Ảnh ít người biết về cựu hoàng Bảo Đại của phóng viên quốc tế

Cùng xem loạt ảnh tư liệu mà nhiều người có thể chưa bao giờ biết đến về Bảo Đại – vị hoàng đế cuối cùng của nước Việt – được ghi lại qua ống kính của các phóng viên quốc tế.

Ảnh: Getty Images.

Hoàng đế Bảo Đại (trái) và hoàng thân Vĩnh Cẩn (phải) cùng các quan chức Pháp ở Paris năm 1926. Bảo Đại du học ở nước Pháp từ năm 1922-1932.

Bảo Đại cầm vợt bóng bàn trong một hoạt động của giới tin hhoa ở Paris năm 1932.

Bị thương sau một chuyến săn bắn, hoàng đế nước Việt chống gậy tại dinh thự của mình gần Cannes, 1939.

Cựu hoàng Bảo Đại ở London, Anh quốc năm 1948. Ông đã thoái vị tại Huế trong cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945.

Nụ cười sảng khoái của người từng là vua nước Việt, 1949.

Quốc trưởng Bảo Đại làm việc với Leon Pignon, Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Sài Gòn năm 1949.

Quốc trưởng Bảo Đại tham gia một sự kiện tại Hà Nội năm 1950.

Bảo Đại và cố vấn Trần Văn Hữu (ngoài cùng bên phải) trò chuyện cùng Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ Russel S. Berkey và nhà ngoại giao Edmund A. Gullion, 1950.

Đô đốc Russel S. Berkey cùng cựu hoàng Bảo Đại thưởng thức sâm-panh, 1950.

Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol tại Rambouillet, Paris ngày 28/8/1953.

S.T/Red VN

Sống với một chiếc gương soi luôn ở trước mặt…

Ngày nay phần lớn nhân loại đều phẫn nộ trước vũ khí hạt nhân, trong khi đó có một loại vũ khí hạt nhân khác lúc nào cũng hiện hữu trong tâm ta…

Sống với một chiếc gương soi luôn ở trước mặt…

Bài viết của nhà tu hành Phật giáo Tây Tạng Akong Tulku Rinpoche, người sáng lập Tu viện Samye Ling ở Scotland.

Khi chúng ta đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài, đó là một sai lầm. Ta có thể tìm đến bao điều mới lạ để làm giàu thêm kinh nghiệm sống của mình, ngay cả đi du lịch khắp nơi trên thế giới, nhưng rồi ta vẫn nhìn mọi việc bằng con mắt cũ của mình. Chính tư duy và cảm thọ của chúng ta tạo nên cái nhìn về thế giới ta đang sống.

Khi ta cố gắng thay đổi thế giới theo cái nhìn hay sự mong mỏi của riêng mình, thì chắc chắn là ta sẽ thất bại. Nếu trời đang mưa, ta không thể bắt trời nắng chỉ bằng ao ước; nhưng điều ta có thể làm được là nhìn lại mình, để xem cái gì trong ta khiến ta cảm thấy khó chịu vì mưa. Ðiều đó không có nghĩa là ta phải thay đổi cá tính của mình – chúng ta đã có cá tính rồi. Nói một cách chính xác, cái chúng ta cần là một tấm gương, soi cho ta biết ta thực sự là ai, và ta có thể sửa đổi như thế nào để được tốt hơn.

Lâu nay, chúng ta có khuynh hướng tạo cho mình nhiều khuôn mặt (mặt nạ). Mỗi khuôn mặt cho một hoàn cảnh khác nhau, nhưng chúng ta chưa bao giờ tự soi gương mặt thật của mình, có thể vì quá cận ảnh thì khó nhìn cho rõ. Ngược lại chúng ta hay nhìn người chung quanh, và khi nhìn thấy một gương mặt đẹp đẽ nào đó, ta hình dung ra mình cũng như thế.

Tuy nhiên, mặt nạ của ta cũng có lúc bị rơi xuống, hay ta quên mang nó lên, lúc đó ta mới thoáng thấy hình dáng thực sự của nó ra sao. Thường thì sự thật quá đau lòng đến nỗi ta không thể chịu đựng được. Ta vội vã che đậy nó lại. Vì chúng ta đã quen thay đổi mọi thứ đến nỗi ta không thể chấp nhận chính bản thân. Trong lúc đó, dưới tấm mặt nạ, gương mặt thật của ta đang thối rữa vì thiếu không khí, ánh sáng, vì chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc lau chùi nó cho sạch sẽ.

Bề ngoài ta có vẻ như là một người tốt, nhưng chính con người bên dưới chiếc mặt nạ mới cần được thanh tịnh hóa. Nếu thật sự tâm ta trong sáng, thì thật tốt cho những người ở quanh ta. Tuy nhiên, giả bộ tốt bên ngoài, mà bên trong xấu xa, thì không ích lợi gì cho bản thân ta và cho kẻ khác.

Ðằng sau tấm mặt nạ là con người mà ta cần phải hiểu và tu sửa. Tất cả chúng ta đều mang một tên gọi là Tôi nhưng thật ra ta không hiểu mình là ai. Khi ta cho ai một thứ gì, dầu là một mẩu bánh mì nhỏ, là ta đã nghĩ mình quá tốt, quá hữu ích, đến nỗi ta cứ nhớ mãi đến hành động đó một thời gian dài. Ngược lại, nếu ta làm điều gì xấu, ích kỷ, ta cố gắng quên nó ngay lập tức. Chúng ta có khuynh hướng tạo nên một hình ảnh giả tạo về con người mình để tự an ủi bản thân. Hành động tự lừa dối mình rất khó kiểm soát – đó là lý do tại sao ta cần đến cái gương soi.

Ở Tây Tạng, có một vị đại sư rất nổi tiếng, Ngài Lodro Thaye Jamgon Kongtrul Rinpoche, đã nói về vấn đề này như sau: “Khi tôi nhìn các vị truyền giáo, tôi thấy bên ngoài họ có thể ăn mặc lịch sự, nói năng hoạt bát, nhưng khi tôi nhìn vào tâm họ, họ giống như những con rắn độc. Mỗi khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn, hay trở ngại, lúc đó tâm thực sự của họ mới hiện ra. Giống như các con rắn độc sẽ cắn, dầu bên ngoài ta thấy nó rất điềm tĩnh, họ cũng sẽ hành động như thế nếu có điều gì đó cản trở, đe dọa họ”.

Ðiều đó, dĩ nhiên không có nghĩa, hễ rắn là xấu; rắn có khả năng để trở thành xấu hay tốt, nhưng vì lòng sợ hãi, ghen ghét hay u mê, nó có thể trở nên nguy hiểm khi nó cảm thấy bị đe dọa. Cũng thế, khi chúng ta nhìn thấy cái xấu trong ta, do vô minh tạo nên, chúng ta có thể và phải sửa đổi nó thành trí tuệ. Khi chúng ta có thể quay vào bên trong để tự soi tâm mình, và thanh tịnh hóa tâm, là ta đã tìm được con đường đạo, và tất cả mọi hoàn cảnh bên ngoài tự nhiên trở thành dễ dàng để ta ứng phó bằng những phương cách tích cực và hữu hiệu.

Ðiều quan trọng là ta phải có thái độ minh bạch đối với những gì ta nhìn thấy trong gương. Chỉ nhìn thấy những mặt xấu thì cũng tai hại và vô ích như chỉ nhìn thấy những mặt tốt đẹp của ta. Chỉ nghiêng về những mặt tiêu cực của cá tính có thể dẫn đến trạng thái trầm cảm, tuyệt vọng nặng nề. Chúng ta có thể quan sát mình trong gương mà không kết án những gì ta thấy hay muốn đập vỡ cả gương soi. Ngược lại, ngó lơ hay che giấu những mặt xấu của ta, chỉ làm cho chúng thêm sức mạnh, dẫn đến những dồn nén bên trong, để rồi một ngày nào đó nó vỡ tung.

Ngày nay phần lớn nhân loại đều phẫn nộ trước vũ khí hạt nhân, trong khi đó có một loại vũ khí hạt nhân khác lúc nào cũng hiện hữu trong tâm ta. Mỗi ngày, bản ngã ta tạo nên tự ái, ganh tỵ, sân hận, ham muốn, căm hờn, dẫn đến sợ hãi và xung đột ở mọi mặt, làm hại cho bản thân và cho cả tha nhân. Ðể vô hiệu hóa vũ khí hạt nhân hay các phản ứng của nó, không thể chỉ việc đem chôn giấu nó và ước muốn nó sẽ biến mất đi. Cũng thế, để dập tắt những động lực xấu xa trong ta, ta phải tháo gỡ, làm tiêu trừ chúng với sự cẩn trọng và khéo léo, bằng những phương tiện của lòng từ và tình thương. Công việc khó khăn này cần được làm với lòng kiên nhẫn và thái độ không bám víu.

Những gì chúng ta đã học được bằng cách nhìn vào gương có thể rất hữu ích trên con đường tu đạo, nhưng trước hết chúng ta phải biến chúng thành một phần trong kinh nghiệm sống của ta, chứ không phải là một cái gì riêng rẽ. Vì nếu ta không thực sự hòa nhập trong trí tuệ và tình thương yêu vừa được khơi dậy, thì cũng giống như chúng ta vừa mang một chiếc mặt nạ mới.

Nên nhớ, tất cả những khám phá của chúng ta phải được áp dụng vào thực tế. Không ích lợi chi nếu ta bỏ ra một tiếng đồng hồ ngồi suy gẫm về việc buông bỏ lòng ghen ghét, nhưng khi vừa hết giờ ngồi thiền, thì ta lại để bị lôi kéo vào những tình cảm ghen ghét thì thật hoài công. Những gì ta đã suy gẫm phải được áp dụng vào đời sống hằng ngày, vào những hoàn cảnh ta phải đối mặt trong cuộc đời.

Thêm nữa cho dầu ta có thể học hỏi, sưu tầm rất nhiều Pháp, với tất cả lòng chân thành, nhưng nếu chúng không liên hệ hay có thể ứng dụng được trong hoàn cảnh riêng của ta thì cũng vô ích. Giáo dục trường lớp và các khả năng tri thức có thể phần nào giúp ta hiểu và đương đầu với nhiều hoàn cảnh trong đời; nhưng có được một tâm rộng mở thì quan trọng hơn.

Dầu tất cả chúng ta, ai cũng đều có khả năng thông cảm và yêu thương, nhưng nếu ta không phát triển những đức tính này cũng như không đem chúng áp dụng vào cuộc sống, thì cũng bằng như không có. Một kẻ giàu mà không biết sử dụng đồng tiền của mình, cũng không bằng người nghèo mà biết cách dùng tiền một cách hữu ích. Vì thế ta cần có chánh niệm, sử dụng những gì ta có một cách hữu hiệu. Thí dụ, chỉ biết đến tình cảm ghen ghét bên trong ta, chưa đủ; ta còn cần phải có sự cố gắng và khéo léo để điều phục, hoán chuyển nó. Bằng cách đó, lòng tự tin và sức mạnh của ta được tăng trưởng; cảm giác hẹp hòi và vô ích sẽ biến mất, nhường chỗ cho một tâm hồn cởi mở, một tấm lòng tự trọng.

Nếu ta tiếp tục sử dụng chiếc gương soi, dần dần ta sẽ nhận rõ được sự tiến bộ của mình, chứng tỏ ta có sự phát triển tâm linh, và những đau khổ chúng ta phải chịu đựng trước đó sẽ dần dần biến mất.

Từng bước, từng bước một, ta sẽ có thể xác định và làm vô hiệu hóa những độc tố nội tâm, những trạng thái tiêu cực của tâm đã khiến cho cuộc đời càng thêm khó sống. Không ai có thể làm chủ được thế giới bên ngoài, nhưng chúng ta có thể đánh bại sân hận, tự ái, ham muốn, lòng căm ghét và ganh tỵ trong lòng ta. Những chướng ngại này đã khiến chúng ta thêm xa cách với cuộc sống. Khi đã khuất phục đưọc chúng, lúc đó ta sẽ không còn cảm thấy cuộc sống đối nghịch với ta. Chúng ta sẽ thấy tự tại với chính mình, với thế giới quanh ta, và ta sẽ có thể giúp đỡ người khác nữa. Tất cả mọi người, mọi việc đều trở nên thuận lợi, hữu ích đối với chúng ta, cũng như ngược lại.

Sống với một chiếc gương soi luôn ở trước mặt, không phải là chuyện dễ, nhưng để hiểu và giải quyết những vấn đề của chúng ta trong cuộc sống, ta cần phải chịu đựng một số khó chịu, bực bội. Sức mạnh của thói quen khiến chúng ta dễ phán đoán và cố sửa đổi người khác, vì thế việc phải đối mặt với chính lỗi của mình để sửa đổi chúng có thể làm chúng ta cảm thấy e sợ. Cũng là điều tự nhiên khi ta sợ điều ta chưa biết; hướng giải quyết là phải tìm hiểu và làm bạn với chính mình, giống như người luyện tập thú, trước hết phải lấy được lòng tin của con vật.

Phương pháp để tu sửa bản thân này không thể là những lời nói dễ dãi đầu môi, nó phải được xuất phát từ trong thâm tâm một cách chân thành, quyết liệt. Vậy chúng ta hãy bắt tay vào việc phân loại những vấn đề của mình. Chúng ta phải chế ngự tâm và rèn luyện chính mình. Nếu không, ta sẽ tiếp tục thấy cuộc đời khó sống, tiếp tục đổ lỗi cho người và hoàn cảnh khi có việc khiến ta phiền hà, bực bội. Lúc đó ta lại phải phân loại hàng triệu người để đối phó, chứ không phải một. Vì thế thay vì cố gắng thay đổi người khác, ta hãy nhìn vào gương soi, và sửa đổi chính mình.

Theo HỘI TUỔI TRẺ VÀ PHẬT PHÁP

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất

CƠ THỂ CHÚNG TA LÀ MỘT BỘ MÁY THỐNG NHẤT, BẤT KỲ SỰ THAY ĐỔI NÀO TỪ TÂM LÝ ĐẾN THỂ CHẤT ĐỀU SẼ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA NÓ.

Những nghiên cứu khám phá khoa học ngày nay có thể làm sáng tỏ rất nhiều điều và có thể bạn không biết, chính những kiến thức về cơ thể người chính là khởi nguồn cho những ý tưởng hay ho phía loạt phim siêu anh hùng nổi tiếng. Vì bạn biết không, cơ thể chúng ta thực tế sở hữu những “siêu năng lực” hay những khả năng kì diệu chính bạn cũng không hề hay biết.

1. HIỆU ỨNG PINOCCHIO LÀ CÓ THẬT

Nhân vật cậu bé người gỗ Pinocchio cứ nói dối thì mũi sẽ dài ra dường như được xây dựng dựa trên một số kiến thức thực tế. Nghiên cứu khẳng định rằng khi chúng ta nói dối, điều đó được phản ánh trên khuôn mặt theo đúng nghĩa đen. Nhiệt độ của mũi và vùng xung quanh mắt sẽ tăng lên và được làm nóng lên.

2. CƯỜI GIÚP GIẢM ĐAU

Ai cũng đã nghe tới câu nói “một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” và điều này hoàn toàn được khoa học chứng minh. Cười giải phóng các chất hóa học trong não giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu và cũng có thể giảm đau.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 1.
3. RÁY TAI CÓ CHỨC NĂNG NHƯ CHẤT LÀM SẠCH

Nhiều người trong chúng ta luôn nghĩ rằng cần phải làm sạch ráy tai hàng ngày như vệ sinh cơ thể vậy. Tuy nhiên, khoa học chứng minh điều ngược lại. Ráy tai sẽ làm sạch ống tai của chúng ta và bảo vệ nó khỏi nhiễm trùng. Việc loại bỏ chúng đem lại nhiều tác hại hơn là lợi ích. Vậy nên, tốt hơn hết, chúng ta chỉ nên loại bỏ phần ráy tai ở phần ngoài của tai.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 2.
4. TÓC BIẾT RÕ KHI NÀO BẠN ĐI NGỦ

Các nang tóc thực sự có thể nói lên rất nhiều điều về giấc ngủ của chúng ta. Nghiên cứu chứng minh, chúng theo dõi và chứa đồng hồ sinh học 24 giờ, giúp thiết lập thói quen ngủ của chúng ta. Việc sử dụng tế bào từ nang tóc để hỗ trợ chữa trị triệu chứng rối loạn giấc ngủ đang được mở rộng nghiên cứu.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 3.
5. CƠ THỂ CỦA CHÚNG TA CẦN MỘT GIẤC NGỦ NGẮN SAU BỮA TRƯA

Điều này không hề liên quan gì đến loại thức ăn chúng ta tiêu hoá. Lý do nằm ở đồng học sinh học của cơ thể. Nhịp sinh học sẽ gửi một số tín hiệu cảnh báo nhất định từ 7 đến 9 giờ sau khi chúng ta thức dậy và những tín hiệu này khiến bạn cảm thấy buồn ngủ.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 4.
6. CHỚP MẮT CHÍNH LÀ “ĐỘNG CƠ” CỦA “BỘ MÁY CƠ THỂ”

Chúng ta dành khoảng 44 phút (trong một ngày) để chớp mắt, và đây là một chức năng thực sự quan trọng đối với chúng ta. Nó không chỉ giữ mắt không bị khô và bảo vệ khỏi các vật thể lạ mà còn giúp chúng ta nghỉ ngơi. Bộ não của chúng ta cũng sử dụng khoảnh khắc nhắm mắt ngắn đó để tạm “tắt nguồn”.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 5.
7. DẠ DÀY CỦA CHÚNG TA GIÚP BẢO VỆ HỆ THỐNG MIỄN DỊCH

Hệ thống miễn dịch rất quan trọng đối với sức khỏe của chúng ta, giúp chống lại tất cả các mối đe dọa từ bên ngoài. Tuy nhiên, nó cũng cần một số trợ giúp bổ sung. Đây là lúc dạ dày “ra tay”, axit trong dạ dày có khả năng ngăn chặn hầu hết các vi trùng trong thực phẩm mà chúng ta tiêu hóa xâm nhập vào cơ thể.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 6.
8. ĐÔI MẮT SỞ HỮU BỘ CƠ HOẠT ĐỘNG NHANH NHẤT TRONG CƠ THỂ

Cơ chuyển động nhanh nhất trong cơ thể chúng ta nằm ở cơ quan thị giác trong mắt. Nó nhanh đến nỗi lọt vào Kỷ lục Guinness Thế giới. Chúng ta sở hữu hai bộ cơ nhanh nhất ở hai bên mắt, điều khiển hoạt động đóng của mí mắt. Nếu một vật thể sắp chạm vào mắt chúng ta, nó sẽ nhắm mắt lại trong vòng chưa đầy 100 mili giây (0,1 giây).

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 7.
9. CHÚNG TA CÓ “BỘ GIẢM XÓC” TRÊN KHẮP CƠ THỂ CỦA MÌNH

Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng cấu trúc phân tử trong cơ thể có chức năng như một “bộ giảm xóc”. Đây là phát hiện giúp làm sáng tỏ câu hỏi bằng cách nào cơ thể chúng ta chịu được với mọi cử động mà không bị xé vụn dưới tương tác của nó với rất nhiều bộ phận chuyển động khác.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 8.
10. MŨI GIÚP CHÚNG TA NẾM ĐƯỢC VỊ ĐỒ ĂN

Thực tế, khứu giác của chúng ta chịu trách nhiệm về việc cảm nhận khoảng 80% mùi vị của đồ ăn. Nếu không có nó, chúng ta sẽ chỉ nếm được vị ngọt, mặn, chua và đắng. Tất cả các hương vị khác đến từ việc ngửi.

10 điều kỳ diệu mà cơ thể chúng ta có thể làm được, khiến bạn phải thừa nhận rằng thân thể mình chính là cỗ máy đỉnh cao nhất - Ảnh 9.

Nguồn: Brightside

Theo P.H / Doanh nghiệp và tiếp thị

5 giai thoại đặc biệt về thiên tài âm nhạc Mozart

Mozart là một thiên tài âm nhạc, nhưng ông cũng là một con người kỳ lạ. Dưới đây là 5 giai thoại đặc biệt về ông:

Mozart. (Tranh: Franz Thaddaus/Pinterest, Public Domain)
Thánh ca Miserere
Thánh ca Miserere (Tạm dịch tên đầy đủ: Xin Chúa nhân từ đối với con), là một tác phẩm hợp xướng của Gregorio Allegri viết vào thế kỷ 17, và chỉ được sử dụng trong những nghi thức trang nghiêm nhất của tuần lễ Thánh. Đã từng có thời gian tòa thánh Vatican bảo vệ thánh ca Miserere nghiêm ngặt đến nỗi bất kỳ ai bị phát hiện sao chép bản nhạc đều sẽ bị rút phép thông công (bị khai trừ khỏi giáo hội).

Năm 1770, khi Mozart 14 tuổi, cậu bé đã cùng cha du lịch tới Vatican để nghe biểu diễn thánh ca Miserere vào thứ Tư của tuần lễ Thánh. Bất chấp luật lệ, cậu bé đã ghi lại bản nhạc dựa theo trí nhớ của mình. Vào ngày thứ Sáu, cậu bé tiếp tục mang bản sao chép của mình tới để chỉnh sửa những chỗ còn sai sót.

Cha Mozart phát hiện ra bí mật nhỏ của con, nhưng thay vì trừng phạt con, ông đã giúp đỡ con mang bản thánh ca ra khỏi Rome mà không bị phát hiện.

Khi bản thánh ca Miserere được xuất bản tại London 1 năm sau đó, Giáo hoàng Clement XIV đã triệu tập cậu bé Mozart tới Rome. Và hậu quả dành cho lá gan quá lớn của thiên tài âm nhạc là: Mozart được Giáo hoàng tán thưởng và phong tước hiệp sĩ…

Khúc mở đầu của vở opera Don Giovanni
Có nhiều giai thoại về việc Mozart sáng tác khúc mở đầu của vở Don Giovanni (Đông Gioăng). Một trong số đó kể rằng đêm trước buổi công chiếu của vở opera, ông vẫn chưa viết được khúc mở đầu dành cho vở opera. Ông nhìn đăm chiêu vào màn đêm dài trước mắt và nhờ vợ là Constanze giúp ông thắp lên một chút cảm hứng. Bà đã cố gắng giúp ông bằng một chút rượu và thơ ca, nhưng nó chỉ khiến cơn buồn ngủ của Mozart đến nhanh hơn.

Thiên tài âm nhạc và vợ. (Tranh: William James Grant/Gramophone.co.uk, Public Domain)
Mozart ngủ vùi trên ghế sofa và dự định sẽ tỉnh dậy sau giấc ngủ ngắn khoảng 1 giờ đồng hồ, nhưng rút cục ông đã ngủ một giấc dài tới 5 giờ sáng. Khi tỉnh dậy, ông nhanh chóng viết khúc mở đầu và gửi đi chỉ 2 giờ sau đó.

Bản concerto dành cho piano số 26
Nếu nhìn vào bút tích của bản concerto cho piano số 26, dù không thông hiểu về nhạc lý một chút nào, hẳn bạn cũng sẽ nhận ra một điều hiển nhiên: có quá nhiều khoảng trống.

Bản concerto dành cho piano số 26 (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)
Nguyên nhân là vì Mozart quá giỏi âm nhạc đến nỗi nếu ông là người công diễn bản nhạc đó thì ông chỉ cần phác nó ra mà thôi. Khi lên sân khấu, Mozart sẽ dựa vào khả năng ứng biến thiên tài của mình để hoàn thiện tác phẩm…

Trò đùa âm nhạc
“A Musical Joke” (Tạm dịch: Trò đùa âm nhạc) là một bản Divertimento khá đặc biệt của Mozart. Ông đã phá vỡ rất nhiều quy tắc âm nhạc trong bản nhạc này.

“Trò đùa âm nhạc” với những nốt nhạc lặp lại, những hợp âm không hòa hợp, cũng như những chiếc kèn phải vật lộn để tạo ra âm thanh, lại được Mozart kết hợp để tạo nên một bản nhạc. Ông đã đẩy lùi tất cả bằng những kỹ thuật chỉ phổ biến sau này, vào mãi tận thế kỷ 20. Vì vậy có thể nói rằng Mozart đã đi trước thời đại những 2 thế kỷ.

Bản concerto duy nhất dành cho kèn Trumpet
Bản concerto cho kèn Trumpet của Mozart thực sự đã bị thất lạc và chúng ta chỉ biết là ông đã viết nó vì cha ông đã nói về tác phẩm ấy trong một bức thư.

Nhưng thật thú vị khi biết rằng đây là bản concerto cho kèn Trumpet duy nhất mà Mozart từng viết. Tại sao ư? Mozart rất sợ kèn Trumpet.

5 giai thoại đặc biệt về thiên tài âm nhạc Mozart

Gia đình Mozart. (Tranh: Louis Carrogis Carmontelle/Wikipedia, Public Domain)
Theo hồi ức từ một người bạn của gia đình, âm thanh của kèn Trumpet làm cho Mozart trở nên tái nhợt và dúm dó. Mang một chiếc kèn Trumpet đến trước mặt Mozart giống như chĩa súng thẳng vào tim ông vậy.

Để giúp con trai vượt qua nỗi sợ hãi này, cha Mozart đã nhờ người bạn thổi kèn Trumpet trước mặt Mozart. Không cần phải nói, ai cũng hiểu kết quả là như thế nào. Liệu có phải vì thế mà bản concerto ấy… biến mất?

Lê Anh /Tri thức VN

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

Bức tranh “Thằng mù lại dắt thằng mù” hay còn gọi là “Ngụ ngôn về thằng mù” là một trong những tác phẩm nổi tiếng theo trường phái Flemish thời kỳ Phục hưng của danh họa Pieter Bruegel bố, được hoàn thành vào năm 1568. Đây là bức tranh sơn dầu miêu tả câu ngụ ngôn về người mù trong Kinh Phúc Âm, hiện đang được lưu giữ trong bộ sưu tập của Viện bảo tàng nghệ thuật Museo di Capodimonte ở Naples, Ý.

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

(Tranh: Wikipedia, Public Domain)
Bức tranh này đã cho thấy con mắt quan sát tinh tế của Bruegel. Mỗi nhân vật trong tranh không chỉ đơn giản là mù, mà còn bị một loại bệnh về mắt khác nhau, từ chứng vảy cá làm mắt mờ đến chứng teo nhãn cầu, có người còn bị khoét mắt. Tất cả những người đàn ông mù trong tranh đều ngẩng cao đầu nhằm tận dụng tối đa các giác quan khác. Bố cục đường chéo của tranh củng cố thêm chuyển động không theo trật tự của cả sáu nhân vật mù trong tranh: từng người thi nhau ngã. “Thằng mù lại dắt thằng mù” được coi là tác phẩm bậc thầy về sự chính xác về chi tiết cũng như bố cục.

Bruegel vẽ bức tranh này một năm trước khi ông qua đời. Nó bộc lộ một tâm trạng có phần buồn bã, nguyên nhân có thể là do việc Chính quyền Habsburg thành lập Hội đồng giải quyết tranh chấp vào năm 1567. Hội đồng này đã ra quyết định bắt giữ và xử tử rất nhiều người nhằm áp đặt sự thống trị của Tây Ban Nha và xóa bỏ đạo Tin Lành.

Ngụ ngôn về thằng mù
Kinh Phúc Âm Matthew có viết rằng:

“Nếu một người mù dẫn dắt một người mù, thì cả hai sẽ cùng rơi xuống hố.”

Hoàn cảnh mà Kinh Thánh nhắc tới ngụ ngôn này là khi chúa Jesus nói tới các tín đồ của giáo phái Pharisees, một nhánh của Do Thái giáo. Nhưng ngụ ngôn này thực chất là một câu chuyện không chỉ xuất hiện trong Kinh Thánh. Nó có thể được tìm thấy trong nhiều tài liệu cổ khác nhau. Ví dụ như kinh Vệ Đà cũng có viết rằng:

“Sống trong ngu dốt, nhưng chúng lại cảm thấy mình khôn ngoan và hiểu biết, những kẻ ngốc đi từ chỗ này tới chỗ kia mà không định hướng, cũng giống như một người mù bị dắt bởi một người mù.”

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

Minh họa cho chuyện thằng mù dắt nhau trong một bức tranh khác của Bruegel. (Xem bài: 125 câu tục ngữ bên trong một tác phẩm Phục Hưng) (Wikipedia, Public Domain)
Tương tự như vậy, một câu nói trong Phật giáo cũng được lưu truyền ở vùng Sri Lanka như sau:

“Có một hàng những người mù, người sau nắm lấy kẻ đằng trước: kẻ đi đầu không nhìn thấy gì, kẻ đi giữa không nhìn thấy gì, và kẻ đi cuối cũng không nhìn thấy gì.”

Erasmus xuất bản cuốn Adagia hai năm trước khi Bruegel vẽ bức tranh này, và trong cuốn Adagia cũng có trích câu “Caecus caeco dux” trong thơ của Horace, một nhà thơ La Mã sống vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. “Caecus caeco dux” có nghĩa là “Thằng mù dẫn thằng mù”.

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

Tác phẩm cùng chủ đề của Sebastian Vrancx vẽ vào đầu thế kỷ 17. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)
Người xem tranh của Bruegel thời bấy giờ hẳn là rất quen thuộc với các tích trong văn học cổ điển hoặc tôn giáo.

Bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Bruegel

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

(Tranh: Wikipedia, Public Domain)
Dựa vào Kinh Thánh, hoặc giả cuốn Adagia, Bruegel đã nâng số người mù trong câu nói ngụ ngôn này từ hai thành sáu. Khuôn mặt người mù đầu tiên không rõ nét; người thứ hai đang ở tư thế xoay đầu khi ngã, có thể để tránh mặt khỏi va vào đất; người mù thứ ba có đeo đồ bảo vệ ống chân, đang ở trạng thái chân kiễng đầu gối chùng, mặt ngửa lên trời, cầm chung gậy với người thứ hai, vì thế cùng bị kéo ngã xuống; những người khác chưa ngã, vẫn còn ở tư thế ổn định, nhưng dường như họ sẽ không thoát khỏi số phận tương tự.

Kẻ đi đầu có mang theo cây đàn bị ngã.
Trong nhiều bức tranh cùng chủ đề, những người mù thường được vẽ với đôi mắt nhắm, nhưng ở đây mỗi người mù lại có một trạng thái khuyết tật khác nhau. Mắt người đàn ông đầu tiên bị mất thị giác; người thứ hai bị khoét mắt, mất luôn cả mi mắt; người thứ ba bị chứng vảy cá làm mắt mờ; người thứ tư bị teo nhãn cầu; người thì thứ năm hoặc bị mù, hoặc không có khả năng cảm nhận ánh sáng hoặc bị chứng sợ ánh sáng; người thứ sáu bị bệnh pemfigut hoặc bọng nước pemfigut.

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

Khuyết tật về mắt của những người trong tranh là khác nhau.
Những người mù đang đi dọc theo một con đường mòn, một bên là sông, một bên là ngôi làng có nhà thờ. Bên cạnh đó còn có một người chăn bò trong bối cảnh, nhưng do thời gian làm hư hại nên người chăn bò không còn rõ nữa. Trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Bruegel con chép lại của Bruegel bố, chúng ta có thể thấy rõ ràng hơn.

Người chăn bò.
Mặt và thân hình của những người mù, cũng như bối cảnh bao gồm nhà thờ, được vẽ với các chi tiết vô cùng tinh tế, tỉ mỉ. Tư thế ngã ngửa lưng của người mù dẫn đoàn cho thấy khả năng vẽ hình không gian bậc thầy của Bruegel. Thông thường bối cảnh trong tranh của Bruegel là tưởng tượng không thật, nhưng trong bức tranh này, toàn bộ phong cảnh đều dựa trên thực tế. Ngôi làng trong tranh có tên là Sint Anna Pede, còn nhà thờ mang tên Sint Anna.

Về bố cục, có thể chia bức tranh làm chín phần, ngăn cách bởi một loạt các đường xiên chéo song song. Các đường này lại tiếp tục được chia bởi mạng lưới các đường thẳng từ các góc. Bố cục này giúp người xem theo dõi được hành động chứ không chỉ trạng thái đứng yên của từng nhân vật. Những người mù giống nhau về trang phục và nét mặt; và họ dường như có thể đi tiếp theo người khác trong một chuyển động đơn giản, và lên tới cực điểm là cú ngã, bắt đầu từ phía bên tay trái theo trật tự “đi lang thang, dò dẫm, lo sợ, sẩy chân, rồi vấp ngã”. Sự tiếp nối những mái đầu là tuân theo một đường cong, khoảng cách càng nới rộng, khi sự tiếp nối nhau bị kéo dãn, cho thấy người đi sau cần tăng tốc để bắt kịp người đi trước. Độ nghiêng của các mái nhà trong bối cảnh càng củng cố thêm cảm xúc của người xem về bố cục.

Sự châm biếm trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù” của Pieter Bruegel

Một đặc điểm khiến các học giả cảm thấy Bruegel đang ám chỉ tới các vấn đề xã hội thời bấy giờ là vì những người mù này không ăn mặc trang phục nông dân, hay trang phục của người nghèo, mà đều ăn mặc khá đàng hoàng, ngoại trừ một vài chiếc áo choàng trông có vẻ hơi rách mướp ở bên ngoài. Có thể thông qua chi tiết này, Bruegel muốn ám chỉ tới những kẻ thuộc giới quý tộc đang mù quáng dẫn nhau xuống hố sâu của chính trị.

Một linh mục?
Trong số những người mù, đằng sau lớp áo choàng, chúng ta cũng có thể nhận ra hình ảnh của một vị linh mục, có thể Bruegel đang ám chỉ những người mang thiên chức mà lại phớt lờ lời răn của Chúa. Người ăn mày đi đầu còn mang theo đàn, vì thế có thể Bruegel ngụ ý về những nhạc sĩ đã quên đi trách nhiệm cất tiếng hát ngợi ca chư Thần.

Hình ảnh người mù trong nghệ thuật phương Tây
Ở thời Hy Lạp cổ đại, những người mù được mô tả là có những người năng khiếu thiên bẩm, nhận được quà tặng của Chúa trời, ví như các ca sĩ mù có giọng ca có thể với tới thiên thượng như Homer. Đến thời Trung cổ ở Châu Âu, người mù được mô tả là các nhân vật có khả năng đặc biệt, ví dụ Bartimaeus có khả năng chữa lành bệnh mù lòa ở gần Jericho trong Kinh Phúc Âm.

Sau này, tín ngưỡng phương Tây đã có sự phân cực khi nhìn nhận về vấn đề được cứu rỗi. Một số người cho rằng việc làm các điều thiện như bố thí cho người mù lòa và người nghèo là những việc tốt, cùng với đức tin thì sẽ giúp các con chiên được cứu vớt. Trong khi đó, một số người cho rằng nghèo ốm đau khổ cũng giống như khái niệm duyên số của phương Đông, vì vậy nếu cứ hữu ý đi làm phúc mà không chú trọng vào đức tin thì cũng không được cứu rỗi. Điều này cũng xảy ra tương tự ở phương Đông, khi các nhà sư quá chú ý tới việc xây chùa, giúp người nghèo, mà quên đi việc đọc kinh sách, ngồi thiền, tu luyện thì sẽ bị gọi là những người “hữu vi”, không phải là “vô vi”.

Việc nhìn nhận người mù cũng theo sự phân cực trong tín ngưỡng mà có sự thay đổi. Thậm chí trong một số tác phẩm văn học dân gian khi đó, người mù còn bị mô tả là những kẻ đểu cáng, ma cà bông, và là đối tượng của các trò chơi khăm.

Tác phẩm cùng chủ đề của Domenico Fetti vẽ vào năm 1621-1622. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)
Trong bức “Thằng mù lại dắt thằng mù”, Bruegel lại mượn hình ảnh người mù, những người thiệt thòi dễ bị tổn thương trong xã hội làm nhân vật trung tâm, để châm biếm nhân tình thế thái, châm biếm những biến động trong tín ngưỡng tôn giáo, trong xã hội thời bấy giờ. Nghệ thuật chân chính luôn bao hàm tầng tầng trăn trở của người nghệ sĩ…

Cát Hải / TrithucVN