Làng Hoàng Trù và làng Sen – nơi quê nhà thân thương của Bác Hồ

Nếu quê ngoại, làng Hoàng Trù là nơi Bác Hồ cất tiếng khóc chào đời và sống trong 5 năm đầu tiên của thời thơ ấu, thì làng Sen quê nội là nơi Người đã trải qua những năm tháng niên thiếu đầy kỷ niệm.

Làng Hoàng Trù

Làng Hoàng Trù (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) là quê ngoại Bác Hồ. Đây chính là nơi Bác Hồ cất tiếng khóc chào đời và sống trong 5 năm đầu tiên của thời thơ ấu.

Khi về thăm làng Hoàng Trù, điểm đầu tiên mà du khách sẽ ghé vào là ngôi nhà cụ Hoàng Đường – ông ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là một ngôi nhà 5 gian và 2 chái, trong đó ba gian ngoài là nơi cụ Hoàng Đường dạy học. Ngôi nhà cũng là nơi bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của Bác Hồ – sinh ra và lớn lên, là lớp học đầu tiên ươm trồng tài năng của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ của Người.

Ở góc vườn phía Tây nhà cụ Hoàng Đường là ngôi nhà của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan khi hai người đã kết hôn. Tại ngôi nhà nhỏ ba gian đơn sơ này, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã cất tiếng khóc chào đời vào buổi sáng ngày 19/05/1890.

Gian ngoài của ngôi nhà là nơi làm việc của cụ Nguyễn Sinh Sắc. Cạnh cửa sổ có chiếc án thư với nghiên mực, hộp đựng bút lông, hai chiếc ghế vuông. Cụ Hoàng Đường thường qua đây đàm đạo với con rể về văn chương, chữ nghĩa.

Những cuốn sách cụ Nguyễn Sinh Sắc từng đọc vẫn còn được lưu giữ tại gian nhà này.

Hai gian còn lại không có vách ngăn, gian trong có chiếc giường nhỏ là nơi nghỉ của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan, sát bên chiếc giường là chiếc rương gỗ nhỏ. Gian ngoài có chiếc khung cửi là công cụ lao động của thân mẫu Bác Hồ và chiếc võng gai mà thời ấu thơ Bác Hồ đã nằm nghe lời mẹ ru và những câu chuyện cổ tích của bà ngoại.

Cách ngôi nhà của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan không xa là ngôi nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân – họ ngoại của Bác Hồ.

Sau một quãng đời bôn ba hoạt động, phải đến ngày 9/12/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có dịp về thăm lại làng Hoàng Trù sau nhiều năm xa cách. Đây cũng là lần cuối cùng Người về thăm nơi chôn nhau cắt rốn cho đến khi vĩnh viễn đi xa.

Làng Sen

Từ năm 5 tuổi đến 11 tuổi, Bác Hồ cùng cha mẹ và anh trai vào Huế. Sau khi mẹ mất, từ năm 11 đến 16 tuổi (1901 – 1906) Người trở về sinh sống tại ngôi nhà của thân phụ là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Ngày nay, ngôi nhà vẫn mang dáng dấp như cách đây 1 thế kỷ với hàng rào dâm bụt, con đường đất mộc mạc, những khu vườn xanh mướt bao quanh…

Đây là một ngôi nhà lá đơn sơ có 5 gian được dân làng Sen quê Bác dựng lên từ quỹ công của dân làng để mừng cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm 1901.

Trong ngôi nhà này, cụ Nguyễn Sinh Sắc dành hai gian để đặt bàn thờ bà Hoàng Thị Loan và để tiếp khách. Bàn thờ được làm bằng liếp tre nứa trên trải chiếu nhỏ để bát hương, cây nến và bài vị bằng gỗ giản dị.

Gian nghỉ của cụ Nguyễn Sinh Sắc với bộ phản gỗ kê bên cửa sổ chính. Nơi đây có chiếc án thư, nơi cụ dạy các con học chữ và đây cũng là nơi vào các buổi tối cụ thường mời bà con ngồi quây quần uống nước trà xanh.

Ngôi nhà còn lưu giữ nhiều kỷ vật khác của gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc như chiếc rương đựng lương thực, chiếc tủ đứng hai ngăn đựng đồ dùng, chiếc mâm bằng gỗ sơn đen…

Bên cạnh ngôi nhà của cụ Phó bảng, làng Sen còn nhiều địa điểm khác mang dấu ấn thời niên thiếu của Bác Hồ. Đó là giếng Cốc, một giếng cổ được người làng Sen đào cuối thế kỷ 18. Trong những năm ở làng Sen, cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên thuở nhỏ của Bác) thường ra đây chơi và gánh nước về dùng.

Lò rèn cố Điền do ông Hoàng Xuân Luyễn (thường gọi là cố Điền) lập ra để rèn công cụ phục vụ bà con trong vùng từ cuối thế kỷ 19. Khi ở làng Sen, Nguyễn Sinh Cung thường sang giúp cố Điền đập đe, thụt bễ, nhặt sắt vụn làm đồ chơi và nghe bà con bàn luận việc nước, việc đời.

Cách nhà cụ Nguyễn Sinh Sắc không xa là nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm – ông nội của Bác Hồ – một nông dân cần cù chất phác. Nguyễn Sinh Cung thường sang đây vui chơi và dâng hương tưởng niệm ông bà nội. Anh ruột của Bác Hồ là cụ Nguyễn Sinh Khiêm đã từng sống và mất tại đây.

Trong làng Sen còn có nhà của cử nhân Vương Thúc Quý (1962 – 1907) – một người nổi tiếng yêu nước, thông minh, hay chữ, được mệnh danh là một trong “tứ hổ” của Nam Đàn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Thời kỳ sống ở làng Sen, Nguyễn Sinh Cung và anh trai được gửi sang học ở đây. Quá trình học với thầy cử Vương đã ảnh hưởng sâu sắc đến học vấn, nghị lực và lòng yêu nước của cậu.

Các ao sen trong làng Sen cũng là nơi ghi dấu những kỷ niệm khó quên của cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Cung cùng chúng bạn.

Sân vận động làng Sen rộng hơn 1 ha được xây dựng vào năm 1945, ở góc Đông Bắc có cây đa cổ thụ hàng trăm tuổi. Trong hai lần về thăm quê vào năm 1957 và 1961, dưới gốc đa này Bác Hồ đã nói chuyện thân mật với cán bộ, đồng bào.

Ngoài ra, ở làng Sen còn có nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nơi các tầng lớp nhân dân thể hiện lòng biết ơn, yêu kính người đã đem lại tự do và độc lập cho đất nước Việt Nam.

Theo KIẾN THỨC

Những bê bối tình ái tai tiếng nhất trong lịch sử văn học thế giới

Những scandal này không ồn ào như ở giới nghệ thuật thứ 7 nhưng nó âm thầm, dữ dội, dai dẳng thậm chí là gây hận thù. Bê bối không chỉ ở những người khác giới mà ở cả người đồng giới.

Simone de Beauvoir và Nelson Algren

Simone de Beauvoir (1908-1986) là nhà văn và là triết học người Pháp, bà được công chúng biết đến nhiều nhất bởi tác phẩm viết vào năm 1949 “Le Deuxième Sexe”, một tác phẩm phân tích về sự áp bức phụ nữ và đề tài bình đẳng giới. Bà được trao Giải Jerusalem năm 1975 và Giải Quốc gia Áo cho Văn học châu Âu năm 1978. Có thể nói sự việc tai tiếng nhất cuộc đời bà chính là mối tình với nhà văn Nelson Algren.

Họ gặp nhau trong một lần Beauvoir sang Mỹ theo lời mời của một số trường đại học vào năm 1947. Suốt 17 năm, ngoài những lần gặp gỡ hiếm hoi, mối tình xuyên Đại Tây Dương của họ chủ yếu được duy trì qua những lá thư hai người viết cho nhau. Tuy nhiên, cuộc tình này đã chấm dứt khi cuốn hồi ký “Sức mạnh đồ vật” của Simone de Beauvoir ra đời (1963).

Tác phẩm được bà viết cho người tình Algren nhưng phản ứng của nhà văn Mỹ thật bất ngờ và gay gắt. Ông đã xỉ vả thậm tệ cuốn sách trên báo chí và cho đến tận lúc chết cũng không có ý định nối lại mối quan hệ bị gián đoạn với nữ văn sĩ Pháp.

Sau khi Algren mất, Simone sửng sốt khi được biết rằng, mặc dù nguyền rủa bà công khai như vậy, nhưng ông vẫn cất giữ các bức thư của bà. Trong 17 năm, Simone de Beauvoir đã gửi cho Nelson Algren tất cả 304 bức thư với những lời tự sự bộc bạch rất riêng tư.

Sau này, những bức thư đã được đem đấu giá và thuộc về quyền sở hữu của Trường đại học Ohio. Chúng cũng được công khai và ra mắt trong cuốn sách “Lettres à Nelson Algren. Un amour transatlantique” (Thư gửi Nelson Algren. Mối tình xuyên Đại Tây Dương) tại Pháp năm 1997 do con gái Beauvoir hoàn thành từ công việc dang dở của bà.

Án tình đồng giới giữa Oscar Wilde và Lord Alfred Douglas

Oscar Wilde (1854-1900) là nhà văn nổi tiếng của Ailen. Ông tốt nghiệp Trường Trinity College tại Dublin với kết quả xuất sắc. Sau đó, ông tiếp tục học tại Trường Magdalen Oxford. Ở trường đại học ông là một học giả xuất sắc và là một nhà thơ đầy hứa hẹn.

Năm 1878, Oscar Wilde được trao giải Newdigate nhờ bài thơ ông làm về thành phố Ravenne (Italia). Năm 1891, Oscar Wilde gặp Alfared Douglas. Hai người yêu nhau đắm đuối và sống cuộc đời buông thả, không giấu giếm quan hệ đồng tính luyến ái của họ.

Cha của Alfared là John Sholto Douglas, Hầu tước Queensberry, không chấp nhận mối quan hệ này và nhiều lần gây sự với Oscar Wilde. Hầu tước Queensberry yêu cầu Oscar Wilde phải tránh xa con trai ông.

Đầu năm 1895, Hầu tước đã để trước cổng Câu lạc bộ Albermarle, một trong những câu lạc bộ của Oscar Wilde, tờ danh thiếp có đề: “Dành cho kẻ bệnh hoạn Oscar Wilde”.

Wilde quyết định đưa Hầu tước Queensberry ra tòa vì đã lăng mạ mình và thua kiện. Hầu tước Queensberry kiện ngược lại, theo Đạo luật Chống đồng tính luyến ái năm 1885, Oscar Wilde bị tuyên án 2 năm lao động khổ sai.

Trong suốt 2 năm lao động khổ sai ông đã viết một bức thư dài, đầy đau khổ cho Alfared. Nhưng Alfared đã không hề đến thăm ông dù chỉ một lần mà bỏ sang Pháp và Italia. Mãn hạn tù, cuộc đời Oscar Wilde bắt đầu xuống dốc. Ông sống những ngày tháng cuối đời trong cô độc và nghèo khổ.

Charles Dickens và Ellen “Nelly” Ternan

Charles John Huffam Dickens (1812-1870), bút danh “Boz”, là tiểu thuyết gia người Anh nổi tiếng nhất thời đại Nữ hoàng Victoria. Ông được xem là một trong những nhà văn hiện thực vĩ đại và được nhiều độc giả yêu mến trong suốt quãng đời của ông. Trong hầu hết các tác phẩm của mình, ông đều ca ngợi hạnh phúc và sự bình yên của gia đình, tuy nhiên đời sống tình cảm của ông lại gặp không ít sóng gió.

Mặc dù đã kết hôn vào năm 1836 với một người phụ nữ xinh đẹp tên là Catherine và đã có với nhau nhiều mặt con, nhưng cuộc hôn nhân của họ đã đổ vỡ khi vợ ông phát hiện ra gói quà dành cho người tình bí mật của Dickens. Người tình đó chính là Nelly Terman, một cô gái trẻ kém Dickens 27 tuổi. Ông đã thừa nhận mối tình vụng trộm của mình khi bị phát hiện và ly hôn với Catherine, một việc ít ai nghĩ tới, đặc biệt là đối với một người ở vị trí như Dickens bởi nó có thể kéo theo rất nhiều tai tiếng và rắc rối.

Bỏ ngoài tai mọi lời đàm tiếu, ông vẫn chọn ở bên Nelly cho đến giây phút cuối cùng của đời mình vào năm 1870. Trong di chúc, Dickens để lại cho Nelly 1.000 bảng Anh và đó có lẽ là bằng chứng hợp pháp đầu tiên cho mối quan hệ giữa hai người.

Arthur Rimbaud và Paul Verlaine

Jean Nicolas Arthur Rimbaud (1854-1891) là nhà thơ người Pháp có ảnh hưởng lớn tới văn học và nghệ thuật hiện đại, ông còn là một trong những người sáng lập trường phái thơ tượng trưng. Từ nhỏ Rimbaud đã thể hiện rõ mình là một học sinh xuất sắc, năm 16 tuổi ông đã in những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Pháp, sau đó đi du lịch tới miền Bắc nước Pháp và Bỉ.

Ở Paris, Arthur Rimbaud làm quen và trở thành người yêu của Paul Verlaine, làm xôn xao dư luận Paris.

Verlaine lớn hơn Rimbaud 10 tuổi và cũng là một trong những nhà thơ lớn của nước Pháp. Năm 1872, Verlaine bỏ gia đình cùng Rimbaud đi sang London. Họ đã có những ngày tháng rất hạnh phúc và đó cũng là khoảng thời gian mà Verlaine cho ra đời những bài thơ hay nhất của mình.

Tuy nhiên, khi trở về Bỉ, hai người đã cãi nhau, Verlaine dùng súng lục bắn Rimbaud bị thương và phải vào tù 2 năm, còn Rimbaud trở về quê Charleville. Kể từ đây cuộc đời của Rimbaud sang một trang mới, ông bỏ làm thơ và đi chu du khắp thế giới.

Đến năm 1891, Rimbaud mắc bệnh và qua đời ở Pháp trong sự tiếc nuối của rất nhiều người yêu mến thơ ông.

Theo AN NINH THẾ GIỚI

Vài mẹo khi đàm phán với những người khó chịu

Chúng ta đôi khi phải đàm phán với những người khó chịu. Họ có thể ương bướng, kiêu ngạo, thù địch, tham lam, hoặc gian dối. Thậm chí những người bình thường đôi khi cũng trở thành đối nghịch: một đứa trẻ vị thành niên có thể rất đáng yêu lúc này nhưng lại xúc phạm bạn lúc khác. Sếp bạn có thể rất hợp tác và thấu hiểu nhưng đôi khi lại đưa ra những đòi hỏi vô lý vào chiều thứ Sáu.

Vài mẹo khi đàm phán với những người khó chịu

Tác giả: Susan Huckley.

Nguồn: Lược dịch từ báo cáo “Quản lý xung đột” của chương trình đàm phán (PON), đại học Harvard, Mỹ.

Xây “lối thoát vàng”

Khi đàm phán với người khó chịu, bạn nên xây một “lối thoát vàng”, có nghĩa luôn để cho đối thủ của bạn một lối thoát để giữ thể diện, và cảm thấy chiến thắng một phần. Thậm chí khi sếp bước vào phòng bạn với một đòi hỏi quá đáng, cách bạn từ chối cũng phải để cho ông ấy hiểu ông ấy vẫn được tôn trọng như một người sếp. Bạn nên cho trợ lý của mình biết bạn trân trọng sự đóng góp của cô ấy cho dù bạn từ chối không để cô ấy làm việc ở nhà vài ngày một tuần.

Làm sao giúp cho đối thủ của mình giữ thể diện trong khi vẫn phải bảo vệ lợi ích của mình? Bạn nên trình bày vấn đề sao cho đối thủ đi theo hướng bạn mong muốn. Đặc biệt, bạn nên lôi đối thủ vào để cùng tìm giải pháp. Thật không tưởng là một người khó chịu lại đồng ý với đề xuất của bạn hoàn toàn cho dù ý của bạn có hợp lý đến mức nào. Hãy đưa cho đối thủ vài lựa chọn kiểu như: ông muốn gặp nhau ở văn phòng ông hay văn phòng tôi? Tôi có thể trả một cục hoặc trả thành nhiều lần, cách thanh toán nào tốt cho ông hơn?

Cần đặc biệt để ý đến đối thủ của mình để nhận ra một số ẩn ý hoặc mục đích phía sau của các yêu cầu. Một người không nhiệt tình tham gia vào giải quyết các vấn đề để chốt giá cho vụ mua bán công ty có thể đang mâu thuẫn trong tư tưởng và chưa thật muốn bán công ty của anh ta. Nhận ra điều đó, thay vì cố mua đứt đoạn bạn có thể đưa ra giải pháp liên doanh với một vị trí trong công ty mới cho anh ta.

Lắng nghe để học hỏi

Nếu có một mẫu số chung cho tất cả các cuộc đàm phán thành công thì đó là biết lắng nghe tích cực. Điều này không phải chỉ là nghe xem đối thủ đang nói gì, mà hiểu các ẩn ý đằng sau lời nói đó. Lắng nghe tích cực hay được nói đến nhưng việc thực hành nó thì chẳng phải dễ dàng gì; đó là một kỹ năng mềm đòi hỏi các suy ngẫm và thực hành thường xuyên. Một người biết lắng nghe tích cực sẽ “giải giáp” được đối thủ bằng cách bước về phía họ, hỏi những câu hỏi mở, và khuyến khích họ nói tất cả những gì đang làm họ khó chịu. Bên cạnh đó, “họ cần được biết rằng bạn đã lắng nghe [và thấu hiểu] những điều họ nói”. Vì thế hãy tóm tắt những điều bạn hiểu từ chia sẻ của họ và nhắc lại bằng chính ngôn ngữ của họ. Điều này sẽ có kết quả tốt cho bạn vì “nếu bạn muốn anh ta chấp nhận quan điểm của bạn thì trước hết hãy thừa nhận bạn thấu hiểu quan điểm của anh ta”. Và bạn có thể có ít lựa chọn nhưng bắt buộc phải làm vậy – nếu như không muốn rơi vào bế tắc?

Bạn không phải thích họ

Làm việc với những người khó chịu không có nghĩa bạn phải thích họ, hoặc thậm chí phải đồng ý với họ, nhưng bạn cần thừa nhận là hiểu quan điểm của họ. Lakhdar Brahimi, Công sứ của Liên hợp quốc về Afghanistan, trong vụ 11 tháng 9, đã được giao một nhiệm vụ khó khăn là đàm phán với các tộc trưởng chiến binh, những người đã gây ra bao nhiêu cái chết để kiến tạo một nhà nước ổn định. Ông ta đã nói về sự cần thiết đàm phán với những người khó chịu như sau: “những người dễ thương họ ngồi ở Paris…để chấm dứt chiến tranh và chết chóc bạn phải nói chuyện với những người gây chiến, bất kể họ kinh tởm thế nào…nếu bạn không muốn bắt tay họ, bạn đừng nhận công việc đàm phán này”.

Bất kể bạn đang đàm phán với ai đó rất nguy hiểm hoặc chỉ hơi khó chịu chút, các kỹ năng giống nhau đều đỏi hỏi phải có để đạt được kết quả. Tìm ra xem đối thủ của bạn cần gì và bắt đầu xây dựng các lý lẽ để cho họ biết tại sao giải pháp của bạn lại đáp ứng được nhu cầu của họ. Nếu bạn thành công bạn có thể biến đối thủ thành đối tác!

Theo DIENNGON.VN

Các nhà khoa học Mỹ đang nghiên cứu “siêu vaccine” chống chọi được cả họ hàng nhà virus corona?

Các nhà khoa học Mỹ đang nghiên cứu "siêu vaccine" chống chọi được cả họ hàng nhà virus corona?

Hình ảnh minh họa: India Today

Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Vaccine cho Con người Duke (DHVI) tại Mỹ mới đây cho biết họ đã đạt được một bước tiến quan trọng trong mục tiêu tạo ra “siêu vaccine”.

Khi các quốc gia trên thế giới gấp rút triển khai chương trình tiêm chủng để bảo vệ người dân trước sự tấn công của virus SARS-CoV-2 và các biến chủng của nó, thì một số nhà khoa học đã chuyển hướng sang một mục tiêu mới to lớn hơn: đó là điều chế một loại vaccine phổ rộng để phòng tránh cả virus SARS-CoV-2 và nhiều “họ hàng” của nó, theo báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP – Hồng Kông).

Cụ thể, các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Vaccine cho Con người Duke (DHVI) tại Mỹ mới đây cho biết họ đã đạt được một bước tiến quan trọng trong mục tiêu tạo ra “siêu vaccine”.

Các nhà khoa học Mỹ đang nghiên cứu siêu vaccine chống chọi được cả họ hàng nhà virus corona? - Ảnh 1.

Virus SARS-CoV-2. Ảnh: AP

Theo các nhà nghiên cứu của DHVI, loại vaccine chứa hạt nano của họ có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch không chỉ với virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19 và các biến chủng của nó, mà cả với virus SARS và các virus thuộc họ corona được tìm thấy ở loài dơi, SCMP trích dẫn nội dung nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí khoa học Nature tuần trước.

Các nhà khoa học cho biết phát hiện này dựa trên các cuộc thí nghiệm trên động vật và có thể tác động tới nỗ lực kiểm soát đại dịch COVID-19 của nhân loại. Nghiên cứu cho thấy vaccine chứa hạt nano đã phát huy hiệu quả ngăn SARS-CoV-2 lây nhiễm ở loài khỉ. Loại vaccine này cũng tạo ra phản ứng miễn dịch mạnh hơn, tạo ra số lượng kháng thể vô hiệu hóa virus cao hơn so với những loại vaccine hiện có.

Điều này có nghĩa là nếu loại “siêu vaccine” này được phê duyệt sử dụng trên người, thì nó có thể được sử dụng nhưng một mũi tiêm tăng cường miễn dịch và chống lại các biến thể của virus corona trong tương lai, các nhà khoa học kết luận.

Nhưng không dừng lại ở đó, việc phát triển “siêu vaccine” này còn có ý nghĩa sâu rộng hơn trong “thời đại đại dịch” hiện nay – theo định nghĩa của các nhà khoa học – khi loài người đứng trước nguy cơ lây nhiễm virus từ động vật và bùng phát đại dịch ngày càng gia tăng khi dân số và đất đai mở rộng.

“Trước đại dịch COVID-19, chúng ta đã từng trải qua hai đợt bùng phát [virus thuộc họ corona] lớn, đó là đợt bùng phát virus SARS (2002-2004) và virus MERS (2011), và chắc chắn trong tương lai sẽ có những đợt bùng phát dịch khác”, ông Bart Haynes, giám đốc DHVI và là một trong những nhà phát triển vaccine chứa hạt nano, cho biết.

Ông Haynes nói thêm: “Bây giờ là lúc chúng ta phát triển các loại vaccine để chuẩn bị cho viễn cảnh đó, để chúng ta có thể kiểm soát các đợt bùng phát và ngăn chúng trở thành đại dịch trong tương lai”.

Ý tưởng của các nhà khoa học thuộc viện nghiên cứu DHVI là tạo ra một loại vaccine không chỉ hiệu quả với virus SARS-CoV-2 và những biến chủng của nó, mà còn có tác dụng đối với những virus thuộc họ corona đã biết và chưa biết có khả năng lây nhiễm sang người.

Các nhà khoa học Mỹ đang nghiên cứu siêu vaccine chống chọi được cả họ hàng nhà virus corona? - Ảnh 3.

Ảnh minh họa: AFP

Giấc mơ về “siêu vaccine”

Từ lâu nay, ý tưởng về một loại vaccine corona phổ rộng đã là giấc mơi của các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, và trong bối cảnh đại dịch COVID-19 khiến thế giới khốn đốn, ý tưởng này đã thu hút được sự chú ý đáng kể.

Tương tự các loại vaccine COVID-19 hiện có, loại vaccine phổ rộng chứa hạt nano đang được các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu nhắm vào một đoạn của virus SARS-CoV-2 cho phép nó gắn vào tế bào của con người.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã lựa chọn một đoạn có trong cả virus SARS-CoV-2, các biến chủng của nó và virus SARS, cũng như các virus corona được tìm thấy ở loài dơi chưa lây sang người.

Bằng cách này, vaccine phổ rộng có thể kích hoạt các kháng thể trung hòa chống lại một loạt virus trong họ corona khi được thử nghiệm trong máu của loài khỉ. Vaccine này cũng đã tạo ra phản ứng mạnh mẽ hơn đối với các biến thể của virus SARS-CoV-2 ở Nam Phi và Brazil, hai loại biến thể được cho là có khả năng lẩn tránh một số loại vaccine hiện có.

Nhưng một phát hiện quan trọng của nghiên cứu này là nó kích thích phản ứng miễn dịch chống lại hai loại virus corona được tìm thấy ở loài dơi và như virus SARS, mặc dù chúng không mạnh bằng SARS-CoV-2.

Chuyên gia về miễn dịch học Kylie Quinn, người không tham gia vào nghiên cứu nói trên, nhận định rằng việc tạo ra “siêu vaccine” phổ rộng để chống lại họ hàng của virus corona tuy khó khăn nhưng có thể thực hiện được.

Bà Quinn cho rằng mức độ phản ứng kháng thể tương đối cao mà loại vaccine phổ rộng này tạo ra có thể chống lại SARS-CoV-2 và các biến thể của nó, và ngay cả khi nó chỉ tạo được một ít kháng thể thì đó cũng là lợi thế cho con người.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu của DHVI cũng nhấn mạnh rằng phát hiện của họ không có nghĩa là loại “siêu vaccine” này – nếu nó được chứng minh là an toàn cho con người – có khả năng chống lại mọi virus thuộc họ corona trong tự nhiên. Công thức hiện tại không tạo ra phản ứng miễn dịch đối với virus MERS.

Tuy nhiên, ông Kevin Saunders, giám đốc nghiên cứu tại viện, cho biết ông cảm thấy “lạc quan” rằng loại vaccine này sẽ có tác dụng với các virus có họ hàng gần với SARS./.

(Theo SCMP) / Shoha

Chủ nghĩa quốc gia của Việt Nam nằm ở đâu?

Một nhà bình luận thời sự Việt Nam từ Úc là ông Nguyễn Quang Duy, vào ngày 17/5/2021, có bài trên BBC Việt ngữ mang tựa đề: Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam cộng hòa sụp đổ năm 1975?

Tác giả đặt tiền đề rằng cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ, giữa một bên là chủ nghĩa cộng sản, còn bên kia là chủ nghĩa quốc gia, từ đó đưa tác giả đi qua một số định nghĩa và phân tích để kết luận rằng tại Việt Nam nói chung và Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975 nói riêng chưa có một chủ nghĩa quốc gia hoàn chỉnh, nên thất bại.

Chiến tranh Việt Nam là cách gọi theo người Mỹ, người cộng sản Việt Nam gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ, một số nhà báo phương Tây gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, lần thứ nhất là cuộc chiến của người Pháp và Mặt trận Việt Minh.

Theo tôi thì bài viết của tác giả Nguyễn Quang Duy có hai khuyết điểm. Thứ nhất là bị rơi vào cái bẫy học thuật, tìm cách định nghĩa chủ nghĩa quốc gia là gì. Thứ hai là nhận xét thiếu sót về “phía bên kia” tức là Mặt trận Việt Minh trước 1954, và miền Bắc Việt Nam trong thời chiến tranh Việt Nam.

Sai lầm thứ nhất, cái bẫy học thuật

Thế giới này được chia thành nhiều quốc gia. Sự tồn tại của một quốc gia và dân tộc (có khi là nhiều dân tộc) đi kèm với nó, cùng với cách sống, luật, lệ,… đã là một hiện thực rất có sức sống, liệu có cần kèm theo một thứ chủ nghĩa nào đó?

Có những dân tộc không làm nên được một quốc gia, không có quyền bằng những dân tộc khác, như là người Hmong, người Zigan, những bộ lạc da đỏ ở Mỹ, người Catalan, người Basque, … không có được một quốc gia riêng cho mình vì sức mạnh văn hóa, kinh tế yếu hơn những dân tộc bên cạnh, không cạnh tranh được với họ. Nên hiểu chủ nghĩa quốc gia, như cái nghĩa giản đơn nhất của nó là giành quyền cai trị một quốc gia dân tộc vào tay dân tộc (những dân tộc) nào đa số ở quốc gia đó.

Theo nghĩa này thì chủ nghĩa quốc gia là cái mà Mặt trận Việt Minh trước kia, miền Bắc Việt Nam sau này dùng để chiến thắng.

Và đó chính là nhận định sai thứ hai của tác giả Nguyễn Quang Duy.

Sai lầm thứ hai, không nhận định đúng thành phần của Việt Minh và miền Bắc Việt Nam

Tác giả Nguyễn Quang Duy viết trên BBC:

Tháng 8/1945, đảng Cộng sản nổi dậy cướp chính quyền. Đến năm 1947 khi những người Việt quốc gia muốn ôn hòa giành lại độc lập phải cộng tác với người Pháp thì đảng Cộng sản đã hạ luôn cả chính nghĩa quốc gia.

Không có bao nhiêu người Việt Nam trong mặt trận Việt Minh, thậm chí trong thành phần nòng cốt của nó là Đảng Cộng sản, hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, họ chỉ tham gia cuộc chiến vì muốn dành độc lập lại từ tay người Pháp. Đó chính là chủ nghĩa quốc gia.

Rất nhiều nhân vật của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu tham gia cuộc đấu tranh của họ bằng cách tham gia các đảng phái khác như Quốc Dân Đảng, Đại Việt.

Chủ nghĩa quốc gia này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Những người hăng hái tham gia cuộc chiến trong quân đội miền Bắc, hay là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, nghĩ rằng họ đang chiến đấu cho một quốc gia Việt Nam chống lại ngoại bang là người Mỹ. Nếu họ có nghĩ tới hệ thống cộng sản, một loại chủ nghĩa quốc tế, thì cũng nghĩ rằng đó là những quốc gia cùng phe với họ, cũng giống như trong nhiều cuộc chiến tranh khác trong lịch sử nhân loại.

Có thể nói không ngoa rằng chính chủ nghĩa quốc gia đã làm cho Việt Minh thắng cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng tổ chức ngoại vi của nó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, thắng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai.

Điều bi kịch nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại nằm ở chỗ lực lượng chiến thắng đi kèm với một mô hình kinh tế xã hội phi lý và thất bại, mô hình cộng sản, mà chính những người sử dụng nó cũng không ý thức được là nó phi lý và thất bại. Âm vang của cuộc chỉnh huấn 1953 trong chiến khu, cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu, sự thất bại của mô hình kinh tế miền Bắc, được kềm chế một cách hữu hiệu bằng bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản, không làm sứt mẻ bao nhiêu chủ nghĩa quốc gia của những người chiến đấu từ miền Bắc, những người nhảy bưng nhảy núi từ miền Nam.

Lực lượng chiến thắng của cuộc chiến Việt Nam đã sử dụng mô hình tổ chức xã hội chiến tranh của quốc tế vô sản, và được dẫn dắt bởi một loại chủ nghĩa quốc gia, có hình thức rất đơn giản là chống lại người nước ngoài.

Nguyên nhân của thất bại và chiến thắng

Nhưng kết quả của cuộc chiến Việt Nam không đơn giản như thế. Nó là một hỗn hợp phức tạp của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, những nước cờ chiến lược của người Mỹ, sự thay đổi của Hoa Lục….kể cả những biến cố tuy xa Việt Nam nhưng làm đổi dòng chảy thế giới như cuộc chiến tranh dầu hỏa 1973. Cuộc chiến tranh dầu hỏa làm nguồn tiếp liệu cho Việt Nam Cộng hòa bị ảnh hưởng nặng nề, trong khi Liên Xô, kho dự trữ dầu hàng đầu thế giới vẫn cung cấp nhiên liệu thoãi mái cho miền Bắc Việt Nam. Nền kinh tế quốc dân của Liên Xô không lớn, xã hội tiêu thụ của Liên Xô nhỏ, cho nên không tiêu tốn nhiều nhiên liệu như Hoa Kỳ, nó dư thừa để cung cấp cho đồng minh Bắc Việt Nam.

Người Mỹ chủ động hoàn toàn cuộc chiến này, từ lúc họ khơi mào cho đến lúc họ bỏ cuộc. Cũng không hẳn là sự bỏ cuộc, mà là sự thay đổi chiến lược, thay vì một cuộc chiến tranh nóng với miền Nam Việt Nam là tuyến đầu, họ thay đổi sang một cuộc chiến toàn diện, kinh tế, văn hóa, xã hội, với con cờ mới là Trung Quốc làm rạn nứt và xé toạc hệ thống cộng sản.

Tóm lại là ông Nguyễn Quang Duy đặt vấn đề rằng sự đối nghịch của chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản trong cuộc chiến Việt Nam là không thỏa đáng. Nếu ông nói rằng đó là cuộc đối đầu giữa thế giới tự do và chủ nghĩa cộng sản thì tôi được thuyết phục hơn. Hơn nữa như tôi phân tích trên kia, chủ nghĩa quốc gia chiếm phần rất quan trọng trong việc dẫn dắt cuộc chiến của miền Bắc Việt Nam.

Bên cạnh đó, sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa không thể chỉ nằm ở nguyên nhân là thiếu một chủ nghĩa quốc gia hoàn chỉnh, như ý kiến của ông Nguyễn Quang Duy. Tôi không nghĩ là người Nam Hàn, hay người Đài Loan có một thứ chủ nghĩa quốc gia tốt hơn miền Nam Việt Nam. Không thể gọi các chế độ quân phiệt Tưởng Giới Thạch với cuộc khủng bố trắng, các viên tướng Nam Hàn với cuộc đàn áp Quang Du đẫm máu, là chủ nghĩa quốc gia được. Sự ổn định và phát triển của các thể chế dân chủ tại Đài Loan và Nam Hàn cũng có một tập hợp nguyên nhân phức tạp, thiên thời địa lợi, những điều mà miền Nam Việt Nam không có được, chẳng hạn như sự cách biệt địa lý, Đài Loan là một hòn đảo, Nam Hàn là một bán đảo, làm cho các lực lượng cộng sản không dễ dàng xâm nhập. Hay là tính chiến lược của hai nơi này trong chiến lược toàn cầu của Mỹ không bị phá vỡ. Cho đến nay vẫn không bị phá vỡ.

Tuy nhiên nếu đặt vấn đề về chủ nghĩa quốc gia đối với Việt Nam hiện nay và tương lai của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa bị thối lùi trong mấy năm qua, sự bùng lên của chủ nghĩa dân túy, kinh tế dân tộc chủ nghĩa,… lại là một vấn đề thú vị đáng bàn cãi. Mà điều thú vị nhất, theo tôi, là chủ nghĩa quốc gia có thể bị xóa bỏ bởi mô hình Mỹ chứ không phải cái gì khác.

 Tác giả gửi cho viet-studies ngày 18-5-21

Nguyễn Khoa / Viet-Studies