Các nữ cầu thủ mặc váy

QUẢNG NINH

Do tập tục dân tộc, các cô gái Sán Chỉ (xã Húc Động, Bình Liêu) vẫn mặc váy khi chơi bóng.

Giải bóng đá diễn ra tại xã Húc Động được tổ chức thường niên, từ năm 2018. Giải nằm trong chuỗi các hoạt động của Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc Bình Liêu.

Trước giờ khai cuộc, các cầu thủ nữ được chải tóc và vấn khăn cho đỡ tung ra trong khi thi đấu.

Thay vì quần đùi, áo số như các giải bóng đá bình thường, các nữ cầu thủ Sán Chỉ mặc trang phục đặc trưng của dân tộc. Hai đội được phân biệt bởi mầu áo xanh đậm và xanh nhạt.

Giải có sự tham dự của chín đội tại các thôn của xã Húc Động, chia làm hai bảng. Mỗi đội gồm bảy cầu thủ thi đấu vòng tròn tính điểm để chọn ra đội nhất-nhì vào chung kết.

Dân tộc Sán Chỉ sống rải rác ở các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên.

Riêng tại Quảng Ninh, đông bào Sán Chỉ chiếm khoảng 12% dân số toàn tỉnh.

Người Sán Chỉ làm ruộng là chính, bên cạnh việc chăn nuôi và trồng trọt.

Họ cũng có nghề thủ công như làm mộc, đan lát mây tre, rèn… Tuy nhiên, những sản phẩm này chỉ mang tính tự cung, tự cấp trong cộng đồng, chứ chưa trở thành hàng hóa phổ biến.

Cô bé La Thị Kứu 17 tuổi người thôn Nà Ếch.

Kứu thích đá bóng từ bé nhưng đến lớp 7 mới được thi đấu. Đây là năm thứ hai Kứu đá cho đội bóng của thôn. Năm trước em cùng đội giành giải Nhất.

Trang phục truyền thống hoàn toàn do những bàn tay khéo léo của phụ nữ Sán Chỉ làm ra, đơn giản và không rực rỡ như trang phục của người Mông, người Dao, nhưng vẫn có những nét độc đáo riêng biệt.

Giang Huy/ VN Express

Patricia Highsmith – thiên tài cô độc của giới văn học

Nhà văn Patricia Highsmith được biết đến là bậc thầy của thể loại tiểu thuyết trinh thám và tâm lý kinh dị.

Patricia Highsmith (1921-1995), tên thật là Mary Patricia Plangman, là nhà văn nhận được nhiều sự công nhận của độc giả, cũng như giới phê bình ở thể loại truyện trinh thám và kinh dị.

Patricia thường được biết tới với Tom Ripley, nhân vật thông minh, tài năng nhưng cũng rất tàn nhẫn trong series truyện cùng tên.

Năm cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Tom Ripley – kẻ mạo danh, người yêu nghệ thuật và kẻ giết người hàng loạt đáng sợ. Series truyện này đã được chuyển thể thành phim.

Các ngôi sao nổi tiếng như Matt Damon, Jude Law, Gwyneth Paltrow và Cate Blanchett đã đảm nhiệm những vài diễn quan trọng trong The Talented Mr. Ripley (Ngài Ripley tài ba) năm 1999.

patricia Highsmith anh 1
Trong quá khứ, Patricia có tuổi thơ không êm đềm. Ảnh: DW.
Cây bút tài năng

Patricia Highsmith có tuổi thơ không mấy suôn sẻ. Bố mẹ Patricia ly hôn trước khi bà ra đời. Năm 1927, bà theo mẹ và cha dượng chuyển đến sống tại New York, Mỹ. Tuy nhiên, cuộc sống mới tại thành phố hoa lệ không khiến Patricia có nhiều kỷ niệm đẹp.

Từ bé, Patricia đã được đánh giá là đứa trẻ có năng khiếu và thường tìm đọc các tác phẩm văn học dành cho người lớn từ khi còn nhỏ. Ở tuổi 14, bà cảm thấy mình bị thu hút bởi những cô gái ở trường. Mẹ của Patricia đã cố gạt bỏ suy nghĩ này trong đầu con gái mình. Nhưng bản thân bà luôn tự thấy mình “là người đàn ông trong cơ thể phụ nữ”. Đây là điều mà nhà văn này đã viết lại trong cuốn sổ ghi chép năm 1950.

Chủ đề chính trong các tiểu thuyết của Patricia Highsmith thường là vấn đề nhạy cảm hoặc những nhân vật phản anh hùng, luôn sẵn sàng làm mọi việc để thỏa mãn ước muốn của mình.

Trong tiểu thuyết The Price Of Salt (Tận đáy cảm xúc), Patricia tập trung câu chuyện tình yêu đồng giới giữa Therese, thiếu nữ 19 tuổi, và Carol (có một con, chuẩn bị ly hôn). Đáng nói, tác phẩm này ra đời vào năm 1952, khi những vấn đề liên quan chủ đề đồng tính đang bị nhìn nhận hết sức căng thẳng.

Bên cạnh đó, những suy nghĩ xung quanh “cái ác” hay “nhân vật phản diện” cũng luôn là chủ đề mà Patricia đau đáu. Tại sao những người bình thường lại trở thành kẻ giết người? Khi nào họ từ bỏ đạo đức của mình?… Những câu hỏi trên nhanh chóng trở thành trọng tâm trong hầu hết tác phẩm của bà.

Bước đột phá của Patricia Highsmith là cuốn tiểu thuyết Strangers on a Train (Người lạ ở trên tàu) được xuất bản năm 1950. Tác phẩm kể về tội ác hoàn hảo của hai người đàn ông. Họ gặp nhau trên tàu và cùng lên kế hoạch cho một vụ giết người.

Đạo diễn Alfred Hitchcock đã chuyển thể tiểu thuyết này thành phim điện ảnh năm 1951 và mua bản quyền câu chuyện của tác giả 30 tuổi với giá 8.000 USD.

Thời điểm đó, cô vừa tốt nghiệp Đại học Barnard ở New York, Mỹ và đang làm việc trong cửa hàng truyện tranh kiếm sống qua ngày.

Strangers on a Train là tác phẩm hiếm hoi mà một phần độc giả có thể thấu hiểu cho những giằng xé, khó xử, bứt rứt trong tâm tư của kẻ phạm tội.

Không dừng lại ở đó, Patricia thực sự tạo ra phong cách sáng tác của riêng mình với hình tượng nhân vật chính là kẻ giết người hàng loạt như Tom Ripley, kẻ máu lạnh sẵn sàng tiêu diệt mọi kẻ thù. Minh chứng rõ nhất cho thành công của The Talented Mr. Ripley là việc nữ nhà văn được đề cử giải thưởng Edgar Allen Poe Award.

patricia Highsmith anh 2
Patricia nổi tiếng với series tiểu thuyết về kẻ giả mạo thông minh có tên Ripley. Ảnh: Book Marks.
Thiên tài cô độc

Năm 1963, bà chuyển đến châu Âu sinh sống. Đầu tiên, Patricia đến Italy, sau đó là Anh, Pháp và cuối cùng tới Thụy Sĩ.

Trong các tác phẩm của mình, bà thường lựa chọn chủ đề chính: “Tội lỗi, bản ngã và sự đánh mất đạo đức”. Và thực sự, Patricia đã thành công với điều đó, đặc biệt là series tiểu thuyết về Ripley.

Đối với nghiệp viết lách, dường như Patricia luôn tìm được cách để sử dụng ngôn từ tinh tế trong câu chuyện có nội dung chặt chẽ, tiết tấu nhanh. Các tác phẩm của bà hiếm khi là câu chuyện tình yêu đôi lứa thông thường, mà sẽ là những nhân vật đứng trên lằn ranh giới thiện ác. Chính chuyển biến trong tâm lý của họ là điều tạo nên sự khác biệt và thu hút đối với độc giả.

Trong cuộc sống, Patricia cũng “đặc biệt” không kém. Bà từng thừa nhận trong một cuộc phỏng vấn rằng mình có sở thích nuôi ốc sên. “Chúng thật thú vị. Bởi vì, chúng không thay đổi trong hàng triệu năm”.

Với tính cách như vậy, không khó hiểu khi Patricia Highsmith có đời sống cá nhân khá rắc rối. Các mối quan hệ thân mật của bà thường không kéo dài lâu. Tệ hơn, chứng nghiện rượu của Patricia ngày càng nghiêm trọng hơn theo thời gian và tuổi tác. Đó cũng là nguyên nhân khiến bà thường tự nhận mình là một người cô đơn, chán nản và vô cùng bi quan.

Mặc dù bị cho là người không thích điện ảnh nhưng với 28 bộ phim được chuyển thể từ chính các tác phẩm của bà, Patricia Highsmith vẫn là cái tên quen thuộc, đầy sức nặng đối với công chúng. Năm 1978, bà được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng giám khảo quốc tế của Liên hoan phim quốc tế Berlin.

Tuy nhiên, sự nổi tiếng nhanh chóng trở nên quá sức đối với nữ nhà văn này. Bà bị ám ảnh bởi công việc của mình và thường tự tách mình ra khỏi các hoạt động cộng đồng.

Patricia Highsmith dành những năm cuối đời ở Ticino, Thụy Sĩ. Bà ấy qua đời vì bệnh ung thư sau một thời gian dài chỉ có một mình chống chọi với nó trong bệnh viện.

Hứa Mộc / Sách xuất bản/ Zing

Có chết cũng không bỏ

Cuối cùng, giấc mơ lớn nhất cuộc đời của Johannes cũng thành hiện thực, khi anh được ngồi xem trận chung kết Cúp C1 trực tiếp trên sân. Không những thế anh còn mua được vé hàng đầu nữa chứ. Johannes háo hức đến mức anh bước vào sân vận động sớm nửa tiếng. Vậy nhưng khi đó hàng ghế đầu đã kín. Hoá ra còn có rất nhiều người còn mê bóng đá hơn anh nữa.

Sau khi đã tại vị ở chỗ của mình, Johannes mới chợt nhận ra chiếc ghế bên cạnh anh còn để trống. Đến gần lúc trận đấu bắt đầu rồi mà vẫn không ai ngồi xuống cái ghế đó. Đối với Johannes điều này thật kỳ lạ vì bản thân anh phải khó khăn lắm mới mua được vé, vậy mà có người lại chẳng thèm đến xem trận chung kết. Điều khó hiểu ấy khiến anh phải nôn nóng quay sang hỏi ông cụ ngồi bên kia chiếc ghế trống: 

– Thế có ai ngồi vào ghế này không bác nhỉ?

– Không, chỗ này sẽ để trống trong cả trận đấu!

Minh họa trong trang: Lê Tâm.

– Lạ thật đấy! Ai có vé hàng đầu trận chung kết C1 mà lại không đến xem bao giờ! Vậy bác có biết vì sao ghế này lại để trống không?

– Chỗ này vốn dành cho vợ tôi đấy mà. Nhờ một người quen mà tôi mới mua được cặp vé đôi đấy anh ạ!

– Vậy không biết bác gái gặp chuyện gì mà lại không đến xem một trận cầu tuyệt vời như thế này được?

– Bà ấy chết rồi! – Ông khán giả già trả lời với một thái độ vô cùng bình thản – Đang yên đang lành thì bà ấy đột ngột trúng gió. Thế rồi chỉ mấy ngày hôm sau là bà ấy đã bỏ tôi mà đi anh ạ!

– Cháu xin thành thật chia buồn với bác! – Johannes tự trách tính thọc mạch của mình. Người ta đang đau buồn mà anh lại vô ý vô tứ hỏi chuyện riêng của họ. Và anh đã thành thật nói ra điều đó với ông lão.

– Không sao, không sao! Người chết tức là hết, anh không phải bận tâm làm gì!

Tuy nói vậy nhưng Johannes đoán rằng chắc ông cụ cần trận bóng đá này lắm để giải khuây. Có người chồng nào mà lại không buồn khi vợ chết?! Vì nghĩ vậy mà Johannes mới hỏi: 

– Thế sao bác lại không mời bạn bè hay con cháu đi xem cùng cho vui nhỉ? Xem bóng đá thì càng đông càng vui mà!

Ông cụ lắc đầu rồi thản nhiên đáp lại lời Johannes: 

– Bạn bè với con cháu tôi còn đang bận dự đám tang của vợ tôi. Còn tôi thì có chết cũng không bỏ trận này được… Kìa, cầu thủ ra sân rồi kìa!

Lê Vũ (dịch) / Truyện vui của Claire Bretécher (Pháp)

4 phẩm chất của người thông minh, hãy kiểm nghiệm xem bạn sở hữu mấy điều trong đó

4 phẩm chất của người thông minh, hãy kiểm nghiệm xem bạn sở hữu mấy điều trong đó
Dù bất kể dự án hay lĩnh vực nào, trong những người đặc biệt mà tôi đã làm việc cùng, tôi đều thấy bốn phẩm chất mà những người thông minh thường có. Những phẩm chất này đã giúp họ đạt được mục tiêu, phát triển bản thân và học hỏi nhiều hơn.

Tôi may mắn được giao lưu và học hỏi từ rất nhiều người thông minh. Từ những năm tôi là một nhà khoa học nghiên cứu cho đến tư cách là một nhà phát triển phần mềm khi tham gia xây dựng các dự án. Trong suốt chặng đường ấy, đội của tôi phải đối mặt với những thách thức khó khăn và đôi khi thất bại. Nhưng chúng tôi luôn cố tạo ra thành công bằng nỗ lực của chính mình.

Dù bất kể dự án hay lĩnh vực nào, trong những người đặc biệt mà tôi đã làm việc cùng, tôi đều thấy bốn phẩm chất mà những người thông minh thường có. Những phẩm chất này đã giúp họ đạt được mục tiêu, phát triển bản thân và học hỏi nhiều hơn. Xem xét những phẩm chất này và đánh giá liệu chúng có thể giúp bạn đổi mới, quản lý công việc và các mối quan hệ của bạn tốt hơn, đưa ra quyết định thông minh hơn và sống một cuộc sống hạnh phúc hơn hay không.

#1. Họ loại bỏ sự lộn xộn

Người thông minh luôn cố gắng làm sáng tỏ mọi thứ. Trong cuộc sống, các dự định, mục tiêu và ý tưởng , họ đều cố gắng loại bỏ (hoặc ít nhất giảm bớt) sự lộn xộn.

Những người thông minh đặt ra một mục đích rõ ràng (lý do tại sao) giúp họ xác định những trở ngại của cuộc sống. Họ xác định các việc cần làm cho bản thân (ví dụ: được thăng chức, có bằng cấp), cho mục đích cá nhân (ví dụ: mua nhà cho bố mẹ tôi, cho con tôi đi học đại học) và mục đích cộng đồng (ví dụ: chống đói nghèo, xóa bỏ bệnh tật). Bất cứ điều gì cuộc sống bắt họ đối mặt, họ biết cách phản ứng. Như Friedrich Nietzsche đã nói: “Một người có lý do sống thì có thể vượt qua tất cả.”

Những người thông minh thường biết cách kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc của họ thường xuyên. Thông qua việc thiền định, xem xét nội tâm và chánh niệm, họ loại bỏ những suy nghĩ xấu và học cách làm dịu sự hỗn loạn trong tâm trí. Họ dành nhiều thời gian cho sự tĩnh lặng và yên bình.

Những người thông minh thường là những người theo chủ nghĩa tối giản. Họ dọn dẹp không gian vật lý (nhà ở, không gian làm việc), không gian kỹ thuật số (điện thoại, máy tính xách tay, mạng xã hội) và đời sống xã hội (mối quan hệ với người khác). Họ yêu quý những thứ làm tăng giá trị cho cuộc sống của họ, những người nâng đỡ họ, buông bỏ những thứ, những người khiến họ thất vọng.

#2. Họ tạo ra những cơ hội

Những người thông minh tìm thấy cơ hội trong những vấn đề của mình. Họ suy nghĩ từ những nguyên lý đầu tiên, phân tích một tình huống thành những chân lý cơ bản của nó: “Điều gì chúng ta chắc chắn là đúng? Điều gì nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta và điều gì không?” Họ chọn lọc được các sự thật trong các giả định, khiến các câu trả lời xuất hiện một cách tự nhiên.

Những người thông minh thiết kế và lập kế hoạch một cách tỉ mỉ. Họ biết rằng một lộ trình vững vàng là công thức để nắm lấy cơ hội và không lập kế hoạch sẽ dẫn đến thất bại. Nếu không chắc phải làm gì và làm như thế nào, những người thông minh sẽ đảo ngược lại. Họ sẽ hình dung ra cuộc sống mà họ không muốn sống, những điều họ không muốn đạt được, sự nghiệp mà họ không muốn có. Họ biết rằng việc đảo ngược thường làm rõ bức tranh, giúp họ thấy rõ điều gì quan trọng và điều gì không.

Người thông minh thường nghĩ ngược lại. Trong suy nghĩ, họ khởi đầu từ điểm kết thúc và quay ngược trở lại trạng thái hiện tại, khiến cho con đường dẫn đến kết quả rõ ràng hơn. Họ tiếp bước Steve Jobs, người từng nói: “Bạn chỉ có thể kết nối các dấu chấm khi nhìn về phía sau, không phải phía trước.”

Những người thông minh coi thất bại như cơ hội của nhà khoa học. Thay vì lo lắng khi thất bại, họ đón nhận nó với sự tò mò và coi đó là cơ hội để làm tốt hơn trong những thí nghiệm tiếp theo. Họ biết rằng thất bại không thể hiện giá trị của họ mà là một phần của quá trình tiến bộ.

#3. Họ tối đa hóa xác suất

Người thông minh tránh suy nghĩ rạch ròi: tốt hay xấu, thông minh và ngu ngốc, thành công và thất bại. Thay vào đó, họ xem thế giới như một tập hợp các xác suất. Khi họ tìm kiếm điều gì, họ vững vàng bước trên con đường mình chọn và hành động để tối đa hóa khả năng thành công.

Những người thông minh hiểu rằng thực thi sẽ tối đa hóa tiến độ. Họ giảm thiểu trở ngại bằng thói quen và hệ thống. Họ bắt đầu ngay lập tức và không bao giờ dựa vào động lực dù biết rằng động lực luôn đưa họ về phía trước.

Thay vì dành hàng giờ đồng hồ để hoàn thành công việc, những người thông minh dành thời gian để giải tỏa tâm trí và tiếp thêm năng lượng cho sự sáng tạo của mình. Theo bước Thomas Edison, Salvador Dali và Albert Einstein, những người thông minh thường có những giấc ngủ ngắn, đi bộ một mình, thư giãn tầm mắt và chơi nhạc. Họ để tâm trí và suy nghĩ thảnh thơi thay vì nhốt mình trước màn hình đợi những ý tưởng tuyệt vời chẳng mấy khi xuất hiện.

Những người thông minh học, ghi nhớ và hiểu mọi thứ ở mức độ sâu hơn thông qua hình ảnh sống động, phép ẩn dụ, liên tưởng và những câu chuyện. Họ hiểu rằng cảm xúc là yếu tố quyết định để học hỏi và lưu giữ. Theo lời của Maya Angelou: “Mọi người sẽ quên những gì bạn nói, những điều bạn làm, nhưng mọi người sẽ không bao giờ quên cảm xúc bạn gây ra cho họ.”

Những người thông minh biết rằng suy nghĩ là một kỹ năng. Và giống như bất kỳ kỹ năng nào, họ có thể cải thiện nó. Họ tìm kiếm và học hỏi các mô hình tư duy mới, hấp thụ các nội dung làm phong phú thêm tư duy của họ và khám phá các quan điểm khác nhau. Họ sống theo phương châm của Ngài Isaac Newton: “Nếu tôi nhìn được xa hơn thì đó là bằng cách đứng trên vai của những người khổng lồ.”

#4. Họ luôn cải thiện bản thân

Những người thông minh hiểu rằng phát triển bản thân cần một nỗ lực tổng thể chứ không phải là từng phần. Họ không làm tổn hại đến các mối quan hệ của mình để có được nhiều người theo dõi. Họ không hy sinh sức khỏe vì sự giàu có và chắc chắn họ không đánh đổi danh dự với quyền lực. Thay vào đó, họ tìm cách làm phong phú tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống: giấc ngủ, tư thế, hơi thở, dinh dưỡng, mối quan hệ với mọi người và bản thân.

Dù mục tiêu của họ là gì, những người thông minh hiểu rằng góp ý là chìa khóa để làm chủ. Nó giúp họ điều chỉnh những gì họ chưa tốt và duy trì những gì họ đã làm tốt. Những người thông minh nhận ra rằng thành công là phụ thuộc vào các mối quan hệ, không phải là cuộc phiêu lưu của một con sói đơn độc. Đó là lý do tại sao họ không làm một mình: họ kết nối, lập nhóm, trao đổi ý tưởng và yêu cầu trợ giúp. Theo lời của Simon Sinek: “Thất bại là khi chúng ta làm một mình. Thành công luôn đòi hỏi sự phối hợp hỗ trợ”.

Những người thông minh luôn quan tâm đến suy nghĩ, niềm tin và cảm xúc của họ. Họ logic trong lập kế hoạch, cẩn trọng khi thực hiện, để ý thất bại, khiêm tốn trước thành công, biết ơn vì sự tiến bộ của chính mình và đồng cảm với gia đình, đồng nghiệp và bạn bè của họ.

Bạn đã có phẩm chất nào rồi?

Vì sao có người không giỏi bằng bạn nhưng họ đang kiếm nhiều tiền hơn? Bí mật nằm ở một thứ mà ít người nghĩ tới

Mộc Dương / Theo MD  Copy link

Link bài gốc  Lấy link

Mikhail Sholokhov: Đời ‘tiến thoái lưỡng nan’ của tác giả Sông Đông êm đềm

Mikhail Sholokhov (1905-1984)
Rất ít nhà văn Liên Xô được tiếp cận với Joseph Stalin như Mikhail Sholokhov.

Xét về các cuộc họp cá nhân và thư từ (những người cùng thời như Mikhail Bulgakov và Boris Pasternak tự nhận được một hoặc hai cuộc điện thoại hoặc thư từ Điện Kremlin), ông chắc chắn đủ tiêu chuẩn là “người ghi chép của Stalin”.

Sholokhov cũng là người độc nhất vô nhị khi là nhà văn thời Xô Viết duy nhất không phụ lòng chính quyền khi được trao giải Nobel Văn học vào năm 1965.

Nhưng cuộc thảo luận về Mikhail Sholokhov đều bắt đầu bằng câu hỏi về đạo văn – làm thế nào, vào năm 1926 và 1927, một thanh niên 22 tuổi đã viết ra phần đầu của Sông Đông êm đềm?

Đó là một kỳ tích văn học đối với một nhà văn có tác phẩm trước đó, hầu hết là truyện ngắn, tỏ ra nhạt nhẽo.

Mikhail Sholokhov (1905-1984)
Chụp lại hình ảnh,Mikhail Sholokhov (1905-1984)

Hàng dài những lời gièm pha nhắm vào Sholokhov, trong suốt nhiều thập niên – đáng chú ý nhất là của Alexander Solzhenitsyn – đã buộc tội ông ta đã sử dụng lại cuốn tiểu thuyết của một người đã chết mà ông ta tìm thấy giữa một đống giấy tờ bị bỏ lại trong sự hỗn loạn của cách mạng và nội chiến.

Tiểu sử về người đoạt giải Nobel gây tranh cãi Mikhail Sholokhov (1905-1984) được Brian J. Boeck công bố năm 2019, trong cuốn sách Người ghi chép của Stalin: Văn học, Tham vọng và Sự sống còn.

Brian J. Boeck có bằng Tiến sĩ về lịch sử Nga từ Đại học Harvard và đã giảng dạy lịch sử Nga và Liên Xô trong hơn một thập niên tại Đại học DePaul.

Boeck đưa người đọc vào một cuộc hành trình theo trình tự thời gian qua hầu hết các năm của sự nghiệp nhà văn, khi Sholokhov vươn lên từ một nhân vật nổi tiếng trở thành quan chức Hội Nhà văn.

Cuộc đời của Sholokhov diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với các sự kiện có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế: tập thể hóa nông dân; cuộc Đại khủng bố cuối những năm 1930; Chiến tranh thế giới thứ hai; Cái chết của Stalin; Các chiến dịch nông nghiệp của Khrushchev; và cuộc chiến chống những người bất đồng chính kiến của Brezhnev.

Chân dung Mikhail Sholokhov (1905-1984)
Chụp lại hình ảnh,Chân dung Mikhail Sholokhov (1905-1984)

Tài liệu của Boeck có rất nhiều tiết lộ từ các giấy tờ của chính Sholokhov, các kho lưu trữ của Liên Xô (phần lớn dựa trên các tài liệu đã xuất bản) và các bộ sưu tập của phương Tây, bao gồm cả các kho lưu trữ của Giải Nobel.

Ông là một người phát ngôn của chế độ, nhưng cũng làm nhiều thứ khác, như Boeck nhắc nhở chúng ta trong bức chân dung.

Khi công khai ủng hộ việc trả tự do cho những người bị giam cầm sai trái trong cuộc Đại khủng bố, Sholokhov đã thể hiện sự dũng cảm phi thường khi những người khác – hầu như tất cả mọi người, đều bị bao trùm bởi nỗi sợ hãi.

Soviet forces attack in the north Caucasus region, 1943
Chụp lại hình ảnh,Sau hơn ba năm chiến tranh, Liên Xô đã nghiền nát quân Đức và tiến vào sát Berlin

Sholokhov gặp Stalin vào năm 1931 khi ông đang đối phó với các nhà phê bình và biên tập viên, những người đặt câu hỏi về sự thuần khiết tư tưởng của tập thứ ba Sông Đông.

Nhà lãnh đạo Liên Xô, một độc giả nhiệt tình, hâm mộ cuốn tiểu thuyết, và Sholokhov đã trở thành một trong những người ghi chép được ưa chuộng bởi nhà độc tài.

Stalin cho phép tác phẩm của ông được xuất bản và bảo vệ ông khỏi những cuộc thanh trừng trí thức trong cuộc Đại khủng bố.

Sholokhov nổi tiếng với những cuộc tấn công ác độc nhằm vào những người bất đồng chính kiến trong những năm 1960 và 1970. Nhưng điều ít biết hơn là trong những năm 1930, ông đã thể hiện sự dũng cảm hiếm có về mặt đạo đức.

Winston Churchill, Franklin Roosevelt and Joseph Stalin
Chụp lại hình ảnh,Ba Ông lớn (The Big Three), gồm Winston Churchill, Franklin Roosevelt và Joseph Stalin

Trong suốt những năm 1930, Sholokhov đã điều hướng một cách thành thạo mối quan hệ của mình với Stalin, và thậm chí sử dụng nó để cứu hàng nghìn người ở vùng sông Đông quê hương của ông trong giai đoạn thảm khốc nhất của quá trình tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức.

Nhưng cuối cùng con đường ổn định của Sholokhov đã khiến ông phải thỏa hiệp.

“Vào tháng 3 năm 1939,” Boeck viết, “ông đã đứng lên trước 2000 đại biểu [của Đại hội 18 của Đảng Cộng sản] và toàn thể dân chúng Liên Xô và tuyên bố rằng Đại khủng bố là một chiến thắng xứng đáng.”

Ba tháng sau màn trình diễn đáng xấu hổ của mình, nhà văn đã “tìm kiếm niềm an ủi khi sống đơn độc với thiên nhiên,” đi câu cá trên sông Đông, bỏ mũ và trôi dạt hàng giờ dưới cái nắng gay gắt của mùa hè.

Sholokhov đã mất nhiều tuần để hồi phục khả năng suy nghĩ sáng suốt.

Vào năm sau, ông tự động viên mình để hoàn thành tập thứ tư và cũng là tập cuối cùng của “Sông Đông êm đềm”.

Sau khi xuất bản tập cuối cùng của Sông Đông vào năm 1940, Sholokhov không viết được gì đáng giá. Stalin muốn ông viết Chiến tranh và hòa bình của Liên Xô, một thiên anh hùng ca về chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng Sholokhov không thể đáp ứng được.

Không giống như Vasily Grossman và nhiều nhà văn khác, ông ít được chứng kiến những trận thực chiến. Quan trọng hơn, ông đã đánh mất tài năng của mình – và biết điều đó. Trong khi giả vờ gần như đã hoàn thành một cuốn tiểu thuyết mà chưa bắt đầu, ông tìm quên trong rượu.

Cuộc đấu tranh của Sholokhov để có thể sống trung thực trong bầu không khí tối tăm mù mịt là chủ đề trong cuốn tiểu sử chính trị hấp dẫn của Boeck.

Sinh ra trong một gia đình không phải người Cossack nhưng lớn lên giữa những người Cossack ở vùng sông Đông, gần thị trấn Vioshki, Sholokhov đã đi làm sớm. Năm 1922, khi đang làm công việc thu thuế vào cuối Nội chiến, ông bị bắt vì làm sai lệch hồ sơ. Khi đó ông đã nhằm giảm bớt những khó khăn của những người nông dân nghèo Cossack bằng cách giảm các khoản đóng góp ngũ cốc cần thiết của họ.

Tội đáng bị tử hình, nhưng anh chỉ bị kết án quản chế vì cha của anh đã hối lộ một linh mục để làm giả hồ sơ rửa tội và do đó khiến cậu thanh niên trở thành trẻ vị thành niên theo luật pháp Liên Xô.

Được tha, nhưng không còn đủ khả năng để đảm bảo công việc lương cao dành cho những người cộng sản, Sholokhov quyết định thử vận may ở thủ đô.

Ngay sau khi chuyển đến Moscow, ông đã phát hiện ra niềm đam mê viết lách.

Câu hỏi làm thế nào những bước đầu tiên tầm thường này phát triển thành những bước tiến khổng lồ – hai tập đầu tiên của Sông Đông êm đềm – tiếp tục dấy lên nghi ngờ rằng Sholokhov đã đạo văn.

Theo đó, ông ta đã lấy sách từ một bản thảo chưa được xuất bản của một người chống Bolshevik Cossack tên là Fyodor Kryukov (1870-1920).

Có rất ít bằng chứng chắc chắn cho tố cáo này, mặc dù Sholokhov chắc chắn đã sử dụng hoặc ăn cắp nhiều nguồn văn học và lịch sử khi viết tiểu thuyết của mình.

Ở Moscow, một trong những biên tập viên đầu tiên của Sholokhov, Feoktist Berezovskii, đã rất nghi ngờ.

Vào đầu năm 1929, tin đồn bắt đầu lan truyền ở Moscow rằng một bà già đã viết thư cho chính quyền Xô Viết tuyên bố rằng con trai bà, người mất tích trong Nội chiến, đã viết cuốn tiểu thuyết. Bà khẳng định rằng các chương của Sông Đông xuất bản gần đây giống với cuốn sách của con trai bà.

Khi tin đồn đến tai Stalin, cuộc tranh cãi trở thành vấn đề sinh tử đối với Sholokhov.

Vào tháng 3 năm 1929, ban biên tập của Pravda (tờ nhật báo quan trọng nhất của Liên Xô) đã triệu tập phiên họp đặc biệt để xem xét những cáo buộc rằng Sholokhov đã đạo văn. Vài ngày sau, Pravda công khai minh oan cho Sholokhov và tuyên bố tin đồn đạo văn là “lời vu khống ác ý được lan truyền bởi những kẻ thù của chế độ độc tài vô sản.”

Mặc dù Sholokhov đã vượt qua được vụ bê bối đạo văn, các quan chức sau đó chần chừ không muốn cho in phần ba Sông Đông, vì cho là chống Liên Xô.

Các nhà phê bình phàn nàn rằng ông không dứt khoát về phía giai cấp vô sản. Họ buộc tội ông theo chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa hòa bình, và tệ nhất là chủ nghĩa khách quan. Ông dám khắc họa những kẻ thù giai cấp mà không thể hiện sự căm ghét quá mức, cường điệu đối với chúng.

Trong một nỗ lực tuyệt vọng để cứu Sông Đông, vào mùa xuân năm 1931, Sholokhov đã nhờ Maxim Gorky, nhà văn còn sống nổi tiếng nhất của Nga.

Vài tuần sau, Gorky mời ông đến một cuộc họp để thảo luận về cuốn tiểu thuyết tại biệt thự ở trung tâm Moscow.

Khi Sholokhov đến, Gorky không đơn độc. Một khuôn mặt râu ria rất quen thuộc có mặt, đó là Stalin.

Stalin ngay lập tức cáo buộc Sholokhov có cảm tình với một số kẻ thù xấu xa nhất của cuộc cách mạng.

Sholokhov thấy đôi mắt của nhà độc tài rực cháy như một con hổ sẵn sàng vồ mồi. Nhưng ông giữ vững lập trường của mình. Ông tự tin tranh luận với Stalin và mạnh mẽ bảo vệ quyết định táo bạo của mình.

Stalin rất ấn tượng trước sự kiên trì của Sholokhov. Phấn khởi, Sholokhov tạm biệt với giải thưởng được thèm muốn nhất – số điện thoại của Stalin.

Người ta thường nói rằng không có gì khác mà Sholokhov đã viết có thể sánh bằng Sông Đông êm đềm.

Và ngay cả hai tập cuối của Sông Đông, theo dư luận, yếu hơn hai tập đầu. Nhưng như tiểu sử của Boeck làm chứng, có thể giải thích sự suy giảm số lượng tác phẩm và chất lượng đó là do áp lực cực lớn mà Sholokhov gặp phải.

Khi nhà văn đến Điện Kremlin trong tình trạng say xỉn vào năm 1938, Stalin đã rất thất vọng và đưa ra lời cảnh báo: “Đồng chí Sholokhov, tôi đã nhận được báo cáo rằng đồng chí đã uống quá nhiều”.

Đáp lại, Sholokhov nói thay mọi người dân Liên Xô: “Từ cuộc đời như vậy, thưa đồng chí Stalin, bất cứ ai cũng sẽ quay sang uống rượu”.

Stalin, người bảo vệ và hành hạ Sholokhov, qua đời vào năm 1953.

Mặc dù tác giả sống lâu hơn Stalin tới 31 năm, nhưng ông chưa bao giờ thoát khỏi thời đại Stalin.

Sholokhov không chỉ ngừng viết trong thời kỳ hậu Stalin, mà cách cư xử của ông đối với các tác giả đồng nghiệp của mình trở nên nhẫn tâm, đáng khiển trách.

Khi Andrei Siniavsky và Yuli Daniel, những người đã xuất bản các tác phẩm châm biếm của họ ở nước ngoài, bị bắt, bị kết án vì tội kích động và tuyên truyền chống Liên Xô vào năm 1966, Sholokhov đã từ chối đứng về phía những người ôn hòa khi xem xét bản án – bảy năm khổ sai lao động cho Siniavsky, năm năm cho Daniel.

Việc Sholokhov sẵn sàng nói thay cho Đảng đã phá hủy danh tiếng của ông trong mắt hầu hết các nhà văn Xô Viết tự do.

Nó khiến ông thành kẻ thù của Aleksandr Solzhenitsyn, người cũng đến từ vùng sông Đông và giành giải Nobel vào năm 1970.

Ban đầu bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với sách của Solzhenitsyn, Một ngày trong cuộc đời của Ivan Denisovich (1962), nhưng Sholokhov đã nhanh chóng coi ông ta là một “kẻ mất trí độc hại, người đã mất kiểm soát lý trí.”

Ông đề nghị trục xuất Solzhenitsyn khỏi Hội Nhà văn Liên Xô.

Solzhenitsyn coi Sholokhov là kẻ tầm thường và bị ám ảnh rằng ông phải chứng minh tay nhà văn kia đã đạo văn những phần hay hơn trong Sông Đông.

Năm 1984, Sholokhov qua đời và được tổ chức một đám tang hoành tráng.

Brian J. Boeck, trong một phỏng vấn, nhận định: “Câu chuyện của Sholokhov là về một người theo chủ nghĩa Stalin nhưng đã sống lâu hơn chủ nghĩa Stalin.”

“Chúng ta muốn tưởng tượng những người bất đồng chính kiến đều có bàn tay trong sạch và lương tâm trong sạch dưới thời Stalin. Trên thực tế, họ kém dạn dĩ, kém dũng cảm và kém thẳng thắn hơn Sholokhov vào thời điểm đó.”

“Nếu ông ấy chết vào năm 1938, ông ấy có lẽ đã được học thuật phương Tây ca tụng.”

Brian J. Boeck nói về tiếp nhận Sholokhov ngày nay tại Nga:

“Sông Đông đang được đọc lại ở các trường học, và Putin đã đến thăm nhà của Sholokhov.”

“Một phần quan trọng trong cách đối phó của Putin với quá khứ bao gồm việc tôn vinh những con người và thành tựu thời Xô Viết và Stalin, đồng thời dung hòa các thời đại khác nhau của quá khứ Nga, như Sholokhov đã làm trong tiểu thuyết.”

Bài của BBC News Tiếng Việt.