Các loài động vật độc đáo của rừng U Minh Thượng

Vào năm 2013, Vườn quốc gia U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) đã được trao chứng chỉ công nhận là Vườn di sản ASEAN.

Các kết quả khảo sát khoa học gần đây cho thấy hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn tại Vườn quốc gia U Minh Thượng có tầm quan trọng đặc biệt; là nơi nuôi dưỡng, trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm, đặc trưng và nguy cấp, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái.

Sau đây là giới thiệu sơ lược về một số loài động vật quý hiếm tại Vườn quốc gia U Minh Thượng. 

Cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphroditus) là một trong những loài thú tiêu biểu của Vườn quốc gia U Minh Thượng. Chúng có thước cỡ con mèo, toàn thân dài khoảng 85–110 cm; đuôi dài 40–56 cm. Chúng là loại động vật ăn tạp, giỏi leo trèo, kiếm ăn về đêm, nguồn thức ăn chủ yếu là các loại quả chín. Loài vật này có các tuyến xạ phía dưới đuôi, có thể phun ra các chất bài tiết độc hại để chống lại kẻ thù.

Nặng tới 1kg, dơi ngựa lớn (Pteropus vampyrus Linnaeus) là một loài dơi khổng lồ tập trung nhiều tại U Minh Thượng. Loài dơi này sống thành đàn lớn trên cành cây ở rừng ngập mặn, ban ngày treo mình ngủ trên cành cây, ban đêm bay những quãng đường dài để tìm thức ăn. Thức ăn chủ yếu của loài này là quả hoặc mật hoa như chôm chôm, xoài, sầu riêng… Chúng là tác nhân thụ phấn hoa của nhiều loài cây rừng và cây ăn quả.

Mèo cá (Prionailurus viverrinus) có hình thể rất giống mèo rừng nhưng có kích thước lớn hơn. Điểm đặc trưng trong tập tính của loài mèo này là chúng ưa thích sống gần môi trường nước, bơi lội giỏi, săn cá, cua, ốc, chuột, chim… làm thức ăn. Chúng làm tổ trong các hốc đất đá, bụi rậm, hốc cây… Thời gian mang thai khoảng 63 ngày, mỗi lứa đẻ 1 – 4 con.

Ếch giun (Ichthyophis bannanica) là một loài vật kỳ lạ thuộc bộ ếch nhái không chân. Chúng có hình dáng giống hệt giun nhưng lớn hơn, thân dài từ 10 – 38cm, có mắt như hai chấm đen, mõm tương đối nhọn và có hàm rõ. Những con lưỡng cư này sống chui luồn trong đất ở độ sâu 20 – 30cm, ăn giun đất, đẻ trứng ở gần chỗ có nước, mỗi lứa chừng 30 quả. Con cái luôn cuộn lấy trứng để bảo vệ.

Già đẫy nhỏ (leptoptilos javanicus) là loài chim quý xuất hiện tại rừng tràm U Minh. Loài chim này có ngoại hình khá giống một cụ gà khắc khổ, với dáng đứng gù gù, cái đầu hói lơ thơ “tóc”, da mặt nhăn nheo lấm tấm đồi mồi. Chúng thường làm tổ theo tập đoàn ở những cây to cao gần nước, đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ trung bình 4 trứng vào tháng 11 đến đầu năm sau.

Kỳ đà vân (Varanus nebulosus) có cơ thể dài tới 2m, là loài thằn lằn lớn nhất Việt Nam. Loài bò sát này sống trong hang hốc gần nguồn nước, bơi giỏi, leo trèo giỏi, kiếm ăn trên mặt đất hoặc trên cây, ăn côn trùng, thằn lằn, chim và thú nhỏ, đôi khi phá cả tổ chim để ăn trứng và chim non. Trong mùa sinh sản, các cá thể đực đánh nhau để giành cá thể cái. Vào mùa mưa, kỳ đà vân đẻ khoảng 24 trứng có vỏ dai vào hố do chúng tự đào rồi dùng mõm để lấp đất lên hố có chứa ổ trứng.

U Minh Thượng là nơi còn bảo tồn một quần thể lợn rừng (Sus scrofa) lớn ở nước ta. Những con vật móng guốc này nặng 40 – 200 kg, ngực nở, lông thô cứng màu đen xám, răng nanh thường phát triển to dài chìa ra ngoài môi như một thứ vũ khí tự vệ lợi hại. Lợn rừng sống theo đàn 5 – 20 con, kiếm ăn đêm, ngày nghỉ trong các bụi rậm. Chúng là loài ăn tạp, thức ăn gồm các loại củ, quả rừng, măng tre nứa và nhiều động vật nhỏ như nhái, ngóe, giun đất, ong..

Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) là một trong những loài rái cá hiếm nhất thế giới. Chúng có thân hình dài, mềm dẻo, màng bơi da trần phủ hết ngón, tai có nắp che lỗ tai, lông màu nâu sẫm, sẫm đen, móng vuốt rất dài nhọn, sắc. Chúng sống thành đàn dưới 10 con, đào hang làm tổ trong các bờ đất, ụ đất cao, cửa hang thường thông ngầm dưới nước, hoạt động vào sáng sớm, chiều tối và ban đêm, thức ăn chủ yếu của chúng là cá, sau đến các loài khác như cua, ốc, thằn lằn, rắn, ếch nhái…

Trăn gấm (Python reticulatus) là loài có kích thước “khủng”, có thể dài tới 6 – 7m. Chúng có đầu nhỏ dài, môi có nhiều lỗ cảm giác, da màu vàng be hay vàng nâu với những vân xám đen nối với nhau làm thành những mắt lưới. Chúng là loài bò sát bơi giỏi, sống ở gần môi trường nước, hoạt động về đêm, ăn nhiều loại động vật khác nhau. Mỗi lứa trăn mẹ có thể đẻ tới 100 trứng. Trứng nở sau khoảng hai tháng rưỡi đến 3 tháng. Con non mới nở dài khoảng 60 đến 75cm.

Tê tê Java (Manis. javanica) là loài động vật có vú độc đáo, với vảy bao phủ thân mình, chỉ chừa phần bụng và mặt trong tứ chi. Ở những phần đó có lông thưa. Chân chúng có móng dài và cong, đuôi khá dài và khỏe, có thể vin bám vào cành cây khi leo trèo. Mỗi cá thể trưởng thành dài 77,5–100 cm.

Theo KIẾN THỨC

Nguyễn Đình Thi – Người nghệ sĩ hay kẻ cơ hội?

Nghe nhà thơ Nguyễn Đình Thi kể về nhạc phẩm Người Hà Nội
Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Đình Thi, thi sĩ của những câu thơ mà một thời đã được coi như là những bước đầu khai phá cho thơ tự do, thơ không vần. Những bài thơ như thế lại bị chỉ đạo của Tố Hữu với những phê bình của phản ứng gay gắt nghiệt ngã khiến thi sĩ phải chiều lòng sửa lại để thơ có thêm vần điệu. Chu Văn Sơn, một nhà phê bình văn học khoa bảng đã viết trong bài tưởng niệm một năm sau khi Nguyễn Đình Thi lìa đời Nguyễn Đình Thi Trên Sóng Thời Gian:
“… Trong phần thành công nhất, thơ Nguyễn Đình Thi đã tạo ra một điệu mới như tiếng sóng reo trong lặng lẽ, tấu lên một thứ nhạc mới – trong lặng mà rung ngân: “Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới? Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”, “Nắng soi ngõ vắng – Thềm cũ lối ra đi – lá rụng đầy”, “Ôi những vạt ruộng vàng – Chiều nay rung rinh lúa ngả – Dải áo chàm bay múa – tiếng hát ai lênh đênh”, tiếc rằng, trước sự phản ứng gay gắt, Nguyễn Đình Thi cũng đã phải hòa giải một cách tự nguyện là lại gia tăng vần cho thơ. Nhiều khi “thơ có vần” đã đồng hóa “thơ không vần”. Giá ông cứ dám là mình, cứ dám đi cho thật hết cái lẽ phải của thơ theo quan niệm của mình thì râ’t có thể ông đã có vai trò như Xuân Diệu với phong trào thơ mới. Hòa giải đôi khi là thỏa hiệp là nhượng bộ, làm mất một cơ hội tạo diện mạo cho mình, tạo diện mạo hoàn toàn mới cho thơ. Vừa muốn là mình, vừa không dám là mình, gẫm bi kịch ấy đâu chỉ diễn ra trong mỗi việc cách tân thơ, cũng đâu chỉ với riêng ông. Nó khó thế, nó cũng buồn thế!”
Phải, không phải chỉ riêng với Nguyễn Đình Thi mà hầu như phần đông văn nghệ sĩ sống trong nền văn học gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa” đều phải nhắm mắt làm những việc bất đắc dĩ. Chính người trong cuộc cũng cảm thấy thấy buồn chán nhưng không có cách nào hơn. Nếu hành xử như một nghệ sĩ, thì đâu có “quan văn nghệ” Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký hội văn nghệ từ năm 1958 tới ba nhiệm kỳ liền, và là người được Bùi Bình Thi xưng tụng là một trong “Tứ Đại lão gia” của nền văn học trong nước.
Thực ra, Chu Văn Sơn tiếc cho Nguyễn Đình Thi cũng có lý. Ông là một nhà văn, nhà thơ có tài và có căn bản kiến thức vững vàng. Cuốn sách Triết Học Nhập Môn mà ông viết với tất cả tóm lược nền tảng triết học đã được dạy trong chương trình lớp dự bị Văn Khoa của đại học Sài Gòn một điều mà chính ông cũng khó tưởng tượng được. Cũng như, ông có cái nhìn viễn kiến khá xa cho con đường văn học. Như bài viết Mấy Y Nghĩ về Thơ từ năm 1949 đến nay đọc lại vẫn thấy còn giá trị và nhiều chất suy tư sáng tạo.

Nhiều người cho rằng ông có thực tài nhưng không được trọng dụng. Cái lý lịch trí thức tiểu tư sản đã tạo ra lối sống và lối nghĩ khác biệt với tác phong vô sản của chế độ.
Nhà văn Lý Hồng Xuân trong Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn đã viết một giai thoại về Nguyễn Đình Thi:
“… câu chuyện đó bắt nguồn từ việc trong một lần Nguyễn Đình Thi được cử dẫn đầu đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam đi dự Đại Hội Liên Hoan Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới. Ở đây ông gặp nữ văn sĩ, nhà báo người Pháp, bà Ma dơ len Rip phơ. Trai tài gái sắc, hai người yêu nhau định gá nghĩa trăm năm. Khi trở về nước, chưa kịp báo cáo với tổ chức, Nguyễn Đình Thi đã bị phê bình gay gắt vì “quan điểm lập trường tiểu tư sản.”
… Vào khoảng đầu những năm Sáu mươi, trong một tuyển tập thơ Tình Yêu của nhà xuất bản thanh niên, Nguyễn Đình Thi cho in bài thơ của mình. Tên bài thơ là Nhớ. Đầu bài thơ ông đề “Tặng M.”
Bài thơ ấy như sau:
Gửi M.Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh.Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mâyNgọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnhSưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn câyAnh yêu Em như Anh yêu đất nướcVất vả đau thương tươi thắm vô ngầnAnh nhớ Em mỗi bước đường Anh bướcMỗi tối Anh nằm mỗi miếng Anh ăn.Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắtChúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đờiNgọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rựcChúng ta yêu nhau cháy bỏng làm người.
M., là EM, hay là Mađơ len Ripphơ cũng thế, Nguyễn Đình Thi làm thơ tình yêu mà cũng phải ngụy trang những đất nước, những chiến sĩ… nhưng thâm ý của ông, rõ ràng quá nên không qua được mắt lãnh đạo văn nghệ. Và, tình trạng ấy tạo cho ông tình trạng của một người luôn luôn bất mãn nhưng ngoài mặt vẫn phải nhũn nhặn cam chịu.
Vở kịch Con Nai Đen và Nguyễn Trãi Ở Đông Quan tuy nổi tiếng nhưng bị coi là có “vấn đề”. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, con trai nhà thơ Thế Lữ dựng kịch Nguyễn Trãi Ở Đông Quan nên mới có câu vè:
Nguyễn Đình Thi với Đình NghiMượn lời Nguyễn Trãi nói gì với ta?
Và chính đích thân chủ tịch quốc hội Trường Chinh lúc đó duyệt kịch bản và xem Đoàn Kịch Nói Hà Nội và sau đó cấm phổ biến.
Xuân Sách lược tả chân dung Nguyễn Đình Thi với những tác phẩm tiêu biểu và cái tâm tư dường như chờ đợi một điều gì, nửa như hy vọng nửa như vô vọng:
Xung Kích tràn lên, nước Vỡ BờĐã Vào Lửa đỏ hãy còn mơBay chi Mặt Trận Trên Cao ấyQuên Chú Nai Đen vẫn đứng chờ!
Xung Kích, Vỡ Bờ, Mặt Trận Trên Cao, Vào Lửa, là tên những cuốn tiểu thuyết của ông. Con Nai Đen là tên vở kịch.
Tuy vậy, ông là một người khôn ngoan và đã biết cách để giữ được cái chức quyền quan văn nghệ. Với cấp trên ông là người luôn luôn chiều theo bất kể lý lẽ. Người mà ông thần phục nhất là Tố Hữu, người có quyền sinh sát với văn nghệ sĩ. Trong bài viết của nhà văn Hoàng Tiến có nói về Tố Hữu như sau:

“Nghe nói khi ông Tổng Bí Thư Nguyễn văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, ông Trần Độ tác giả của nghị quyết 05 về văn hóa và văn nghệ, là người đã giúp ông Nguyễn Văn Linh nói được câu cởi trói, có gặp ông Tố Hữu hỏi ông nghĩ gì về anh em Nhân Văn Giai Phẩm bây giờ. Ông Tố Hữu suy nghĩ một lát, với giọng trọ trẹ xứ Huế, trả lời “A cái bọn ấy à, thì bây giờ tôi rất tiếc là ngay lúc đó tôi không diệt hết chúng nó đi”. Hỡi ôi, một người nghệ sĩ, một nhà thơ mà suy nghĩ hệt một nhà chính khách độc tài”.
Lại một người khác, nhà thơ Hoàng Cầm nói về trường hợp in thơ của Nguyễn Đình Thi. Lúc ấy, Hoàng Cầm giữ nhiệm vụ biên tập nhà xuất bản Văn Nghệ. Ban đầu với bản thảo thi tập Người Chiến Sĩ có nhiều bài thơ không vần khá hay. Nhưng sau vì áp lực của Tố Hữu mà phải sửa thành những bài có vần nên thơ trở thành một cái hẩu lốn chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Hoàng Cầm kể:
“… Sau buổi tôi nói chuyện với ông Lành, anh Thi đã đến ngay nhà xuất bản hỏi tôi để lấy lại bản thảo. Tôi làm như không có cuộc trao đổi với ông Lành về tập thơ Người Chiến Sĩ.
– Anh Thi ạ, tập thơ của anh chúng tôi thấy rất “được”, có lẽ chính nó sẽ mang lại một luồng gió đổi mới cho chúng ta. Tôi đã đưa xuống nhà in rồi.
Anh Thi đáp, giọng buồn rầu nhỏ nhẹ:
– Thôi Cầm cứ cho mình xin lại bản thảo, không in vội.
– Sao thế anh Thi? Mình tưởng tập thơ thế là hoàn hảo rồi? Cứ thế mà in. Tôi sẽ cho in rất đẹp và có thể mời họa sĩ Nguyễn Sáng hay Dương Bích Liên vẽ cho một phụ bản màu.
Anh Thi nài nỉ:
– Để mình sửa chữa lại. Thú thật anh Lành đã có đọc tập thơ này, trong khi anh Lành chưa có ý kiến gì, mình muốn đưa cho Cầm để xuất bản cho nhanh. Nhưng gần đây, khi nghe nói mình đã đưa bản thảo xuống nhà xuất bản thì anh ấy gọi mình lên và khuyên mình nên sửa một số bài mà anh ấy cho là lủng củng, vẫn là những ý kiến của anh ấy đã phát biểu trong kháng chiến. Mình đã tranh luận với anh ấy. Cuối cùng anh Lành vẫn bảo mình nên chữa lại cho độc giả công nông dễ đọc dễ thuộc. Thôi thì… người ta là lãnh đạo mà”.
Sau khi đã sửa lại bản thảo để làm vừa lòng cấp trên, Nguyễn Đình Thi còn nói với Hoàng Cầm một câu nói khá kỳ lạ “Trí thức văn nghệ sĩ chúng mình đã đi với cách mạng vô sản thì ít nhiều cũng phải hy sinh cái bản ngã của mình dẫu là bản ngã tốt đẹp!!!”
Một câu nói khác, cũng “để đời” không kém. Nguyễn Đình Thi tuyên bố khi bế mạc Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ ba năm 1983: “Chúng ta là những nhà văn nhưng là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng!”
Theo Bùi Minh Quốc trong bài Vài Kỷ Niệm Làng Văn Bị Trói đăng trên tạp chí Thiện Chí số 31:
“Hôm sau (hôm Nguyễn Đình Thi nói trên truyền hình) tình cờ tôi gặp nhà sử học Trần Quốc Vượng. Ông Vượng cứ nhìn tôi bằng cặp mắt như thể tôi là Nguyễn Đình Thi rồi tặc lưỡi mà bảo: Nhà văn các ông hừ… việc gì phải thế nhỉ?
Một anh bạn tôi – bên ngành giáo dục nhà gần chợ Bắc Qua kể với tôi rằng có một cô gái buôn gà thường ghé sang nhà anh xem nhờ Tivi buổi tường thuật lễ bế mạc Đại Hội Nhà Văn. Khi xem xong đoạn ông Nguyễn Đình Thi hùng hồn tuyên bố câu ấy cô gái đã hồn nhiên bật ra một lời bình phẩm:
– Gớm, “cậu” đéo lào (nào) mà “lịnh” (nịnh) thế?”
Theo thời như thế, lăn lưng với miếng đỉnh chung như thế nhưng con người nghệ sĩ của Nguyễn Đình Thi vẫn có những nỗi niềm riêng ray rứt riêng. Hoàng Cầm trong bài Nguyễn Đình Thi Trong Tôi, Nguyễn Đình Thi Ngoài Tôi viết:
“Tôi biết vào những ngày tháng cuối cùng trên cái cõi mang mang thế sự đầy bí hiểm này anh Thi có những thời khắc suy tư đầy bi kịch. Anh vốn là một nghệ sĩ nhưng ít khi sống hết mình vì nghệ thuật, về nhạc anh đã sáng tác khúc ca Người Hà Nội rất quyến rũ rất tình tứ mà cũng rất hùng tráng. Đáng lẽ anh nên dừng ở đó mà đào sâu vào cái vỉa quặng rất phong phú là âm nhạc thì tham vọng lại dẫn anh đi vào một thế giới mà anh tưởng có thể ôm chặt lấy được là thế giới văn xuôi, thế giới đến thương trường rất ngon ăn mà sao tiểu thuyết Vỡ Bờ gần ngàn trang của anh lại hình như thưa thớt tiếng vang. Mấy cuốn truyện của anh nữa. Xung Kích, Vào Lửa, Mặt Trận Trên Cao, liệu còn dư vang gì trong lòng người đọc? Anh cứ loay hoay như thế suốt hơn 60 năm cầm bút để rồi đi đến đâu? Ở anh có hai con người luôn giằng xé nhau bất phân thắng bại. Đó là con người nghệ sĩ và con người quyền chức không lúc nào anh thanh thản, không lúc nào anh được an nhiên tự tại cũng chỉ vì xung đột quyết liệt một mất một còn giữa hai con người đó. Vì thế mà anh sống trong một bi kịch thường trực, nó vò xé cắn rứt lẫn nhau không lúc nào ngưng nghỉ (trừ lúc anh để tâm hồn trôi theo nhan sắc, nhưng ngay cả nhan sắc, hay nói rộng ra là tình yêu nam nữ, đôi khi cũng tưởng chừng muôn phát điên lên vì anh luôn thay đổi)”.
Cuối đời, anh có bài thơ cuối cùng, như một lời tuyệt mệnh linh cảm từ một chuyến viễn du xa mãi mãi:
Rồi hôm nào bỗng gió baycái bóng người ngoài kia đến đợiAnh giật mình đứng dậyĐến giờ rồi hôm nayTrên tay cốc nhỏ không đầyUống chúc bạn bè ở lạiAnh chắt đời anh chắt mãiChút ngọt bùi chút đắng cayNgười tôi còn nhiều bùn tanhMặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏTay tôi vương nhiều đồ bỏNhiều dây nhợ tự buộc mìnhThôi xin tha cho mọi lỗi lầmQuên cho những dối lừa khoác lácTôi biết tôi đã nhiều lần tàn ácVà ngu dại còn nhiều lần hơnMong anh em hiểu đừng cườiTôi gửi lại đây chìa khóaTất cả cửa nhà tôi đóngổn ngang qua tạm cuộc đờiTiếng đập cửa thình thình gọiAnh cười vẫyXin chia tayLời ai văng vẳngHôm nào gió bay
Nguyễn Đình Thi mất ngày 18 Tháng Tư năm 2003. Thọ 79 tuổi.

Theo Diễn Đàn Thế Kỷ.

Gatsby vĩ đại hay chỉ là đại gia?

GATSBY VĨ ĐẠI

“Gatsby vĩ đại” – tiểu thuyết xuất sắc nhất của nền văn chương hiện đại Hoa Kỳ, vừa có bản dịch tiếng Việt thứ tư. Lần này của dịch giả Thiên Lương, người đã dịch “Lolita” và rất nhiều tác phẩm khác của Vladimir Nabokov.

Mặc dù sau này Thiên Lương có dịch sách của James Joyce “Dân Dublin”, của Oscar Wilde “Bức tranh Dorian Gray”, “Tội ác huân tước Arthur Savile” và bốn truyện khác, nhưng các tác phẩm của Vladimir Nabokov đã định hình phong cách và tên tuổi của anh trong làng văn Việt Nam.

Nhưng khác với nhiều tác phẩm khác, “Gatsby vĩ đại” có một số phận kỳ lạ tại Việt Nam, với những cách hiểu hết sức khác nhau của các dịch giả và độc giả.

Có một ấn tượng chung của đa số độc giả Việt Nam về “Gatsby vĩ đại” là cuốn sách này viết về giấc mơ Mỹ, về nỗ lực vươn lên bất chấp tất cả của Jay Gatsby — một thanh niên nghèo, xuất thân từ một gia đình nông dân, mong được gia nhập giai cấp thượng lưu Mỹ, chiếm được tình yêu của Daisy bằng mọi giá, không từ cả những việc làm ăn phi pháp. 

Bi kịch câu chuyện là Gatsby không thể giành được Daisy, chết một cái chết oan uổng vì một tội ác mà anh không trực tiếp gây ra. Nói chung Gatsby là một nhân vật đáng thương, rỗng tuếch, theo đuổi một ảo ảnh vừa vô nghĩa vừa vô ích, thậm chí còn bằng những cách thức bất chấp luân thường đạo lý, nên cái kết thúc bi thảm ấy cũng hợp lý với anh ta và thỏa mãn tâm lý các đối tượng độc giả tôn thờ luân lý.

Nhưng đó là cách hiểu đơn giản nhất, mộc mạc nhất, ngây thơ nhất, và tầm thường hóa cuốn tiểu thuyết vĩ đại này thành giấc mơ vật chất của một đại gia quê mùa với một tình yêu mù quáng. 

Thực ra cái mà Gatsby theo đuổi, hay nói cách khác là giấc mơ của anh ấy, không phải Daisy mà sự làm chủ dĩ vãng: quay lại nó, lặp lại nó, thậm chí thay đổi nó. 

Trong tiểu thuyết có một đoạn đối thoại nổi tiếng giữa Nick với Gatsby, khi Nick nói: 

“Tôi thì sẽ không đòi hỏi cô ấy quá nhiều” – Tôi đánh bạo “Anh không thể lặp lại dĩ vãng.”

Gatsby trả lời: 

“Không thể lặp lại dĩ vãng?”-  Y kêu lên đầy vẻ hoài nghi. “Sao, dĩ nhiên ta có thể!”.

Giấc mơ kỳ lạ ấy: Lặp lại dĩ vãng cũng tàn phá cuộc đời Humbert, Lolita và nhiều người liên quan trong tiểu thuyết “Lolita”

 của Vladimir Nabokov. Humbert không hẳn là yêu Lolita, mà anh ta chỉ muốn lặp lại dĩ vãng diệu kỳ đã có với Annabel từ thuở ấu thơ. 

Gatsby, Humbert và nhiều người khác luôn muốn quay lại dĩ vãng, quay lại những ngày xa xưa tươi đẹp nào đó, phải chăng vì họ thấy an toàn trong nó, vì nhớ hơi ấm của nó, hay vì sợ sự nghiệt ngã của thời gian?

Dĩ vãng Gatsby có những phần mà anh muốn chối bỏ: quá khứ nghèo hèn cơ cực, con trai của một gia đình nông dân miền Trung Tây nước Mỹ; có những phần mà anh tự hào: chiến đấu dũng cảm trong quân đội, được trao tặng nhiều huân chương, theo học một khóa ngắn hạn tại Oxford; có những phần mà anh khao khát: tình yêu với Daisy khi cô chưa lấy chồng. 

Và tất cả các phần dĩ vãng đó đều tác động lên Gatsby theo nhiều cách khác nhau, với những cường lực khác nhau, biến anh thành một nhân vật vừa cao ngạo hợm hĩnh vừa tự ti nhút nhát, ôm những hoài bão khổng lồ và một ước mơ Icarus.

Với Gatsby, Daisy không hẳn là một người tình trong mộng, nói đúng hơn, cô ấy là một Chén thánh, một Thánh tích. Gatsby không chỉ muốn có tình yêu của Daisy, mà anh muốn sở hữu cô, muốn phủ nhận toàn bộ quá khứ giữa hai quãng đời gặp gỡ của anh và cô, muốn cô quay lại cùng anh về những ngày xưa tươi đẹp ấy như chưa từng có chuyện gì khác đã xảy đến với cô. Ngay cả khi Gatsby hiểu ra rằng Daisy là một cô gái thực dụng và hời hợt, anh vẫn sống chết theo đuổi giấc mơ của mình. 

Thực ra trong văn hóa phương Tây, tính cá nhân được đề cao, con người có bản năng chinh phục thiên nhiên, chinh phục tất cả, và đôi khi đối tượng yêu chỉ là một phương tiện. Có thể thấy nhiều nhân vật văn chương phương Tây có tình yêu đặc biệt kiểu Gatsby, ví dụ như Forrest Gump, Romeo, Rhett Butler,… với những mối tình có thể rất khó hiểu với tư duy người thường. Forrest Gump suốt đời yêu một cô gái mà không cần biết cô ấy làm gì và ở với ai, Romeo sẵn sàng chết vì Juliet, Rhett Butler yêu người đàn bà của mình bất chấp mọi chuyện. 

Sự vĩ đại của một nhân vật văn chương rất khó xét đoán theo những góc nhìn phàm nhân, Gatsby vĩ đại không vì mục tiêu Daisy của mình, thậm chí cái mục tiêu ấy còn quá tầm thường và thực dụng. Anh vĩ đại vì tầm cỡ giấc mơ của mình, vì sức mạnh niềm tin của mình, vì sự giàu có của mình, vì tinh thần hướng thượng và sự hy sinh cao cả đến không thể hiểu được cho niềm tin ấy. Tất cả những điều đó biến anh thành một nhân vật có tầm vóc phi thường, gần như một vị thánh.

Nếu chỉ dùng lợi, danh là cái đích, là mục tiêu theo đuổi, thì nhân loại đã không tôn thờ những vĩ nhân như Đức Phật, Đức Chúa, các vị thánh tử vì đạo, những nhà từ thiện thầm lặng, các nhà khoa học, những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho tổ quốc mình. 

Vậy nên câu chuyện về Gatsby không chỉ là về giấc mơ Mỹ hoặc ước vọng vươn lên của một cậu bé nghèo hèn, nó chính là câu chuyện về tinh thần hướng thượng của nhân loại; với những vĩ nhân khát khao vươn tới những chân trời tươi đẹp hơn, tới chân thiện mỹ, và sẵn sàng làm tất cả mọi điều, thậm chí dám hy sinh cả mạng sống, cho niềm tin của mình.

Có lẽ nhờ tinh thần cao cả và trong sáng của Gatsby mà tiểu thuyết này được coi là tác phẩm phải đọc với hàng triệu học sinh Mỹ, là tác phẩm gối đầu giường của nhiều văn hào, và luôn chiếm vị trí dẫn đầu trong mọi bảng bình chọn văn chương Anh ngữ. 

Bản dịch “Gatsby vĩ đại” của Thiên Lương biết đâu sẽ mang được một chàng Gatsby hoàn toàn khác đến với độc giả Việt Nam, và cho thấy được nguyên do tại sao mà cuốn sách này lại được đánh giá cao đến thế trong nền văn chương Anh ngữ.

 Đặng Thu Hương

Từ cuộc ly hôn của vợ chồng Bill Gates nghĩ về văn hoá của hôn nhân

Hôn nhân vốn được coi là một quy luật tất yếu. Nó không chỉ có vai trò quan trọng với một con người, mà còn liên quan đến cộng đồng và dân tộc. Nhưng, theo thời gian, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa, quan niệm ấy có bị lung lay.

Ai từng đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, hẳn vẫn nhớ câu nói của bà cụ Tứ: “Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”. 

Vào thập niên 90 của thế kỉ trước, nhiều cặp vợ chồng trẻ từng xây dựng tổ ấm bằng cách nhen nhóm như thế để rồi khi đã đủ ăn, đủ mặc, tối tối cả nhà quây quần bên chiếc tivi xem bộ phim “Người giàu cũng khóc”. Nhưng, chính từ bộ phim từng tạo ra cơn sốt ấy, chúng ta dần hiểu ra: Người giàu đâu phải đã hạnh phúc.

Gần đây, khi theo dõi thông tin về các cuộc ly hôn đình đám của các cặp vợ chồng Sergey Brin và Anne Wojicki, người đồng sáng lập Google vào tháng 6-2015; của vợ chồng ông trùm dầu mỏ Harold Hamm và Sue Ann Arnall năm 2015; Jeff Bezos – MacKenzie Scott (ông chủ Amazon) vào ngày 5-7-2019; và gần đây nhất là khi vợ chồng Bill Gates và vợ Melinda Gates chia tay; ở Việt Nam là vụ tranh chấp ly hôn giữa bà Lê Hoàng Diệp Thảo và ông Đặng Lê Nguyên Vũ (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên)… đã đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: Phải chăng đang có một sự khủng hoảng về hạnh phúc gia đình? Thậm chí còn có người cho rằng, sinh mệnh của một thiết chế xã hội lâu đời nhất đang đứng trước nguy cơ bị khai tử khi chưa có lời giải cho bài toán về tỉ lệ nghịch giữa sự giàu có và hạnh phúc.

Khi những cặp vợ chồng giàu có vẫn không có được hạnh phúc. 

Hôn nhân vốn được coi là một quy luật tất yếu. Nó không chỉ có vai trò quan trọng với một con người, mà còn liên quan đến cộng đồng và dân tộc. Nhưng, theo thời gian, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa, quan niệm ấy có bị lung lay. 

Trong khi các nhân vật nổi tiếng luôn đưa ra những lời khẳng định chắc nịch về gia đình như: “Gia đình là điều quan trọng nhất trên thế giới này” (công nương Diana); Elizabeth Berg thì cho rằng: “Bạn được sinh ra từ gia đình của mình và gia đình được sinh ra từ trong bạn. Không mưu cầu. Không đổi chác”… thì lại có một thực tế khác đi ngược lại những định nghĩa ấy. 

Bà Melinda Gates-người đệ đơn ly hôn đã ghi rõ: “Tan vỡ không thể cứu vãn”, đó phải chăng là một bài học đắt giá về hôn nhân của người sống bên Chủ tịch Tập đoàn Microsoft sau 27 năm. Trong khi, những người chưa hề bước vào cuộc sống gia đình đã thấm thía và ngần ngại về những nguy cơ không có được hạnh phúc gia đình. 

Theo thống kê, tại Úc và New Zealand, cứ 7 phụ nữ thì có 1 người ở độ tuổi 45-49 chưa kết hôn. Còn ở Mỹ, khoảng 25% thanh niên hiện nay được dự báo có khả năng vẫn sẽ độc thân khi chạm ngưỡng 50 tuổi. Trong khi đó, tại Nhật Bản, khoảng 1/3 số phụ nữ trên 30 tuổi chưa kết hôn và nhiều khả năng 50% trong số họ sẽ sống độc thân cả đời. 

Trong bài báo có nhan đề: “Vì sao giới trẻ hiện đại ngại kết hôn?” (Báo Tuổi trẻ), tác giả An Nhiên chỉ ra các nguyên nhân khiến các bạn trẻ ngày nay ngại kết hôn, đó là: Muốn tự do phát triển sự nghiệp; áp lực tài chính; mất lòng tin vào hôn nhân. Trong một số bài phân tích khác, các tác giả cũng tập trung vào hai nguyên nhân chính: Cuộc sống gia đình kìm hãm sự phát triển của bản thân và không thật sự tin tưởng vào sự gắn kết với người bạn đời. 

Điểm qua những phát ngôn của người nổi tiếng, chúng ta cũng gặp những e ngại như thế. Người đẹp Lý Nhã Kỳ từng chia sẻ: “Nếu lấy chồng mà cho có thì Kỳ nghĩ Kỳ đã lấy chồng từ sớm rồi. Còn lấy chồng để mình có cảm giác tâm hồn được sưởi ấm, được che chở và có sự chia sẻ, đồng điệu thì không hề dễ” (theo Báo Thanh niên).

Không thể để phụ nữ phải hy sinh quá nhiều cho cuộc sống gia đình.

Từ những thực tế đó, đặt ra cho chúng ta một trăn trở: Có phải hôn nhân không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại khi có một tỉ lệ nghịch giữa chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hay chúng ta chưa biết tạo ra hạnh phúc khi đã giàu có và nhàn hạ. Người viết xin đưa ra một vài suy ngẫm như sau:

1.Để có được hạnh phúc, chúng ta cần thật sự lắng nghe lời than thở của những người vợ, coi đó là sự phản biện. Bà Melinda kể rằng, bà từng tức giận vì Bill mải mê đọc một cuốn sách về cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill thay vì giúp bà chuẩn bị đồ cho ba đứa con của họ đi chơi hoặc thu dọn đồ đạc lên xe; bạn Phương Đào (Hà Nội) cho hay: “Vì xã hội chưa bình đẳng, trách nhiệm của phụ nữ còn quá nặng nề, trong khi bản thân họ ngày càng vững vàng về kinh tế, có chỗ đứng trong xã hội thì dại gì mà “rước” cái cực vào thân. Nam giới lập gia đình chỉ lo làm kinh tế. Còn phụ nữ phải sinh đẻ, hy sinh sự nghiệp để chăm sóc con cái, hoặc vừa chu toàn gia đình, vừa làm kinh tế, lại còn cảnh đi làm dâu. Nghe đã “hãi” nói gì lấy chồng” (theo ViệtNamnet). Khi gánh nặng cuộc sống từ giá cả hàng hóa, việc giáo dục con cái, bệnh tật sau sinh nở, ứng xử trong đại gia đình, họ mạc… chất lên vai người phụ nữ, họ cần một sự chia sẻ thật sự. Không phải gánh nặng ấy quá lớn mà họ đang quá cô độc.

2.Để có được hạnh phúc, cần phá bỏ những định kiến và xác lập những quan niệm mới về một người vợ. Những định kiến đã quá lỗi thời như “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “dâu con, rể khách” cần được nhìn nhận ở góc độ tinh thần, tình cảm chứ không nên trở thành sự ràng buộc máy móc, trói buộc người phụ nữ. Phải thẳng thắn thừa nhận một thực tế, một người vợ, người mẹ trong xã hội hiện đại chỉ cần một phần trách nhiệm với gia đình, phần còn lại là của người chồng, là sự tự lập của người con khi đã lớn. Người phụ nữ không thể làm tròn vai, không thể sống như một sự minh họa cho những định kiến xã hội mang tàn dư từ thời phong kiến trong cuộc sống gia đình hôm nay. 

3.Người phụ nữ cũng không cần phải hy sinh quá nhiều cho gia đình như một sự đánh mất quyền chủ động. Có thể, suy nghĩ này sẽ là sự phản đề với những bí quyết về hạnh phúc gia đình. Nhưng, lòng biết ơn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với sự chung thủy từ phía người chồng, sự trân trọng từ phía các người con. 

Người phụ nữ chỉ biết hi sinh là người phụ nữ đã không còn vị thế, không có sự lựa chọn nào khác và sẽ bị đẩy vào thế yếu như TS Vũ Thu Hương từng phân tích: “Ai cũng có cuộc đời của mình. Chẳng có lý do gì để bạn phải hy sinh tất cả cho gia đình. Nếu có ai đó cứ ấn vào tay bạn một món đồ mà bạn không muốn nhận, bạn cảm thấy thế nào? Chắc chắn là không thích rồi. Chẳng ai thích sống với người hy sinh cho người khác rồi lại đòi người ta phải cảm ơn mình đâu. Sự hy sinh của bạn là tự nguyện, nhưng phụ nữ cũng cần phải biết hy sinh một cách thông minh và luôn trân trọng bản thân mình”. 

Để cuộc sống gia đình trở nên hạnh phúc, cần có một thứ văn hóa hôn nhân. Ở đó, mọi thứ cần được tối giản, trở lại với cái gốc của mối quan hệ giữa hai người là tình bạn. Một tình bạn của hai người đồng điệu tâm hồn, hài hòa quan niệm sống, công bằng trong trách nhiệm với gia đình và xã hội. Một thứ văn hóa thoát ra khỏi sự giám sát của dư luận, của những mẫu hình cứng nhắc để phù hợp từng tính cách, từng gia cảnh. Một thứ văn hóa linh hoạt, uyển chuyển nhưng bất biến ấy là sự chia sẻ và trân trọng. 

Khi con người còn cảm thấy ai đó trở nên quý giá, quan trọng thì còn cảm thấy hạnh phúc khi ở bên người đó. Bởi thế, hạnh phúc của gia đình là một thứ tài sản mà tất cả đều phải nỗ lực tạo ra, cùng gìn giữ và sử dụng nó. Hạnh phúc của gia đình không chỉ giúp hai người gắn kết, mà còn là giá trị, một thứ di sản ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và tâm hồn của những người con được lớn lên trong tổ ấm ấy. Văn hóa của hạnh phúc cũng chính là tình yêu mà chúng ta dành cho nhau.

Lương Việt / Van Nghe CA

Những nhà nghiên cứu hàng đầu kêu gọi cuộc điều tra thực sự về nguồn gốc COVID-19

Một nhóm các nhà sinh vật học nổi tiếng nói rằng cần phải có một “không gian an toàn” để đặt câu hỏi rằng liệu coronavirus có thoát ra từ phòng thí nghiệm hay không?

Một năm trước, ý tưởng cho rằng đại dịch COVID-19 có thể là do tai nạn từ phòng thí nghiệm đã bị các tạp chí, các nhà khoa học và các hãng thông tấn hàng đầu thế giới lên án là thuyết âm mưu. Thế nhưng, nguồn gốc của loại virus đã giết chết hàng triệu người vẫn còn là một bí ẩn và khả năng nó đến từ một phòng thí nghiệm đã trở thành một giả thuyết không thể bị bỏ qua.

Giờ đây, trong một bức thư trên tạp chí Science (Khoa học), 18 nhà sinh vật học nổi tiếng – bao gồm cả nhà nghiên cứu coronavirus hàng đầu thế giới – đang có một sức nặng khi kêu gọi một cuộc điều tra mới về tất cả các khả năng có thể của nguồn gốc virus, đồng thời kêu gọi các phòng thí nghiệm và các cơ quan Trung Quốc “mở hồ sơ” để phân tích độc lập. “Chúng ta phải xem xét cả hai giả thuyết về sự lây nhiễm trong tự nhiên và từ phòng thí nghiệm một cách nghiêm túc cho đến khi chúng ta có đủ dữ liệu”, các nhà khoa học đã viết.

Bức thư được khởi tạo bởi nhà vi sinh vật học David Relman của Đại học Stanford và nhà virus học Jesse Bloom của Đại học Washington, nhằm vào một nghiên cứu chung gần đây về nguồn gốc COVID-19 do WHO và Trung Quốc thực hiện, kết luận rằng một loại virus từ dơi có khả năng lây nhiễm sang con người thông qua một động vật trung gian và rằng một sự cố từ phòng thí nghiệm là “cực kỳ khó xảy ra.”

Kết luận đó không được cân nhắc một cách khoa học, theo các tác giả của bức thư mới, vì không có dấu vết nào chứng tỏ vi rút lần đầu tiên nhiễm sang người như thế nào và khả năng xảy ra tai nạn trong phòng thí nghiệm chỉ được xem xét sơ qua. Chỉ rất ít trong số 313 trang của báo cáo nguồn gốc của WHO và các phụ lục của nó là dành cho chủ đề này.

Marc Lipsitch, một nhà nghiên cứu bệnh dịch nổi tiếng của Đại học Harvard, một trong những người ký tên trong bức thư, nói cho đến gần đây ông đã không bày tỏ quan điểm về nguồn gốc virus, mà tập trung vào việc cải thiện thiết kế các nghiên cứu bệnh dịch và thử nghiệm vắc xin – một phần vì cuộc tranh luận về giả thuyết tai nạn phòng thí nghiệm đã trở nên quá gây tranh cãi. “Tôi đã đứng ngoài bởi vì tôi bận đối phó với hậu quả của đại dịch thay vì nguồn gốc”, ông nói. “Nhưng khi WHO đưa ra một báo cáo mà chỉ tuyên bố hời hợt về một chủ đề quan trọng… thì điều đó đáng để lên tiếng.”

Một số người ký tên trong lá thư, bao gồm Lipsitch và Relman, đã từng kêu gọi xem xét kỹ lưỡng về nghiên cứu “chức năng đạt được” (GoFR) mà ở đó virus được biến đổi gen để làm cho chúng lây nhiễm hoặc hiểm độc hơn. Các thí nghiệm để tạo ra mầm bệnh cũng đang được tiến hành tại Viện Virus học Vũ Hán, trung tâm hàng đầu của Trung Quốc về nghiên cứu virus dơi tương tự như SARS-CoV-2. Một số nhìn nhận thực tế rằng COVID-19 xuất hiện đầu tiên tại cùng thành phố nơi có phòng thí nghiệm như một bằng chứng gián tiếp cho thấy rất có thể là một sự cố phòng thí nghiệm.

Lipsitch trước đây đã ước tính nguy cơ đại dịch gây ra do sự cố rò rỉ từ một thí nghiệm sinh học an toàn cao là từ 1/1.000 đến 1/10.000 mỗi năm và ông đã cảnh báo rằng sự gia tăng của các phòng thí nghiệm như vậy trên toàn cầu là một mối quan tâm lớn.

Mặc dù các nhà khoa học Trung Quốc đã nói rằng không có vụ rò rỉ nào như vậy trong trường hợp này, nhưng các tác giả bức thư nói rằng điều đó chỉ có thể được xác minh thông qua một cuộc điều tra độc lập hơn. “Một cuộc điều tra thích hợp phải minh bạch, khách quan, dựa trên dữ liệu, có chuyên môn sâu rộng, chịu sự giám sát độc lập và được quản lý có trách nhiệm để giảm thiểu ảnh hưởng của xung đột lợi ích”, họ viết. “Các cơ quan y tế công cộng và các phòng thí nghiệm nghiên cứu đều phải cần công khai hồ sơ của họ. Các nhà điều tra cần dẫn chứng tính xác thực và nguồn gốc của dữ liệu dùng cho phân tích và kết luận”.

Nhà khoa học đứng đầu về các bệnh mới phát sinh tại Viện Virus học Vũ Hán, Shi Zhengli (Thạch Chính Lệ) nói trong một email rằng những nghi ngờ trong bức thư là không đúng chỗ và sẽ làm hỏng khả năng ứng phó với đại dịch của thế giới. “Điều đó dứt khoát là không thể chấp nhận,” Shi nói về lời kêu gọi của nhóm tác giả bức thư về yêu cầu xem hồ sơ phòng thí nghiệm của bà. “Ai có thể cung cấp một bằng chứng không tồn tại?”.

Bìa tạp chí Science đăng bức thư của 18 nhà khoa học kêu gọi điều tra thực sự về nguồn gốc COVID-19.

“Thật sự rất buồn khi đọc ‘Bức thư’ được viết bởi 18 nhà khoa học hàng đầu này.” Shi đã viết trong email của mình. “Giả thuyết về một vụ rò rỉ phòng thí nghiệm chỉ dựa trên ý kiến chuyên môn về một phòng thí nghiệm từ lâu đã nghiên cứu về các coronavirus dơi có quan hệ thân chủng với SARS-CoV-2. Loại tuyên bố này chắc chắn sẽ làm tổn hại đến danh tiếng và sự nhiệt tình của các nhà khoa học đang cống hiến cho việc nghiên cứu về các loại virus động vật mới lạ có nguy cơ lây lan sang cộng đồng người và cuối cùng làm suy yếu khả năng của con người trong việc ngăn chặn đại dịch tiếp theo.”

Cuộc thảo luận xoay quanh giả thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm đã trở thành có tính chính trị. Ở Mỹ, nó đang được tận dụng mạnh mẽ bởi các nhà lập pháp đảng Cộng hòa và các nhân vật truyền thông bảo thủ, bao gồm người dẫn chương trình Tucker Carlson của Fox News. “Kết quả sự phân cực đã tác động kinh khủng đối với các nhà khoa học, một số người trong đó đã miễn cưỡng bày tỏ mối quan tâm của mình”, Relman nói.

Ông nói: “Chúng tôi cảm thấy có động lực để nói điều gì đó bởi vì khoa học đang không đúng với khả năng nó có thể, đó là nỗ lực công bằng, nghiêm khắc và cởi mở để đạt được sự rõ ràng hơn về một điều gì đó. Đối với tôi, một phần của mục đích là tạo ra một không gian an toàn cho các nhà khoa học khác để nói điều gì đó của riêng họ.”

“Lý tưởng là tương đối không có tranh cãi về lời kêu gọi càng minh bạch càng tốt trong việc kiểm tra một số giả thuyết khả dĩ mà chúng ta chỉ có ít dữ liệu”, Megan Palmer, một chuyên gia an toàn sinh học tại Đại học Stanford, người không đứng cùng với nhóm viết thư nói. “Khi chính trị phức tạp và sự đặt cược là cao, thì lời nhắc nhở từ các chuyên gia nổi tiếng có thể là điều cần thiết để buộc những người khác phải cân nhắc kỹ lưỡng”.

Ý kiến ​​đó đã được ủng hộ bởi Chuẩn đô đốc Kenneth Bernard, một nhà nghiên cứu bệnh dịch và điều tra bệnh tật, người từng là chuyên gia về phòng vệ sinh học của Nhà Trắng thời Clinton và George W. Bush. Ông nói, bức thư là “cân bằng, được viết tốt và phản ánh chính xác ý kiến ​​của các nhà nghiên cứu bệnh dịch và các nhà khoa học rất uyên bác mà tôi biết. Nếu được yêu cầu, tôi đã ký tên”.

Bức thư lặp lại một số lo ngại của lời kêu gọi trước đó về một cuộc điều tra mới được công bố trên Wall Street Journal bởi một tập hợp 26 nhà phân tích chính sách và nhà khoa học, những người yêu cầu khảo sát kỹ hơn phòng thí nghiệm Vũ Hán và biện luận rằng “nhóm [WHO] đã không có quyền hạn, sự độc lập hoặc các quyền tiếp cận cần thiết” để thực hiện một cuộc điều tra đầy đủ và không hạn chế. Nhưng nhóm 26 người đó bao gồm phần lớn những người bên ngoài ngành và lá thư đã bị một số nhà virus học có uy tín bác bỏ với lý do những người ký tên thiếu chuyên môn phù hợp. “Thật khó để tìm thấy bất kỳ ai có kinh nghiệm liên quan đã ký tên”, Kristian Andersen, nhà nghiên cứu miễn dịch học và chuyên gia virus của Viện nghiên cứu Scripps đã tweet. Ông phản bác rằng bằng chứng có sẵn đã chỉ ra nguồn gốc tự nhiên.

Sẽ không có phản bác nào như vậy với lá thư mới này, mà những người ký tên bao gồm Akiko Iwasaki, một nhà miễn dịch học Đại học Yale, người đã dẫn đầu nghiên cứu về phản ứng của hệ thống miễn dịch đối với SARS-CoV-2, và Ralph Baric, nhà virus học Đại học Bắc Carolina, người được coi là có uy tín nhất thế giới về coronavirus và là người đi tiên phong trong kỹ thuật điều khiển gen các virus này nên đã đưa nó trở thành hướng nghiên cứu chính tại Viện Virút học Vũ Hán.

Bức thư mới cũng đã có thêm trọng lượng khi xuất hiện trên Science, một trong những tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới. Relman nói rằng lựa chọn nơi gặp gỡ là rất quan trọng. “Một số đồng tác giả của chúng tôi đã nói với chúng tôi: “Tôi sẽ tham gia, nhưng tôi không muốn trở thành một phần của một bức thư ngỏ gửi đến thế giới hoặc thư độc giả (op-ed) trên New York Times. Đó không phải là cách tôi nhìn nhận vai trò của mình trong việc này. Tôi là một nhà khoa học. Tôi muốn bày tỏ với các nhà khoa học đồng nghiệp trên một tạp chí khoa học hơn”.

Nếu Trung Quốc không đồng ý với một cuộc điều tra mới, không rõ sẽ phải tiến hành một cuộc điều tra nữa theo cách thức nào hoặc những quốc gia nào sẽ tham gia, Relman thừa nhận. Còn nữa, ông tin rằng bức thư mới có thể cung cấp lý do hữu ích cho những người Dân chủ và Nhà Trắng tham gia vào cuộc chất vấn về nguồn gốc của COVID-19. “Tôi nghĩ rằng có nhiều cách để tổ chức một cuộc điều tra có giá trị”, Relman nói. “Nó sẽ không được tốt như nó đã có thể nếu được thực hiện vào tuần đầu tiên của tháng 1.2020 và mọi thứ còn ở trên bàn, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nó chưa quá muộn. Ngay cả khi chúng tôi không nhận được câu trả lời chắc chắn, việc đó vẫn đáng giá, bởi vì chúng tôi sẽ tiến xa hơn so với bây giờ”.

Cho dù một cuộc điều tra có tìm ra nguồn gốc của COVID-19 hay không, Lipsitch nói, ông tin rằng cần phải có sự giám sát công khai hơn đối với phòng thí nghiệm nghiên cứu liên quan đến các loại vi rút có khả năng phát tán ngoài tầm kiểm soát. “Đó không chỉ là liệu đã có một sự cố phòng thí nghiệm gây ra đại dịch cụ thể này hay không,” ông nói. “Tôi muốn thấy sự chú ý tập trung vào quy chế của các thí nghiệm nguy hiểm, bởi vì chúng ta đã thấy những gì một đại dịch có thể gây ra và chúng ta cần phải rất chắc chắn trước khi làm bất cứ điều gì làm tăng nguy cơ đó dù chỉ là một chút.”

Nội dung Bức thư của 18 nhà khoa học:

Điều tra nguồn gốc COVID-19

Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Chương trình Giám trắc các Bệnh tật Mới phát sinh đã thông báo cho thế giới biết về một bệnh viêm phổi không rõ nguyên nhân ở Vũ Hán, Trung Quốc (1).

Kể từ đó, các nhà khoa học đã đạt được những tiến bộ đáng kể về tìm hiểu tác nhân gây bệnh, hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus 2 (SARS-CoV-2), sự lây truyền của nó, cơ chế phát bệnh và ngăn chặn nó bằng vắc-xin, liệu pháp điều trị hay các can dự không dùng thuốc.

Tuy nhiên, vẫn cần có các điều tra tiếp tục để xác định nguồn gốc của đại dịch. Cả hai giả thuyết về sự phát tán vô tình từ phòng thí nghiệm hoặc lây truyền từ động vật vẫn còn nguyên giá trị. Biết được COVID-19 xuất hiện như thế nào là rất hệ trọng để định hình các chiến lược toàn cầu nhằm giảm thiểu nguy cơ bùng phát trong tương lai.

Đại hội Y tế Thế giới đã yêu cầu Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hợp tác chặt chẽ với các đối tác để xác định nguồn gốc của SARS-CoV-2 (2). Vào tháng 11, phạm vi liên quan của một nghiên cứu chung giữa Trung Quốc và WHO đã được công bố (3).

Thông tin, dữ liệu và mẫu phẩm cho giai đoạn đầu tiên của nghiên cứu đã được thu thập, tổng kết bởi nửa nhóm là người TQ; nửa nhóm còn lại dựa vào phân tích này. Mặc dù không tìm thấy có bằng chứng chắc chắn nào về sự lây nhiễm tự nhiên hoặc sự cố từ phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu đánh giá sự lây nhiễm từ động vật qua một vật chủ trung gian là “rất có thể” và sự cố từ phòng thí nghiệm là “rất khó có thể” [(4), p. 9].

Ngoài ra, hai giả thuyết không được xem xét một cách cân bằng. Chỉ 4 trong số 313 trang báo cáo và các phụ lục của nó có đề cập đến khả năng xảy ra do phòng thí nghiệm (4). Đặc biệt là, Tổng Giám đốc WHO Tedros Ghebreyesus nhận xét rằng các đánh giá của báo cáo về bằng chứng của sự cố phòng thí nghiệm là không đủ và đề xuất cung cấp thêm các nguồn lực để đánh giá đầy đủ về khả năng này (5).

Với tư cách là các nhà khoa học có chuyên môn liên quan, chúng tôi nhất trí với Tổng giám đốc WHO (5), Hoa Kỳ, 13 quốc gia khác (6) và Liên minh Châu Âu (7) rằng việc làm rõ hơn về nguồn gốc của đại dịch này là cần thiết và hoàn toàn có thể làm được.

Chúng ta phải xem xét các giả thuyết về sự lây nhiễm từ tự nhiên hay rò rỉ từ phòng thí nghiệm một cách nghiêm túc cho đến khi có đầy đủ dữ liệu. Một cuộc điều tra thích hợp phải minh bạch, khách quan, dựa trên dữ liệu, có chuyên môn sâu rộng, chịu sự giám sát độc lập và được quản lý có trách nhiệm để giảm thiểu ảnh hưởng của xung đột lợi ích.

Các cơ quan y tế công cộng và các phòng thí nghiệm nghiên cứu đều phải cần công khai hồ sơ của họ. Các nhà điều tra cần dẫn chứng tính xác thực và nguồn gốc của dữ liệu dùng cho phân tích và kết luận, sao cho các phân tích có thể được tiến hành bởi các chuyên gia độc lập.

Cuối cùng, vào lúc tình cảm bài châu Á đáng tiếc đang dâng lên trong lúc này ở một vài quốc gia, chúng tôi lưu ý rằng khi bắt đầu đại dịch, chính các bác sĩ, nhà khoa học, nhà báo và công dân Trung Quốc đã chia sẻ với thế giới thông tin quan trọng về sự lây lan của vi rút – thường với sự trả giá rất lớn về cá nhân (8, 9). Chúng tôi cũng cần thể hiện quyết tâm tương tự trong việc thúc đẩy có một sự thảo luận dựa trên khoa học khách quan về vấn đề khó khăn nhưng quan trọng này.

Ngô Văn Tuyền/ Người Đô Thị