Sương cao nguyên

LÂM ĐỒNG

Tháng 4-5, cảnh sắc, công trình biểu tượng tại Đà Lạt và các khu vực lân cận phố núi huyền ảo trong sương, thu hút người mê nhiếp ảnh.

TP Đà Lạt mờ ảo trong làn sương giăng lúc 5h sáng, với điểm nhấn là quảng trường Lâm Viên, các hình khối kiến trúc tiêu biểu là hoa dã quỳ và nụ hoa atiso.

Bức ảnh được chụp bằng kỹ thuật panorama, ghép 9 tấm, thu toàn cảnh thành phố, nằm trong bộ ảnh “Sương cao nguyên” do nhiếp ảnh gia 9X Nguyễn Hiếu, sống và làm việc tại Đà Lạt, thực hiện.

Hiếu thường được bạn bè gọi Hiếu sương, do tình yêu Đà Lạt của anh gắn liền với các ảnh mùa sương, mang nét đẹp rất riêng. Bức ảnh trên anh chụp toàn cảnh khu vực đồi Cù và sân golf cạnh hồ Xuân Hương vào một sớm đầy sương.

Sương la đà trên chùa Tâm Ấn, tọa lạc trên đường Đinh Tiên Hoàng, cạnh hồ Xuân Hương. Ngôi chùa được thành lập 1974, với điểm nhấn là tòa bảo tháp màu vàng. Nơi đây là khu Tam Bảo dành cho tu học, chốn tĩnh tâm của Phật tử.

Cao nguyên Lang Biang nằm ở độ cao trung bình 1.500 m, trong đó đỉnh Lang Biang cao 2.167 m thuộc cả TP Đà Lạt và huyện Lạc Dương. Hiếu chia sẻ, sau những cơn mưa tạnh, sương mù dày trên khu vực cao nguyên Lang Biang và lảng bảng trên thành phố, các công trình biểu tượng phố núi… tạo nên bức tranh phong cảnh cuốn hút.

Nhà thờ Con Gà trong sương sớm. Nhà thờ này khởi công xây dựng từ năm 1931 và hoàn thành vào năm 1942, xây theo hình chữ thập, dài 65 m, cao 47 m. Đây là một trong số công trình kiến trúc Pháp lâu đời nhất còn lại ở Đà Lạt.

Bức ảnh chụp trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt có kiến trúc hình vòng cung và điểm nhấn là tháp chuông. Đây cũng là một trong những địa điểm được các nhiếp ảnh gia lựa chọn để chụp vào mùa sương.

Từ đỉnh đồi Du Sinh du khách sẽ thấy các ngôi nhà và rừng thông ẩn hiện trong lớp sương hòa cùng ráng bình minh hồng cam. Đồi nằm cách trung tâm Đà Lạt khoảng 5 km, từ lâu được biết đến là một trong những nơi săn mây tuyệt đẹp của phố núi.

Sương bao phủ lúc bình minh trên trung tâm xã Trạm Hành, cách trung tâm TP Đà Lạt khoảng 26 km về hướng đông nam.

Hiếu đam mê săn ảnh sương nên thường thức dậy sớm từ lúc hừng đông, chụp đến 7h sáng là lý tưởng. Muốn có ảnh đẹp, anh phải đi xa hơn về vùng ngoại ô.

Trung tâm xã Dasar và những khu nhà kính tại huyện Lạc Dương vào một buổi sớm. Dasar cách trung tâm Đà Lạt khoảng 20 km, có cảnh quan hoang sơ. Nhờ có rừng thông xanh và bầu không khí mát mẻ nên ở đây sương bao phủ dày hơn so với Đà Lạt.

Màn sương trắng tràn qua thung lũng Dasar và những hàng thông ở huyện Lạc Dương.

Sương phủ kín bên cung đèo K’Long Lanh nối liền Đà Lạt – Nha Trang tại địa phận K’Long Lanh, huyện Lạc Dương.

“Nhan sắc Đà Lạt dần tàn phai, cảnh tượng sương mù ngày càng ít dần tại chính nơi được mệnh danh là thành phố mù sương. Qua những khoảnh khắc sương giăng như thế, tôi muốn chia sẻ đến mọi người, cùng bảo vệ cảnh quan xanh Đà Lạt, để sau này sương vẫn còn trôi trên hàng thông reo”, Hiếu chia sẻ.

Đối với các du khách chưa từng “săn” sương Đà Lạt, chưa nắm rõ đường đi nên tìm hiểu, liên hệ các nhiếp ảnh gia, hướng dẫn viên địa phương và tham khảo các lịch trình, địa điểm để đảm bảo an toàn cho chuyến đi.

Huỳnh Phương /Ảnh: Nguyễn Hiếu/ VNExpress

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên “NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI”, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp!

Ngôi làng này còn được người ta gọi với cái tên là “Vương quốc đỏ”, nhìn xa xa thật sự nơi này có quá nhiều sự khác biệt.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 1.

Toàn cảnh “Ngôi làng đỏ” hay còn được mọi người gọi là “Vương quốc đỏ” tại miền Tây.

“VƯƠNG QUỐC ĐỎ” – NGÔI LÀNG KIỆT TÁC ĐƯỢC TẠO NÊN TỪ NHỮNG ĐÔI BÀN TAY THUỘC 3 DÒNG MÁU VIỆT – KHMER – HOA

Nói về miền Tây thì hẳn nhiều người sẽ nghĩ nơi này ngoài nổi tiếng về trồng lúa nước, nuôi cá đồng, trồng cây ăn quả,… thì chắc chẳng có nghề nào liên quan đến tính thẩm mỹ!? Thế nhưng quay trở lại vào hơn 100 năm trước, tại một huyện nhỏ thuộc tỉnh Vĩnh Long đã nổi lên một ngôi làng chuyên về nung gạch, làm gốm vô cùng tinh xảo đến mức vào cái thời xa xôi khi mọi thứ còn khó khăn nhất là với việc vận chuyển, thì các sản phẩm được làm từ ngôi làng này đã được mang đi xuất khẩu trên khắp thế giới. Khiến một ngôi làng nhỏ xa xôi bỗng chốc phát triển, và rồi từ vài lò nung sau vài năm đã nhân lên thành hàng nghìn lò. Mở ra cho người dân ở đây một cuộc sống mới, song song đó cũng vô tình tạo nên một ngôi làng đẹp như kiệt tác cho tỉnh Vĩnh Long và cả khu vực miền Tây nói chung.

Và đấy chính là làng gạch gốm nổi tiếng nằm trên sông Cổ Chiên thuộc huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ngày nay.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 2.

“Vương quốc đỏ” kéo dài hơn 30km dọc theo kênh Thầy Cai và sông Cổ Chiên thuộc huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 3.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 4.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 5.

Khi đến ngôi làng này đâu đâu cũng là một màu đỏ của gạch và đất sét đặc trưng, nên người ta thường gọi nó là “Vương quốc đỏ” hoặc “Ngôi làng đỏ” là vì thế.

Do đặc điểm của vùng này được trù phú bởi nguồn mỏ sét nguyên sinh, nên hầu hết các sản phẩm từ gạch tới gốm của làng làm ra đều mang một màu đỏ đặc trưng mà ít nơi nào ở thời đó sánh bằng. Tuy nhiên để có được đồ tốt, sản phẩm tốt và kịp cung cấp cho thị trường thời đó, bà con tại đây đã cất công xây dựng rất nhiều lò nung kích thước lớn nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất.

Vào thời hưng thịnh, dọc hơn 30km quanh ngôi làng ngày hầu như không có nhà nào mà không có lò nung. Có hộ thậm chí xây 3 – 4 cái. Lò cao nhất lên tới hơn 30m, còn lò nhỏ tầm trung cũng vào khoảng trên dưới 10m. Chúng được xây cất dựa trên kinh nghiệm làm nghề của cộng đồng người Việt, Khmer và người Hoa vốn sinh sống rất đông tại đây vào thời điểm đó. Họ học hỏi nhau từ cách tạo nên hình dáng, kết cấu lò, phương pháp đốt cùng quy trình nung để có được một tổng thể toàn diện mà các lò nung sau này vẫn còn áp dụng.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 6.

Cận cảnh chiếc lò lung nổi tiếng của ngôi làng này, suốt hàng trăm năm nay họ vẫn luôn dùng vỏ trấu làm chất đốt nung gạch và các sản phẩm từ gốm của mình.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 7.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 8.

Người thợ nung phải thường xuyên túc trực ở lò đốt để tự gia giảm độ nóng của lò.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 9.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 10.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 11.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 12.

Quy trình sơ lược để làm ra những viên gạch nung màu đỏ nổi tiếng khắp thế giới của làng.

Đặc biệt người ở làng này khi nung gạch hay đồ gốm họ chỉ dùng duy nhất loại vỏ trấu chứ không dùng củi hoặc than như những nơi khác. Theo họ, làm như vậy vừa có thể tận dụng được nguồn vỏ trấu tưởng chừng như không làm được gì sau mùa thu hoạch mà giá thành lại rẻ, tiết kiệm không ít chi phí. Từ đó nó trở thành thói quen, rồi thành đặc trưng riêng trong quy trình nung gạch/gốm của cả vùng.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 13.

Kho trấu nhìn như một kiệt tác.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 14.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 15.

Công việc này tuy khá vất vả nhưng những người phụ nữ ở nơi đây vẫn tham gia, dù là bất kỳ công đoạn nào.

NHƯNG LÀNG GẠCH NAY ĐÃ THÀNH “HUYỀN THOẠI”, KHÁCH QUỐC TẾ THẢNG THỐT LÊN “ĐẸP NHƯ MỘT KỲ QUAN”!

Tất cả những gì được kể ở trên đều là câu chuyện của khoảng vài chục năm về trước khi mà nhà nhà, người người trong làng đều sống bằng nghề nung gốm, nung gạch này. Đến khoảng hơn 10 năm trở lại đây, mọi thứ đã thay đổi một cách chóng mặt vì sự thoái trào của các dòng sản phẩm làm từ đất sét đỏ khiến nhiều gia đình bắt đầu chuyển sang công việc khác. Hàng nghìn lò nung còn tỏa khói, đỏ lửa bừng bừng mỗi ngày dần vơi đi còn vài trăm lò, rồi vài chục lò.

Đến nay cả làng chỉ còn vài lò hoạt động với quy mô vừa và nhỏ. Số đông khác để lại loạt tàn tích với các lò nung hàng trăm năm tuổi nằm chơi vơi lạnh ngắt vì đã nhiều năm không được thổi lửa…

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 16.

Cả một thế giới khác như nằm ẩn sâu trong ngôi làng này. Nếu không nói chắc cũng chẳng mấy ai tin đây là ở miền Tây.

Nhưng thật may mắn rằng vào năm 2020, Phó giám đốc phụ trách Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Long cho biết hiện sở này cùng Sở Văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh, UBND huyện Mang Thít đang mời gọi đầu tư từ nguồn xã hội hóa phát triển du lịch vào “Vương quốc đỏ”. Chính vì thế mà trong vài năm trở lại đây, nơi này đã bắt đầu đón nhận không ít lượt khách du lịch trong và ngoài nước tìm tới tham quan. Nhiều du khách xem xong họ phải thảng thốt lên rằng nơi này “NHƯ MỘT KỲ QUAN”, “NHƯ MỘT KIỆT TÁC”!

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 17.

Khung cảnh vô cùng thơ mộng vào buổi chiều hoàng hôn. Nhìn có khác gì bức tranh nổi tiếng đâu!?

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 18.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 19.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 20.

Bạn phải thử một lần tới đây mới hiểu được sự hấp dẫn và quyến rũ của ngôi làng này mang lại.

Với bàn tay con người trải qua hàng trăm năm mà cả ngôi làng gần như giữ nguyên vẹn. Đặc biệt vì là sự kết hợp, giao thoa giữa 3 nền văn hóa Việt – Khmer – Hoa nên nơi này khi nhìn từ xa mang một nét đặc biệt gì đó rất khó mà diễn tả thành lời. Thậm chí chị Anh Thư – một du khách từ TP.HCM đến cũng cho biết: “Nếu không được mấy người bạn sống ở miền Tây giới thiệu thì chắc mình đã không biết sự tồn tại của nơi này. 

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 21.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 22.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 23.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 24.
NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 25.

Để tham quan toàn cảnh ngôi làng mình có thể ngồi thuyền, nhìn vào hai bên bờ là cảnh người dân vẫn đang sinh hoạt thường ngày. Chị em giặt quần áo, rửa đồ, đám con nít thì tắm sông, đùa giỡn,… Cánh đàn ông thì vận chuyển hàng hóa từ thuyền vào trong nhà, trong xưởng,… nhìn rất mới mẻ đối với mình. 

Khi bước vào bên trong ngôi làng, được dắt đi tham quan các lò nung cũ mình thấy nó như một thế giới khác. Giống như ở bên Lào, hay vô rừng Amazone vì nơi này vẫn còn khá hoang sơ. Nói chung là rất tuyệt vời”.

NGÔI LÀNG ĐỎ dài tận 30km với hơn 100 năm tuổi ở miền Tây khiến người ta phải thốt lên NHƯ KỲ QUAN THẾ GIỚI, đẹp và mê hoặc một cách khủng khiếp! - Ảnh 26.

Theo Mỹ Hân / Pháp luật và bạn đọc

Chuyên gia: Trung Quốc phải bồi thường khoảng 19.000 tỷ USD vì “giết người hàng loạt”

Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng số người tử vong trên toàn cầu do COVID-19 rơi vào khoảng 6,9 triệu – cao gấp đôi so với ước tính trước đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Chuyên gia về Trung Quốc Gordon Chang cho biết đây là một hình thức “giết người hàng loạt” của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Theo đó, chính quyền này phải bồi thường thiệt hại khoảng 19.000 tỷ USD.

Trung Quốc

(Ảnh minh họa: Par Steve Allen/Shutterstock)
WHO ước tính có 3,2 triệu ca tử vong, tuy nhiên, Giám đốc Chris Murray thuộc Viện Đo lường và Đánh giá Sức khỏe (IHME) tại Đại học Washington cho biết trên Financial Times rằng “con số thực tế thậm chí còn tồi tệ hơn nhiều”.

Nghiên cứu mới của IHME ước tính rằng COVID-19 đã cướp đi sinh mạng của khoảng 6,9 triệu người. Theo ước tính của tôi, không bao gồm thiệt hại kinh tế từ việc phong tỏa, nỗi đau mà những người sống sót phải hứng chịu, chi phí mà xã hội phải gánh chịu từ việc nhập viện và phát triển loại vắc-xin mới, những thiệt hại trong tương lai do sự gia tăng liên tục của đại dịch, trách nhiệm hình sự, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khoảng 19 nghìn tỷ USD.

Theo nghiên cứu của IHME, số ca tử vong ở Mỹ là gần 900.000 người, thay vì 570.000 như ước tính trước đó. Tại Ấn Độ, số người thiệt mạng trên thực tế được ước tính cao gấp 3 lần con số chính thức. Số người tử vong ở Nga hiện được ước tính là 593.000 người, thay vì thống kê chính thức là 109.000. Theo IHME, sự không nhất quán về chất lượng xét nghiệm và việc báo cáo không đầy đủ về các ca tử vong là nguyên nhân giải thích cho sự chênh lệch này.

Những ước tính cũ (với con số tử vong thấp) có thể giúp Trung Quốc thoát tội, dễ dàng tuyên bố rằng họ đã làm tốt trong việc hạn chế dịch bệnh COVID-19. Nhưng chúng ta không thể để Trung Quốc trốn thoát được.

Cả chính quyền Tổng thống Trump và Biden đều xác nhận 2 thông tin chính: Thứ nhất, phòng thí nghiệm Vũ Hán đã cùng với quân đội Trung Quốc che giấu việc nghiên cứu virus corona của họ. Thứ hai, một số nhà nghiên cứu đã có các triệu chứng giống COVID-19 vào mùa thu năm 2019.

Các nhà phân tích cho rằng Trung Quốc phải chịu trách nhiệm pháp lý về đại dịch COVID-19. Giáo sư Đại học Luật Harvard James Kraska cho biết vào tháng 3 rằng: “Khi chủng virus corona mới ủ bệnh ở Vũ Hán từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 1, nhà nước Trung Quốc rõ ràng đã cố ý cung cấp thông tin sai lệch cho người dân liên quan đến vụ bùng phát, khiến người dân có tâm lý chủ quan khi Tết Nguyên đán đến gần vào ngày 25/1”.

Chuyên gia về Trung Quốc Gordon Chang đã viết trong một email rằng nước này đã “cố tình lây lan COVID-19 ra ngoài biên giới của mình”, và gọi đây là một hình thức “giết người hàng loạt”. Gorodn Chang đã đưa ra 3 lý do chính cho kết luận này:

Thứ nhất, “ĐCSTQ đã cố gắng thuyết phục thế giới rằng COVID-19 không lây lan từ người sang người, mặc dù họ biết rằng không phải vậy”.

Thứ hai, sau khi Bắc Kinh thừa nhận khả năng lây lan của dịch bệnh COVID-19, “họ đã cố gắng thuyết phục thế giới rằng dịch bệnh này sẽ không dẫn đến nhiều ca lây nhiễm và tử vong mặc dù họ biết rằng điều này đã và đang xảy ra, cung cấp thông tin sai lệch khiến cho các quan chức y tế công cộng không thực hiện các biện pháp phòng ngừa mà họ đáng lẽ đã áp dụng”.

Và thứ ba, “Trung Quốc gây áp lực buộc các quốc gia khác không áp đặt các hạn chế đi lại và thực hiện việc cách ly, trong khi quốc gia này đang phong tỏa đất nước vào thời điểm đó”.

Theo ông Chang, “Bắc Kinh lập luận rằng các quốc gia khác không nên cấm du khách Trung Quốc, nhưng lại phong tỏa chặt chẽ đất nước của mình. Điều này cho thấy ý định lây lan dịch bệnh ra ngoài biên giới của Trung Quốc”. Ông lập luận rằng Trung Quốc “hiểu được COVID-19 đã tàn phá Trung Quốc như thế nào. Họ muốn làm hủy hoại các xã hội khác bằng virus, và họ thực sự đã làm vậy … Họ đã làm lây lan virus ra toàn thế giới một cách đầy ác ý”.

Theo nguồn tin của ông Chang, Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc đã ra lệnh cho tất cả phòng thí nghiệm, bệnh viện và cơ sở nghiên cứu khác ở Trung Quốc tiêu hủy các mẫu virus corona vào ngày 3/1. Mục đích có thể là nhằm tiêu hủy đi các bằng chứng. Ông Chang cho hay rằng việc tiêu hủy các mẫu bệnh phẩm là trái với những việc nên phải làm trong thời kỳ dịch bệnh. “Hành động thường thấy là giữ lại các mẫu bệnh phẩm, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của dịch bệnh bởi chúng cần thiết trong việc truy vết tiếp xúc và phát triển vắc-xin”.

Bài báo hồi tháng 3 của Giáo sư Kraska kết luận rằng các yêu cầu bồi thường đối với Trung Quốc về COVID-19 “có thể lên tới hàng nghìn tỷ USD”. Ông đã viết trong một email như sau: “Theo luật, việc tử vong của một cá nhân được tính bằng chi phí kinh tế của thu nhập dự kiến ​​của người đã mất, khoản thừa kế tiềm năng và phúc lợi công việc, hàng hóa và dịch vụ mà họ sẽ sản xuất trong cuộc đời, cộng với chi phí hỗ trợ y tế và chi phí tang lễ của họ. Nói chung, những chi phí này rơi vào khoảng 2,5 – 3,0 triệu USD/người. Theo quan điểm của tôi, những chi phí này có thể (và nên) được bổ sung vào yêu cầu bồi thường đối với Trung Quốc khi gây ra những trường hợp tử vong không đáng có”.

Sau khi nhân 6,9 triệu ca tử vong do COVID-19 với 2,75 triệu USD mỗi người, chúng ta thấy Trung Quốc nên bồi thường thiệt hại tổng cộng cho các gia đình số tiền khoảng 19.000 tỷ USD. Con số này không bao gồm những thiệt hại trong tương lai do đại dịch, nỗi đau mà những người sống sót phải gánh chịu, thiệt hại kinh tế xã hội đến từ việc phong tỏa, hoặc trách nhiệm hình sự đối với cái mà ông Chang gọi là “giết người hàng loạt”. Tổng thiệt hại bổ sung cũng có thể lên đến hàng nghìn tỷ USD.

Nếu Trung Quốc không trả được các chi phí này, chính phủ của chúng ta nên buộc Trung Quốc phải trả bằng cách gán nợ các tài sản nước ngoài của họ. Theo giáo sư Teng Biao thuộc Đại học Chicago và luật sư nhân quyền Terri Marsh, quyền miễn trừ quốc gia không phải là lý do bào chữa cho những chính phủ không được dân bầu ra, và hoạt động như những kẻ khủng bố.

Nếu chính phủ của chúng ta không truy tố Trung Quốc về các tội ác liên quan đến COVID-19 của họ một cách cứng rắn, thì chính phủ đã phớt lờ đi nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mình là bảo vệ cho toàn thể công dân.

Tác giả Anders Corr có bằng Cử nhân (BA)/Thạc sĩ (MA) về khoa học chính trị tại Đại học Yale (2001) và bằng Tiến sĩ (Ph.D) tại Đại học Harvard (2008). Ông là giám đốc của Corr Analytics Inc., Nhà xuất bản của Tạp chí Rủi ro Chính trị (Political Risk), và đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Ông là tác giả của cuốn “The Concentration of Power (tạm dịch: Tập trung quyền lực)” sắp xuất bản năm 2021 và “No Trespassing (tạm dịch: Không xâm phạm)”, đồng thời biên tập cuốn “Great Powers, Grand Strategies (tạm dịch: Quyền lực lớn, Chiến lược lớn)”.

Theo The Epoch Times, / Phan Anh

Trung Quốc làm gì để đáp trả việc bị Mỹ coi là mối đe doạ số một?

Tác giả: Thời báo Hoàn cầu | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Một báo cáo mới công bố của Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ xếp Trung Quốc đứng đầu trong số bốn quốc gia tạo ra mối đe dọa chủ yếu đối với Mỹ, ba nước còn lại là Nga, Iran và Triều Tiên. Đánh giá như vậy không có chút nào khiến mọi người ngạc nhiên. Bản báo cáo này không chỉ nêu lên những thách thức mà Trung Quốc đặt ra đối với Mỹ trong các lĩnh vực như hoạt động quân sự, khoa học công nghệ, hoạt động gây ảnh hưởng, tình báo mạng v.v…, mà còn phóng đại nói rằng mối đe dọa của Trung Quốc có mặt ở khắp mọi nơi trên đất Mỹ, đến mức [mối đe doạ ấy] đã trở thành một cách tư duy và cách nói của giới tinh hoa Mỹ.

Dùng cạnh tranh và đối đầu chiến lược để chèn ép đè bẹp Trung Quốc, kiểu động viên chính trị ấy đã thâm nhập xã hội Mỹ với mức độ sâu sắc hơn nhiều so với sự động viên của xã hội Trung Quốc trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với Mỹ và cuối cùng thắng Mỹ. Điều mà Mỹ cần làm là huy động toàn bộ chính quyền, toàn xã hội và thậm chí là toàn thể các nước Đồng minh cùng nhau chèn ép Trung Quốc. Nước Mỹ muốn xây dựng một bức màn sắt [ngăn chặn giao lưu với Trung Quốc]. Trong khi đó, tinh thần cơ bản của Trung Quốc trong cuộc đấu tranh đáp trả Mỹ là bảo vệ lợi ích của mình và chống lại sự chèn ép của Mỹ, đồng thời, chúng ta nhấn mạnh việc tăng cường mở cửa đối ngoại, bao gồm cả nỗ lực duy trì các lĩnh vực hợp tác cơ bản giữa Trung Quốc với Mỹ.

Mỹ đã khẳng định Trung Quốc là đối thủ chiến lược — tư duy chiến lược này của họ đã được thử thách qua những lần nước Mỹ thay đổi đảng phái lãnh đạo chính phủ và e rằng ít nhất sẽ tiếp diễn trong vài chục năm. Chúng ta [Trung Quốc] ngày càng có ít không gian để làm dịu thái độ chống Trung Quốc của Mỹ, bởi lẽ chúng ta không có những điều chỉnh thực sự nào để mà thực thi. Nhiều năm qua Trung Quốc chưa hề gây chiến với nước khác hay lật đổ bất kỳ ai. Chúng ta chỉ cần cù vất vả làm việc để phát triển bản thân, triển khai hợp tác kinh tế và giao thương cùng có lợi với các nước khác. Chúng ta đã dùng phần lớn số ngoại tệ kiếm được vào việc mua trái phiếu kho bạc Mỹ, tức là lại đem cho Washington vay số tiền đó.

Trung Quốc sẽ không bao giờ thay đổi chế độ chính trị của mình, chế độ đó hoạt động rất tốt, đem lại cho quốc gia này sự phát triển mạnh mẽ. Duy trì sự ổn định và hiệu quả cao của chế độ đó đã trở thành một trong những lợi ích cốt lõi của xã hội Trung Quốc.

Chúng ta cũng không thể có bất cứ nhân nhượng nào trong tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng. Trên thực tế, tư duy quản lý khống chế [quản khống] tranh chấp do Trung Quốc đưa ra đã được tất cả các bên chấp nhận và đem lại kết quả tốt. Chúng ta không thể ngừng sự phát triển của chính mình, điều đó liên quan đến quyền lợi cơ bản của toàn dân Trung Quốc là tiếp tục nâng cao mức sống của họ.

Có hai lý do chủ yếu nhất khiến Mỹ coi Trung Quốc là mối đe dọa số một. Thứ nhất, là sức mạnh của Trung Quốc đang tăng trưởng nhanh chóng, hơn nữa lại có tiềm lực lớn. Mỹ cảm nhận thấy nguy cơ sức mạnh của họ sớm muộn sẽ bị Trung Quốc vượt qua. Thứ hai, Mỹ cảm nhận được rằng Trung Quốc với tư cách là một nước xã hội chủ nghĩa mà giành được thành tựu lớn như vậy, thì điều đó sẽ tạo ra sự cạnh tranh về chế độ chính trị với Mỹ — đây là một mối đe dọa lâu dài với Mỹ. Nhưng về cả hai mặt đó, Trung Quốc không có khả năng và cũng chẳng cần phải an ủi Mỹ.

Vì chế độ chính trị của Mỹ rất khuyến khích sự phát triển các chính sách hiếu chiến, cho nên các quan điểm cứng rắn đối với Trung Quốc sẽ rất có khả năng tiếp tục đi lên thế thượng phong theo kiểu xoáy ốc, làm cho mối quan hệ Trung-Mỹ tiếp tục xấu đi. Chúng ta chớ nên ảo tưởng rằng cơn điên rồ trong thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc sẽ được ổn định vì một nguyên nhân bên trong nào đó. Sự ổn định tương đối như vậy có thể xảy ra trong ngắn hạn, nhưng sẽ không giữ được lâu dài. Hợp lực nội bộ nước Mỹ là phải chèn ép đè bẹp Trung Quốc.

Tính chất nghiêm trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc về cơ bản không thể làm dịu bớt sự ghen tức và thù hằn của Mỹ đối với Trung Quốc, và thái độ thù địch của Mỹ sẽ chuyển thành các hành động liên tục đe dọa an ninh quốc gia Trung Quốc. Việc hoá giải mối đe dọa từ Mỹ cần thời gian rất dài. Trung Quốc phải hoàn thành một số nhiệm vụ trong ngắn hạn và trung hạn, dài hạn.

Thứ nhất, Trung Quốc cần khẩn cấp củng cố khả năng răn đe của mình để ngăn chặn Mỹ sử dụng các biện pháp cưỡng ép chiến lược cực đoan đối với Trung Quốc, nhất là việc xây dựng quân đội của chúng ta phải phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia ngày càng tăng nhanh. Ví dụ, nếu chuẩn bị thống nhất Đài Loan bằng biện pháp quân sự, thì chúng ta cần tăng cường đáng kể khả năng răn đe đối ngoại, bao gồm cả khả năng răn đe hạt nhân. Vì Trung Quốc sẽ không tấn công các mục tiêu của Mỹ, nhưng Mỹ có dã tâm can thiệp quân sự vào công việc của Trung Quốc, nên việc chúng ta tăng cường sức mạnh quân sự là cách duy nhất để thiết lập sự cân bằng và an ninh.

Thứ hai, Trung Quốc cần tăng tốc phát triển, bao gồm việc làm rõ càng sớm càng tốt khả năng của chúng ta trong việc đột phá vòng vây công nghệ của Mỹ. Hiện nay Mỹ và các nước Đồng minh chủ yếu vẫn ảo tưởng sẽ bóp nghẹt được sự phát triển của Trung Quốc. Càng thể hiện rõ xu hướng chúng ta có thể tiếp tục nhanh chóng phát triển thì càng giáng đòn đau vào sự kiêu ngạo của Mỹ và sự tự tin của các Đồng minh chủ yếu, và điều đó càng có khả năng khiến các quốc gia khác còn đang dao động sẽ dần dần xa rời đường lối chống Trung Quốc của Mỹ.

Thứ ba, cố gắng giữ ổn định bộ khung mối quan hệ Trung – Mỹ, ngay cả khi đó là một trong những mối quan hệ cạnh tranh gay gắt. Trong đấu tranh chống Mỹ, chúng ta không thể mong chờ một lần là giành ngay được chiến thắng. Chúng ta chỉ có thể thông qua việc ổn định tình thế và sử dụng sức mạnh tăng thêm của mình trong quá trình liên tục tích lũy để cuối cùng thực hiện được sự phá vây. Quá trình này nhất định sẽ khó khăn, chúng ta cần phải kiên trì, không được theo đuổi niềm vui. Nếu Mỹ muốn tỉ thí chạy đường ngắn thì chúng ta thi chạy đường dài với họ. Nếu Mỹ muốn đua đường dài thì ta sẽ đua chạy marathon với họ. Chạy càng lâu thì Mỹ càng không chịu nổi chúng ta.

Nguyễn Hải Hoành biên dịch từ nguồn tiếng Trung社评:美国已经锁定中国,我们须做好三件事.

Theo Nghiên cúu Quốc tế

Vì sao không thể Hán hóa người Việt?

Tác giả: Ngọc An p/v Trần Gia Ninh

Nhà nghiên cứu Trần Gia Ninh vừa công bố kết quả nghiên cứu về lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt với nhiều diễn giải mới xung quanh các vấn đề lịch sử đang còn gây tranh cãi cho giới nghiên cứu trong lẫn ngoài nước. Trả lời Thanh Niên, ông nhấn mạnh: “Người Việt vốn là cộng đồng dân cư tinh túy nhất còn sót lại của tộc Bách Việt cũ”.

Hiện nay, vẫn đang tồn tại nhiều tranh cãi xoay quanh nguồn gốc của người Việt (Kinh) và không phải ai cũng cho rằng cội nguồn của người Việt là tộc Bách Việt. Ông có thể chia sẻ quan điểm về vấn đề này?

Tôi cho rằng trải qua một tiến trình lịch sử với quá nhiều biến động, không thể có người Việt (Kinh) thuần chủng là hậu duệ của duy nhất một tộc người. Hiện có nhiều giả thuyết đối chọi nhau về vấn đề này. Tôi chia sẻ với ý kiến cho rằng cội nguồn của người Việt ít nhất là hợp bởi ba tộc người chính: người Bách Việt (bao gồm người Việt bản địa và các tộc Bách Việt ở nơi khác chuyển đến), người Thục (thời Thục Phán) và người Hoa Hạ.

Khi nước Thục bị nước Tần diệt, một cộng đồng dân cư đã chạy thoát xuống phương Nam và chiếm đất Âu Việt, tức thượng nguồn sông Hồng. Những ghi chép trong cổ sử đầu Công nguyên đã có chép về Thục Phán. Thậm chí, còn ghi rõ, Thục Phán đem quân đánh Hùng Vương. Hùng Vương thua, Thục Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Không phải chỉ có trong truyền thuyết dân gian Việt, mà sử sách cổ của Trung Quốc cũng ghi chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương, chuyện nỏ thần An Dương Vương, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy. Người Thục ngày xưa có nền văn minh phát triển rực rỡ không thua kém Hoa Hạ mà có khi còn hơn. Có thể người Thục đã có chữ viết dù sau đó bị mất.

Còn về nhóm cư dân từ tộc Bách Việt cũ có phần đặc biệt. Khi Trung Quốc xâm chiếm và tìm cách đồng hóa các tộc Bách Việt, việc đầu tiên họ làm là tìm cách tiêu diệt những thành phần ưu tú nhất, bởi vậy những người đó đã phải di chuyển về phía nam, mang trong mình tinh hoa của văn hóa Bách Việt. Họ tìm chỗ trốn và nơi định cư an toàn về sau chính là nước VN bây giờ.

Ông có thể lý giải sức mạnh nào khiến người Việt không bị Hán hóa dù trải qua 1.000 năm Bắc thuộc?

Có thể thấy, những vùng đất ở phương Nam như Vân Nam, Hải Nam, Quảng Đông… mặc dù cách xa Trung Nguyên nhưng sau khi Trung Quốc xâm chiếm đều bị đồng hóa. Đến cuối nhà Minh, dù người Hán đã bị người Mãn Châu đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ, nhưng cuối cùng, người Mãn Châu lại bị chính người Hán đồng hóa. Thế nhưng, người Việt trải qua tới 1.000 năm Bắc thuộc lại không bị như vậy.

Theo tôi, một số nguyên nhân có thể tóm tắt như sau: Mưu đồ đồng hóa một dân tộc sẽ khó thành công nếu dân tộc đó hội tụ đủ ba yếu tố. Một là có sức sống sinh học và sức sống xã hội mãnh liệt; hai là có trình độ văn hóa và nền văn minh cao hơn dân tộc đi đồng hóa; ba là có tổ chức xã hội tốt, cố kết các thành viên bền chặt. Nhìn lại, thấy người Việt (Kinh) có đủ ba yếu tố này. Dù là mục tiêu tàn sát của dân tộc đi xâm chiếm, nhưng họ đã thoát thân thành công và “an cư” ở mảnh đất cuối trời của Bách Việt, chính là VN ngày nay. Điều đó chứng minh, đây là cộng đồng có sức sống mãnh liệt. Mặt khác, chính vì mang trong mình tinh hoa của văn hóa Bách Việt, văn hóa Thục và cả Hoa Hạ nữa, nên nền văn minh của cộng đồng dân cư này có lẽ còn vượt trội hơn cả Hoa Hạ. Cuối cùng, chính sử Trung Quốc đã ghi chép rất rõ về thời Hùng Vương. Qua đó có thể thấy, người Việt đã có nhà nước, có tổ chức xã hội, có sự gắn kết bền vững trong cộng đồng. Đó là lý do người Việt khó có thể bị một dân tộc nào đó đồng hóa.

Không những không bị đồng hóa và vẫn giữ được tiếng nói của dân tộc mình, người Việt còn tiến hành “đồng hóa” ngược. Ông có thể nói rõ hơn về “kỳ tích” này?

Thời Bắc thuộc, người Việt có thể không có chữ viết, hoặc có thể đã có chữ viết nhưng bị xóa sạch qua 1.000 năm bị Bắc thuộc. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là họ vẫn giữ được ngôn ngữ (tức là kho từ vựng, phát âm, ngữ pháp, cấu trúc) Việt. Người Việt khá thông minh. Họ đã học chữ của người Hán để lưu giữ tiếng nói của dân tộc mình, giữ nguyên cách tư duy ngôn ngữ của mình, bởi vì ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Họ khôn khéo biến “kho” Hán ngữ thành “kho” Hán – Việt để làm giàu thêm ngôn ngữ của mình. Có thể thấy, nhiều từ mà chúng ta vẫn thường dùng bây giờ như vô duyên, lãng mạn, bá đạo, triền miên, mạch lạc, la liệt… là từ gốc Hán 100% trong kho tàng Hán – Việt mà ông cha ta đã thu thập để thành vốn từ Việt.

Đây là điều mà các nhóm dân tộc khác xưa cũng thuộc tộc Bách Việt không làm được. Chẳng hạn, người Quảng Đông, Phúc Kiến, Vân Nam đã mất hẳn ngôn ngữ “gốc”. Về mặt ngôn ngữ, họ hoàn toàn bị Trung Hoa đồng hóa, chỉ phát âm khác mà thôi.

Nhà nghiên cứu Trần Gia Ninh là cây bút quen thuộc viết chính luận, khoa học, văn học sử và tiểu thuyết. Một vài công trình bằng tiếng Việt của ông công bố gần đây: Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn (tiểu thuyết lịch sử, NXB Văn học – 2015), Thánh dạy: Bốn chục tuổi, không lầm lẫn nữa…Với công trình Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, Trần Gia Ninh đã tiến hành nghiên cứu nhiều tư liệu lịch sử như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh tập, Đại Việt sử ký toàn thư. Đặc biệt, ông dành nhiều công sức nghiên cứu các tài liệu sử học của Trung Quốc như Hán thư, bộ sách Thái Bình Ngự lãm, Hoa Dương quốc chí, Thủy Kinh chú sớ…

Nguồn: Thanh Niên