác giả hai câu thơ trên, Vũ Đình Liên, là một thầy giáo dạy mình thủa nhỏ.
Thực ra không cần đi đâu tìm linh hồn những người trăm năm cũ. Họ vẫn còn sống. Chúng ta vẫn thấy họ, ở quanh mình. Lắm lúc tôi nhìn trong gương, tự hỏi trên mặt mình có những nét nào giống bố lúc về già không. Năm tôi 30 tuổi mẹ tôi vẫn xoa đầu tôi nói, “Hói, lại giống Thầy ngày xưa.” Nhưng tôi nhớ bố nhất mỗi khi đắn đo trong việc cư xử trong cuộc đời. “Mình làm như vầy thì bố mình có vui hay không? Hay là sẽ buồn?”
Người Việt mình không dành mỗi năm một ngày mừng “Ngày Của Cha” như phong tục người Mỹ. Tôi không đếm coi mỗi tháng, mỗi năm tôi nhớ đến bố mình bao nhiêu lần, nhưng chắc là nhiều. Tôi mồ côi khi chưa đầy 5 tuổi nên biết rất ít về cụ. Mẹ tôi thường kể chuyện. Mẹ không bao giờ nói về thầy như “ông ấy,” “ông cụ,” hay “thầy các con;” mà lúc nào cũng như chúng tôi, gọi là Thầy. “Với các con lớn bao giờ Thầy cũng gọi là anh, là chị. Thầy không bao giờ mày, tao, thằng này, con kia. Nói chuyện với ai Thầy cũng “vâng,” và “dạ.”Khi gặp những người gần 100 tuổi mà tôi quen gọi là anh, là chị, như anh Doãn Quốc Sỹ, chị Linh Bảo, ngẫm cuộc đời họ đã sống, nhìn cách họ nói năng, cư xử, tôi vẫn yên tâm. Những người trăm năm cũ sẽ còn với chúng ta mãi mãi.

Theo Diễn đàn Thế kỷ

Quán cà phê mang câu chuyện của ‘Ngọn gió và tổ chim’

Mặt tiền được tái hiện như tổ chim với các vòng tròn treo có thể chuyển động khi gió thổi. Toàn bộ nội thất và không gian đều lấy cảm hứng từ tổ chim, các đường cong, với tông màu trắng, be, hồng cam, màu gỗ tự nhiên.

Đây là quán cà phê thứ hai do Ben Decor, Red5studio thiết kế và đồng hành sau cửa hàng đầu tiên. Ở quán cà phê này tại quận 4, TP.HCM, nhóm kiến trúc sư mang câu chuyện “Ngọn gió và cái tổ chim” để tiếp nối câu chuyện trước về “Mùa thu và chiếc lá rơi”.

Với hiện trạng hai nhà liền nhau và lệch tầng thông nhau, nhóm thiết kế muốn tạo không gian cửa hàng có nhiều ngóc ngách xuyên suốt. 

Sở hữu lợi thế về chiều rộng và chiều cao, mặt tiền tái hiện hình ảnh tổ chim với góc nhìn khác lạ, sử dụng nhiều hệ thép bao quanh.

Những vòng tròn treo ở mặt tiền sẽ chuyển động khi gió thổi giống như hình ảnh tượng trưng của những chú chim trên cành.

Để tạo cảm giác quen thuộc và đặc trưng của cửa hàng mang âm hưởng “Tháng Chín”, kiến trúc sư sử dụng các tông màu trung tính nhẹ nhàng như trắng, be, hồng cam, màu gỗ tự nhiên.

Bên cạnh đó, hình ảnh tròn và đường cong gợi nhớ qua các lỗ kính của cửa ra vào, cầu thang, trên tường hay thậm chí chỉ là những chi tiết nhỏ trên bàn ghế đã tái hiện “gió” trong không gian, xuyên qua trần, tường và sàn, tạo cảm giác nhẹ nhàng như làn gió thoảng vào từng ngóc ngách.

Về cách bố trí không gian, tầng trệt với tinh thần đưa sân vườn vào nhà tạo cảm giác “trong nhà mà ngoài trời” thích hợp cho khách ngồi nhanh hoặc ngồi quanh quán nhìn pha chế.

Khu vực tầng 2 và tầng 3 dành cho những người ngồi lâu hơn hoặc đi theo nhóm.

Nếu sân thượng là khu vườn trên không thì phần đèn như cành cây nâng đỡ tổ ấm, tạo điểm nhấn không gian cho những tín đồ mê check-in và là khu hút thuốc.

Toàn bộ nội thất và không gian đều lấy cảm hứng từ tổ chim, đường cong, cành cây, chim trên cành hay chỉ đơn giản là một chấm tròn nhỏ. Tất cả tạo nên một tổ chim giữa lòng thành phố.

Khổng Chiêm (Theo ArchDaily) / Người Đô Thị