Vẻ bình dị của mùa hè Huế

Vùng đất cố đô cuốn hút du khách bởi phong cảnh nên thơ, kiến trúc cổ kính và nhịp sống bình dị của người dân.

Các nữ sinh trong tà áo dài trắng, đạp xe chở đầy hoa phượng qua cầu Trường Tiền, gợi lên vẻ dịu dàng của người con gái Huế.

Cầu Trường Tiền là một trong những công trình biểu tượng của thành phố, bắc qua sông Hương. Người dân nơi đây quen với câu ca “Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp…”, nhưng chính xác cầu có sáu nhịp và 12 vài kết với nhau thành 6 cặp. Cầu có chiều dài hơn 400 m tính từ hai mố, nếu tính cả đường dẫn thì độ dài của Trường Tiền khoảng 453 m, lòng cầu rộng 6 m.

Sông Hương – núi Ngự như một cặp đôi đi liền nhau, cùng xuất hiện trong nhiều bài hát nổi tiếng. Dòng sông còn được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc đến trong bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, được đưa vào giảng dạy trong chương trình Sách Giáo khoa 12, một trích đoạn trong bút ký này được đưa vào đề Ngữ văn kỳ thi THPT quốc gia 2019.

Hai du khách nước ngoài dạo bước ngắm các tác phẩm điêu khắc tại Công viên 3-2. Nằm trên đường Lê Lợi với nhiều cây xanh, bóng mát và ghế đá, đây là nơi vui chơi giải trí của người dân thành phố nói riêng và du khách gần xa nói chung khi đến với Huế.

Hai phụ nữ trò chuyện tại công viên bên bờ sông Hương.

“Thật khó có thể dùng từ ngữ để diễn tả hết được vẻ đẹp trầm mặc và những điều bình dị nhất của vùng đất cố đô. Tôi sống và làm việc tại đây, dùng cảm xúc nhiếp ảnh để mang vẻ đẹp của vùng đất giới thiệu đến tất cả mọi người”, tác giả ảnh chia sẻ.

Du khách dạo bước trên tuyến đường bộ dọc bờ bắc sông Hương trong mùa cây thay lá. Người Huế xem sông Hương là dòng sông di sản, bởi vậy cảnh quan hai bên bờ sông luôn được chú trọng.

Tuyến đường bờ bắc trở thành điểm đi dạo, vui chơi, rèn luyện sức khỏe cho dân cư khu vực, đồng thời còn “kết nối” các điểm đến khác như công viên Phú Xuân, di tích Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, công viên Thương Bạc, cầu Trường Tiền và chợ Đông Ba.

Xe cộ lặng lẽ trên đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Phú Hòa.

Huế bảo tồn những công trình kiến trúc và phong tục tập quán của Triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Ngoài những điểm du lịch tiêu biểu như Kinh thành, du khách còn có thể đi thăm các lăng tẩm của vua chúa.

Hai du khách dạo bước tham quan trong Lăng Khải Định. Lăng nằm ở triền núi Châu Chữ thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, là nơi an nghỉ của vua Khải Định (1885 – 1925). Lăng được khởi công xây dựng vào năm 1920, 11 năm sau mới hoàn thành với kiến trúc như ngày nay.

Hồ sen trắng nở rộ tại làng cổ Phước Tích. Nằm cách trung tâm thành phố Huế 35 km về hướng bắc. Làng nằm yên bình bên bờ sông Ô Lâu, địa phận giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế và tỉnh Quảng Trị.

Với tuổi đời trên 500 năm và đã được xếp hạng di tích quốc gia, nơi đây nổi bật với hình ảnh đình làng, cây đa, bến nước, đồng ruộng và hồ sen trắng.

Du khách tạo dáng với lá phong đỏ trên Vườn quốc gia Bạch Mã, cách trung tâm TP Huế khoảng 40 km. Đây là khu rừng duy nhất ở Huế có phong lá đỏ. Trên núi Bạch Mã có điểm cao nhất là Vọng Hải Đài – 1.400 m so với mực nước biển.

Trong khuôn viên rừng có các biệt thự cổ kiến trúc Pháp và kề bên là những cây phong mọc tự nhiên với tuổi đời trên dưới 100 năm. Theo kiểm lâm, trong tiết trời mùa xuân những cây phong này mới chuyển sang màu đỏ, từ khoảng tháng 1 đến tháng 2, không như nhiều nơi khác thường có lá đỏ vào mùa thu.

Hai nữ công nhân công trình đô thị nghỉ giải lao trước chợ Đông Ba.

Chợ này nằm trên đường Trần Hưng Đạo, TP Huế, là chợ lớn nhất tỉnh, ra đời dưới thời vua Đồng Khánh (năm 1887). Xưa chợ nằm gần cửa Đông Ba, sau đó vua Thành Thái cho di dời về vị trí như hiện nay.

Thiếu nữ diện áo dài trắng trong hoạt cảnh thả Hoa đăng trên dòng Như Ý vào dịp Festival Huế. Những ước muốn của người già, người trẻ đều được gửi vào những cánh hoa đăng trôi nhẹ trên dòng sông, cầu mong no ấm, an lạc và luôn được hạnh phúc.

Tham gia giải chạy VnExpress Marathon Huế diễn ra ngày 6/9, du khách ngoài việc sải bước trên những cung đường rợp bóng cây xanh đi qua nhiều địa danh nổi tiếng như sông Hương, cầu Trường Tiền. Người yêu chạy bộ có thể xem thông tin chi tiết về giải chạy tại đây.

Huỳnh Phương /Ảnh: Nguyễn Tấn Anh Phong

“Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả” và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái

"Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả" và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái

Ảnh: REUTERS/Ronen Zvulun

Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gen “xấu”, lấy và nhân giống gen “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như người Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gen của mình:

Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái - Ảnh 2.

Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính.

Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gen” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gen tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà.

Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái - Ảnh 3.

Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;

“Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);

Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.

Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự.

Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.

Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.

Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái - Ảnh 4.

Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

Về các thức ăn Kosher:

Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà. Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.

Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.

Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.

Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái - Ảnh 6.

Thịt được sơ chế và bày bán theo phong tục và quy định của người Do Thái trong một cửa hàng thực phẩm tại Israel. Ảnh: Reuters/Baz Ratner

Về cách ăn đồ Kosher:

Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.

Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.

Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.

Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu.

Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

Tạm cắt nghĩa một số thứ:

Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.

Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.

Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.

Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.

Nếu có tiền, hãy tìm cách cho con mình lấy con gái của học giả và triết lý duy trì nòi giống của người Do Thái - Ảnh 8.
Theo Doanh nghiêp & Tiếp thị

3 con đường dẫn đến khổ đau, bạn có đang đi vào lối mòn này hay không?

3 con đường dẫn đến khổ đau, bạn có đang đi vào lối mòn này hay không?
Vì cuộc đời không có nút quay lại, đừng để bản thân rơi vào cái hố do chính mình tạo ra.

Mỗi người sinh ra đều mang trong mình một sứ mệnh, đó là tìm kiếm hạnh phúc.

Chính xác thì hạnh phúc là gì?

Có người cho rằng hạnh phúc là kiếm đủ thứ tiền, có địa vị và quyền lực hơn người khác. Có người cho rằng hạnh phúc nghĩa là ngày mai được thăng chức, tăng lương, từ đó sẽ ngày càng thăng tiến…

Vào thời cổ đại, nhà triết học vĩ đại phương Tây Aristotle đã chia hạnh phúc của cuộc sống thành ba loại, loại thứ nhất là hạnh phúc từ bên ngoài, loại thứ hai là hạnh phúc từ tâm hồn, và loại thứ ba là hạnh phúc từ thể xác. Ba mục tiêu hạnh phúc này tạo nên toàn bộ cuộc đời của chúng ta.

Nhà tư tưởng nổi tiếng Schopenhauer cũng bày tỏ quan điểm tương tự trong cuốn sách “The Wisdom of Life” vào những năm cuối đời. Schopenhauer trong những năm cuối đời của mình đã nhận ra rằng cuộc sống vì đi nhầm vào ba con đường mà trở nên vô giá trị, khi đó dù có hối hận thì cũng đã quá muộn. 

Quá tham lam và không kiềm chế

Schopenhauer đã viết trong cuốn “The Wisdom of Life”: “Của cải giống như nước biển. Bạn càng uống nhiều, bạn càng khát”. Chúng ta sẽ không bao giờ hài lòng với sự giàu có. Không biết từ bao giờ, trong quá trình theo đuổi của cải vô tận, con người dần bị sa đà vào những phiền muộn, đau khổ.

Đừng để cuối đời mới ngỡ ngàng trong hối hận, có 3 con đường dẫn đến khổ đau: Bạn có đang đi vào lối mòn này hay không? - Ảnh 1.

Mọi người ở mọi tầng lớp đều có nỗi đau của riêng mình. Tuy nhiên, phần lớn mọi người coi tất cả những gì bản thân không nhận được chính là bất hạnh và lại coi những điều nhận được là điều đương nhiên. Mọi người chỉ sống mà không trân trọng hiện tại, sau đó bắt đầu lo lắng, và cuối cùng họ thậm chí không có được một chút hạnh phúc nào.

Lòng tham của con người thực ra là bẩm sinh. Nó giống như bạn có hạt vừng, nhưng bạn muốn có dưa hấu. Và sau khi lấy được dưa hấu, bạn muốn lấy mọi thứ khác. Lòng tham này chỉ khiến con người ta rơi vào một vòng lặp vô tận. Sống vì giàu có, chết vì giàu có, kết quả chúng ta trở thành nô lệ cho của cải, lãng phí cả một đời người.

Luôn chạy theo đám đông, cuộc sống không khác gì một người nô lệ

Con người ta sinh ra đã cô đơn, cho dù bạn có cố gắng hết sức để thoát khỏi sự cô đơn cũng không thể thoát khỏi nó. Bởi vì con đường của mỗi người chỉ có thể tự mình đi, còn người khác thì không thể giúp được gì cả.

Nhưng trong xã hội ngày nay, mọi người phải đối mặt với một câu đố: “Muốn đi nhanh hãy đi một mình, muốn đi xa hãy đi cùng nhau”. Trên thực tế, tất cả chúng ta đều “ngây thơ”, nghĩ rằng nếu được mọi người vây quanh, chúng ta có thể hạnh phúc.

Thực tế cho chúng ta biết rằng nếu bạn muốn đạt được sự nghiệp, bạn phải chịu đựng sự cô đơn; nếu bạn muốn trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình, bạn phải biết cách đối diện với bản thân và làm việc với việc tự giải quyết.

Không thích hòa đồng, hay cô đơn, không có nghĩa là không tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Bản chất của sự cô đơn thực sự là để mọi người lắng nghe tiếng nói bên trong và sau đó hiểu chính mình. Trên đời này không ít người, sống giống như không có linh hồn, luôn chạy theo người khác để tìm kiếm sự an toàn.

Dưới hiệu ứng bầy đàn, hầu hết những người thích giao du là những con cừu bị người khác dắt đi, đến cuối đời, họ giật mình nhận ra mình đã sống những ngày không có mục đích…

Đừng để cuối đời mới ngỡ ngàng trong hối hận, có 3 con đường dẫn đến khổ đau: Bạn có đang đi vào lối mòn này hay không? - Ảnh 2.
Sống vì người khác là một điều ngu ngốc

Schopenhauer đã viết: “Nếu giá trị của một người chỉ có thể phụ thuộc vào cách người đó xuất hiện trong mắt người khác, thì việc sinh tồn như vậy sẽ rất khổ sở”.

Bạn có quan tâm mình trông như thế nào trong mắt người khác không? Bạn có quan tâm những gì người khác nghĩ về bạn? Bạn có quan tâm người khác có ấn tượng như thế nào về bạn không?

Có quá nhiều thứ chúng ta “quan tâm” trên thế giới này, và con người dần dần không quan tâm đến bản thân.

Ở nơi làm việc, chúng ta quan tâm quá nhiều đến những gì đồng nghiệp nghĩ và những gì mà lãnh đạo nghĩ quá nhiều. Kể từ đó, chúng ta dồn tất cả thời gian và công sức chỉ để thăm dò đối phương nghĩ gì về bản thân và bỏ bê chính mình.

Bạn phải nhớ một sự thật rằng những gì người khác nghĩ, chúng ta không thể kiểm soát được, và chúng ta cũng không thể ngăn cản nó. Thử hỏi nếu đồng nghiệp cho rằng bạn có năng lực làm việc tốt và biết cách lấy lòng sếp thì họ sẽ ghen ghét và đố kỵ, vậy bạn nên làm gì? Bạn chủ động làm hòa với anh ấy và chấp nhận từ bỏ cơ hội thăng tiến, hay bạn mặc kệ người khác mà là chính mình? Nhiều người chắc chắn chọn cái sau.

Nhưng trong trường hợp người có ý kiến ​​về bạn là bạn bè hoặc người thân của bạn, bạn nên làm gì? Trên thực tế, chúng ta không phải suy nghĩ quá nhiều và cũng không cần phải suy nghĩ nhiều, chỉ cần là chính mình và có lương tâm trong sáng. Suy cho cùng, húng ta chỉ là những người bình thường, không thể làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng chúng ta có thể thỏa mãn chính mình. Vậy là đủ.

Nguồn: Abolouwang / Thùy Anh / Nhịp sống kinh Tế

’52 câu chuyện’ của bậc thầy truyện ngắn Nga Anton Chekhov

Cuốn sách cho phép độc giả tiếp cận thế giới văn học đa diện nhiều màu sắc của nhà văn Nga Chekhov, một trong những cây bút truyện ngắn có ảnh hưởng nhất mọi thời đại.

“Nạn dịch tả hoành hành khắp nơi, đâu đâu cũng cách ly, đâu đâu cũng là nỗi sợ hãi”, Anton Chekhov viết trong một lá thư vào năm 1890. Vị bác sĩ 30 tuổi, khi ấy đã nổi danh về tài văn chương, phải đối mặt với nỗi kinh hoàng của nạn dịch tả đang tàn phá khắp châu Âu và châu Á.

Chekhov được cử đến 25 ngôi làng ở địa phương để giúp đỡ, nhưng từ chối mọi khoản thù lao.

“Chẳng còn thời giờ đâu mà nghĩ đến văn học”, trong những bức thư, ông than thở về chuỗi tháng ngày sống trong dịch bệnh cô đơn và buồn chán, song vẫn thừa nhận: “Nếu nhìn từ bên ngoài vào thì thật ra, trong đại dịch này có rất nhiều điều thú vị”.

“Một con người lớn lao, thông minh, và biết quan tâm đến mọi sự”, Maxim Gorky yêu mến và ngưỡng mộ Anton Chekhov cả ở tài năng và ở nhân cách lớn. Đối với Lev Tolstoy, ông “thật cao đẹp và vĩ đại”.

Ông khiến người ta liên tưởng đến “vị bác sĩ tốt” trong vở nhạc kịch cùng tên của Neil Simon hay hình tượng “bác sĩ Zhivago” trong tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga Boris Pasternak, Chekhov là hiện thân của sự khiêm nhường, nhẫn nại và tử tế, New York Times nhận định.

Ông bỏ tiền để xây thư viện, trường học, chữa chạy miễn phí cho hàng nghìn người nghèo. Ông đến Siberia để vận động cải cách nhà tù, trong khi vẫn hết lòng giúp đỡ gia đình – gồm cả hai người anh em trác táng và người cha vũ phu đã khiến họ trải qua những năm tháng tuổi thơ khốn khổ.

Chekhov xem sự bình thản và tự tại là “lẽ sống”, như có lần ông từng viết: “Chỉ có những người tự tại mới có thể nhìn mọi thứ một cách rõ ràng, người tự tại mới có thể làm việc một cách công bằng và chính trực”.

“Cuộc sống như nó vốn có”

New York Times nhận định nghệ thuật vốn thường chẳng dễ dung hòa giữa sự vĩ đại của cái ta chung rộng lớn và cá tính của cái tôi riêng biệt, vậy mà văn học của Chekhov lại hòa quyện cả hai điều đó, tạo nên một hấp lực mạnh mẽ khó có thể lý giải.

Nhà văn mà bao thế hệ cảm phục vì trái tim nhân hậu lại đồng thời sở hữu một giọng văn lạnh lùng, thậm chí đôi lúc (có vẻ như) “tàn nhẫn”. Chekhov luôn muốn tách mình ra khỏi những gì ông nhìn thấy, như một người ở ngoài lề, để khách quan ghi lại tất cả – Một người có khả năng nhận ra “rất nhiều điều thú vị trong đại dịch” để khắc họa đủ loại tính cách hèn mọn, tầm thường của đời sống hàng ngày: kẻ lười biếng ăn không ngồi rồi, kẻ khoe khoang, những kẻ sắp chết và hoang tưởng

nha van Nga Anton Chekhov anh 1
Nhà văn người Nga Anton Chekhov (1860 – 1904). Ảnh: AF Archive.

Chekhov tâm niệm “điều khiến cho văn học trở thành nghệ thuật chính xác là sự mô tả cuộc sống như nó vốn có”. Ông đã lột tả chân thật và sâu sắc cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp con người trong “buổi hoàng hôn” của nước Nga, thẳng thắn phơi bày tất cả sự khủng khiếp của xã hội cũ nhỏ nhen, trì trệ.

Văn học của ông khiến con người phải đối mặt với hiện thực để rồi đánh thức trong họ khát vọng về một sự thay đổi lớn lao cần phải có để thoát khỏi cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt.

Nhà cách tân lớn của truyện ngắn

Tuyển tập Fifty-Two Stories (52 câu chuyện) – tập hợp những truyện ngắn đặc sắc của Chekhov được dịch sang tiếng Anh bởi Richard Pevear và Larissa Volokhonsky vừa ra mắt hồi tháng 4 – đã cho thấy sự đa dạng đáng kinh ngạc trong phong cách nghệ thuật của bậc thầy truyện ngắn người Nga.

52 tác phẩm trải dài toàn bộ sự nghiệp văn học của Chekhov, phong phú từ đề tài đến cách thể hiện, cho phép độc giả tiếp cận một thế giới văn học đa diện nhiều màu sắc của Chekhov với đủ loại nhân vật, tính cách và thân phận đến từ mọi miền nước Nga. Trong số đó có cả những truyện từ thời kỳ đầu sáng tác của ông và một số tác phẩm chưa từng được dịch sang Anh ngữ như Reading (Đọc) hay An Educated Blockhead (Gã đần có học).

nha van Nga Anton Chekhov anh 2
Bìa cuốn sách Fifty-Two Stories (52 câu chuyện) của Anton Chekhov. Ảnh: New York Times.

Chekhov bắt đầu văn nghiệp khoảng năm 1880, với những truyện ngắn, tiểu phẩm hài đăng ở góc của những tờ báo nhỏ. Ông từng cộng tác thường xuyên với tạp chí “Oskolki” – cái tên có nghĩa “Những mảnh nhọn” – cũng là một mô tả xác đáng dành cho các sáng tác của Chekhov.

Một kiểu “truyện (như) không có chuyện” – thường lấy chất liệu từ đời sống sinh hoạt hàng ngày, giản dị, ngắn gọn và hài hước, nhưng cũng đầy gai góc và sâu cay. Tỉ như truyện Joy (Niềm vui) kể về chàng trai trẻ sung sướng tự hào khoe với bố mẹ mình được lên báo – về việc anh này suýt nữa thì mất mạng vì say xỉn.

Chekhov tự nhận xét rằng các truyện ngắn ở thời kỳ đầu của ông “dở tệ”. Dù vậy ở đó độc giả vẫn nhận ra dấu ấn đặc trưng của nhà văn Nga trong những cái kết đột ngột, cách ông tháo mở nút thắt đầy bất ngờ.

Ông thường phàn nàn chuyện các “tiểu phẩm hài” của mình bị cắt xén, khiến chúng trở nên ngớ ngẩn và tẻ nhạt. Điều tương tự đã không xảy ra với bản dịch của Pevear và Volokhonsky, hai dịch giả nổi tiếng từng dành giải thưởng dịch thuật với tác phẩm Anna Karenina và Chiến tranh và Hòa bình (Lev Tolstoy).

Các tác phẩm sau khi được chuyển ngữ bởi Pevear và Volokhonsky vẫn giữ trọn vẹn tinh thần của nguyên tác với sức lay động mạnh mẽ. Có lẽ là bởi vì sức hút của văn học Chekhov không nằm ở kỹ thuật diễn ngôn hay cốt truyện.

Ngôn ngữ của ông ngắn gọn, cốt truyện giản đơn thậm chí đôi khi là vay mượn. Nhưng chính lối diễn đạt cô đọng mà đầy sức chứa, sự phản ánh xác thực đời sống qua cái nhìn khách quan đầy cẩn trọng, chính cách mà Chekhov đặt các nhân vật của mình vào tình thế phải phá bỏ mọi “hàng rào phòng thủ” và buộc họ phải phơi trần bản chất, đã khiến cho các tác phẩm của ông có sức rung cảm mãnh liệt đối với độc giả bao thế hệ.

“Nhà văn làm ta muôn thuở say mê”, Gorky khẳng định “sức mạnh của tài năng Chekhov chính là ở chỗ ông không bao giờ bịa đặt ra một điều gì… Ông không nói thêm điều gì mới, nhưng điều ông nói được diễn đạt một cách giản dị, thật hùng hồn sáng rõ, giản dị đến mức đáng kinh ngạc, chân xác đến không thể nào phủ nhận được”.

“Ông ấy đã tạo ra một bút pháp mới, hoàn toàn mới cho cả thế giới mà tôi chưa gặp ở đâu”, Tolstoy nói về các tác phẩm của Chekhov. Với 25 năm sáng tạo nghệ thuật, ông đã có những đóng góp quan trọng cho tiến trình văn học Nga và văn học thế giới thế kỷ 20, với vai trò là nhà cách tân lớn trong lĩnh vực văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn và kịch.

Chekhov sớm phát hiện mình mắc bệnh lao phổi trong những năm thiếu thời, căn bệnh nan y đã cướp đi cuộc sống của ông ở tuổi 44, khi sức sáng tạo còn rất dồi dào. Ông để lại một di sản văn học đồ sộ, phong phú gồm khoảng 800 truyện: một bức tranh văn học lớn lao đã khắc họa sinh động mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội Nga đương thời.

Ngụy An / Zing

‘Năm nghỉ ngơi của tôi’ – góc trần trụi về nước Mỹ đầu thiên niên kỷ

Một cô gái trẻ có cuộc sống như mơ nhưng lại vùi mình trong giấc ngủ triền miên để quên đi sự đời, cuốn sách viết về câu chuyện 20 năm trước nhưng vẫn đầy hơi thở của hiện tại.

My Year of Rest and Relaxation (Năm nghỉ ngơi của tôi) là tiểu thuyết thứ hai của nhà văn người Mỹ gốc Croatia, Iran – Ottessa Moshfegh, xuất bản năm 2018.

Là một trong những tên tuổi nhiều triển vọng của văn học nước Mỹ, Moshfegh gây chú ý với các tác phẩm kỳ lạ, cuốn hút, lối hành văn sắc bén, đầy cẩn trọng, New York Times bình luận.

Cuốn sách trước đó của Moshfegh có tên Homesick for Another World (Nhớ nhung một thế giới khác) (2017) đã khẳng định tên tuổi của cô như một tiểu thuyết gia mới xuất sắc. Cô cũng để lại nhiều dấu ấn với các truyện dài McGlue (2014) và Eileen (2015).

Thế giới văn học của Moshfegh đầy những “kẻ lạc lối” mà những suy nghĩ “độc hại” khiến cho cuộc sống của họ rơi vào trạng thái tê liệt. Trong Năm nghỉ ngơi của tôi, Moshfegh kể về quãng tuổi 24 của một nữ nhân vật hiện đại đơn độc, điển hình cho những người hay buồn chán trong cuộc sống đương thời.

Ngủ vùi để cứu vãn cuộc đời

Nhân vật chính không tên được mô tả là một người phụ nữ “cao, mảnh khảnh, tóc vàng, trẻ trung và xinh đẹp”, và không ưa hầu như tất cả mọi người, tất cả mọi thứ trên đời. Một cô gái có học thức, giàu có và thời thượng, nhưng chán ghét xã hội và quay cuồng trong trống rỗng. Cô giống với một phiên bản nữ của Patric Bateman, nhân vật phản anh hùng vô hồn trong tiểu thuyết American Psycho (Tâm thần kiểu Mỹ) của Bret Easton Ellis.

(Cô nghiện phim của Whoopi Goldberg cũng như Bateman không thể thiếu âm nhạc của Huey Lewis and the News)

Nam nghi ngoi cua toi anh 1
Bìa cuốn sách My Year of Rest and Relaxation (Năm nghỉ ngơi của tôi), tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Ottessa Moshfegh, xuất bản năm 2018. Ảnh: New York Times.

Nghiện thuốc chống trầm cảm, các loại thuốc an thần, cô tìm đến giấc ngủ như một sự giải thoát. Giống như Oblomov trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Nga Ivan Goncharov, cô không muốn để tâm trí mình tỉnh táo.

“Tại sao phải trèo ra khỏi giường?”, cô bắt đầu tự hỏi, cũng như những nhà văn tự do hay những cử tri “bang xanh” (những người ủng hộ đảng Dân chủ) lúc bấy giờ.

Tiểu thuyết lấy bối cảnh ở thành phố New York vào năm 2000, 2001. Đối với nhân vật của Moshfegh, thế giới lúc đó như địa ngục. Nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton với những bê bối chính trị ngày càng xuống dốc trong những tháng cuối khiến cô càng cảm thấy tồi tệ.

Qua danh bạ điện thoại, cô tìm thấy một bác sĩ tâm thần cẩu thả sẵn sàng kê thuốc “thả phanh” cho bệnh nhân, để rồi từ đó đắm chìm trong chuỗi ngày ăn – uống thuốc – ngủ. Vòng lặp đưa cô rơi vào thạng thái mơ hồ về thời gian – không gian, đôi khi mơ màng vô thức làm những việc như đến hộp đêm hay sắp xếp dọn dẹp nhà cửa. Cô lang thang vô định thậm chí có lần đến cả đường tàu Long Island, thực sự là một cơn ác mộng khi tỉnh dậy.

Nữ nhân vật của Moshfegh lựa chọn giấc ngủ như một giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống, tin rằng thuốc ngủ sẽ giúp mình quên đi sự đời. Cô uống loại thuốc an thần có tên là Infermiterol 3 lần một ngày, triền miên như vậy trong suốt 4 tháng.

Góc trần trụi về đời sống hiện đại Mỹ

Moshfegh không nói nhiều về câu chuyện sườn của nhân vật hay biến cố nào đã khiến nhân vật cảm thấy khổ sở và trống rỗng đến vậy. Chỉ biết rằng bố mẹ cô đã chết (vì ung thư và dùng thuốc quá liều) khi cô còn học đại học, nhưng cô cũng không thân thiết ai trong hai người.

Cô có một người bạn là Reva mà cô đã đối xử rất tệ, dù Reva hết sức lo lắng cho tình trạng của cô. Reva nói rằng cô đang tự hủy hoại cơ thể mình. Truyện cũng nhắc đến Trevor, bạn trai cũ mà cô vẫn giữ liên lạc.

Dù vậy, những tự sự của nhân vật chính cho độc giả biết rằng, động cơ của cô hoàn toàn không phải tự sát. “Tôi chìm vào giấc ngủ là để tự bảo vệ bản thân mình”, cô nói. “Tôi đã nghĩ đó là cách để cứu vãn cuộc đời mình… Nếu tôi tiếp tục làm như thế, có thể tôi sẽ được biến mất hoàn toàn để rồi tái sinh trong một hình hài mới. Đó là hy vọng của tôi. Đó là giấc mơ của tôi”.

Câu chuyện về nữ nhân vật vô danh đã được Moshfegh mô tả bằng ngòi bút sắc sảo, đầy ngẫu hứng và nổi loạn song vẫn mang một giọng văn thống nhất từ đầu chí cuối.

Nam nghi ngoi cua toi anh 2
Tác giả Ottessa Moshfegh (sinh năm 1981) từng dành giải thưởng Hemingway Foundation/PEN cho tiểu thuyết đầu tay Eileen (2015) và được đề cử Giải thưởng văn học Man Booker vào năm 2016. Ảnh: New York Times.

Daily Telegraph đánh giá Năm nghỉ ngơi của tôi là “một sự mổ xẻ thông minh và sâu cay về văn hóa Mỹ”. “Trần trụi đến nhói lòng và đánh động tâm can”, cây bút Isabel Dexter của Elle bình luận về cuốn sách.

Cuốn tiểu thuyết lồng ghép một cách thú vị giữa hiện thực và hư cấu (mạch truyện được dẫn dắt khéo léo đến sự kiện khủng bố 11/9/2001 ở Mỹ), tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với độc giả.

Năm nghỉ ngơi của tôi viết về câu chuyện của 20 năm trước nhưng vẫn đầy hơi thở của hiện tại. Cái ý nghĩ vùi mình vào giấc ngủ trong thời khắc đặc biệt đó của lịch sử thế giới, thật lôi cuốn, như cái cách mà tác giả đặt lời đề tựa: “Infermiterol: Dành cho ai không muốn tỉnh giấc, cho đến khi tất cả đã kết thúc”.

Ngụy An/Zing