Ảnh chụp bữa sáng ở chợ phiên Hà Giang đạt giải quốc tế

Bữa sáng Đồng Văn, ẩm thực đường phố Hội An hay chăn vịt ở đầm Trà Ổ nằm trong số các ảnh đạt giải Pink Lady Food Photography.

Cuộc thi nhiếp ảnh ẩm thực uy tín quốc tế Pink Lady Food Photography do Anh tổ chức từ năm 2011. Năm 2021, cuộc thi thu hút hơn 10.500 ảnh đến từ 70 quốc gia trên thế giới, kết quả chung cuộc được công bố trực tuyến trên YouTube vào ngày 28/4, trong đó có nhiều tác phẩm chụp tại Việt Nam.

“Bữa sáng ở chợ phiên” chụp tại Đồng Văn, Hà Giang của tác giả Nguyễn Hữu Thông đạt giải nhất hạng mục ảnh Food at the Table (Ẩm thực trên bàn). Nguyễn Hữu Thông (1987), quê ở Việt Yên, Bắc Giang cho biết vùng cao nguyên đá Đồng Văn cuốn hút du khách từ phong cảnh cho tới nhịp sống văn hóa, ẩm thực. Người dân vùng cao thường tới các phiên chợ để trao đổi hàng hóa, nên dậy sớm để đi chợ và ăn sáng.

Nguyễn Hữu Thông còn một tác phẩm khác được chọn triển lãm ở danh sách chung cuộc là “Bữa ăn mùa đông” của một gia đình trên vùng cao Hoàng Su Phì, Hà Giang.

Bức ảnh “Thưởng thức” của tác giả Trần Việt Văn đạt giải nhất hạng mục Street Food (Ẩm thực đường phố), chụp tại phố cổ Hội An. Ngoài trải nghiệm tham quan các ngôi nhà cổ, du khách còn được thưởng thức ẩm thực đường phố. Mì Quảng, cao lầu, bánh mì, tào phớ, chè sen… là những món ăn không thể bỏ qua khi đến phố Hội.

Nguyễn Phước Hoài quê ở Quy Nhơn cũng là tác giả ảnh “Lưới cá” được chọn triển lãm ở hạng mục Bring home on the Harvest (Ngày mùa về nhà). Nhìn từ trên cao, lưới đánh cá có hình dạng tựa như “hoa” trên vùng biển Phú Yên. Loại cá thường đánh bắt ở vùng biển này là cá cơm. Ban ngày, khi phát hiện đàn cá cơm ở độ sâu khoảng 30 – 40 m, các ngư dân sẽ dùng lưới bủa vây bắt.

Tác phẩm “Mùa thu hoạch vải thiều” do nhiếp ảnh gia tác giả Nguyễn Hữu Thông chụp tại Bắc Giang trong hạng mục Ngày mùa về nhà. Đây là một bức nằm trong bộ ảnh Sắc màu nhịp sống vùng cao của anh.

Tác phẩm “Cho vịt ăn” của tác giả Nguyễn Phước Hoài (1986), chụp trên khu vực đầm Trà Ổ, Phù Mỹ, Bình Định đạt giải nhì hạng mục Food in the Field (Thức ăn trên đồng). Trà Ổ còn gọi là Châu Trúc, một đầm nước lợ tự nhiên nằm ở phía đông bắc huyện Phù Mỹ.

Cảnh thu hoạch muối chụp tại Việt Nam của tác giả Chin Leong Teo (Singapore) được chọn triển lãm ở hạng mục Food in the Field.

Tác giả người Anh Lawrence Worcester chụp những hành khách mua trái cây qua cửa sổ toa tàu xe lửa đạt giải ba hạng mục Street Food (Ẩm thực đường phố).

Tác phẩm “Nếm” của tác giả Li Huaifeng (Trung Quốc) đạt giải nhất hạng mục “Food for the Family” (Thức ăn cho gia đình). Bức ảnh cho thấy một gia đình nhỏ đang quây quần, chia sẻ niềm vui khi chuẩn bị bữa ăn vào ngày nắng ấm tại tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Huỳnh Phương (Theo Guardian)

Thói quen “rởm đời” của các thiên tài trong lịch sử

11 thiên tài có những thói quen lạ đời

Ít ai ngờ rằng, nhiều nhà văn, nhà chính trị gia, nghiên cứu khoa học lại có một số thói quen kỳ lạ giúp họ nảy sinh nhiều ý tưởng sáng giá. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến nhà văn Mỹ – Jack Kerouac phải tìm đến men rượu để “giải phóng tâm hồn”, tạo nguồn cảm hứng văn chương hay nhà thơ Thomas Stearns Eliot còn có thói quen bôi phấn lên mặt và tô son màu xanh lá cây; Friedrich von Schiller tìm ý thơ từ mùi táo thối.

Câu hỏi nhiều người thắc mắc là những thói quen kỳ lạ này tạo nên các thiên tài, hay chính cái “tài” đã tạo nên cái “tật” khác thường ở những con người đó. Cùng điểm lại một vài thói quen quái gở của các thiên tài qua bài viết dưới đây.

1. Tiểu thuyết gia Charles Dickens – chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày

Được mệnh danh là một trong những cây bút vĩ đại nhất thời nữ hoàng Victoria, tiểu thuyết gia người Anh – Charles Dickens (1812 – 1870) sở hữu không ít những thói quen kỳ lạ. Một nhân viên tiết lộ rằng, Charles không thể chịu được việc tóc tai “mất trật tự”, chính vì vậy ông luôn phải để một chiếc lược ngay gần và chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày.

Tiểu thuyết gia Charles Dickens

Bên cạnh đó, ông còn có thói quen đi đi lại lại trong khi sáng tác và đọc cho thư ký chép lại. Sau đó, hai người còn phải nghiền ngẫm từng câu nhiều lần, thay từ cho phù hợp và đổi thứ tự các từ trong câu trước khi bắt tay vào viết tiếp.

Các chuyên gia nghiên cứu đời sống và công việc của Dickens cho rằng trường hợp của ông là biểu hiện nhẹ của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, nặng hơn còn là chứng động kinh.

2. Nhà sáng chế Thomas Edison – ngủ nhiều giấc mỗi ngày

Trước khi trở thành các cộng sự nghiên cứu của Thomas Edison (1847 – 1932), họ đã phải trải qua một vòng phỏng vấn gắt gao, đó là ăn một bát súp dưới dự quan sát của nhà sáng chế tài năng này. Ông sẽ theo dõi xem họ có cho thêm muối vào súp trước khi ăn hay không.

Nhà sáng chế Thomas Edison

Edison sẽ lập tức loại ngay những người cho muối dù chưa nếm thử tí nào. Theo ông, bài kiểm tra này nhằm loại bỏ những thí sinh mới bắt đầu nhưng đã đưa ra quá nhiều giả thuyết.

Edison còn cố gắng giảm thiểu những nhu cầu thiết yếu hết sức có thể, ví dụ như việc ngủ. Ông chia giấc ngủ của mình ra thành nhiều lần ngủ ngắn để có thêm thời gian tỉnh táo làm việc.

Khác với người bình thường ngủ từ 6-8h liên tục, ông lại chia thành nhiều giấc ngủ ngắn trong ngày
Khác với người bình thường ngủ từ 6-8h liên tục, ông lại chia thành nhiều giấc ngủ ngắn trong ngày

Chu kỳ ngủ chia làm nhiều giai đoạn (polyphasic sleep) là phương pháp dành cho những người muốn có thêm thời gian thức để làm những công việc khác, nhờ vậy sẽ tăng được năng suất công việc. Ngoài Thomas Edison, thiên tài Leonardo Da Vinci cũng áp dụng phương pháp ngủ này.

3. Nhà phát minh Nikola Tesla – lau thìa với 18 chiếc khăn tay mới ăn

Nikola Tesla (1856 – 1943) là cha đẻ của hơn 300 phát minh như nam châm điện, radio, động cơ không đồng bộ… Tesla thường bắt đầu làm việc vào lúc 3h sáng và tiếp tục cho tới 11h đêm.

Nhà phát minh Nikola Tesla

Thói quen này đã khiến ông bị suy nhược ở độ tuổi 25. Tuy nhiên, ông nhanh chóng phục hồi và tiếp tục chế độ sinh hoạt này cho tới khi về già, làm việc suốt 38 năm không ngừng nghỉ.

Bên cạnh đó ông còn sống độc thân và làm bạn với chim bồ câu. Telsa còn có những nỗi sợ thầm kín, đó là phụ nữ thừa cân và các loại trang sức (đặc biệt là ngọc trai).

Ông sợ những phụ nữ quá cân
Ông sợ những phụ nữ quá cân.

Hơn thế, ông còn không dám bắt tay vì sợ vi khuẩn. Mỗi khi dùng bữa, nhà phát minh này phải lau sạch dao, dĩa và thìa với đúng 18 chiếc khăn tay làm từ vải lanh rồi mới yên tâm thưởng thức bữa ăn của mình.

4. Bác sĩ Sigmund Freud – kết bạn với “nàng tiên nâu”

Bác sĩ tâm lý và thần kinh người Áo – Sigmund Freud (1856 – 1939) đã mang đến những hiểu biết sâu sắc về tiềm thức con người. Thông qua đó, ông cũng giúp các nhà tâm lý học có được cách thức tiếp cận bệnh nhân một cách dễ dàng hơn. Nhưng ít ai biết rằng, tật xấu của con người tưởng như hoàn hảo này chính là nicotine và cocaine.

Ông bắt đầu nghiện các chất kích thích này từ rất sớm và hút liên tục. Người bạn thân và cũng là bác sĩ của Freud đã cảnh báo ông rằng, việc hút xì gà hàng ngày có thể gây ra chứng rối loạn nhịp tim hết sức nguy hiểm.

Bác sĩ Sigmund Freud - kết bạn với "nàng tiên nâu"

Freud đã cố cai nghiện nhưng lại sớm rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông đã từng chia sẻ: “Ngay sau khi bỏ thuốc, tim tôi thậm chí còn tệ hơn hồi dùng, tâm trạng thì không lúc nào được yên vì những hình ảnh chết chóc, tiễn biệt cứ lặp đi lặp lại”.

Cuối cùng, Freud lại phải trở về với “nàng tiên nâu” và đã từng hút một liều lượng lớn cocaine. Ông thậm chí phải trải qua 33 cuộc phẫu thuật miệng và hàm để loại bỏ tế bào ung thư nhưng vẫn dành những lời ca ngợi tốt đẹp cho thứ “vật chất kỳ diệu” này.

5. Nhà văn Honore de Balzac – uống 50 cốc cà phê mỗi ngày

Nhà văn hiện thực Pháp – Honore de Balzac (1799 – 1850) có niềm đam mê với cà phê lớn tới mức một ngày ông có thể uống tới 50 cốc và hiếm khi chợp mắt trong quá trình sáng tác bộ tiểu thuyết “Tấn trò đời”.

Thậm chí ông còn dành một bài báo để ca ngợi “vẻ đẹp” của cà phê bằng thứ văn xuôi hoa mỹ và đầy chất thơ: “Thứ cà phê này rót vào dạ dày bạn và ngay lập tức tạo nên một chấn động. Các ý tưởng bắt đầu hành quân như tiểu đoàn trong một trận chiến”.

Nhà văn Honore de Balzac - uống 50 cốc cà phê mỗi ngày

Honore de Balzac gọi cà phê là “thứ sức mạnh lớn lao trong cuộc đời”, nhờ có thức uống này mà ông có thể sóng sót với lịch làm việc “chết người”: đi ngủ lúc 6h tối, dậy lúc 1h và làm việc đến 8h sáng, sau đó chợp mắt một lúc trước khi tiếp tục viết 7 tiếng.

Ông uống rất nhiều để duy trì tốc độ công việc và thậm chí còn ăn bột cà phê trong khi dạ dày đang rỗng. Kết quả là Honore de Balzac đã viết được 85 cuốn tiểu thuyết trong vòng 20 năm và qua đời ở độ tuổi 50.

Nhiều người suy đoán cái chết của ông là do lao lực và uống quá nhiều cà phê, trong khi có những giả thuyết cho rằng ông qua đời vì bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

6. Tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu – ý tưởng xuất hiện khi não thiếu dưỡng khí
Tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu - ý tưởng xuất hiện khi não thiếu dưỡng khí

Trong 74 năm cuộc đời của mình, tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu đã sở hữu 3.300 bằng sáng chế, nổi tiếng nhất trong số đó là đĩa mềm. Rất nhiều sản phẩm của Nakamatsu đã được khai sinh trong hoàn cảnh ông suýt chết đuối. Nhà sáng chế lỗi lạc này tin vào lợi ích của việc thiếu dưỡng khí khi con người ở dưới nước.

Ông cho biết: “Để não thiếu dưỡng khí, bạn cần phải lặn thật sâu và khoảng 1,5 giây trước khi chết, tôi có thể hình dung ra một phát minh mới”. Sau đó ông viết ý tưởng này vào giấy chống thấm nước rồi bơi lên.

Thêm một chìa khóa dẫn đến thành công của Nakamatsu là lên ý tưởng trong một căn phòng lát đầy vàng 24kara. Theo ông, lớp vàng này có thể ngăn được sóng vô tuyến và radio “có hại cho quá trình sáng tạo”.

7. Nhà toán học Pythagoras ghét đậu

Nhà toán học Pythagoras.
Nhà toán học Pythagoras. (Ảnh: Prezi.com)

Được mệnh danh “cha đẻ của ăn chay“, nhà toán học Hy Lạp Pythagoras hoàn toàn không ăn thịt, chỉ ăn rau. Tuy nhiên, thiên tài này lại không có tình yêu với các loài cây họ đậu. Ông từ chối ăn những thứ liên quan đậu, thậm chí cấm các học trò của ông ăn hoặc động vào chúng.

Không ai biết rằng liệu những ác cảm này có xuất phát từ lý do sức khỏe hay niềm tin tôn giáo nào của Pythagoras không. Nhưng chính ác cảm này đã gây ra cái chết của nhà toán học thiên tài.

Theo các tài liệu, những kẻ tấn công phục kích Pythagoras nhưng ông thà chết chứ không chạy qua một cánh đồng trồng đậu.

8. Albert Einstein khỏa thân đi lại trong nhà

Nhà bác học thiên tài Albert Einstein.
Nhà bác học thiên tài Albert Einstein. (Ảnh: Quotesgram.com)

Thời còn nhỏ, Einstein là đứa trẻ khờ khạo, chậm nói. Mặc dù vậy, sau này, nhà bác học lại cho rằng sự phát triển chậm chạp giúp ông có nhiều cơ hội để suy nghĩ về các yếu tố cơ bản như không gian và thời gian. Sự tò mò về những điều đó khiến ông luôn đặt ra những câu hỏi lạ lẫm và dẫn đến những đột phá như thuyết tương đối.

Tài xế của nhà bác học kể, ông từng tận mắt thấy nhà bác học Einstein nhặt một con châu chấu trên đất và bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến.

Einstein không muốn mất tiền cho những người cắt tóc nên thường nhờ vợ cắt hộ. Ông đặc biệt thích ăn trứng và mỗi lần ăn ít nhất 2 quả, có thể là trứng rán hoặc trứng bắc.

Ông cũng rất nghiện ăn nấm và ăn tới 3 lần mỗi ngày. Người giúp việc của vị thiên tài cũng cho biết, Einstein có sở thích kỳ lạ là thường khỏa thân và đi dạo quanh khuôn viên nhà.

Có lẽ ông ấy không quan tâm chuyện mặc quần áo hoặc có thể ông ấy không nhớ là mình chưa mặc gì“, người giúp việc nói.

9. Giáo sư đãng trí Werner Heisenberg
Giáo sư đãng trí Werner Heisenberg

Werner Heisenberg (1901 – 1976) là một nhà vật lý lý thuyết xuất sắc. Ông là một trong những người sáng lập ra thuyết cơ học lượng tử và đã giành giải thưởng Nobel vật lý năm 1932.

Một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất của Heisenberg là khám phá ra nguyên lý bất định, trong đó nói rằng vị trí và động lượng của một vật thể không thể được biết chính xác.

Mặc dù có nhiều thành tựu “để đời”, nhưng giáo sư Heisenberg cũng nổi tiếng với cái đầu lúc nào cũng để trên “mây”.

Ông thậm chí từng trượt kỳ thi bảo vệ luận án tiến sỹ do gần như không biết một chút về kỹ thuật thực nghiệm. Trong bài thi lý thuyết, Heisenberg cũng có lần không trả lời được những câu hỏi cực kỳ đơn giản, thí dụ như “Pin hoạt động như thế nào?” của một giáo sư phản biện trong ban thẩm định luận án của mình.

10. Oliver Heaviside thích sơn móng tay màu hồng
Oliver Heaviside thích sơn móng tay màu hồng

Oliver Heaviside (1850 – 1925), là một nhà khoa học, nhà vật lý, nhà toán học và kỹ sư điện người Anh. Ông là người đã phát triển các kỹ thuật toán học phức tạp để phân tích mạch điện và giải phương trình vi phân.

Là một thiên tài hiếm có, nhưng ông cũng thuộc nhóm những “người kỳ cục”.

Theo đó, Heaviside luôn sơn móng tay màu hồng chói, thiết kế nhà ở của mình bằng các khối đá granite khổng lồ, thậm chí ông chỉ uống sữa để tồn tại trong vài ngày.

Nhà khoa học này cũng bị mắc chứng bệnh hypergraphia, một bệnh ở não khiến người ta ham viết lách quá độ. Trong lúc làm việc, ông thường ghi chép rất nhiều ý tưởng lên những cuốn sổ ghi, và rất nhiều trong số đó đã trở thành những nghiên cứu quan trọng.

11. Nhà vật lý với thú vui “bẻ khóa” Richard Feynman
Nhà vật lý với thú vui "bẻ khóa" Richard Feynman

Richard Feynman (1918 – 1988) là một trong những nhà vật lý lỗi lạc nhất và nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Ông từng giành giải thưởng Nobel về vật lý năm 1965 và được đánh giá là 1 trong 10 nhà vật lý vĩ đại nhất mọi thời đại. Feynman đã tham gia dự án Manhattan của Mỹ để tạo ra một quả bom nguyên tử.

Bên cạnh những thành tựu khoa học, Feynman còn nổi tiếng là người khá nghịch ngợm, và có sở thích khác lạ.

Một trong đó phải kể tới việc Feynman đặc biệt thích dành thời gian rỗi của mình để “chơi” với các khóa an ninh, và kết quả là ông thường mở được hầu hết các tủ chứa tài liệu mật tại phòng nghiên cứu.

Suutam

Tướng Lương Xuân Việt ‘chấp nhận thử thách’ khi là nguồn cảm hứng cho người gốc Á


Thiếu tướng Lương Xuân Việt (trái) nói chuyện nhân Tháng Di sản Người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương trên trang US Army, 18/5/21.
Thiếu tướng Lương Xuân Việt (trái) nói chuyện nhân Tháng Di sản Người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương trên trang US Army, 18/5/21.

Thiếu tướng Lương Xuân Việt, Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ ở Nhật Bản, hôm 18/5 kể lại câu chuyện từ một cậu bé tị nạn ông trở thành một chỉ huy quân đội Mỹ ra sao, đồng thời chia sẻ quan điểm về vấn đề bình đẳng, đa dạng chủng tộc trong quân đội Mỹ.

Cuộc nói chuyện của vị tướng gốc Việt được truyền trực tiếp trên trang Facebook chính thức của Lục quân Hoa Kỳ và là một hoạt động để kỷ niệm Tháng Di sản Người Mỹ gốc Á và các đảo Thái Bình Dương.

Nói trên trang Facebook có tên tiếng Anh là U.S. Army, ông Việt cũng tâm sự rằng khi ông được người gốc Á xem là nguồn cảm hứng, ông nhận thấy có áp lực nhất định, song ông sẵn sàng chấp nhận thử thách này.

Mở đầu cuộc nói chuyện, Thiếu tướng Lương Xuân Việt cho biết câu chuyện của ông gắn với việc gia đình ông phải di tản vào cuối tháng 4/1975, một vết sẹo tinh thần về biến cố đau thương. Điều này đồng nghĩa là ông không thích thú gì khi kể lại, nhưng ông cũng hiểu rằng nó cần được kể vì nó khái quát lên phần nào về người Mỹ, là nước Mỹ.

Theo lời kể của Tướng Việt, trong những ngày cuối tháng 4/1975, khi Nam Việt Nam dần tan rã sau các cuộc tấn công của các lực lượng cộng sản Bắc Việt, cha của ông – một thiếu tá Thủy quân Lục chiến Việt Nam Cộng Hòa – được một người bạn Mỹ giúp đỡ để rời khỏi Sài Gòn.

Trong hai ngày 27-28/4/75, cùng nhiều người khác, gia đình ông gồm bố mẹ, các chị gái và ông Việt, khi đó 9 tuổi, phải chờ đợi bên đường băng sân bay Tân Sơn Nhất dưới các đợt pháo kích, ném bom của quân đội cộng sản.

Ông Việt nhớ lại rằng cha của ông đã lấy thân mình để che chắn cho ông và trấn an để các con cảm thấy yên tâm, trong khi xung quanh bom đạn vẫn rơi, nhiều người bị trúng đạn hoặc kêu khóc.

Với giọng run run xúc động, ông Việt kể tiếp: “Tôi sợ gần chết. Một đứa trẻ 9 tuổi như tôi biết làm gì khác ngoài lẩm nhẩm đọc Kinh Thánh. Và chúng tôi vượt qua được ngày hôm đó”.

Sang ngày 29/4, gia đình ông và hơn 50 người khác được lên một trực thăng CH-53 của Mỹ, bay ra ngoài khơi, bên dưới là những làn đạn bắn đuổi theo. Sau 30 phút họ hạ cánh.

“Khi ra khỏi máy bay, tôi hỏi cha của mình: ‘Đây là đâu ạ?’ Ông đáp: ‘Chúng ta đang ở trên tàu USS Hancock’. Tôi lại hỏi: ‘Như thế nghĩa là gì ạ’. Ông nói: ‘Nghĩa là không có gì trên đời này có thể hại con được nữa’. Đó là một khoảnh khắc trọng đại trong đời mà tôi nhớ mãi đến ngày nay. Có thể nói rằng những gì diễn ra trên tàu USS Hancock đã là động lực để tôi phục vụ trong quân đội và đi theo con đường của cha tôi”, Thiếu tướng Lương Xuân Việt nói.

Ông Việt cho rằng thời điểm bước ngoặt trong cuộc đời binh nghiệp của mình là khi ông giữ chức tiểu đoàn trưởng, chỉ huy hoạt động sơ tán người dân ở New Orleans, bang Louisiana, sau bão Katrina vào năm 2005.

Công việc và vai trò của ông ban đầu được tường thuật trên trang nhất báo Los Angeles Times và sau đó được ca ngợi trong một bài báo tiếng Việt ở Mỹ. Nhớ lại thời điểm này, Thiếu tướng Việt nói:

“Khi đó, tôi biết ngay rằng tôi đại diện cho một điều còn lớn lao hơn bản thân tôi, các binh sĩ thuộc cấp và đơn vị của tôi. Sau đó, chúng tôi nhận được nhiều sự chú ý trong cộng đồng người gốc Việt”.

Ông Việt cũng tâm sự rằng khi nắm chức vụ tiểu đoàn trưởng là quãng thời gian “vui nhất” trong đời binh nghiệp. Ông nói thêm:

“Chức tiểu đoàn trưởng thực sự là lúc đầu tiên mà bạn có thể tác động và định hình chính sách và có thẩm quyền làm nhiều điều cho mọi người”.

Như VOA đã đưa tin trước đây, các nấc thang thăng tiến của ông Việt bao gồm thiếu tá, tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 82 Nhảy dù, phục vụ ở Iraq từ năm 2005-2006; đại tá, chỉ huy một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 101 Nhảy dù ở Afghanistan trong giai đoạn 2010-2011; chuẩn tướng vào tháng 8/2014; và được Thượng viện Hoa Kỳ chuẩn thuận cấp thiếu tướng vào tháng 4/2017.

Đại tá Tôn Thất Tuấn (trái) và Thiếu tướng Lương Xuân Việt (phải) tại Hội thảo Quản lý Lục quân Thái Bình Dương 42 ở Hà Nội, 22/8/2018.
Đại tá Tôn Thất Tuấn (trái) và Thiếu tướng Lương Xuân Việt (phải) tại Hội thảo Quản lý Lục quân Thái Bình Dương 42 ở Hà Nội, 22/8/2018.

Nói về hiện tại, Thiếu tướng Lương Xuân Việt cho biết thời gian gần đây ông nhận được nhiều email từ các bạn trẻ người Mỹ gốc Việt và gốc Á nói với ông rằng họ nhập ngũ vì lấy cảm hứng từ ông.

“Quả thực, đứng ra làm khuôn mặt đại diện cho cộng đồng tạo ra áp lực nhất định đối với tôi. Nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận thử thách này”.

Nói về sự bình đẳng và tính đa dạng chủng tộc trong quân đội Mỹ, Thiếu tướng Lương Xuân Việt nhìn nhận rằng đã có, thậm chí cho tới thời gian gần đây vẫn có vấn đề là người Mỹ gốc Á, gốc Phi và gốc các nước Trung Mỹ có ít cơ hội hơn để nắm các vị trí chỉ huy từ cấp lữ đoàn trở lên.

Ông nói tiếp: “Tôi nghĩ để sửa chữa điều đó sẽ cần có thời gian và chúng ta phải quay lại từ những bước đầu. Bởi vì phải mất nhiều năm để đào tạo ra những sĩ quan và hạ sĩ quan giỏi, nên chúng ta cần phải bắt đầu ngay từ khâu tuyển mộ, phải thu hút và giữ chân người tài trong lĩnh vực này. Có nhiều việc phải làm”.

Bàn về vấn đề này trên một bình diện rộng hơn, tự nhận rằng ông không có một sự phân tích tổng quát mang tính học thuật, song Thiếu tướng Việt chỉ ra một thực tế mà ông quan sát thấy trong đời sống mà ông gọi là “sự thiên kiến có hệ thống”.

Cụ thể hơn, ông nêu ra ví dụ rằng ở một số tổ chức hay công ty, người gốc Á làm việc rất tích cực nhưng không được cất nhắc, vì đối với ban lãnh đạo, vấn đề đa dạng không phải là ưu tiên hàng đầu, và họ tin rằng người gốc Á “không kêu ca, vẫn cứ trung thành”, nên họ trao cơ hội thăng tiến cho người khác.

Cùng với vấn đề thiên kiến đó, những vụ việc có tính chất thù ghét người gốc Á xảy ra gần đây làm cho ông cảm thấy tổn thương sâu sắc, Thiếu tướng Việt nói.

“Tôi nghĩ để giải quyết tổng thể vấn đề, chúng ta cần một cách tiếp cận toàn diện. Cùng với tội ác từ lòng thù ghét, có những vấn đề khác mà chúng ta cũng phải xử lý cùng một lúc. Nếu chúng ta không biết gốc rễ của vấn đề, chúng ta chỉ xử lý các triệu chứng chứ không phải là giải quyết vấn đề, mà dường như đó là điều tôi đang thấy hiện nay”.

Dù nước Mỹ không hoàn hảo, song Thiếu tướng Lương Xuân Việt khẳng định ông biết ơn quốc gia này và luôn giữ niềm tin rằng đó là đất nước tốt đẹp nhất trên thế giới.

Viên tướng trong quân đội Mỹ bày tỏ ông không quên nguồn gốc Việt Nam của mình với lời tâm sự rằng ông chắc chắn muốn quay lại thăm Việt Nam, đưa cả 3 con đi cùng. Các con ông đều sinh ra ở Mỹ, ông Việt cho biết, và nói thêm rằng do đại dịch Covid-19 đang diễn ra nên ông không thể thực hiện được một chuyến thăm như vậy.

Thiếu tướng Việt chia sẻ thêm rằng ông đã về Việt Nam một lần để tham gia một chương trình chính thức ở Hà Nội và vì vậy ông không có nhiều thời gian cho hoạt động cá nhân.

Theo tìm hiểu của VOA, Thiếu tướng Lương Xuân Việt có mặt tại Hội thảo Quản lý Lục quân Thái Bình Dương lần thứ 42 diễn ra ở Hà Nội từ ngày 20-23/8/2018 với gần 30 nước tham gia.

theo VOA

Trả sự thật cho lịch sử

Tối 15.5.2021, hàng chục triệu khán giả truyền hình Việt Nam đã được xem bộ phim tài liệu “Chuyện thật 30.4.1975” trên kênh VTC1 (*)

May mắn có mặt trong buổi chiếu tham khảo ý kiến bộ phim tài liệu này từ lúc phim chưa công chiếu (cách đây một tháng), chúng tôi hiểu rằng việc bộ phim được chiếu lần đầu tiên trên truyền hình quốc gia là một nỗ lực rất lớn của nhiều người trong đó có vai trò hết sức quan trọng của Nhà báo – NSƯT Phạm Việt Tùng và các cộng sự.

Tập thể những người lính cầm bút trên mặt trận truyền thông hiểu rõ sứ mạng của mình là phản ánh sự thật và phải kiên trì chiến đấu, góp phần làm rõ những sự thật lịch sử khi nó bị che khuất vì những lý do nào đó.

Việc bộ phim tài liệu dày công điều tra, xác minh từ nhiều nguồn trong nhiều năm được công chiếu, Phạm Việt Tùng và các cộng sự cuối cùng đã có thể chứng minh rất thuyết phục một sự thật quan trọng trong lịch sử dân tộc: ai mới là người thảo lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh phát trên Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30.4.1975?

*

*          *

Những thước phim được thực hiện dựa vào sự thật của bộ chính sử Lịch sử Nam bộ kháng chiến cùng nhiều tư liệu quý khác. Cũng quyết liệt như bộ phim Người lính xe tăng 390 ngày ấy cách nay hơn 25 năm, song lần này tâm nguyện của Nhà báo – NSƯT Phạm Việt Tùng không chỉ dừng lại ở câu trả lời chính xác cho nghi vấn: Ai đã thảo thư đầu hàng cho tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đọc trên Đài phát thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30.4.1975 mà cuốn phim còn là một lời tạ lỗi với người lính xe tăng đã bị ai đó lãng quên đến tận hôm nay.

Đi tìm sự thật

Có lẽ nhiều người biết đến bộ phim Người lính xe tăng 390 ngày ấy nói về những chiến sĩ trên chiếc xe tăng thực sự đã húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập trong buổi trưa 30.4.1975 lịch sử. Nói thực sự là bởi trước đó đã có những điều tưởng vậy mà không phải vậy. Và sự nhầm lẫn ấy đã ngủ yên suốt 20 năm, cho đến khi được “người chép sử bằng hình” Phạm Việt Tùng đánh thức. Cũng từ đây, ông đã phát hiện thêm nhiều thông tin lịch sử cần được kiểm chứng lại và khởi đầu cuộc hành trình mới cho sự thật, vì sự thật.

Rất nhiều người có mặt trong buổi công bố bộ phim cách nay một tháng. Ảnh: Lệ Thủy


Thông qua những nhân chứng còn sống, những thước phim tư liệu quý giá vào ngày kết thúc chiến tranh của nhiều nhà báo trong và ngoài nước, những cuộc điều tra công phu, những bài phóng sự của nhiều đài báo lớn, có uy tín; đặc biệt là bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến và  tác phẩm Thành phố Hồ Chí Minh – Giờ khắc số 0 của cố nhà báo Börries Gallasch, NSƯT Phạm Việt Tùng và ê kíp của ông đã đưa người xem đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác.

Một trong những chứng cứ “không thể chối cãi” khẳng định ông Bùi Văn Tùng chính là người đã thảo lời đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ như vẫn thông tin lâu nay, đó là: bản viết tay do chính ủy Bùi Văn Tùng soạn thảo (đến nay vẫn còn được lưu giữ rất rõ ràng) và Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm rồi phát trên Đài phát thanh Sài Gòn khớp từng chữ với đoạn băng cassette mà nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã ngồi tại nhà ghi lại được qua sóng phát thanh thời khắc lịch sử đó.

Những thước phim tư liệu điều tra còn hé lộ những sự thật khác. Theo bộ phim, hóa ra người vào Dinh Độc Lập trước tiên và “dồn nội các Dương Văn Minh vào góc phòng” là chính trị viên đại đội 4 Vũ Đăng Toàn, trưởng xe tăng 390 chứ không phải đại úy Phạm Xuân Thệ, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 66! Nguyên văn lời kể của ông Vũ Đăng Toàn: “Khi xe tăng chúng tôi dừng trước thềm dinh, quay lại thấy đại đội trưởng Thận ôm cờ chạy vào, tôi vơ thêm khẩu AK, xuống xe hỗ trợ. Khi chúng tôi đến đầu nhà thì có người đứng chặn lại và giới thiệu “Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống mời các ông lên làm việc”. Do có người ra chỉ đường cho anh Thận lên nóc dinh cắm cờ, tôi theo ông Nguyễn Hữu Hạnh vào bên trong”.

Theo ông Toàn thì lúc bấy giờ có hơn 50 người đã tập trung hết vào phòng khánh tiết, còn ông Hạnh sang phòng phía sau mời ông Dương Văn Minh lên: “Sau đó thì xuất hiện một người lính, anh ta đến gần ông Minh, nói: báo cáo tổng thống Dương Văn Minh, tôi là Phạm Xuân Thệ, đại úy, phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 bộ binh… Trong lúc cả tôi và anh Thệ còn chưa biết phải làm gì tiếp theo thì chính ủy Bùi Văn Tùng xuất hiện…”.

Lời kể của ông Toàn trùng khớp với những tài liệu, chứng cứ mà nhóm thực hiện phim có được. Nó hoàn toàn khác với những gì ông Phạm Xuân Thệ kể với báo chí về buổi trưa 30.4.1975 lịch sử ấy. Theo ông Thệ, là người đã đưa ông Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh Sài Gòn để buộc tuyên bố đầu hàng, ông không hề biết chính ủy Bùi Văn Tùng là ai, mãi đến khi sang Đài Phát thanh, khi ông Thệ đang soạn thảo thư đầu hàng cho Dương Văn Minh thì ông Bùi Văn Tùng mới xuất hiện.

Ông Thệ kể: “…Chúng tôi đang củng nhau soạn thảo lời tuyên bố hàng thì anh Bùi Tùng mới đến đứng trước mặt tôi hỏi: Anh là ai?. Tôi mới nói là:  Tôi là Phạm Xuân Thệ, đoàn phó đoàn đoàn Đông Sơn (tức Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn Đông Sơn – Trung đoàn 66)… Anh Bùi Tùng mới nói là: Tôi là Bùi Tùng, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203. Bấy giờ chúng tôi mới biết anh Bùi Tùng và anh Bùi Tùng mới biết tôi”.

Những chia sẻ của ông Thệ bị đặt dấu hỏi về độ trung thực khi NSƯT Phạm Việt Tùng tìm được một cuốn phim ghi lại cảnh quân giải phóng đưa tổng thống Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập sang Đài Phát thanh. Trong phim, Phạm Xuân Thệ đi phía trái hơi chếch về trước, còn Bùi Văn Tùng đi bên tay phải ông Minh, khoảng cách giữa ông Thệ với ông Tùng chỉ vài bước chân.

Nhà báo Börries Gallasch là chứng nhân phương Tây duy nhất ở Dinh Độc Lập thời khắc lịch sử trọng đại sáng 30.4.1975. Ảnh tư liệu chụp lại từ bộ phim


Một sự thật khác buộc phải nhìn nhận lại, là thật ra không có chuyện “bắt sống” nội các Dương Văn Minh như trước nay mọi người vẫn nghĩ bởi lúc 9 giờ 30 phút, ông Minh đã tuyên bố ngừng chiến trên Đài Phát thanh Sài Gòn: “… yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Sài Gòn hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó… Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự tránh đổ máu vô ích của đồng bào” (trích băng cassette ghi âm các chương trình phát thanh của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30.4.1975 do nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Nhã cung cấp).

Việc này được đại tá tình báo Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) xác nhận. Ông Sáu Trí cho biết thêm trưa 30.4.1975, ông và kỹ sư Tô Văn Cang (thuộc cụm tình báo A.24) đều có mặt ở phòng khánh tiết Dinh Độc Lập: “Anh Cang nói: Có lẽ các đồng chí bận hành quân nên không biết lúc 9 giờ 30 đã có lệnh đầu hàng. Bằng cớ khi các anh vào đây không có sự chống cự nào cả. Tôi đề nghị áp dụng chính sách hàng binh theo Công ước Genève chớ không phải tù binh” (**).

Như vậy, thực tế là ông Minh và nội các không hề bị “bắt sống”, không hề bị cùm xích như tù binh. Chính bởi điều này mà sau đó ông Dương Văn Minh đã đến tận nhà để cảm ơn đại tá Tô Văn Cang (theo tư liệu của nhóm làm phim).

Bản viết tay do chính ủy Bùi Văn Tùng soạn thảo và ông Dương Văn Minh đã đọc phát trên đài phát thanh trưa 30.4.1975. Ảnh tư liệu chụp lại từ bộ phim


Theo nội dung bộ phim, còn một sự thật khác cũng khá thú vị: Hóa ra không hề có việc xe tăng 843 “nã hai phát đạn vào Dinh Độc Lập nhưng rất may cả hai viên đạn đều không nổ” như trong quyển sách Tiến vào Dinh Độc Lập 30.4.1975 của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. Pháo thủ số 1 Thái Bá Minh của xe tăng 843 khẳng định trong thư gửi ông Bùi Văn Tùng: “Em không bắn phát nào, anh Thận (Bùi Quang Thận – NV) nói em bắn hai phát vào Dinh Độc Lập mà không nổ là anh Thận nói láo”.

Lịch sử không chấp nhận sự bịa đặt

Ngày 17.1.2006, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam ra thông báo về “kết quả nghiên cứu, khảo sát những vấn đề chưa thống nhất xung quanh sự kiện đánh vào Dinh Độc Lập”. Thông báo có nội dung: Việc bắt tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ở Dinh Độc Lập và áp giải sang đài phát thanh là của một số cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 66 do đại úy Phạm Xuân Thệ chỉ huy. Đại úy Phạm Xuân Thệ cùng cán bộ Trung đoàn 66 đã tổ chức soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo thì trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng mới xuất hiện, và sau đó cùng tiếp tục thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố đó…

Chính ủy Lữ đoàn xe Tăng 203 Bùi Văn Tùng được Bác Tôn ôm hôn biểu dương ngay sau ngày miền Nam thống nhất. Ảnh tư liệu chụp lại từ bộ phim


Sau thông báo này, hàng loạt cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình đã vào cuộc. Nhiều tư liệu đáng tin cậy đã xác nhận Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng là người đã thảo thư đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh đọc trên Đài phát thanh Sài Gòn trưa 30.4.1975.

Chưa dừng lại ở đó, năm 2010, cuốn sách Thành phố Hồ Chí Minh: Giờ khắc số 0 của nhà báo Tây Đức Börries Gallasch đã được xuất bản tại Việt Nam. Ngay năm sau, bộ chính sử Lịch sử Nam bộ kháng chiến cũng hoàn thành. Cả hai đều khẳng định ông Bùi Văn Tùng chính là người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Trước những thông tin đó, đến nay, Viện Lịch sử Quân sự vẫn im lặng. Là người trong cuộc, ông Phạm Xuân Thệ (nay đã là Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang) vẫn im lặng.

Là Tổng Thư ký Ban biên tập bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến, ông Nguyễn Trọng Xuất khẳng định: “Lịch sử không chấp nhận những cái gì người ta bịa ra. Lịch sử chỉ chấp nhận sự chân thật và quần chúng chỉ được thuyết phục bằng sự chân thật của lịch sử”.

Trong khi đó, trả lời cho câu hỏi vì sao ông vẫn miệt mài đi tìm sự thật, Đạo diễn – NSƯT Phạm Việt Tùng cho rằng phải trả lại cho lịch sử những gì như nó đã diễn ra, đó không chỉ là việc làm để tránh những nhầm lẫn đáng tiếc cho hậu thế, mà còn là lương tri của người nghệ sĩ.

Đạo diễn – NSƯT Phạm Việt Tùng. Ảnh: Báo Dân Việt


Ngoài ra, còn phải kể đến nỗi băn khoăn, day dứt của những người lính xe tăng Lữ đoàn 203. Đó là việc trong 3 người có chiến công đặc biệt nổi bật buổi trưa 30.4.1975 ấy, đến nay 2 người đã được phong tặng danh hiệu anh hùng. Đó là Trung tướng Phạm Xuân Thệ và Đại tá Bùi Quang Thận. Riêng đại tá Bùi Văn Tùng dường như đã bị lãng quên cho đến tận hôm nay.

Hành động của Chính ủy Bùi Văn Tùng – người đã sáng suốt quyết định và kiên quyết tổ chức đưa tổng thống Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh Sài Gòn, sau đó thảo lời tuyên bố đầu hàng, góp phần làm cho cuộc chiến kết thúc một cách nhanh gọn, không đổ thêm xương máu – cần phải được chính thức ghi nhận, dù muộn màng. Chính vì điều này mà mấy chục năm qua, những người lính của Lữ đoàn 203 đã kiên trì tranh đấu, hàng chục thư thỉnh nguyện đã được gửi khắp nơi, cho cả cấp lãnh đạo cao nhất. Nhưng rất tiếc, sự thật bị che khuất, bị bóp méo gần 50 năm qua đến này vẫn chưa được các cơ quan có trách nhiệm chính thức kết luận lại để tính trung thực và duy nhất của lịch sử được tôn trọng và bảo vệ.

Người Chính ủy Lữ đoàn 203 ấy nay đã bước sang tuổi 91. Và dù ông nói rằng “chỉ cần làm anh hùng trong lòng những người đồng đội chiến sĩ thiết giáp là đủ” thì hàng triệu người yêu sự thật, yêu chính nghĩa chắc chắn không đành lòng như thế!

Lịch sử sai mới thật sự nguy hại

Trung tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 203 Nguyễn Tất Tài, người cũng có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30.4.1975, cũng là người lên tận cột cờ, cẩn thận thu giữ diềm cờ bị rách của lá cờ Việt Nam Cộng hòa treo trên nóc dinh vừa bị hạ xuống, nhờ đó mà sau này mới có cơ sở đối chiếu, xác nhận đâu là lá cờ cuối cùng treo trên cột cờ Dinh Độc Lập. Trước khi qua đời, ông đã để lại một lá thư rất dài, trong đó có đoạn: “Việc họp của các anh ở quân đoàn, đưa anh Thệ lên trên như là chỉ huy trận đánh là có ý đồ…”.

Theo NSƯT Phạm Việt Tùng, những sự kiện lịch sử mà trước đây vì lý do này kia đã được viết không chính xác thì phải sửa đổi để lịch sử được ghi nhận như chính nó. Mọi việc đã quá rõ ràng, không cần phải tranh cãi gì nữa. Bằng những thước phim này, những người thực hiện bộ phim và những người thiết tha với sự tôn trọng sự thật lịch sử mong Viện Lịch sử Quân sự phải sớm có kết luận lại.

Lệ Thủy / Người Đô Thị