10 bể bơi tự nhiên đẹp nhất thế giới

Australia nổi tiếng với các bể bơi tự nhiên ở biển Greenly, Mona Vale, Bondi Iceberg còn đến Mexico du khách đừng bỏ qua Ik Kil cenote.5

Bể bơi tự nhiên ở biển Greenly, Australia

Ở miền nam Australia, bể bơi tự nhiên có màu nước xanh trong như ở vùng đầm phá này hình thành nhờ vô số các khối đá bao quanh. Khách được bơi lội tự do mà không sợ quá sâu hay quá nông, dù bơi ở nước biển nhưng an toàn hơn vì xa vùng sóng lớn, tránh được các đám khách chơi lướt sóng. Ảnh: All about adventure

Mona Vale, Australia

Một trong những thiên đường của khách mê bể bơi tự nhiên ở Australia là Mona Vale, nằm ở phía bắc Sydney. Đây là một bể bơi được quây lại ngay mũi đất phía bắc bờ biển Mona Vale, dài khoảng 30 m, bên cạnh còn có bể nhỏ cho trẻ em và bao quanh là những con sóng lớn vỗ bờ. Ảnh: vradenburg

Bondi Iceberg, Australia

Cách Sydney 15 phút lái xe và nằm ở bờ biển phía đông nam giáp biển Tasman là bể bơi Bondi Iceberg. Địa điểm có một bể bơi công cộng dài cỡ 50 m, dùng nước biển tự nhiên đã tồn tại hơn một thế kỷ giờ đây có thêm bể cho trẻ em, quán bar và bãi biển nhỏ để khách thư giãn. Khách bơi lội ở đây được trải nghiệm cảm giác mạnh với những con sóng lớn liên tục đập vào bể. Ảnh: Lonelyplanet

La Grotta della Poesia, Italy

Ở Roca Vecchia có một bể bơi tự nhiên La Grotta della Poesia, hay còn gọi là “Hang Thơ” do từng có truyền thuyết kể về một hoàng tử rất thích tắm ở vùng nước này là người mê làm thơ. Nằm cách thành phố Lecce khoảng 30 phút di chuyển, La Grotta della Poesia nổi bật với màu nước xanh trong vắt của biển Adriatic, là điểm đến lý tưởng để giải nhiệt mùa hè. Ảnh: Cammini d’Italia

To Sua Ocean Trench, đảo Upolu, Samoa

Nằm ở giữa Hawaii, Mỹ và New Zealand, quốc đảo Samoa có vô số bãi biển, vịnh đầm nhưng không nơi nào đặc biệt như To Sua Ocean Trench. Đây là một bể bơi tự nhiên hình thành từ một hố sâu 30 m ở đảo Upolu. Để xuống bể bơi khách thường phải leo xuống bằng thang, nhiều người mạo hiểm có thể leo giữa thang nhảy xuống để bơi lặn. Photo: David KirklandVideo Player is loading.ReplayCurrent Time 0:37/Duration 0:37Loaded: 0%Progress: 0%UnmuteFullscreen

Blue Lagoon, Iceland

Blue Lagoon là một trong những điểm du lịch và là khu spa nước nóng thu hút nhiều khách nhất ở Iceland. Hồ nằm ở Grindavik thuộc bán đảo Reykjanes, miền tây nam Iceland. Nước ở Blue Lagoon nóng lên tự nhiên do dòng dung nham chảy ngầm dưới lòng đất, rất giàu khoáng chất như silicat và lưu huỳnh nên tắm ở đây có thể giúp con người tránh được một số bệnh ngoài da. Video: Blue Lagoon Iceland

Ik Kil cenote, Mexico

Nằm ở bán đảo Yucatan, bể bơi tự nhiên này hình thành từ một hố sụt nằm trong Vườn quốc gia địa chất Ik Kil, cách Chicken Itza không xa. Bể bơi sâu 40 m và bao quanh là hệ thực vật chủ yếu cây dây leo nhiệt đới rất xanh mát. Ảnh: Travel with new eyes

Bể bơi tự nhiên ở đảo Maré, New Caledonia, Pháp

Nằm trên đảo Maré, thuộc quần đảo New Caledonia, nam Thái Bình Dương có một bể bơi tự nhiên được gọi là Natural Aquarium vì môi trường như một bể thủy sinh khổng lồ. Đến đây du khách được bơi lội tự do theo những đàn cá nhiều màu và cả các rạn san hô hiếm có. Ảnh: New Caledonia

Termas de Polques, Sol de Mañana, Bolivia

Cánh đồng Sol del Mañana ở tỉnh Sud Lipez là điểm đến có địa hình địa chất kỳ lạ do phủ đầy các mạch nước ngầm, ao bùn và lỗ phun khí trên diện tích hơn 10 km2. Ngoài khám phá, chụp hình du khách còn được thư giãn trong các bể nước nóng tự nhiên tên là Termas de Polques với nhiệt độ tới 40 độ C. Ảnh: squigglemoose

Bể bơi tự nhiên ở biển Magpupungko, Siargao, Philippines

Một trong những nơi được du khách check-in nhiều nhất trên Instagram khi đến Siargao là bể bơi tự nhiên ở biển Magpupungko. Tới đây khách được ngâm mình trong làn nước xanh màu ngọc bích quyến rũ bao quanh là những khối đá khổng lồ nằm sát bờ biển. Ảnh: Coastal Campaign

Khánh Trần (Theo Vogue, RD)

THẰNG MÕ

Annamite town crier. Upper-Tonkin, in 1902 – Thằng Mõ Annam tại miền thượng du Bắc Kỳ

Nguyễn Văn Sự & Nguyễn Xuân Diện
Tạp chí Xưa và Nay số 2 – 1995, trang 23. 
Trong cộng đồng làng xã Việt Nam thời trước có một nhân vật đáng để ý song bấy lâu nay chưa được nghiên cứu nhiều – đó là nhân vật mõ làng. Bài viết này thử tìm hiểu về nhân vật mõ làng dưới một số khía cạnh, nhằm góp vào công cuộc nghiên cứu nông thôn Việt Nam trong lịch sử.

Về thời điểm xuất hiện: Hiện chưa tìm được tư liệu thành văn nào, có tính chất hành chính quốc gia, là lệnh chỉ của vua chúa cho các làng xã có mõ, qui định về chức phận và phạm vi hoạt động của mõ làng. Nhưng có hai tư liệu rất quan trọng giúp “xác định niên đại” của nhân vật này là: “Hồng Đức quốc âm thi tập” và vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập (ở phần Phụ lục) có bài Thằng Mõ. Bài thơ này đã được các cụ Phan Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên khẳng định không phải là của Lê Thánh Tông, mà của người đời sau. Nhưng theo chúng tôi nếu không phải là của Lê Thánh Tông thì cũng là sáng tác của người thế kỷ XV chứ không thể sớm hoặc muộn hơn. Mẹ Đốp trong chèo cổ Quan Âm Thị Kính là một vợ mõ, và vở chèo này ra đời vào thế kỷ XV là điều đã được các nhà nghiên cứu khẳng định.

Hai tư liệu này cho phép khẳng định nhân vật mõ ra đời trước khi nó được đưa vào văn học rất lâu. Vì rằng, nhân vật mõ ở đây không còn là kết quả của phản ánh bình thường, mà nó đã trở thành một ấn tượng đã quá quen thuộc và đáng ca ngợi (đó cũng là cảm hứng chủ đạo của tác giả khi viết bài thơ, trong Hồng Đức Quốc âm thi tập). Và hơn thế, hình tượng thằng mõ còn được quần chúng lựa chọn để bộc lộ gửi gắm khát vọng tự do của mình (chèo cổ Quan Âm Thị Kính). Có thể nói nhân vật mõ gắn liền với cái đình làng.

Những đặc trưng của nghề mõ:

Trước hết mõ làng là người truyền tin (mang thông tin, truyền thông) trong xã hội phong kiến; khi mà phương tiện thông tin đại chúng còn chưa phát triển. Khác với gia nô, tá điền – những người làm cho cá nhân một ông chủ hoặc vài ông chủ nhất định, mõ không phải là của riêng ai, mà là của cả làng, gánh trách nhiệm mà cả làng giao phó, ta tạm gọi họ là công xã nô. Mõ không phải là người canh tác thuê cho một gia đình như điền nô, không lĩnh ruộng cấy rồi nộp tô như tá điền cũng không phục vụ dịch vụ cho một gia đình như gia nô. Mõ là người lao động, nhưng lao động của mõ là lao động dịch vụ chứ không phải là lao động sản xuất. Và do vậy mõ không liên quan nhiều và trức tiếp tới vấn đề ruộng đất và công cụ lao động.

Phục vụ của mõ không phải chỉ là lý trưởng cùng các chức dịch trong làng xã, mà là cả cộng đồng làng xã. Khi làng vào đám, cả gia đình mõ được huy động ra “việc làng”. Khi chia phần, dân làng chia cho mõ một cỗ riêng, nếu ăn không hết thì màng về…

Mõ đứng ngoài các cuộc tranh chấp giữa các phe, giáp trong làng xã. Lý trưởng họ này đổ, lý trưởng họ khác sẽ thay thế, nhưng vẫn cần đến mõ và không hề vì thế mà thay cả mõ. Do “gần gũi” các chức dịch, mõ biết nội tình các cuộc tranh giành giữa các ca nhân hay dòng họ, nhưng mõ không ủng hộ một cá nhân hay phe cánh nào. Mõ không tham gia các hành động bạo lực của chức dịch đối với các phần tử gây rối hay những người chậm thuế ( việc ấy đã có lính lệ làm).

Tóm lại mõ không có hành vi tiêu cực trong đời sống cộng đồng. Trường hợp mõ bị lợi dụng là có, nhưng không phải là nhiều.

Người làm mõ bị dân làng khinh rẻ, xa lánh, nhưng không ai căm ghét như là đối với bọn trộm cắp, lưu manh, và cũng không ai muốn dây vào họ. Con cái mõ không được phép đi học, cũng không ai giao du, kết thân với mõ. Con trai, con gái của những người làm mõ phải lấy chồng thiên hạ và cũng chỉ lấy con nhà mõ, cho dù các chàng trai cô gái ấy đẹp trai, xinh xắn, do không phải lam lũ vất vả, lại khéo ăn khéo nối. Vô hình chung, nghề mõ trở thành nghề cha truyền con nối. Có họ làm mõ, cũng có cả làng làm mõ.

Thời điểm nghề mõ ra đời, cùng đặc trưng của nó cho phép khẳng định, tổ chức làng xã ở Việt Nam, chủ yếu là miền đồng bằng và trung du Bắc Bộ lúc đó đã đạt được một sự ổn định nhất định về cơ cấu. Những làng quá nghèo, hoặc làng nào mới lập thì cũng không có mõ. Và, mõ cũng chỉ có ở cấp làng (xã) chứ không có mõ xóm, mõ tổng hay huyện, phủ , tỉnh (trấn, xứ).

Trong xã hội cũ, mõ bị thành kiến rất nặng nề. Họ là dân ngụ cư, thường ở rìa làng (cho dù họ có tiền thì cũng không thể được mua mảnh đất cao ráo ở sâu trong làng).

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật nhào cả ngàn năm của chế độ phong kiến, nghề mõ đã trở thành quá khứ. Nhiều mõ đổi nghề, sống bình thường bên cạnh những người dân khác trong làng, thành kiến của dân làng có giảm, nhưng không phải là tan biến. Con cháu họ có tham gia công tác, đi học, nhưng bạn bè cũng ít gần: bản thân họ lại mặc cảm, tự ti, nên học không giỏi, ảnh hưởng uy tín rất hạn hẹp nên thành đạt ít. Thời tạm chiếm, ở những vùng địch lập tề, cũng có khôi phục nghề mõ.

Đến khi cải cách ruộng đất, nhiều mõ được giao công tác, chia ruộng đất, nhà cửa , trâu bò, nông cụ, nhưng số biết làm ăn thì rất it. Họ thường bỏ làng ra thành phố; lên miền ngược làm đủ mọi nghề và khá vất vả vì không quen lao động chân tay và mặc cảm khá nặng. Họ thường giấu kín tung tích và ngại tiếp xúc cùng nhưng ai biết gốc gác của mình.

Nghề mõ, và người làm mõ có lẽ là sản phẩm đặc thù của chế độ công xã nông thôn Việt Nam mà chủ yếu là ở đồng bằng và trung du Bắc bộ. Xung quanh nhân vật mõ và nghề mõ chắc còn nhiều vấn đề, chúng tôi thiết tưởng rằng cũng rất đáng được các nhà sử học, dân tộc học, xã hội học quan tâm nghiên cứu, trong sự nghiên cứu về nông thôn Việt Nam trong lịch sử nói chung.
*Xin cảm ơn bạn Hà Thiên Hương đã gõ lại giúp bài này.

Theo Tễu Blog

THANH HOÁ XÂY TƯỢNG ĐÀI GIỮA CƠN ĐẠI DỊCH

Theo thông tin từ Báo Chính Phủ và Báo Thanh Hoá, quý 3 năm nay, tại Sầm Sơn (Thanh Hóa) sẽ khởi công xây dựng công trình có tên “Con tàu tập kết”. Phó thủ tướng Trương Hòa Bình nói: công trình này “mang nhiều ý nghĩa, không chỉ có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mà còn giúp giáo dục các thế hệ sau này về truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, ý chí dân tộc. Đặc biệt, công trình còn nhằm tri ân những đóng góp, sự cưu mang của người dân miền Bắc đối với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ và học sinh miền Nam tập kết”. Việc xây dựng tượng đài này có tổng kinh phí phê duyệt ban đầu là 290 tỉ đồng, sau vì khó khan nên giảm xuống còn 255 tỉ trên một diện tích 32 ha. Dù một phần kinh phí là xã hội hoá nhưng đó vẫn là nguồn lực quốc gia, không thể không trăn trở trước sự kiện này.
Nhắc lại bối cảnh lịch sử một chút. Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết, theo đó: Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955. Từ điều khoản này, trong khoảng thời gian 1954-1955, dân của 2 miền đã tiến hành một cuộc di cư “vĩ đại”. Có khoảng 1 triệu người miền Bắc đã vào Nam và (chỉ) có khoảng dưới 200 ngàn người miền Nam tập kết ra Bắc (tức bằng khoảng 1/5 dân Bắc vào Nam).

Việc xây dựng tượng đài này, theo lời phó thủ tướng là có ý nghĩa lớn như đã dẫn. Tuy nhiên, xét về quy mô, rõ ràng người Bắc đã vào Nam nhiều hơn gấp khoảng 5 lần chiều ngược lại. Vậy đâu là cơ sở cho tính chính đáng của việc khẳng định ý nghĩa trên? Người Nam ra bắc thì thể hiện tinh thần đoàn kết, còn người Bắc vào Nam thì nói lên điều gì? Ghi nhận ý nghĩa tốt đẹp của cuộc di cư này thì có cần ghi nhận cả những thất bại, nỗi buồn và sự chia rẽ của chiều di cư ngược lại? 

Thiết nghĩ, đất nước ta đang cần hàn gắn, nhất là hàn gắn lòng người hai miền khi mà sau gần nửa thế kỷ lại vẫn còn ngổn ngang đến thế. Tôn vinh những người từ Nam ra Bắc lúc này có phải là hợp tình hợp lý; hay chỉ gây thêm nỗi bất hòa? Quan điểm cá nhân của tôi là, công trình ấy không có tác dụng trọng việc mang đến việc hòa hợp, hòa giải mà chỉ khiến những người đồng bào thuộc chế độ cũ thêm mặc cảm và cách lòng.

Hiện nay, người Thanh Hóa và miền Bắc nói chung vẫn đang tiếp tục di cư vào phía Nam do điều kiện kinh tế địa khó khăn. Việc đầu tư vào tượng đài trăm tỉ này nếu để tạo công ăn việc làm cho người dân hay làm các công trình phúc lợi an sinh để giữ người dân ở lại mảnh đất quê hương mà an cư lạc nghiệp có lẽ sẽ có ý nghĩa hơn nhiều.

Đó là chưa kể, trong bối cảnh đại dịch hoành hành, người dân mất việc, đời sống khó khăn, nỗi lo cơm áo đè nặng mà nhà nước lại quyết định xây một công trình không thật sự cấp thiết như thế thì thử hỏi tính chính đáng của nó là gì? Cần giải quyết những nhu cầu cấp bách trước mắt, cứu dân như cứu lửa, sao có thể vô tâm mà làm những việc phi thực tế như vậy trong lúc này. Giữa lúc chính phủ đang kêu gọi dân “đóng góp” xây dựng quỹ vaccine phòng covid vì ngân khố không đáp ứng được, thì việc bỏ tiền xây tượng đài lại càng bất nhẫn và vô lý hơn nữa.

Đó là lại chưa kể Thanh hóa vừa trải qua một cơn sốt đất dữ dội. Trong khi quỹ đất ở và đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, thì việc bỏ ra một lúc 32 ha đất thành phố để làm tượng đại lại càng không thể biện minh và hợp lòng dân được. Bằng chứng là, sau khi đăng tải thông tin vài tiếng, Báo Thanh Hóa đã phải gỡ bài vì vấp phải sự phản đối của dư luận. Một công trình nhân danh nhu cầu và ý nghĩa văn hóa cho người dân, nhưng ngay lập tức lại nhận về sự phản ứng tiêu cực của chính nhân dân thì có nghĩa nó đã thất bại trong chính lý do cho sự có mặt của mình. Gỡ bài không phải là biện pháp, cần lắng nghe ý kiến của nhân dân mới là điều cần làm. Đọng thái gỡ bài này chứng tỏ những người có trách nhiệm đã nghe thấy tiếng nói của dân, và nghe rất rõ; nhưng (có thể) nó lại cũng chứng tỏ người ta đang không thật sự muốn làm theo nguyện vọng của dân.

Không có tượng đài nào bằng an sinh của dân chúng, không có ý nghĩa nào bằng việc hàn gắn lòng người, và không có gì cần thiết bằng việc ổn định đời sống cho dân. Đó là chức năng của một nhà nước phụng sự. Xây tượng đài, trước tiên cần nghĩ tới việc dân cần gì. Chúng ta đã có quá nhiều bài học về tượng đài, cổng chào rồi: kém chất lượng, xuống cấp nhanh chóng, xấu xí, vô ích, tham nhũng, rút ruột, hoang tàn, lợi ích nhóm v.v..

Dân đang lâm đại nạn giữa cơn dịch dã, và cần một chính quyền phụ sự “vì dân” hơn bao giờ hết. Lúc này là cơ hội tốt nhất để chính quyền gây dựng niềm tin với một dân chúng vốn đã bị xói mòn niềm tin chứ không phải lại gây nên nỗi thất vọng hoàn toàn bằng những quyết sách không hợp nhân tâm như thế.

Lòng dân mới là nơi cần đặt tượng đài, tượng đài của niềm tin vào chính quyền. Mà để dựng lên được cái tượng đài ấy thì lại rất cần ngưng lại những tượng đài tiền tỉ bên ngoài kia.

Thái Hạo  / Tễu Blog

Đảng Cộng Sản tròn 100 tuổi, Trung Quốc của Tập Cận Bình sẽ đi về đâu ?

Đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày 01/07/2021, mừng 100 năm tuổi và bắt đầu một thế kỷ thứ hai dưới sự chỉ đạo của ông Tập Cận Bình, người đã áp đặt một cách thức điều hành đoạn tuyệt với những người tiền nhiệm. Nhà nghiên cứu về Trung Quốc học, Marc Julien, trên tạp chí Diplomatie (số ra tháng 6-7/2021) đặt câu hỏi : Vào lúc những thách thức từ nội bộ và bên ngoài ngày một lớn, Trung Quốc của Tập Cận Bình sẽ đi về đâu ?
Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông là điều không ai phủ nhận. Lên cầm quyền trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực gay gắt (với Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang), Tập Cận Bình buộc phải tập trung mọi nỗ lực để củng cố quyền lực và khẳng định thế mạnh của đảng Cộng Sản Trung Quốc kể từ ngày đầu lên nắm quyền năm 2012. Điều này được thể hiện rõ qua 3 đặc điểm trong cách thức điều hành của ông Tập Cận Bình.

Bộ máy an ninh : Công cụ kiểm soát Đảng

Thứ nhất là khái niệm « an ninh quốc gia ». Để kiểm soát, Đảng cần phải quản lý được bộ máy an ninh. Khái niệm « an ninh quốc gia » vì vậy mà được phát triển nhằm kiểm soát chặt chẽ mọi hình thức đe dọa cổ điển và không cổ điển, cho đến kinh tế, văn hóa và ý thức hệ, đến từ bên ngoài lẫn bên trong đất nước.
Để củng cố quyền kiểm soát Đảng, một mặt, Tập Cận Bình năm 2014 cho thành lập Ủy Ban An Ninh Quốc Gia Trung Ương (CNSC) – cơ quan điều hành các ủy ban và cơ quan chuyên trách an ninh của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, ông tiến hành cải cách rộng lớn Quân Ủy Trung Ương (CMC), cơ quan lãnh đạo Quân đội Giải phóng Nhân dân (APL) tối cao. Cả hai cơ quan này đều do đích thân Tập Cận Bình chủ trì.
Ngoài ra, người ta còn nhận thấy có xu hướng quân sự hóa các lực lượng an ninh nội địa tại Trung Quốc, như công an vũ trang nhân dân, lực lượng bán quân sự an ninh nội địa…
Thứ hai, với Tập Cận Bình, cần phải chấn chỉnh lại nền kỷ luật và ý thức hệ, vốn dĩ là hai mặt của một vấn đề. Một nền kỷ luật nghiêm ngặt cho phép áp dụng đúng đắn ý thức hệ, trong khi đó, ý thức hệ biện minh cho nền kỷ luật do quyền lực đòi hỏi. Để thiết lập kỷ luật, Tập Cận Bình có trong tay công cụ đáng gờm là Ủy Ban Kỷ Luật Trung Ương Đảng, cho phép tiệt trừ mọi đối thủ tiềm tàng, bằng các chiến dịch chống tham nhũng « diệt ruồi và hổ ».

Viết lại lịch sử

Để nâng cao ý thức hệ, Tập Cận Bình cho phát huy hết công suất cỗ máy tuyên truyền, kêu gọi « gia nhập nghiêm túc đường hướng của Đảng ». Ông không ngần ngại sử dụng lại khẩu hiệu thời Mao Trạch Đông : « Đảng, Nhà nước, quân đội, xã hội và đại học, Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung, Đảng lãnh đạo tất ! »
Thế nên, lịch sử của Đảng cũng phải được viết lại, phải được đánh bóng. Những giai đoạn đen tối như cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) hay vụ thảm sát Thiên An Môn (1989)… cũng chỉ được nói phớt qua, bị cấm đoán hay được biện minh là một nỗ lực chống tham nhũng và những đặc quyền. Phần lớn lịch sử đảng dành nói về công trạng của Tập Cận Bình, được coi là người kế thừa Mao có một tầm nhìn tích cực.
Chỉ có điều hệ quả của việc tái khẳng định sức mạnh siêu việt của Đảng và phổ biến khái niệm an ninh quốc gia của ông Tập Cận Bình đã dẫn đến trạng thái củng cố hơn nữa chủ nghĩa chuyên chế và kiểm soát xã hội, mà hai nạn nhân chính lại là khu tự trị Tân Cương và đặc khu kinh tế Hồng Kông, siết chặt kiểm soát tôn giáo, văn hóa, sắc tộc và các quyền tự do cơ bản.

Phiêu lưu ngoại giao

Trên phương diện đối ngoại, Bắc Kinh ngày càng có thái độ xác quyết và hung hăng, không ngần ngại dùng vũ lực để đe dọa các nước láng giềng tại châu Á. Với phương Tây, mối quan hệ ngày càng trở nên căng thẳng khi tiến hành một nền ngoại giao « chiến lang ». Trung Quốc giờ cũng không còn do dự khi đáp trả các biện pháp trừng phạt của châu Âu hay trừng phạt kinh tế những nước nào làm phật lòng mình. Khi tỏ thái độ tự tin, đảng Cộng Sản Trung Quốc chứng tỏ sẵn sàng đối mặt với bất kể cuộc khủng hoảng nào, chống lại bất kỳ đối thủ nào.
Cuối cùng, tác giả kết luận, đảng Cộng Sản Trung Quốc lớn mạnh, nhưng rủi ro cũng tăng theo trên nhiều mặt : dân số, bất bình đẳng xã hội, sinh thái, kinh tế, đối đầu với Mỹ và các rủi ro xung đột khu vực. Tập Cận Bình đã thâu tóm thành công quyền lực, nhưng tham vọng hoàn thành « giấc mơ một nước Trung Hoa hồi sinh » của ông có nguy cơ gây ra những rạn nứt mới trong lòng đảng Cộng Sản. Và nhất là vì Trung Quốc chọn đi theo con đường chủ nghĩa chuyên chế, nên sức mạnh kinh tế, công nghệ và quân sự cũng đáng lo như chính những điểm yếu của nước này !

Minh Anh / RFI

Sự khủng hoảng tâm lý xã hội theo cách nhìn của S.Freud

Thưa các bạn, bài này tôi viết năm 2019, dựa vào trí nhớ và những trải nghiệm cá nhân. Nay đọc cuốn “FREUD trong 60 phút”, được nhà Tâm lý học Hoàng Lan Anh, ở Đức, dịch giả của cuốn sách này tặng, thấy có đôi chỗ cần chính xác hoá, bổ sung. Vậy xin đăng lại.
Từ vụ người đàn ông Nguyễn Văn Đông ở xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng (Hà Nội), sáng ngày 01/9/2019, dùng dao chém chết 05 người trong gia đình người em ruột (1), đã dấy lên nhiều câu hỏi và cũng đã có những bài viết phân tích nguyên nhân từ các góc độ khác nhau (2). Bài viết này góp thêm góc nhìn Tâm lý học theo S. Freud, để thấy tình trạng chung của xã hội, mà vụ án trên chỉ là một trường hợp điển hình.

1. SƠ LƯỢC VỀ TÂM LÝ HỌC FREUD (Phân tâm học)

Sigmund Freud, nhà Tâm lý học nổi tiếng người Áo (1856 – 1939) quan niệm rằng, tâm lý con người được cấu trúc bởi một số yếu tố và có cơ chế chi phối lẫn nhau, đồng thời luôn chịu tác động từ xã hội, nếu không giữ được cân bằng sẽ làm rối loạn cơ cấu bên trong và dẫn đến những lời nói, hành động sai lệch, bệnh hoạn, thậm chí điên loạn…
Theo Freud tầng sâu thẳm của tâm lý con người là VÔ THỨC, trong đó bao gồm những BẢN NĂNG (sinh tồn, dục năng, khoái cảm, ước muốn, sợ hãi, hung hãn…) và nhiều cái HỮU THỨC bị chìm vào vô thức (những thèm muốn, mong ước, đau khổ, hận thù, tội lỗi, mặc cảm, thành kiến, định kiến, niềm tin …), những trải nghiệm đó tưởng đã quên đi, đã dẹp bỏ… nhưng thực ra nó lẩn vào vô thức, hoà trộn vào nhau trong “cái thùng vô thức hỗn độn” và sẽ bùng lên trong những tình huống nhất định. Chính cái “vạc táp pí lù” những bản năng sôi sục cùng với những cái “chốt cắm” trong Tiềm thức mới là động lực chính, thúc đẩy người ta nói năng, hành động hăng nhất…
Trong Phật pháp thì gọi cái “thùng” vô thức này là những Tham, Sân, Si, Ngã chấp…thúc đẩy người ta hành động VÔ MINH (có cả Vô thức, Vô minh tập thể). Khác với các Triết học Duy lý (trong đó có chủ nghĩa Mac – Lê), Freud coi thế giới Vô thức mới thực sự chi phối một cách tự nhiên, thường xuyên, bền vững, cấp thiết nhất đối với đời sống tâm lý mỗi cá nhân và xã hội. Nhưng để biện minh cho những hành động vô thức đó, người ta nguỵ biện bằng duy lý…

Để có thể hình dung hoạt động tâm lý của con người, Freud đã đưa ra một cấu trúc và cơ chế tâm lý như sau:
Tâm lý trong con người ta có 3 khối :
– Cái NÓ (bản năng, vô thức);- Cái TÔI (tự ý thức) và- Cái SIÊU TÔI (lương tri).
Ba khối này hoạt động theo những nguyên tắc khác nhau :
– Cái NÓ đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu đem lại khoái lạc, mà lòng ham muốn những khoái lạc là vô cùng tận (ăn, uống, tình dục, của cải, quyền lực, lạc thú, ham sống, ích kỷ …); được thỏa mãn thì khoái chí, càng thèm khát, muốn duy trì, tận hưởng; bị ngăn chặn thì bức xúc, uất hận, muốn tiêu diệt kẻ cản phá… Cái NÓ có sẵn trong con người từ lúc lọt lòng (bú mẹ ngon lành thì thỏa mãn, miệng cười, mắt lim dim; bú không đủ sữa thì cằn nhằn, hờn dỗi, …). Cứ thế cái NÓ ngày càng nẩy nở, sinh sôi thành con ngựa bất kham trong người mình…
Freud còn cho rằng hạt nhân của Cái NÓ là Libido (Dâm năng/Dục năng); Libido là tổng thể năng lượng dục tính của cái NÓ, là nguồn năng lượng sôi sục thúc đẩy mãnh liệt nhất, cấp thiết nhất những ước muốn, khát khao của con người.
– Cái SIÊU TÔI 

lại có chức năng kiểm duyệt, cấm đoán Cái NÓ. Đó là những phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, pháp luật, kỷ luật, tín điều, lý tưởng … được tiếp thu từ giáo dục gia đình, nhà trường, cộng đồng, đoàn thể xã hội, trở thành niềm tin, thành giá trị, LƯƠNG TRI của cá nhân.
Cái Siêu Tôi càng rõ ràng, bền vững bao nhiêu thì khả năng kiểm duyệt Cái NÓ càng hiệu quả bấy nhiêu.
– Cái TÔI ở giữa có chức năng điều chỉnh, cân bằng đời sống tâm lý của cá nhân. Cái TÔI luôn bị Cái NÓ thúc giục đòi thỏa mãn, tận hưởng; nhưng lại bị Cái Siêu Tôi soi xét, kiểm duyệt, cấm đoán … nên Cái TÔI phải hoạt động theo nguyên tắc thực tế. Nghĩa là nó phải tỉnh táo, tự ý thức, xem xét tình hình thực tế để thỏa mãn Cái NÓ sao cho chừng mực, hợp thời, hợp cảnh, phù hợp với yêu cầu của Cái Siêu Tôi và con mắt xã hội nhìn vào. Vì vậy Cái TÔI nhiều khi rất khốn khổ trước ba sức ép của Cái NÓ, Cái SIÊU TÔI và Áp lực Xã hội, mà Freud gọi là “ba bạo chúa”.
Freud cho rằng, khi Cái TÔI chịu sức ép quá căng thẳng giữa Cái NÓ, Cái SIÊU TÔI và áp lực xã hội, sẽ có những xung đột dẫn đến bị rối nhiễu tâm lý, sinh ra BỆNH TÂM THẦN (Ảo giác, Bi quan, Lo âu, Sợ hãi, hay Tức giận, Đa nghi, Hung hăng, Khó tập trung tâm trí, Hoang tưởng, Xa lánh mọi người, Ý nghĩ kỳ lạ, Kích động, Nghiện ngập, Trầm cảm, Lãnh cảm, Tuyệt vọng, Tự sát …), hay BỆNH THẦN KINH (Căng thẳng mãn tính, Đau đầu kéo dài, Giảm trí nhớ, Lú lẫn, Mất ngủ, Cuồng loạn (Hysteri), Sa sút trí tuệ, …).
Nhưng trước sức ép, Cái NÓ không được thỏa mãn trong thực tế, sẽ có thể thỏa mãn trong giấc mơ hay dồn năng lượng vào THĂNG HOA trong hoạt động tôn giáo, nghiên cứu khoa học, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, thể thao… đem lại nhiều thành tựu, mà tác giả gửi những niềm đam mê, khát vọng của mình vào trong đó.
Người nào chiều theo Cái NÓ để thỏa mãn, tận hưởng, bất chấp cái SIÊU Tôi và Thực tế xã hội, sẽ tha hóa nhân tính (Vua cũng thành “Vua Quỷ”, “Vua Lợn”…).
Người nào Cái TÔI quá yếu, bị bóp nghẹt quy phục Cái SIÊU TÔI tuyệt đối (hoặc tự nguyện đi theo) có thể dẫn đến “diệt dục”, hoặc phải che đậy, dối trá thoả mãn Cái NÓ một cách lén lút, vụng trộm, trá hình…
Tóm lại, khi các giá trị văn hóa, đạo đức, pháp luật của xã hội bị đảo lộn sẽ khiến Cái SIÊU TÔI trong mỗi con người rối nhiễu, mất hiệu lực kiểm soát; Cái TÔI tự ý thức vốn nhỏ bé không điều khiển nổi Cái NÓ khi trở thành “con ngựa bất kham”; hành động theo bản năng và những cái “chốt” từ tiềm thức bị dồn nén, bùng lên trong những tình huống không còn sợ sự kiểm soát, thì con người sẽ rất hoang dã, đầy thú tính…
Khi cái SIÊU TÔI (lương tri) tan rã thì Cái TÔI nhỏ nhoi chỉ còn đồng loã, nguỵ biện cho cái NÓ thoả mãn tối đa lòng tham muốn; nhất là khi ap lực xã hội bất lực, mà lại có những thế lực khuyến khích, bảo kê cho Cái NÓ được tác oai, tác quái thì thật khủng khiếp.

2. THỬ PHÂN TÍCH THỰC TẾ

Vận dụng quan điểm của Freud nhìn vào thực tế xã hội ta, sẽ có thể cắt nghĩa nguyên nhân của nhiều hiện tượng…

2.1. Tại sao có nhiều người sống ung dung, tự tại?

Trong cái xã hội tuy hỗn tạp hiện nay, nhưng nhiều người đã tạm ổn về cái ăn, mặc, ở…, mà những người này giữ được cân bằng tâm lý giữa ba khối nói trên thì sẽ khỏe mạnh, thân tâm an lạc. Đó là Cái TÔI Tự ý thức trưởng thành, chủ động điều tiết thỏa mãn Cái NÓ hợp lý và hòa hợp với Cái SIÊU TÔI vững vàng, ổn định, không chịu ảnh hưởng nhiều bởi các Tác động Xã hội…
Có nhiều người sống cân bằng tâm lý như vậy thì cộng đồng xã hội sẽ an bình, lành mạnh…

2.2. Sao Nhà văn Nguyễn Khải lại “đi tìm CÁI TÔI đã mất”?

Những chiến sĩ cách mạng trước 1945 là những người phi thường, Cái SIÊU Tôi (lý tưởng, niềm tin, chủ nghĩa) lớn đến mức cái TÔI bị nhập luôn vào đó; Cái NÓ bị kiểm soát đến mức không sợ tù đày, tra tấn, cả cái chết… Bài “con cá, chột nưa” của Tố Hữu cho thấy điều đó.
Khi những người cách mạng giành được chính quyền, quyết tâm xây dựng đất nước theo những cái SIÊU TÔI mà họ nung nấu, và muốn tất cả những người đồng đảng thậm chí cả toàn dân phải như họ!
Những người tham gia cuộc Cách mạng 1945 như thế hệ Nguyễn Khải hình thành nên Cái SIÊU TÔI rất to lớn, mạnh mẽ (đó là lý tưởng, chủ nghĩa Mac – Lê, điều lệ Đảng, Lập trường giai cấp, kỷ luật của tập thể…) những cái đó tràn ngập vào ngự trị trong Cái SIÊU TÔI), nó trở thành cái “vòng kim cô” xiết chặt lấy Cái TÔI. Cái TÔI trở nên nhỏ bé, yếu đuối, chỉ biết phục tùng Cái SIÊU Tôi và áp lực tập thể, để bóp nghẹt Cái NÓ…
Thời kháng chiến chín năm, Nguyễn Đình Thi có câu thơ “Hành quân những đêm dài nung nấu/ Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”… cũng bị kiểm điểm; Hữu Loan có bài thơ “Màu tím hoa sim” xót thương người vợ trẻ chết ở hậu phương, đã bị kỷ luật nặng nề… Ai có biểu hiện muốn ăn ngon, mặc đẹp, muốn yêu đương lãng mạn, sống có cá tính… lập tức bị phê phán là “lối sống tiểu tư sản”, “cá nhân chủ nghĩa”, “cầu an, hưởng lạc”, “ham sống, sợ chết” … Cái TÔI phải “thành khẩn tự phê”, tự kết tội mình, tự phủ định mình trước áp lực tập thể.
Sau 1954, một số văn nghệ sĩ đòi cho Cái TÔI được tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt, tự do sáng tạo, cá tính được tôn trọng …liền bị quy theo nhóm Nhân Văn – Giai phẩm, là “thoái hoá, biến chất”, “phản động”, bị đấu tố đánh “dập đầu” những Cái TÔI dám vượt ra ngoài “Cái SIÊU TÔI tập thể”… Nỗi sợ hãi làm Cái TÔI đã teo tóp, giờ càng co rúm lại, tội nghiệp!
Đến cải cách ruộng đất, các cuộc đấu tố càng tiêu diệt những ai dám lên án cái ác, bênh vực người oan sai… Cái TÔI của con người càng bẹp dí, nhỏ nhoi, hèn hạ, chỉ biết phục tùng và lén lút cho Cái Nó (vốn cũng bị dồn ép teo tóp) được thỏa mãn ngụy trang, vụng trộm… Cũng cần nói rằng, những trải nghiệm sợ hãi, ẳn ức, oan nghiệt, những định kiến, niềm tin Hữu thức … không mất đi mà chìm vào vô thức, vẫn ám ảnh, đe dọa Cái TÔI tội nghiệp (có người đêm ngủ còn nằm mê bị đấu tố, sợ hãi toát mồ hôi)…
Cho nên nhà văn Nguyễn Tuân vốn nổi tiếng có cá tính cũng phải nói “tớ còn sống là do biết SỢ”!; Nhạc sĩ Tô Hải sau này viết hồi ký, gọi mình là “Một thằng hèn”; Nguyễn Khải thì viết “Đi tìm Cái TÔI đã mất”!… Nhiều lắm, cả một thế hệ chịu đựng Cái Tôi khốn khổ, khốn nạn trước sự kiểm duyệt khốc liệt của Cái SIÊU TÔI tập thể và Áp lực “phong trào quần chúng”… Còn “quần chúng nhân dân” thì Cái TÔI càng nhỏ bé, tội nghiệp chỉ biết phục tùng Cái SIÊU Tôi mơ hồ và thỏa mãn Cái NÓ nhờ bao cấp ban phát của Nhà nước, hoặc trong sự vụng trộm, lén lút, che đậy bằng sự dối trá của Cái TÔI hèn hạ…
Mãi sau này, Nguyễn Khải (và rất nhiều người thế hệ của ông) mới “ngộ ra”, đau đớn, xót xa, đi tìm lại Cái TÔI của mình đã mất!

2.3. Tại sao tầng lớp đặc quyền đặc lợi ngày nay lại tham nhũng, ăn chơi sa đọa đến thế?

Sau “Đổi mới”, 1986, khi TBT Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Hãy tự cứu mình, trước khi Trời cứu”, tức là thú nhận Đảng đã bất lực, mất thiêng… Tiếp đó Liên xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ thì toàn bộ các thứ chủ nghĩa, lý tưởng, lập trường, Điều lệ Đảng… bị tan rã trong Cái SIÊU Tôi; pháp luật lại bị kẻ có quyền, có tiền thao túng; các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình, nhà trường, nhà chùa, cộng đồng, xã hội bị đảo lộn, “bung”, “toang” hết… Cái SIÊU TÔI phân hoá, rối lọan, mong manh; Cái TÔI được “cởi trói” khỏi cái SIÊU Tôi, được “tự do” muốn làm gì thì làm! Ta thấy xuất hiện rất nhiều “Chí phèo”!… Áp lực từ Xã hội chỉ còn SỢ mỗi công an. “mua” được CA nữa là hết sợ….
Vậy là Cái NÓ bị o ép, dồn nén bao tháng ngày, chưa bao giờ có cơ hội bung hết ra để thỏa mãn sự thèm khát bấy lâu, như thời nay! Cái NÓ tha hồ sôi sục, ham hố, tranh thủ thỏa mãn, tận hưởng tối đa (ăn, ngủ, đụ cho thật đã, vơ vét càng nhiều càng tốt, “ăn không chừa thứ gì”)!…
Thực ra những lý luận Cộng sản cao siêu chỉ dành cho các triết gia, trí thức kinh viện, còn những người thừa hành chủ yếu bị thúc đẩy bởi “Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình” (Quốc tế ca) bởi “quyền lợi giai cấp”, “Thoả mãn bần cố nông”, hay mơ ước “Hưởng theo nhu cầu”… Tất cả những cái đó xét cho cùng, đối với người thường, đều nhằm vào thỏa mãn CÁI NÓ. Bao nhiêu lời rao giảng đạo đức, lý tưởng cách mạng, “Học tập, làm theo”… chỉ như nước đổ đầu vịt. Cái chủ yếu thúc đẩy họ suy nghĩ, hành động là cái “thùng vô thức sôi sục ngày đêm”, là Libido được buông thả, thỏa mãn tối đa.
Nhìn vào xe hơi, nhà lầu, những bữa nhậu hàng tỉ đồng hay lối sống sa đoạ của hàng ngũ quan chức tha hoá thì biết. Thực ra Cái TÔI của họ rất nhỏ bé, khi được Cái SIÊU TÔI thả lỏng thì bị nhập vào Cái Nó đang sôi sục thúc đẩy, sai khiến, mới phát tác ra kinh khủng như vậy.
Ngay một đại tá, giảng viên cao cấp, cũng giảng bài cho trí thức rằng, bảo vệ chế độ là bảo vệ cái sổ hưu của các đồng chí! (Tức bảo vệ cái dạ dầy, cái phần NÓ, chứ có lý tưởng gì đâu)!
Cái NÓ trong họ được kích thích, khuếch đại lớn đến mức kỳ lạ. Bản năng ham sống, sợ chết, sợ mất của cải và tất cả những gì thuộc về mình, đã khiến họ “Hèn với giặc, ác với Dân”. Họ hèn với giặc vì muốn được sống, được bảo toàn mọi thứ. Họ ác với Dân vì thói ich kỷ và bản năng xâm kích, muốn tiêu diệt những gì cản trở sự thỏa mãn đang hiện hữu của họ và sợ mất những gì họ đã có. Họ hành động chủ yếu không phải vì Cái TÔI tự ý thức mà chỉ vị nỗi SỢ: sợ giặc, sợ “vào lò” khi phe nhóm mình yếu thế; sợ sự thật bị phanh phui, sợ dân nổi giận, lên án, trừng phạt… Cái TÔI trong họ thực ra rất “khốn khổ, khốn nạn”, phải diễn kịch, dối trá, đeo nhiều mặt nạ; phải gồng mình lên hù dọa, phải che giấu sự thật (mãi có dám công khai tài sản đâu), nên nói năng, hành động bất nhất … Chắc có nhiều người trong đó bị rối nhiễu tâm lý, bị bệnh Tâm thần… Thì đấy, nhiều người nói nhảm nhí, khối anh vào bệnh viện tâm thần, tự tử hoặc sát hại nhau bằng “cái chết đúng quy trình” …
Đáng chú ý là bệnh hoang tưởng, khi cái TÔI nhập vào cái SIÊU TÔI với những “lý tưởng”, “ước vọng” viển vông, sinh ra bệnh “vĩ cuồng”, suy nghĩ, nói năng, hành động không theo thực tế mà theo tưởng tượng chủ quan…
Lại có những người chỉ biết “ăn mày dĩ vãng”, sống với những định kiến, thành kiến đã “cắm chốt” trong tiềm thức, nên mở mồm nói ra như cụ Khôt-ta-bit. Những người đó sống mà như đã chết từ quá khứ! Thật đáng thương. Nguy hiểm nhất là đám gian manh, tàn ác do bản năng xâm kích được kích hoạt mà súng trong tay họ, lại được bảo kê, không sợ bị trừng phạt…

2.4. Tại sao đạo đức xã hội xuống cấp, cái ác hoành hành?

Đến đây ta thấy rõ thực trạng xã hội hiện nay: Các thiết chế xã hội đều biến dạng, tha hóa, xa rời bản chất, chức năng vốn có của nó (từ gia đình, nhà trường, nhà chùa, các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp…) đều ít hiệu lực để hình thành nên Cái SIÊU TÔI đúng đắn, mạnh mẽ, ổn định; trong khi đó Cái TÔI tự ý thức của dân ta vốn đã ấu trĩ (“dân hai nhăm triệu, ai người lớn”…, Tản Đà, 1926), lại bao lâu nay bị kiểm duyệt, dồn nén làm cho teo tóp, co rúm lại ngay từ trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên đến giáo sư, tiến sĩ, quan chức… nên Cái NÓ được dịp thả cửa hoành hành. Lại thêm đua theo bầy đàn: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, “cả làng cùng toét (mắt) chứ mình gì tôi”… Ở đâu cũng đầy rẫy những hành vi “tiêu cực”: gian dối, hàng giả, đưa “phong bì”, nhận “phong bì”, chửi bậy, làm bậy, đua nhau ăn nhậu vô độ, “nhà nghỉ” như nấm, các ổ mại dâm trá hình, các điểm xài ma túy ở khắp nơi… Tất cả cho thấy xã hội này đang kích hoạt và không kiểm soát được (bắt cóc bỏ đĩa) các hiện tương “tiêu cực”, nên Cái NÓ tha hồ hoành hành. Bản năng sex trỗi dậy khiến những vụ loạn luân, ấu dâm, xâm hại tình dục… diễn ra đáng sợ; Bản năng xâm kích được kích hoạt ở các băng nhóm xã hội đen bởi được thuê tiền; ở các nhân viên công lực vì được bảo kê; ở giới trẻ vì hiếu thắng, trả thù… Đặc biệt những hành vi giết người thân như trường hợp Nguyễn Văn Đông ở xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng là do nhiều ẩn ức bị dồn nén trong vô thức có khi từ thơ bé, tích tụ lại và bị kích hoạt, bùng phát trong tình cảnh Cái TÔI ý thức biến dạng, Cái SIÊU TÔI hoàn toàn tan rã, cái sợ áp lực xã hội cũng hết…
Nên nhớ “thông báo tại Viện Sức khỏe Tâm thần cho thấy có 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%”…(3). Nhưng mỗi cá nhân và toàn xã hội hầu như không quan tâm đến vấn đề Sức khỏe tâm thần. Đây là một nguy cơ xã hội đáng lo ngại.

2.5. Tại sao người Việt ít có công trình nghiên cứu, sáng tạo lớn?

Không kể hơn 40 năm chiến tranh liên miên (1945 – 1989) bao nhiêu nguồn lực dồn vào đấy hết, còn sức đâu mà nghiên cứu, sáng tạo ra những giá trị lớn lao đáng kể.
Những năm hòa bình, toàn dân cũng chỉ tập trung vào vật lộn kiếm miếng ăn, cái mặc, làm cái nhà, lo cho con ăn học, chạy chữa bệnh tật và đặc biệt dồn tâm trí vào chống chọi với đủ loại Thiên tai và Nhân tai để tồn tại, còn đâu nguồn lực cho nghiên cứu, sáng tạo… Lại còn cái “vòng kim cô” luôn siết chặt. Những trường hợp có công trình nghiên cứu khoa học hay sáng tạo nghệ thuật có giá trị lớn là của hiếm.
Mặt khác lối sống của đa số người Việt hiện nay có lẽ không còn chỗ cho Libido thăng hoa! Quanh năm, suốt tháng, họ làm việc hối hả tối ngày, nhậu nhẹt, ăn chơi lu bù, họp hành liên miên đến đờ đẫn, còn đâu Libido tích tụ, dồn nén năng lượng để Thăng hoa? Sinh viên ở nội trú, vào những năm 1980 đã tổng kết: “ăn ở như Tù, nói như Lãnh tụ”! Nói như lãnh tụ là Cái TÔI ý thức không có tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt, mà nói theo áp đặt của cái SIÊU TÔI mà thôi.
Có chăng chỉ các cầu thủ, vận động viên, trước những giải đấu quan trọng, họ mới bị “cấm trại”, để tích tụ năng lượng cho Libido thăng hoa khi vào trận đấu…

2.6. Làm sao cho con người lành mạnh, xã hội văn minh?

Lý tưởng nhất, là tất cả các thiết chế xã hội phải trở về đúng với bản chất, chức năng của nó và mỗi một con người có được Cái TÔI khỏe mạnh, ý thức rõ tự do và trách nhiệm. Đó là:
– Đảng cầm quyền hoạt động công khai, minh bạch, được kiểm soát theo pháp luật, bình đẳng với các tổ chức xã hội khác, cấm độc tài, toàn trị, siêu quyền lực, để không áp đặt Cái SIÊU TÔI tập thể lên toàn xã hội (ai vượt ra cái “vòng kim cô” thì bị quy là “tự diễn biến”, “suy thoái”, “bất hảo’, “phản động”…). Bắt cả trẻ em ngay từ thơ bé không được là chính mình, mà phải phấn đấu theo một mẫu hình “siêu nhân” là tội ác!
– Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập để Pháp luật được thượng tôn, Công lý được hiện hữu, để khi gặp vấn đề bất công, xung đột, người dân sẽ đi khiếu kiện và tin vào Công lý… chứ không đem gậy gộc, dao kiếm, súng đạn ra giải quyết với nhau;
– Chính quyền làm đúng chức năng của nó, sinh ra là để phục vụ Dân chứ không phải để cai trị Dân, hành Dân, “ăn của Dân không chừa thứ gì”;
– Gia đình, nhà trường, nhà chùa…. trở về đúng bản chất của mình. Đó là nơi giáo dục những giá trị nhân bản, đạo đức truyền thống, Giá trị phổ quát, gieo những niềm tin Chân, Thiện, Mỹ nơi con người ngay từ thơ bé cho tới khi trưởng thành…;
– Các Hội, Đoàn, tố chức xã hội… phải là nơi tự nguyện tham gia của những người cùng chí hướng, cùng sở thích, hứng thú; kích thích, hỗ trợ nhau thăng hoa trong các hoạt động vui thích và sáng tạo (chứ không phải là nhóm lợi ích ăn chia, hay công cụ để bóp nghẹt Cái TÔI của các thành viên…);
– Các cá nhân được tôn trọng, ngay từ trẻ vườn trẻ, mẫu giáo trở lên, được quyền tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt, tự do hành động trên cơ sở những chuẩn mực xã hội công minh. Ngay từ gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội, khi con người được tự do như vậy, Cái TÔI sẽ lớn mạnh, tự ý thức phát triển, biết LÀM CHỦ BẢN THÂN thì trách nhiệm xã hội sẽ cao và năng lực tự điều chỉnh hành vi, kiểm soát Cái NÓ một cách hợp lý, hiệu quả, đời sống tâm lý sẽ cân bằng hơn…Freud gọi là “Cái NÓ trở thành Cái TÔI”, nghĩa là hệ thống nhu cầu được nằm trong Cái TÔI ý thức…
– Cái TÔI tự ý thức trưởng thành thì trong xã hội, tự do của người này không cản trở tự do của những người khác, xã hội sẽ lành mạnh, mới thực sự ổn định, phát triển bền vững, hướng đến dân chủ, văn minh…
– Xã hội nào cũng có một tỉ lệ những người rối nhiễu tâm lý, bệnh hoạn, trộm cướp, bạo hành, xả súng giết người … nhưng xã hội đó không bị rối loạn các giá trị đạo đức, pháp luật… thì sẽ không bị xuống cấp như xã hội ta hiện nay.
Thưa các bạn, đây là tôi dùng quan điểm của S. Freud để phân tích một số hiện tượng ở xã hội ta, nó có thể méo mó, nhưng là để góp thêm vào cách nhìn xã hội đa chiều. Rất mong các bạn có cái nhìn theo quan điểm khác (chẳng hạn Mac- Lê), tranh luận, phê phán một cách xây dựng, giúp cho vấn đề được sáng tỏ hơn, nhằm góp phần nâng cao nhận thức xã hội.
Chú thích :
1. (https://tintuconline.com.vn/…/loi-khai-lanh-lung-cua…).
2. ttps://www.facebook.com/thongdongoc
3. https://www.google.com/search…
06/9/2019 – 26/6/2020
Macj văn Trang / Nguồn : BVN