Cuộc sống ở các thành phố cổ bên sa mạc Sahara

Bất chấp địa hình khắc nghiệt, vẫn có những khu định cư ở rìa phía bắc Sahara. Nơi này còn được gọi là 5 ksour lịch sử.Chùm ảnh: Cuộc sống ở các thành phố cổ bên sa mạc Sahara

Nằm giữa Morocco và Tunisia, Algeria là quốc gia lớn nhất châu Phi và đứng thứ 10 trên thế giới. 4/5 diện tích đất nước bao bọc bởi Sahara – sa mạc lớn nhất thế giới. Đây là vùng đất hoang vu, cằn cỗi toàn đá sỏi… Hầu như không ai sống tại đây cả.

Bất chấp địa hình khắc nghiệt, vẫn có những khu định cư ở rìa phía bắc Sahara. Nơi này còn được gọi là 5 ksour lịch sử. Đó là các thành phố cổ có tuổi đời hàng thế kỷ thuộc thung lũng M’Zab. Những thành phố này bao gồm El-Atteuf (lâu đời nhất, thành lập năm 1012), Melika, Bounoura, thánh địa Beni-Isguen và Ghardaïa.

Một hội đồng du lịch được thành lập để bảo tồn 5 ksour này. Họ đề ra những quy định khá khắt khe với du khách và cả người Algeria. Theo BBC, hội đồng khuyến cáo người dân Algeria và du khách chỉ được tới các thành phố cổ khi đi cùng một hướng dẫn viên bản địa. Ngoài ra, một số hành vi khác cũng bị cấm khi tới đây như hút thuốc, ăn mặc thiếu đứng đắn, sử dụng điện thoại di động và selfie.

Khaled Meghnine, hướng dẫn viên địa phương, nói: “Chúng tôi đều thân thiện và các du khách được chào đón khi đến đây. Tuy nhiên, họ phải tôn trọng cách sống của người dân khu vực này. Đó là nhà của chúng tôi, không phải phông nền cho một bài đăng trên mạng xã hội. Không ai ở đây muốn thế cả”.

Từ thế kỷ thứ 8, những người Mozabites, một dân tộc bán du mục với ngôn ngữ riêng biệt Tumzabt, đã khai phá vùng đất này. 5 thành phố cổ là nơi giao thoa văn hóa độc đáo của người bản địa Bắc Phi, tín ngưỡng Hồi giáo Ibadi… Hiện tại, dân số của các thành phố này vào khoảng 360.000 người. “Thật không thể tin họ đã phát triển xã hội trong vùng đất khắc nghiệt này. Đó là lý do chúng ta cần trân trọng nền văn hóa này. Nó đã tồn tại 1.000 năm”, Meghnine nói.

Đường ở những thành phố này đều khá hẹp, chỉ đủ cho một con lừa chở hàng hóa. Đường chính thì to hơn, đủ cho con lạc đà di chuyển. Các ngôi nhà làm bằng đá với kết cấu hình hộp. Họ thường nuôi một con dê để lấy sữa và giải quyết thức ăn thừa. Điện bắt đầu xuất hiện ở đây từ năm 1950 và cũng khiến cuộc sống người dân thay đổi ít nhiều.

Tuy nhiên, nhiều nguyên tắc vẫn được giữ nguyên từ ngày xưa. Ví dụ, khi xếp hàng ở các máy bơm nước, trẻ em sẽ đứng đầu, sau đó tới phụ nữ rồi mới đến nam giới. Tường nhà thường được sơn màu xanh để tạo cảm giác mát mẻ và đuổi muỗi.

Ở Ghardaïa (ảnh), việc lắp các biển báo hay biển quảng cáo hiện đại đều bị cấm. Đây là cách họ giữ thành phố cổ nguyên vẹn như ban đầu. Quy định địa phương yêu cầu người ở những con phố nhỏ chỉ được bán chuyên về một sản phẩm, ví dụ thảm, trái cây, rau củ hay vàng. Các thương gia ở đây không có nhiều tính cạnh tranh. Thay vào đó, họ đoàn kết và tạo nên cộng đồng bền chặt. Việc mặc cả cũng bị “cấm ngầm” vì sự tôn trọng giữa người bán, người mua. Đôi bên sẽ thống nhất mức giá hợp lý từ đầu dựa trên sự trung thực.

Một vấn đề khác đáng quan tâm của người dân sống trong những thành phố này là nước. Với họ, nước còn quý hơn vàng. Có một hội đồng chuyên trách giám sát việc sử dụng nguồn nước. Ở đây, họ có những hình phạt cho người sử dụng nhiều nước hơn mặt bằng chung của xã hội. Thực tế, từ năm 2008-2017, thung lũng M’Zab không có nổi một giọt mưa. Đó là lý do khiến họ nghiêm túc thực hiện các quy định.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN / BBC

3 kiểu hôn nhân thời hiện đại

Trong hôn nhân, ai cũng muốn mình là người hạnh phúc, nhưng không phải ai cũng gặp may mắn.

Theo nhà tâm lý học Lý Nhiễm (Trung Quốc), hôn nhân là tiếp nối của tình yêu, nó có thể được chia làm 3 loại: Hôn nhân giày vò nhau, hôn nhân quan hệ đối tác và hôn nhân sống sót.

Hôn nhân là một mối quan hệ thân mật, trong đó hai đối tác hỗ trợ lẫn nhau. Ảnh:shutterstocks.
Hôn nhân là một mối quan hệ thân mật, trong đó hai đối tác hỗ trợ lẫn nhau. Ảnh:Shutterstocks.

Trên diễn đàn Zhihu, một người kể về cuộc hôn nhân của mình. Sau khi kết hôn, cô ấy từ bỏ công việc yêu thích, toàn tâm nuôi dạy con cái và chăm sóc gia đình nhưng chồng lại chỉ biết chê bai vợ vụng về và thiếu hiểu biết. Từ một cô gái hiền lành, tốt bụng, người phụ nữ này sẵn sàng xù lông và nổi điên khi bị chồng chỉ trích. Hôn nhân của họ sau những trận cãi vã là sự thờ của chồng, còn người vợ bị tổn thương sâu sắc.

Trong cuộc hôn nhân kiểu này, hai người ở bên nhau nhưng cãi vã mỗi ngày. Giữa họ chỉ có buộc tội và oán trách. Tất cả những đam mê cuộc sống, kỳ vọng đẹp đẽ về tình yêu dần tiêu hao theo thời gian. Đó là kiểu hôn nhân giày vò, chỉ nhìn thấy khuyết điểm của nhau.

“Trong hôn nhân, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào nhau và cũng đừng tự hành hạ bản thân bởi cuộc hôn nhân không như ý”, người phụ nữ nói sau khi ký đơn ly dị chồng và kết thúc câu chuyện của mình.

Chuyên gia Lý Nhiễm cũng nhận ra có một kiểu hôn nhân khác: “Họ là vợ chồng vào ban ngày, là bạn cùng phòng vào ban đêm. Trước mặt hàng xóm là vợ chồng tốt, nhưng ban đêm lại là hàng xóm tốt”.

Sau khi kết hôn, hầu hết đàn ông không để ý đến cảm xúc của vợ, thậm chí không chịu nghe hết tâm tình của bạn đời, người họ vốn từng rất kiên nhẫn. Những cảm giác nóng bỏng thuở đầu dần bị cơm áo gạo tiền che khuất, khiến tình cảm lứa đôi nguội lạnh. Cuối cùng khi trái tim không được sưởi ấm, tình yêu giữa vợ chồng cũng dần phai nhạt.

Dưới cùng một mái nhà, cùng ăn, cùng ở nhưng họ lại ngủ riêng, rất ít khi bộc lộ cảm xúc cho đối phương thấu hiểu. Chồng không quan tâm đến niềm vui nỗi buồn của vợ và ngược lại người vợ cũng không quan tâm xem chồng nay đi đâu, với ai hay về nhà muộn không? Cuộc hôn nhân này không có ai ngoại tình, chẳng có lời cãi vã mệt mỏi, cũng không có sự lãng mạn hay quan tâm chăm sóc giữa hai vợ chồng. Họ trở thành hai kẻ xa lạ sống chung dưới một mái nhà, giống như hai đường thẳng song song không bao giờ cắt nhau.

Ở hai con người này không tồn tại tình nghĩa vợ chồng mà chỉ vì lợi ích gia đình. Dù mệt mỏi nhưng cả hai vẫn hợp tác cùng nhau để có được thứ mình cần.

Có một câu nói: “Hôn nhân không phải là điều tuyệt vời nhất, hôn nhân có tình yêu mới là tuyệt vời nhất”. Nói cách khác, một cuộc hôn nhân có tình yêu có thể biến những thứ tầm thường như củi, gạo, dầu, muối thành mật ngọt cho tình cảm vợ chồng.

Gia đình nữ dẫn chương trình Vương Tiểu Khiên của Trung Quốc. Ảnh: 163.com
Gia đình nữ dẫn chương trình Vương Tiểu Khiên của Trung Quốc. Ảnh: 163.com

Người dẫn chương trình nổi tiếng Trung Quốc Vương Tiểu Khiên từng kể về cuộc hôn nhân của mình. Một lần, hai vợ chồng cùng nhau đi mua sắm, khi ra về, Vương phát hiện mất chìa khóa xe. Tìm kiếm khắp nơi không thấy, cô mới nhớ chưa rút chìa khóa khi đỗ xe. Vương tự trách mình và chờ đợi sự “trút giận” từ chồng, sau nhiều lần anh bị cô chỉ trích vì tính hay quên. “Không sao, ai mà có lúc chẳng quên, chẳng mắc lỗi”, nói rồi người chồng ôm vợ vào lòng. Từ đó Vương hiểu ra, trên đời không có hôn nhân viên mãn, nhưng có hôn nhân hạnh phúc. Bao dung chính là chìa khóa đầu tiên mở ra hạnh phúc. Cho đến nay, họ đã bên nhau 22 năm.

Nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Jim Rogers từng nói: “Tình yêu là sự thấu hiểu và chấp nhận sâu sắc”. Thực tế, người hạnh phúc trong hôn nhân không phải vì họ gặp được người yêu hoàn hảo, mà vì họ học cách tha thứ cho những khiếm khuyết và khám phá ra sự quý giá của nhau.

Nếu muốn một mối quan hệ vợ chồng thành công, phải có khả năng chung sống với một người khác, tức là có khả năng cùng tồn tại với những khác biệt. Loại hôn nhân này được gọi là hôn nhân sống sót.

Vy Trang (Theo aboluowang)

Lò ấp trứng sùng – Truyện trào phúng Lê Văn Nghĩa

Vanvn- Trong đám bạn xuất thân từ cán bộ phường từ thời oảnh tẹc, chỉ có thằng Láu là thằng nhìn xa trông rộng. Hồi làm bên thanh niên, nó đã nhìn thấy con đường bên chính quyền là con đường có thể trường kỳ tiến tới bền vững cho bản thân. Vì thế từ cán bộ thanh niên, nó đã tìm đường chuyển sang làm cán bộ phường lèo tèo, suốt ngày chỉ ngồi đóng dấu cho các bản sao giấy tờ. Ấy vậy mà trong một thời gian nó đã nhảy lên phó chủ tịch phường. Nhiều người ngơ ngác tự hỏi “Sao thấy nó có thành tích gì đâu mà nhảy nhanh như vận dộng viên điền kinh vậy?”. Một thức giả, nhếch mép không râu cười mà rằng “Sao lại không có thành tích. Thành tích của nó là có ba làm chủ tịch quận!”

Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Trong đợt chuẩn bị sắp xếp ghế, thằng Láu được ba nó chuyển lên quận, đảm nhiệm chức vụ nhỏ nhoi là phó chủ tịch kinh tế của quận nhà. Nhiều ý kiến trong quận phản đối quyết liệt vì nó tốt nghiệp cử nhân môn cờ người (theo thơ của Hồ Xuân Hương là ‘Chàng Cùng thiếp năm canh trằn trọc/ Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người…’), rất giỏi chiêu ‘đem pháo đầu dú dí vô cung’ các em người mẫu nội y mà làm sao có thể phụ trách kinh tế được, phụ trách mảng sinh đẻ có kế hoạch còn mặc may’. Quyết liệt quá, thơ tay rơi tới cấp trên luôn nhe. Thế là chỉ trên 10 ngày ký tầm bậy, tầm bạ mấy cái công văn xin xỏ gì đó, nó lại được chuyển qua làm công tác xã hội, ngồi chơi chờ thời.

Tôi là bạn nối khố của nó thời học sinh, không xin ơn mưa móc của nó, thuần là bạn bia, nó biết tôi là thằng không hề quan trọng nên dốc hết bầu tâm sự trong cơn say buồn mất chức. “Buồn vào hồn không tên, cái ghế của em, nó bay đi mất rồi…”. Rồi nó kể tiếp cho tôi nghe:

– Mầy biết không, bố tao nói chí ‘ní’ nhắm – thằng nầy có tật ngọng chũ ‘l’ và ‘n’ đổi chỗ cho nhau – làm lãnh đạo kinh tế thì phải có tiến sĩ kinh tế, đố thằng đ, con phò ‘lào’ ‘lói’ được mình. Bởi vậy, mầy biết không… bố tao đã có cách…

– Cách gì? Cấp cho mầy cái bằng Tiến sĩ kinh tế hả?

– Ừ, bố tao mà cấp cái đ. gì! Ổng chỉ cấp ‘củ’ cho mấy cái con lính của ổng. Cái nầy là do tao gặp mấy thằng tiến sĩ, bạn tao thời học trong trường đại học Cờ Người… Nầy, để tao kể cho nghe…

***

Thằng bạn tớ nhá, tiến sĩ với ‘nuận án’ “Hành vi, và thái độ xin xỏ của quan chức về hưu”, dựa trên nghiên cứu đơn xin cấp nhà công vụ của một ông cán bộ nguyên thứ trưởng. Trong đơn xin mua nhà công vụ ‘não’ ta than rằng chưa bao giờ mua được nhà, ‘não’ nghèo lắm, suốt đời phục vụ cách mạng trên răng dưới ‘ca tút’. Nhưng ‘não’ ta lại quên khai rằng vợ ‘não’ là chủ tịch tỉnh, con gái là phó chủ tịch tỉnh, con trai ruột là giám đốc sở. ‘Nuận’ án này được điểm tối đa của hội đồng chấm ‘nuận’ án.

Theo lời nó kể thì không cần đến ngày ra hội đồng nó cũng biết là ‘nuận’ án của nó được điểm tối đa. Tớ bối rối hỏi “Tao biết gì đâu mà làm ‘nuận án’ Tiến sĩ kinh tế”. Nó cười hăng hắc “Tao cũng biết đ. gì đâu về chuyện xin xỏ nhà cửa gì đâu. Nè tao hỏi, mầy có khoảng 500 củ không?”

“500 củ? Số tiền lớn quá. Nhưng chi vậy?” “Thì để làm tiến sĩ chứ, mầy tưởng làm TS không tốn tiền à. Càng dốt như tao với mầy thì càng phải có nhiều tiền mới có bằng Tiến sĩ nhé. Thằng nào học giỏi thật cũng phải tốn ít nhất 300 củ. Tiền bố mầy kiếm được dễ dàng, chứ có thằng tiến sĩ là con đâu phải dễ mậy. Ít nhất ổng cũng được người ta trọng vọng vì bố tiến sĩ nhá…”

Nó dẫn tôi ra Hà Nội, đất ngàn năm văn vật, đất của tiến sĩ vì có cái gọi là Viện Hầm khoai lang không học xả hơi. Cái Viện nầy hàng năm sản xuất ra chừng vài trăm tiến sĩ đủ mọi chủng loại. Thằng bạn tôi dẫn tôi gặp một vị mặt vuông, má béo chất ngất, xệ tới cằm. Đầu hói (chứng tỏ thông minh), mắt hí (chứng tỏ học nhiều), môi vẫu (chứng tỏ mím môi, mím lợi vì chữ). Trước đó, thằng bạn tớ đã bảo nhỏ: “Lão nầy một năm hướng dẫn gần 40 nghiên cứu sinh, ra lò ấp hết nhá”. “Ủa, theo tớ được biết một GS chỉ được hướng dẫn 3 nghiên cứu sinh thôi mà”. “Ủa, tao chưa cho mầy biết là lão nầy là một trong những vị lãnh đạo lò ấp này à? Dư luận bao lâu nay đã gọi nơi đây là lò ấp trứng sùng (TS) mầy không biết sao? Tao cũng thuộc loại trứng sùng nhưng kệ mẹ, có ai biết đâu. Mầy nên nhớ rằng đây là cái viện quan trọng của đất nước nầy nhé, cung cấp trứng sùng cho các ngành quan trọng như kinh tế, xã hội, ngoại giao. Mầy có cái bằng tiến sĩ của Viện nầy coi như là có dấu đỏ đó nha.”

Thằng bạn tớ và lão hói, béo thấy thương nầy thảo luận một hồi, và nhất là sau khi thằng nầy đưa cho lão một bì thư (tiền của tớ) thì tớ được biết là tớ cứ việc về nhà, an nhàn ăn chơi, nhưng ráng giữ sức khỏe đợi đến ngày ra cho hội đồng thấy mặt và nhận bằng tiến sĩ. Á, mà không quên ứng trước 300 củ, phần còn lại là 200 củ sẽ giao nộp sau khi nhận bằng tiến sĩ. Trước khi về lão hói nói với tao “Lầy, đề tài của cậu sẽ “nà” “Bước đầu nghiên cứu giá trị kinh hãi của các đề tài tiến sĩ kinh tế”.

  ***

Sau khi nó kể cho tôi nghe câu chuyện nầy thì tôi phải chuyển đi công tác tỉnh một thời gian thật dài, lấy vợ rồi sinh con luôn. Không còn quan tâm đến chuyện ở Sài Gòn nữa.

Mới đây, về Sài Gòn có chuyện liên quan đến một dự án kinh tế. Tôi cùng đi trong phái đoàn do một vị lãnh đạo tỉnh dẫn đầu, cần phải gặp cho được phó chủ tịch phụ trách kinh tế của quận. Té ra vị phó chủ tịch quận nầy là thằng bạn của tôi ngày xưa khi tôi đọc tấm danh thiếp thấy ghi rõ ‘TS. Tài Văn Láu. PCT …’

Nó thì không nhìn ra tôi vì sau bao năm đi về vùng cao tôi đã biến đổi khá nhiều cũng như nó, tôi  nhìn không ra một thằng bạn ngày xưa. Bây giờ nó cũng béo láng chất ngất…

Té ra nó đã tốt nghiệp ở cái lò ấp trứng sùng ấy và bây giờ trở thành người phát biểu chỉ đạo những nhà kinh tế thuần thành chúng tôi. Nghe nó nói về kinh tế thì tôi biết tương lai nền kinh tế của cái quận nầy sẽ đi về đâu rồi: “nền kinh tế công nghiệp chủ đạo của quận tôi sẽ tập trung chủ đạo dựa vào sản xuất mì gói, giấy vệ sinh, lời chào Whisper, Sakura… ôi, lãi lắm, lãi lắm nhé…”

Đúng là lời của nhà kinh tế của lò ấp Trứng Sùng!

LÊ VĂN NGHĨA

Chương 2: Cải tạo/“Phản động” / Tù và cải tạo / “Thăm Nuôi”

Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH - Trần  Đỗ Cung
Ảnh trại tù cải tạo

“Phản động”

Một diễn biến khác, xuất hiện ngay từ những ngày Trung ương Cục nhóm họp để triển khai “Chiến dịch X-1, X-2”, được quan tâm đặc biệt vì liên quan đến an ninh chính trị. Ngày 3-9-1975, Trung ương Cục được báo cáo:

“Bọn chánh quyền cơ sở đi tập trung rất ít. Bọn Tuyên úy cũng đi rất ít. Cảnh sát đặc biệt, dự kiến đi 1.500, nhưng chúng tập trung đến 2.460 tên. Nhưng, dự kiến trên 1.000 tuyên úy chỉ đi 2 tên; dự kiến trên 150 tên chiến tranh tâm lý, đi 46 tên; dự kiến 500 cảnh sát đã chiến chỉ đi 190 tên; Quân cảnh đi 140 tên; Tình báo dự kiến 1000 chỉ đi 142 tên; Biệt kích 1000 chỉ đi 64 tên; Chiêu hồi dự kiến 300 chỉ đi 130 tên; Bình Định dự kiến 1500 chỉ đi 55 tên; Dự kiến đợt I, (đối tượng này) là10.200 nhưng chỉ đi 4.800 tên; còn lại tên 5000; ta tổ chức bắt trên 400 tên; bọn cơ sở, tình báo, quân báo tại chỗ dự kiến 3 vạn mới làm được 8.290 tên. Theo báo cáo thì việc tổ chức học tập là tốt. Hội nghị chủ trương: Đối với bọn tuyên úy công giáo, phật giáo và tin lành giáo, Ban Mặt trận Thành mới tới nói chuyện động viên khuyến khích đi học; các tôn giáo trở về phải có ý kiến với từng người để họ đi học. Sau cuộc nói chuyện sẽ tổ chức bắt nếu họ không chịu đi trình diện. Đối với biệt kích, gia hạn đăng ký một thời gian; đề cao bọn ra trình diện; kêu gọi gia đình động viên con em họ đi học sau đó tổ chức truy bắt”67.

Chính sách cải tạo cũng đã đi vào lịch sử Tòa thánh Vatican từ ngày 15-8-1975, khi Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận được mời tới Dinh Độc Lập, tại đây ông bị bắt giữ và trong ngày hôm ấy được di lý ra trại giam Cây Vông, Phú Khánh.

Việc Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận, người gọi ông Ngô Đình Diệm là cậu ruột, làm giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn vào ngày 25-4-1975 (chỉ chưa đầy một tuần trước khi “giải phóng”) đã làm cho Cách mạng lo lắng. Bản thân nội bộ công giáo cũng có những hoạt động được cho là “mờ ám”; một số linh mục được coi là “cấp tiến” đã ám chỉ các tín hữu của Đức Cha Thuận là “phản động”. Ngày 13-5-1975, một nhóm sinh viên công giáo đã đột nhập vào Tòa Tổng Giám mục đòi Đức Cha Thuận phải từ chức. Ngày hôm sau, 14-5, chính họ lại cũng đột nhập vào Tòa Khâm xua đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre.

Chính quyền không đứng ngoài những hoạt động “cấp tiến” này, nhưng Chính quyền cũng đã hoang mang khi những hành động quá khích như vậy tác động trở lại. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận là trong buổi chiều bắt Đức Cha Thuận, Chính quyền đã triệu tập tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ tới tòa nhà Quốc hội Sài Gòn để nghe “nói chuyện”, nhằm tránh những phản ứng khiến cho tình hình phức tạp thêm. Người dân Sài Gòn quan sát những diễn biến ấy trong nỗi lo sợ rất rõ ràng, nhưng thái độ của mỗi người thì một khác. Nhà báo Đoàn Kế Tường kể: “Sáng 29- 4-1975, tôi và một người bạn gặp nhau trên cầu Sài Gòn, anh hỏi: ‘Đi không?’. Tôi nói không lưỡng lự: ‘Không. Tôi còn mẹ già ở Quảng Trị’. Anh chia tay tôi xuống Tân Cảng, một chiếc tàu hải quân đang đợi chúng tôi ở đó. Nhưng tôi không thể ngờ được là mọi thứ sau 30-4 nó lại đảo lộn lên như thế”.

Đoàn Kế Tường sinh năm 1947 tại làng Đông Dương, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Vì cha từng đi lính Tây nên năm 1960 khi mới mười ba tuổi, ông được đưa vào học trường Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu, được huấn luyện trở thành lính Biệt kích. Từ năm 1965 được đưa lên tác chiến ở vùng Lộc Ninh, Bù Đốp, Phước Long. Là lính trận thật sự, hai lần bị thương, nhưng chàng trai trẻ mười tám tuổivẫn có chút máu Quảng Trị, làm thơ từ trong rừng sâu gửi về các tờ báo ở Sài Gòn rồi được kết nạp vào Hội Văn – Nghệ – Sỹ Quân đội.

Năm 1969, nhân Đại hội Văn – Nghệ – Sỹ Quân đội toàn quốc, Đoàn Kế Tường nhờ Chu Tử68 xin cho về lại Sài Gòn làm báo. Chu Tử, một nhà báo quen biết nhiều nhân vật có thế lực, đã nhờ Trung tướng Lê Nguyên Khang can thiệp, đưa Tường cuối năm ấy về Sài Gòn làm trong tờ báo Đời của Quân đội. Đầu năm 1970 khi Chu Tử ra thêm tờ nhật báo Sóng Thần, Đoàn Kế Tường vừa viết cho Đời vừa viết thêm cho Sóng Thần. Tại đây, anh chơi thân với họa sỹ Ớt (Huỳnh Bá Thành), đang làm cho báo Điện Tín. Tường kể: “Buổi trưa chúng tôi vẫn cùng nhau binh xập xám”.

Nhưng, sau cái ranh giới 30-4-1975, Ớt và Tường không bao giờ có thể “binh xập xám” với nhau. Huỳnh Bá Thành là một cán bộ An ninh T4, biết những ngườinhư Đoàn Kế Tường ở lại và “tư tưởng đang có những diễn biến phức tạp”. Trong Hội nghị ngày 3-9-1975, Trung ương Cục lưu ý “các đối tượng làm việc cho các cơ quan Mỹ, văn nghệ sĩ, báo chí, ký giả” và phân công: “An ninh phối hợp với Hoavận, tình báo nghiên cứu đề xuất phương án đối với Quốc Dân Đảng, Tàu đặc vụ và nhân viên làm việc với nhân viên Mỹ. Tuyên Huấn Thành và Thông tin Văn Hóa nghiên cứu kỹ đối với văn nghệ sỹ, ký giả”69.

Đoàn Kế Tường kể tiếp: “Tôi trốn trình diện dù có quá khứ là thiếu úy biệt kích rồi cùng người bạn thân là Dương Đức Dũng tham gia vào tổ chức Dân quân phục quốc70. .. Chúng tôi in truyền đơn, in lời kêu gọi và phát tán chúng. Ngày 29-4-1975, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã lấy trực thăng bay ra hàng không mẫu hạm Midway mà chúng tôi vẫn nghĩ là ông lên rừng lập chiến khu. Chúng tôi cùng nhau hát: Tôi đi theo anh, Nguyễn Cao Kỳ, anh hùng của dân / Tôi đi theo anh, Nguyễn Cao Kỳ, anh hùng rừng xanh71. Khi đó, tôi còn quá trẻ lại đầy máu nghệ sỹ, cứ nghĩ những việc làm của mình cũng như một cuộc chơi mà sinh viên Sài Gòn vẫn làm hồi trước 1975”.

Nhưng Sài Gòn đã không còn như “hồi trước 1975”. Đoàn Kế Tường kể tiếp: “Trong những ngày ấy, Huỳnh Bá Thành có gặp tôi hỏi, nếu muốn làm báo Tin Sáng thì Thành sẽ giúp, nhưng tôi chỉ đáp cụt lủn: Không! Tôi sẽ vào rừng!”. Đêm 22-10- 1975, Huỳnh Bá Thành đến nhà Đoàn Kế Tường còng tay người bạn từng binh xậpxám hôm nào. Trong đêm ấy, Dương Đức Dũng, Thái Sơn và giáo sư Lê Việt Cương cùng bị bắt.

Gần bốn tháng sau, ngày 10-2-1976, Nguyễn Việt Hưng, Trần Kim Định bị bắt. Đêm 12 rạng sáng 13-2-1976, lực lượng an ninh Thành phố bắt đầu tấn công nhà thờ Vinh Sơn, thu giữ các thiết bị phát thanh và in tiền giả. Hai linh mục cố thủ trong nhà thờ đã dùng súng và lựu đạn chống trả quyết liệt, bắn chết Nguyễn Văn Ràng, một cán bộ an ninh. Mãi tới gần sáng, lực lượng bao vây mới khống chế được nhà thờ, hai linh mục Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Quang Minh cùng 3 người khác bị bắt.

Vụ nhà thờ Vinh Sơn chưa kịp lắng xuống thì ngày 1-4-1976, xảy ra một vụ nổ ở Hồ Con Rùa72 làm cho một người chết, bốn người bị thương và phá hủy hoàn toàn con rùa làm bằng đồng đặt giữa hồ.

Hai ngày sau, báo Sài Gòn Giải Phóng đăng bản tin có tựa đề, “Tóm gọn tại chỗ bọn phản động và phá hoại”, với mấy dòng ngắn gọn: “Ngày 1-4, bọn phản động và phá hoại, trong âm mưu phá rối trật tự trị an và cuộc sống yên lành của nhân dân ta, đã gây tiếng nổ tại công trường quốc tế (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Một tên trong bọn chúng bị chết tại chỗ và bọn còn lại đã bị an ninh ta tóm cổ đưa về điều tra”73. Cùng ngày, tờ Giải phóng, cũng đăng bản tin với độ dài và nội dung: “Trừng trị tại chỗ bọn phản động và phá hoại: Tối 1-4-1976, bọn phản động và phá hoại, trong âm mưu phá rối trật tự trị an và cuộc sống yên lành của nhân dân ta,đã gây tiếng nổ tại công trường quốc tế (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Công trường này ở ngã tư đường Duy Tân, Võ Văn Tần và Trần Cao Vân; ở giữa có một vườn hoa nhỏ, đồng bào ta thường ra ngoài hóng mát. Một tên trong bọn phản động bị chết tại chỗ và bọn còn lại đã bị an ninh ta tóm cổ đưa về điều tra”74.

Vụ nổ xảy ra lúc 8 giờ tối, được Huỳnh Bá Thành kể lại là “vang dội từ phía sau lưng đuổi tới, nhà cửa hai bên đường rung chuyển và đó đây tiếng kính vỡ rơi lổn cổn, khô khốc”75. Khi “trinh sát” đến hiện trường, theo Huỳnh Bá Thành: “Mùi thuốc nổ vẫn còn khét lẹt. Một cảnh tượng hãi hùng trước mắt Trường Sơn: một thâyngười đầy máu, bay mất cái đầu và đôi bàn tay, đang được anh em cảnh sát khiêng lại để gần chỗ đặt chất nổ. Bốn thanh niên bị thương máu me đầy mình được xe cảnh sát tức tốc đưa đi cấp cứu. Bên cạnh cảnh tượng chết chóc và thương tích rùng rợn ấy, con rùa bằng đồng to tướng bị chất nổ làm banh ra từng mảnh nhỏ, văng ra vung vãi. Theo giám định hiện trường của các đồng chí cán bộ cảnh sát thuộc bộ phận khoa học hình sự đã xác định sơ bộ: chất nố được đặt ngay ở thâncon rùa đồng, loại TNT có sức công phá ước chừng mười đến mười lăm kilogam”76.

Việc Chính quyền vội vàng kết luận trên báo chí người chết là “một tên trong bọn phản động” là chưa có căn cứ. Huỳnh Bá Thành, người mà báo Tuổi Trẻ nói rằng đã “tham gia điều tra từ đầu cho tới khi kết thúc vụ án”77, cũng thừa nhận rằng: “Không tìm thấy giấy tờ tùy thân nào trong người hắn… khó mà kết luận tuổi tác chính xác khi người chết không còn mặt mũi và hai bàn tay. Nạn nhân mặc chiếc quân jean Mỹ bạc màu, chiếc áo kaki đã sờn, chân đi dép nhựa mòn sát gót.

Cũng thật khó mà kết luận thành phần xã hội của kẻ đặt chất nổ”78.

Theo Huỳnh Bá Thành thì có ít nhất ba trường hợp đã đến công an đầu thú, một số kẻ khác đã bị bắt khi đang ba hoa ở quán café rằng mình là chủ mưu, nhưng “hóa ra bọn họ đều là những kẻ háo danh hoặc có vấn đề về tâm thần”. Nhiều vụ “bắt bí mật” đã được ngành an ninh thực hiện, một trong số đó là Lỗ Hung79. Lỗ Hung khai nhận và theo Huỳnh Bá Thành, trong người anh ta có một mảnh giấy ghi: “Làm thêm ba thẻ tổ viên tổ hợp ván sàn”. Theo Thành thì vợ chồng nhà văn Trần Dạ Từ và Nhã Ca80 cũng có một tổ hợp ván sàn và Lầu Phá Xấu, theo đặc tình của Thành là Đặng Hoàng Hà81, người mà nữ đặc tình này biết là thường xuyên qua lại với vợ chồng nhà văn Nhã Ca.

Trên thực tế, cho dù mãi tới ngày 6-4-1976 vụ án mới “được làm sáng tỏ”, nhưng ngày 2-4-1976, tức là chỉ mười hai giờ sau vụ nổ, những người như Nhã Ca, Trần Dạ Từ đã bị bắt. Nhà văn Duyên Anh kể: “Buổi tối, mùng 2-4-1976, tôi định xuống Cây Quéo kiếm Trần Dạ Từ hỏi xem Từ có đem về nhà cuốn Em Yêu nào không. Em Yêu là cuốn sách mới nhất của tôi, nhờ Trần Dạ Từ in mướn. Sách chưa kịp vô bìa, thì Sài Gòn mất. Rẽ vào đường Ngô Tùng Châu, nhìn con ngõ nhà anh chị Hoàng Văn Đức thấy tối tăm, bùi ngùi quá, tự nhiên, tôi đạp xe về. Đêm ấy, vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca bị bắt cùng với Đặng Hoàng Hà82, Đặng Hải Sơn. Nếu tôi có mặt ở nhà Từ, tôi cũng bị bắt luôn. Cũng đêm ấy, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Mạnh Côn lên đường trực chỉ Sở Công an”83.

Một chiến dịch bắt bớ văn nghệ sỹ được kéo dài cho đến ngày 28-4-1976. Duyên Anh kể tiếp: “Đêm ấy, đêm kinh hoàng, đêm mở đầu chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ. Hôm sau, cả Sài Gòn xôn xao vụ bắt bớ nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tối mồng 3-4, tôi đến nhà Mai Thảo ở 101 Phan Đình Phùng xem Mai Thảo bị bắt chưa. Tôi ngồi ngoài xe hơi của Đặng Xuân Côn, bảo Côn xuống hỏi thăm Nguyễn Đăng Viên, anh ruột Mai Thảo. Viên rất thông minh, anh trả lời Mai Thảo đi vắng và nhờ Côn, nếu gặp Mai Thảo, nhắn về gấp. Viên ra dấu cho Côn chuồn lẹ. Côn hiểu ý vì đã đoán ra hai khách lạ nón cối, dép râu, nhìn Côn không chớp mắt. Tôi rú ga, vọt mau. Côn ngoái lại, hai khách công an đã phóng ra vỉa hè. ‘Nó đến bắt Mai Thảo’, Côn nói. Tôi đi tìm dấu vết Mai Thảo, không lùng nổi tung tích Mai Thảo. Công an không bắtđược Mai Thảo, đã giả vờ quên tôi. Để tôi kiếm giùm Mai Thảo”84.

Đến chiều ngày 8-4-1976 thì chính Duyên Anh cũng chịu chung số phận. Ôngkể: “Trước đó nửa tiếng đồng hồ, tôi đang băm thịt, nấu cháo nuôi vợ ốm, ông tổ trưởng dân phố của tôi dẫn ông phường trưởng và công an phường đến thăm gia đình tôi, hỏi chuyện sinh hoạt phường khóm và nếp sống mới. Tôi bỏ nồi cháo dưới bếp để tiếp chính quyền. Chừng mười phút, một ông công an cáo lỗi ra về. Mười phút sau, mật vụ ập vào nhà tôi, súng ngắn súng dài đầy đủ. Cộng sản luôn luôn chơi chắc ăn. Họ giả vờ thăm viếng tôi. Khi biết đích xác tôi có mặt ỏ nhà, họ mới đến bắt… Cảnh tượng gia đình tôi, bấy giờ, thật bi thảm. Vợ tôi đang đau nặng, vụt tỉnh, tung mền chạy ra phòng khách. Tôi nhìn cái còng nhãn hiệu Mỹ do cộng sản siết dính trên tay mình, nhìn vợ tôi mặt mày tái mét, nhìn ba đứa con tôi ngơ ngác, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi đợi công an đến bắt tôi sau khi tôi hay tin họ đã bắt Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành, Doãn Quốc Sĩ…”85.

Lý do “bọn phản động cho nổ Hồ Con Rùa” được Huỳnh Bá Thành thuật lại trong cuốn sách mà báo Tuổi Trẻ khẳng định là “một câu chuyện hoàn toàn có thật” là nhằm phá con rùa “ếm đuôi rồng” để cho đuôi rồng quậy phá chế độ mới86.

Duyên Anh, một nhân vật của cuốn sách Vụ Án Hồ Con Rùa, nhận xét: “Bỏ qua thứ văn chương hạng bét và thứ kiến thức tình báo giày dép của Huỳnh Bá Thành, cộng sản khẳng định chúng tôi là tay sai của CIA gài lại. Căn nhà số 104 đường Công Lý (sau này đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa) của vợ chồng Đằng Giao là trụ sở lui tới họp bàn của chúng tôi. Bút hiệu của chúng tôi được nhai nhái hơi hơi giống. Đằng Giao là Đỗ Gia. Chu Thị Thủy là Chu Nữ. Vợ chồng Nhã Ca, Trần Dạ Từ là Lê Dạ, Tú Dung. Nguyễn Mạnh Côn là Nguyễn Côn. Tôi là Vũ Long… Cộng sản đề cao Hoàng Hà Đặng (tên thật Đặng Hoàng Hà) như một ‘lãnh tụ’ ghê gớm, ngang cơ với Hồ Chí Minh thuở hoạt động bí mật. Thật ra, Đặng Hoàng Hà chỉ là anh phóng viên tài tử, con người hiền lành, chưa từng biết tình báo là cái gì. Đưa chúng tôi lên mây, trao mìn về cho chúng tôi, cho chúng tôi thảo luận chiến lược(!) với các đại cố vấn Mỹ trước 1975 rồi khi ‘tóm’ được chúng tôi thì mô tả chúng tôi là những thằng ‘ăn mày’, những thằng ‘đói thuốc phiện thất thểu’ vào tù đền tội, và ‘xưng em’ với nữ công an ngọt xớt”87.

Trên thực tế, trong những ngày ấy cũng có rất nhiều những người chống đối chính quyền bằng hành động, có những người – nhất là giới văn nghệ sỹ – chống đối bằng những lời nói cho sướng mồm, có những kẻ lợi dụng lòng tin, bày đặt chống đối để lừa đảo tiền tình của những người dân không ưa chế độ. Nhưng cũng có những cái bẫy được đặt ở đâu đó.

Ngày 6-04-1976, Chính quyền quyết định tấn công vào nơi được coi là “sào huyệt của bọn phản cách mạng”, đặt trong một khu rừng ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng, bắn chết sáu người, bắt sống “Chủ tịch Trần Duy Ninh và tám tên khác”. Ngày 8- 04-1976, bốn mươi ba mục tiêu ở Sài Gòn bị đồng loạt tấn công: “bắt thêm năm mươi tên, thu giữ một điện đài, hai máy in bạc giả, một máy phát điện, toàn bộ máy móc để xây dựng đài phát thanh, tám mươi súng các loại, 100kg thuốc nổ TNT và một số tài liệu phản động”88.

Hành động này còn mang ý nghĩa trấn áp, vì ngày 29-4-1976, trên cả nước sẽ diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng của Chính quyền Cách mạng: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Thống nhất đầu tiên của Việt Nam. Chính quyền muốn đảm bảo rằng sẽ không xảy ra sự cố. Nhiều người đã bị bắt mà cho đến tận khi nhắm mắt lìa đời vẫn không biết lý do là gì89.

Ngày 7-4-1976, họa sỹ Chóe bị bắt.

Họa sỹ Chóe tên thật là Nguyễn Hải Chí, trong thời gian “đi trung sỹ” tại Phòng III, Bộ Tổng Tham mưu, Chóe nổi tiếng với những tác phẩm biếm họa phản chiến đăng trên báo chí Sài Gòn chế diễu từ Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger, Tổng thống Nixon cho tới Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu; tranh của Chóe cũng châm biếm cả bà Nguyễn Thị Bình và ông Lê Đức Thọ… Ở cơ quan Tổng Tham mưu: “Hạ sĩ Nguyễn Hải Chí bé tí trước đại tướng Cao Văn Viên. Nhưng họa sĩ Chóe thì vĩ đại gấp nghìn lần Cao Văn Viên”90. Trong chiến tranh, biếm họa của Chóe được các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ đăng.

Chính quyền Sài Gòn cũng không ưa gì Chóe. Cuối năm 1974, ông bị bắt do vi phạm lệnh “cấm những người đang phục vụ trong quân đội làm báo”. “Khi đại tướng Tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa đào ngũ trốn khỏi Việt Nam quên đọc Huấn thị, Nhật lệnh, nhờ đại tá thi sĩ Cao Tiêu viết hộ thì hạ sĩ Hải Chí còn nằm ở phòng giam của Cục An Ninh quân đội”91. Ngày 30-4, chính Cách mạng đã mở cửa nhà tù cho Chóe.

Họa sỹ Chóe nhớ lại: “Một hôm đi ngang qua quán cà phê 104 Công Lý của Chu Thị Thủy – Đằng Giao, tôi nghe Nhã Ca kêu, nên có vào ngồi một lúc. Đó là lần duynhất tôi ngồi với họ kể từ sau ngày 30-4”92. Nhưng sự liên đới của Chóe không chỉ bị Huỳnh Bá Thành lưu ý trong lần cà phê ấy.

Trong Vụ Án Hồ Con Rùa, Thành đã viết về mối quan hệ của Tú Dung – Nhã Ca với Barry Hilton: “Viên sĩ quan CIA người Mỹ tên là Barry Hilton cầm tay chỉ việc cho Tú Dung, thì nữ văn sĩ này biến thành một ‘nữ biệt kích’ chống cách mạng mộtcách hoàn toàn không còn lương tri của một người trí thức”. Cách nói đó không chỉ cáo buộc Nhã Ca. Huỳnh Bá Thành, cũng từng là một họa sỹ biếm, biết Barry Hilton đánh giá cao tài năng của Chóe. Barry Hilton đã tuyển tranh của Chóe in thành tập The World of Choe. Sách đã in nhưng vì Barry Hilton là công chức thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ nên phải chấp nhận không phát hành tập sách đả kích Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó.

Chóe bị bắt khi đang làm việc ở tòa soạn báo Lao Động Mới. Ông bị dẫn về nhà ở số 52/8 Quang Trung, Gò Vấp, lúc đã 6 giờ chiều; công an khám xét tới 9 giờ đêm thì giải ông về trại “tạm giam”. Huỳnh Bá Thành là người bắt Chóe.

Ba ngày trước tổng tuyển cử, 26-4-1976, An ninh ra lệnh bắt tiếp Luật sưNguyễn Ngọc Bích. Ông Bích không bao giờ biết vì sao mình bị bắt93. Ông từng làm cho cơ quan trợ giúp Mỹ USAID trong chương trình “cấp căn cước cho người từ mười sáu tuổi trở lên” và sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông nhận được học bổng đi học thêm một năm tại Đại học Harvard, Mỹ. Tháng 4-1975, ông là “chuyên viên đặc nhiệm” cho Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản.

Những cuộc bắt bớ tương tự kéo dài tới năm 1978. Một trong số đó là nhà trí thức cách mạng Hồ Hữu Tường. Từ giữa thập niên 1920 khi du học ở Paris, ông Hồ Hữu Tường từng tham gia phong trào Đệ tứ Quốc tế cùng với các ông Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu. Mặc dù năm 1939, ông Tường từ bỏ chủ nghĩa Marx và phong trào Đệ tứ nhưng năm 1940 ông vẫn bị người Pháp bắt và đày ra Côn Đảo cho tới năm 1944. Ra tù, với tư cách là một nhà trí thức, ông Tường có nhiều bài viết nổi tiếng về cả chính trị, kinh tế và văn hóa phổ biến ở Hà Nội. Năm 1946, ông làm cố vấn cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Đà Lạt. Ông là một trong những người biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt cho bậc trung học của nước Việt Nam, lúc ấy, vừa tuyên ngôn độc lập.

Ông Hồ Hữu Tường bị người Pháp bắt lại năm 1948 và năm 1957, sau khi về sống ở Sài Gòn, bị chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên án tử hình vì làm cố vấn choMặt trận Thống nhất của Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên. Nhờ có sự can thiệp của những nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Albert Camus, Nehru, ông được giảm xuống khổ sai. Ông được trả tự do sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Ra tù, ông được mời làm phó viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh và năm 1967, ông tham gia chính trường với tư cách là một dân biểu đối lập. Ông Hồ Hữu Tường không phải đi cải tạo cho đến khi ông có một vài “sáng kiến chính trị” vào năm1978, năm ông Tường sáu mươi tám tuổi94. Ba lần ông thoát khỏi nhà tù, của người Pháp và của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng tới lần thứ tư thì không. Ngày 26-6-1980, ông Hồ Hữu Tường được đưa từ trại Z30D ở Hàm Tân về Sài Gòn, nhưng trên đường đi thì ông mất.

Năm 1981, trong khuôn khổ một hoạt động của US-VN Reconciliation Project, bà Luật sư Ngô Bá Thành được mời tới Đại học Harvard. Tại đây, bà cho rằng, những người được đi cải tạo là may mắn vì nếu họ bị đưa ra một phiên tòa như Nuremberg thì có thể họ đã bị xử bắn. Luật sư Ngô Bá Thành không biết rằng con gái của ông Hồ Hữu Tường, người tù cải tạo vừa mới chết một năm trước đó, Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm lúc ấy đang dạy lịch sử ở Harvard cũng được người tổ chức chương trình,ông John McAuliffe, mời dự95. Lập luận của bà Ngô Bá Thành không mới đối với Hà Nội nhưng rất ngạc nhiên khi nó được nói ra bởi một luật sư.

Việc đưa vào tù hàng trăm nghìn con người đã buông súng hoặc không hề cầm súng, không bằng một bản án của tòa, sau ngày 30-4-1975, và đặc biệt, câu chuyện đưa 1.652 con người trên tàu Việt Nam Thương Tín vào tù được kể lại sau đây, thật khó để nói là may mắn.

Trưa 29-4-1975, Dân biểu Nguyễn Hữu Chung có được một “sự vụ lệnh” do Tổng thống Dương Văn Minh ký cho phép tàu Việt Nam Thương Tín thực hiện chuyến di tản cuối cùng. Sáng 30-4-1975, khi con tàu này ra tới cửa sông, đã bị B40 bắn theo, giết chết nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm Nhật báo Sống. Con tàu Việt Nam Thương Tín và hàng nghìn người nằm đợi ở đảo Guam gần năm tháng. Sự chờ đợi trước một tương lai vô định trong khi vợ con, cha mẹ vẫn đang kẹt lại quê nhà đã khiến cho nhiều người muốn quay lại Việt Nam, nơi mà họ tin là đã bắt đầu thống nhất và chắc chắn có hòa bình.

Một trong số ấy là Đại úy tình báo Võ Tính96. Ông Võ Tính được người Mỹ tạo điều kiện đưa toàn bộ gia đình di tản. Tuy nhiên, cha ông nói: “Tao chờ đến ngàyđất nước thống nhất, tại sao tao phải đi khi ngày đó gần kề”. Còn cha vợ ông thì khi đó đang mong hai người con trai tập kết từ năm 1954 trở lại.

Ông Võ Tính đã định ở lại Việt Nam, nhưng vào những ngày cuối tháng 4-1975, người Mỹ khuyến cáo là sẽ vô cùng nguy hiểm. Ông Tính được đưa ra Phú Quốc và khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ông được đưa ra Hạm đội 7 để rồi sau đó tới Guam. Cũng như nhiều người lính khác, Đại úy Võ Tính không chắc có bị “Việt Cộng” trả thù trong khi, từ trong thẳm sâu, ông nhận thấy chỉ có Việt Nammới là tổ quốc. Không tìm được lý do hợp lý để bỏ nước, bỏ cha mẹ già, người vợ trẻ và 3 đứa con thơ, Đại úy Võ Tính đã tham gia vận động để người Mỹ cho phép những người Việt quay lại Việt Nam bằng con tàu Việt Nam Thương Tín.

Ngày 29-9-1975, sau khi Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc nhận được sự đồng ý của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, tàu Việt Nam Thương Tín rời Guam trong một buổi lễ tiễn đưa trang trọng: có những phụ nữ mặc áo dài, chào cờ và được truyền hình Mỹ tường thuật. Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ được ủy nhiệm chỉ huy chuyến trở về của con tàu này.

Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín về đến hải phận Vũng Tàu. Mãi tới hôm sau, hai tàu Hải Quân treo cờ đỏ sao vàng mới chạy ra và dừng lại cách tàu Việt Nam Thương Tín gần 200m. Những người lính Hải quân dùng ống nhòm quan sát rất kỹ và sau mấy giờ, họ hướng dẫn tàu Việt Nam Thương Tín chạy ngược ra phía miền Trung. Những người trở về bắt đầu linh cảm điều gì đó bất thường nhưng họ vẫn còn hy vọng và vẫn còn chờ đợi.

Tới Nha Trang, tàu bị dẫn vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Tất cả mọi người đều bị dồn lên những chiếc xe bít bùng và khi được chở tới Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II thì mọi người được lệnh “phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào phòng giam”. Trừ một đứa bé khi ấy 7 tuổi, tất cả đều phải đi tù, người ít nhất 9 tháng, người lâu nhất – Trung tá Trần Đình Trụ – phải ở tù tới 13 năm.

Tù và cải tạo

Cho dù ở tù hay cải tạo thì đều là thân phận của những người mất tự do. Nhưng được chuyển từ Đề lao Gia Định hay Chí Hòa ra trại “cải tạo” vẫn là những gì mà những “người tù” thèm khát. Duyên Anh viết: “Nếu tôi đã phục vụ (trong quân đội) như Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, Tô Thùy Yên…97, tôi sẽ đóng một khoản tiền ăn mười ngày cho đơn vị tôi trình diện học tập ở trường Gia Long, ở trường Lasan Taberd hay ở cô nhi viện Don Bosco, chẳng hạn. Rồi tôi chờ đợi xe Molotova, xe GMC, xe đò nữa, chở tôi đến trại nào đó ở Long Giao, ở Suối Máu, ở Long Thành. Tôi đi tù với hàng ngàn, hàng vạn bạn bè, tôi không việc gì mà sợ hãi. Ít ra, hai ba năm đầu, bộ đội họ quản lý tôi cũng dễ dãi hơn công an. Tôi đi lại thong thả khắp trại và đêm đêm cửa phòng tôi không bị khóa chặt. Nhưng tôi đã thiếu vinh hạnh làm sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi là nhà văn phản động và công an đã đến còng tay tôi, đưa tôi đi một mình”98.

Khi đã vào những nhà tù như số 4 Phan Đăng Lưu, số 3c Tôn Đức Thắng hay Chí Hòa thì mới thấy được đi cải tạo cũng là một ân huệ. Luật sư Nguyễn Ngọc Bích kể: “Sau một năm ở xà lim, tôi được đưa ra phòng giam tập thể, giam chung với sáu mươi chín người khác trong một phòng. Mỗi người được một phần sàn xi măng rộng 60cm dài hai mét và được phát một chiếc chiếu. Trong phòng, có các tướng lĩnh,các bộ trưởng và các viên chức cao cấp của Sài Gòn. Tôi nhận ra trong đó có những người cùng bị bắt đợt tháng 4-1976 với tôi”.

Bên cạnh những người tù không có án như Đoàn Kế Tường, Linh mục Thiện, Luậtsư Vũ Đăng Dung, Dân biểu Võ Long Triều, Nguyễn Ngọc Tân, Như Phong, Lâm Văn Thế, Nguyễn Ngọc Tân, Lê Xuyên… ở các đề lao cũ của Sài Gòn còn có các nhà “tư sản mại bản” mà trong đó có một số người có được “vinh dự” ra tòa như Phạm Quang Khai, Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài, Nguyễn Công Kha, Bùi Kim Bảng, Nguyễn Văn Trương (Khai Trí), Trương Văn Khôi… và cả những “tên phản động” bị bắt trong vụ Nhà thờ Vinh Sơn như Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng, linh mục NguyễnVăn Nghị, linh mục Nguyễn Văn Chức, thiếu tá Tiếp…

Cuối thập niên 1970, ngay cả người Sài Gòn cũng không mấy khi có gạo trắng, cá tươi, cơm tù không thể nào tránh được cá thịu, gạo hẩm. Nước cũng là nỗi khát khao của các tù nhân. Ở Chí Hòa, tù nhân Đoàn Kế Tường đã từng tổ chức biểu tình “đòi đi tắm”. “Họ bị cai ngục dẫn đến một phòng trống. Bọn trật tự cầy cáo trói tay họ lại và đấm đá hội đồng. Người nào cũng tím bầm mắt, máu khô còn ứa trên mép. Rồi họ bị tống vào biệt giam khu FG. Không chịu nổi biệt giam Chí Hòa, họđành làm Tự kiểm nhận lỗi. Riêng Đoàn Kế Tường kiên trì. Tất cả lắc đầu, thở dài”99.

Nhiều thứ bệnh đi theo người tù như tiêu chảy, kiết lị… nhưng thuốc men gần như không có; những năm đó, ngay cả công an, bộ đội và dân chúng cũng đều phải dùng “xuyên tâm liên chữa bá bệnh”100. Nhưng, không có gì làm khổ người tù như ghẻ, lở. Theo Duyên Anh: “Ghẻ đề lao ranh mãnh lắm. Nó cứ nhè ‘của quý’ mà lập chiến khu. Tù nhân này cởi truồng, chổng mông để tù nhân nọ bôi thuốc. Bôi xong, vội vàng lấy quạt lia. Vì thuốc xót vô cùng”101. Trong hoàn cảnh ấy, những người tù ở Đề lao Gia Định, Chí Hòa coi việc được đưa tới các trại cải tạo là giảm nhẹ.

Trước Tết 1977, hai phần ba văn nghệ sĩ và ký giả, trong đó có Nhã Ca, được tập trung tại khu A, Chí Hòa, học tập một tháng rồi được thả về. Những người như Doãn Quốc Sĩ, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Đằng Giao, Trần Dạ Từ, Chóe, Duyên Anh… phần lớn vẫn “ở tù”; cá biệt, những người cứng đầu như Đoàn Kế Tường thì bị giữ lại suốt 10 năm ở Chí Hòa. Trong khi đó, một số khác được chuyển từ chế độ tù sang “cải tạo”.

Nhưng đấy là câu chuyện xảy ra trước năm 1978. Khi Chiến tranh Biên giới Tây Nam xảy ra và ở phía Bắc, Trung Quốc bắt đầu đe dọa, các trại cải tạo được chuyển giao từ quân đội sang cho công an. Theo Đại úy Phan Nhật Nam: “Chúng tôi bắt đầu chịu cảnh tội tù khắc nghiệt”.

Ngày 8-5-1975, sau khi trình diện, ngoại trừ Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị bệnh nặng, các sỹ quan cấp tướng102 và cấp tá bị giữ lại để học tập đợt một tại Ðại học xá Minh Mạng, Chợ Lớn trước khi đưa về Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Sau đó, các tướng được đưa ra Bắc bằng máy bay trong khi các sỹ quan cấp thấp hơn được đưa ra Bắc bằng tàu thủy và xe lửa. Nơi đến của những người bị coi là “nguy hiểm” này là các trại giam Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Hà Tây, Nam Hà, Thanh Hóa, Nghệ An.

Như những người tù thâm niên khác, Trung tá Phan Lạc Phúc đã trải qua những nhà tù gian khổ nhất: Trại Long Khánh – Suối Máu, Liên trại 2 Sơn La, Trại Yên Hạ (Sơn La), Trại Tân Lập (Vĩnh Phú), Trại Thanh Phong (Thanh Hóa), Trại Tân Kỳ(Nghệ Tĩnh), Trại Ba Sao (Hà Nam Ninh), Trại Xuân Lộc (Đồng Nai). Yếu tố chính để Phan Lạc Phúc chịu cải tạo lâu là vì ông đã từng học thông tin báo chí tại Hoa Kỳ, từng làm chủ bút Nhật báo Tiền Tuyến, báo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau một năm bị giam ở trại Long Giao và Suối Máu, ngày 10-6-1976, ông Phúc được đưa ra Bắc trong đợt đầu tiên. Ông viết: “Chúng tôi đang ngồi ở sân tập kết trại Suối Máu thì người bạn thân cùng ngành của chúng tôi là Tạ Ty chạy hốt hoảng: ‘Đi chuyến này hở. Ra Bắc đấy. Thế là năm niên đấy. Có nhắn gì về nhà không?’ Tôi và Hùng nhìn nhau cười nói với bạn: ‘Nói hộ với gia đình là tụi tôi đi raBắc ngày hôm nay. Ở lại khỏe nha’. Người bạn họa sĩ tài danh của miền Nam ngậm ngùi tạm biệt ‘Hẹn gặp lại nhau sớm ở Sài Gòn…’ ”103.

Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận nhớ lại buổi tối ông bị đưa ra khỏi Sài Gòn: “Ngày 1-12-1976, lúc 9 giờ tối, bất thình lình tôi bị gọi cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị xích người này với người kia từng hai người một và được đẩy lên mộtxe cam nhông. Cuộc hành trình ngắn đưa chúng tôi tới Tân Cảng. Chúng tôi thấy một con tàu trước mặt, hoàn toàn chìm trong bóng tối để dân chúng khỏi để ý. Chúng tôi bị đưa lên tàu đi ra miền Bắc… Tôi bị đem xuống hầm tàu, nơi chứa than. Chỉ có một ngọn đèn dầu nhỏ leo lét cháy. Chúng tôi tất cả là 1.500 người, trong một tình cảnh không thể tả được… Ngày hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào hầm tàu, tôi nhận ra chung quanh tôi những gương mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân khác. Bầu không khí sầu thảm như đám tang. Một tù nhân đã tìm cách treo cổ tự tử với một sợi dây thép. Những người khác gọi tôi. Tôi đến nói chuyện với anh”104. Trung tá Phan Lạc Phúc cũng được đưa ra Bắc bằng tàu và chuyến đi của ông cũng gian khổ không kém gì chuyến tàu của Đức cha Nguyễn Văn Thuận, nhưng những gì mà họ gặp trong quãng đường chuyển tù chỉ mới là những thử thách ban đầu105.

“Thăm Nuôi”

Thời gian cải tạo càng tăng thêm thì tiền bạc của người nhà tù nhân cũng như ngân sách của “Cách mạng” càng dần cạn kiệt. Từ Tết năm 1976, các suất ăn bắt đầu bị cắt bớt; đến cuối năm 1977, lương thực của tù nhân được thay bằng lúamạch, thường gọi là bo bo. Theo Đại úy Tạ Chí Đại Trường, tới mùa Thu năm 1978, mỗi người chỉ còn 300g gạo một ngày. “Rau muống, rau lang không kịp ra đọt non, rau dại cũng bị vặt khi vừa mới nhú. Củ chuối bị đào hết lên”.

Không phải học viên cải tạo nào cũng biết rằng lúc ấy ở “ngoài xã hội”, cái bao tử của thường dân cũng không no đủ hơn. Chính quản giáo, ban ngày “hắc” thế nhưng đêm xuống cũng tìm gặp những người tù vừa được thăm nuôi để “xin tý mỡ”. Những ngày có đồ thăm nuôi là những ngày trong trại tưng bừng. Những láthư viết từ trại những năm tháng về sau chủ yếu là liệt kê các “nhu yếu” thăm nuôi. Ông Tạ Chí Đại Trường kể: “Cũng có người vẫn giữ được tiền, mỗi lần thăm nuôi lại có khuân có vác, nhưng cũng có người chỉ có thể mang theo mấy ổ bánh mì, lủi thủi với chồng: Không biết lần sau có còn vay được tiền đi thăm anh”. Dần dà, những người tù bắt đầu biết thăm nuôi đang trở thành một gánh nặng cho nhữngngười mẹ, người vợ ở quê cũng đang đói khổ. Để đi đến các trại cải tạo thăm chồng, thăm cha, những người con lính, vợ lính đã phải nếm biết bao tủi nhục.

Từ năm 1978, họa sỹ Chóe bị đưa lên trại Gia Trung, Gia Lai. Hai năm ở trại “tạm giam” của cơ quan An ninh Điều tra, số 4 Phan Đăng Lưu, Chóe chỉ được nhận đồ chứ không được gặp người nhà. Hai năm ấy, do phải nằm trên sàn xi măng,chân ông, vốn phong thấp, đã gần như bị liệt. Đến Gia Trung, được thăm nuôi thì đường sá lại quá xa xôi, cách trở.

Vợ Chóe, bà Nguyễn Thị Kim Loan, năm ấy phải một mình nuôi bốn đứa con, đồ đạc trong nhà gần như đã bán hết. Cũng như hàng triệu gia đình Sài Gòn, nhà bà cũng được Chính quyền cấp cho “sổ gạo”, nói là gạo nhưng những năm ấy thường chỉ có bo bo hoặc khoai; tiêu chuẩn một ký gạo được Nhà nước bán thay thế bằng 2 ký khoai. Không chỉ những người vợ có chồng bị đưa đi cải tạo, trong “chế độ mới” đàn ông trở thành vai trò thứ yếu vì không có việc làm, cuộc sống chỉ còn có thể trông cậy vào tài xoay xở, mua bán lặt vặt của những người phụ nữ.

Bà Loan lả một phụ nữ công giáo di cư từ Phát Diệm, đã từng làm thư ký trong Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng hòa, từng sống hết sức phong lưu nhờ nhuận bút những bức tranh biếm của chồng đăng trên các báo Sài Gòn, báo Mỹ. Từ khi chồng “đi Gia Trung”, bà Loan phải mua từng bộ đồ cũ, từng bịch xà bông, chen chúc trên xe đò, giấu giếm đem về An Giang quê chồng, bán, kiếm từng đồng chênh lệch giá.

Kiếm tiền để đi thăm nuôi đã khó, mỗi một chuyến đi từ Sài Gòn lên Gia Lai là cả một “đoạn trường”. Trước hết, phải “chạy” xin cái giấy của Phường, rồi từ 3 giờ chiều đã phải ra bến xe xếp hàng. Chính sách “cải tạo nhân đạo” đã biến những hãng xe đò tư nhân như Phi Long, Phi Hổ một thời khoanh tay mời khách mua vé, mời khách lên xe, trở thành những “chuyến xe bão táp”. Có mặt từ chiều ở bến xe, đợi đến 3 giờ sáng “xe khách quốc doanh” bắt đầu bán vé, chen chúc, la ó, nhưng có khi đến lượt mình thì vé hết vì xe ít, nhà nước ưu tiên bán trước cho cán bộ có “giấy công tác”.

Không đi được là bi kịch vì tiền bạc giành dụm mua cá, mua thịt kho để lâu không được. Nhà nước sợ tù tích trữ thực phẩm trốn trại nên không cho thăm nuôi đồ khô, ngay cả mắm ruốc, muối mè. Lên xe được rồi cũng vô cùng thắc thỏm, những năm ấy nền kinh tế không còn “lệ thuộc nước ngoài”, phụ tùng không có, xe cộ hỏng hóc giữa đường là chuyện thường. May mắn, chạy suốt ngày ra tới Phước Tài thì đêm, không được lên đèo An Khê, ngồi ngủ trên xe cho tới 6 giờ sáng.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Loan: Từ chỗ xe dừng vào tới trại hơn ba cây số. Quản giáo không cho thuê người gánh. Họ nói, “Giờ này mà các chị vẫn không bỏ được cái thói tiểu tư sản à”. Dân Sài Gòn gánh không quen, đau vai, đành cứ phải xách. Xách giỏ thứ nhất lặc lè đi lên chừng trăm thước, quay lại xách giỏ thứ hai. Đi ba cây số mà mất tới hơn hai giờ. Những hôm xe chết máy, lên tới trại đã là nửa đêm thứ hai, trời tối như bưng, lũ đàn bà, con nít cứ nhắm mắt mà đi không nhận ra lối rẽ, bước thẳng vô mấy nấm mồ mới, hét lên. Quản giáo chạy ra mới biết đã lạc vào trại khác, phải ngủ lại đấy, chờ sáng hôm sau tìm đến chỗ giam chồng. Lặn lội xa xôi như vậy nhưng rồi cũng chỉ được nhìn thấy mặt chồng mười lăm phút. Trên một cái bàn cây dài, quản giáo ngồi hai đầu, một bên là “phạm”, một bên là thân nhân, họ chỉ kịp trao đổi với nhau những lời vội vã.

Năm 1978, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường cũng đang học tập ở trại Gia Trung, kể: “Có người xách bịch đồ thăm nuôi về phòng mà băn khoăn không biết ở ngoàilàm sao vợ nuôi nổi mấy đứa con lại còn chạy được tiền đi thăm mình. Nhưng cũngcó người thản nhiên, phần vì đã quen đòi hỏi, phần vì không hình dung hết những gì đang xảy ra, liên tục gửi thư về giục gửi cho thứ này, thứ nọ. Thảm cảnh gia đình xảy ra từ đó”.

Đại úy Đỗ Duy Luật, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 248, Sư 18. Ngày 19-4-1975, đơn vị ông được điều từ Bình Tuy về Long Khánh, tham gia trận Long Khánh gây tổn thất nhiều cho quân Giải phóng. Hai ngày sau khi ra trình diện, ông Luật bị đưa lên Long Giao. Từ tháng thứ hai, ông được viết thư về nhà nhưng chỉ cho khai số hiệu trại là “L2T2” chứ không cho nói rõ địa danh. Vợ ông, cũng như vợ của nhiều người lính khác, phải đi hết trại này sang trại khác, nấp sau những bụi cây cạnh bờ rào dò hỏi với hy vọng mong manh tìm chồng. Những chuyến đi như vậy làm khánh kiệt dần chút gia tài mọn của những người vợ lính.

Từ năm 1978, ông Luật được di lý từ Sơn La về trại Ba Sao, Phủ Lý. Mãi tới cuối năm 1979, vợ ông mới tìm được ra thăm. Đó là lần gặp nhau cuối cùng của hai vợ chồng. Khi trở về bà phát bệnh ung thư rồi chết vào đầu năm 1980. Cũng trong năm ấy, ông được chuyển từ Ba Sao về Hàm Tân, vào trại Z30D. Tháng 6-1981, ông được tha với lý do là vợ chết. Khi ông Luật trở về, căn nhà nhỏ của ông ở số 2 Duy Tân không còn nữa, vợ ông đã phải bán, trang trải chi phí cho những chuyến đi thăm chồng và nuôi ba con nhỏ.

Bán nhà chưa phải là bi kịch lớn nhất. Theo Đại úy Tạ Chí Đại Trường: “Có những người vợ đã phải đi bán thân. Có những người vợ đã phải sử dụng thế mạnh của đàn bà để kinh doanh, buôn bán. Khi người trụ cột kinh tế là đàn bà, con gái và trẻ em, lại phải tìm cách qua mặt công an, luồn lọt công quyền, ứng biến khi sơthất ngay cả trên đường xa… thì không thể nào trách những người phụ nữ ấy. Chuyện một bà tứ tuần có mang với anh tài xế xe hàng, một bà vợ sỹ quan bán chợ trời cặp với anh lính cũ của chồng mình… cũng không có gì bất ngờ khi nó được đưa vào trại”106.

Cũng có những người tù cải tạo thương vợ thật lòng viết thư về nói: “Thôi, đời anh như vậy là hết rồi, em nên đi tìm hạnh phúc mới, coi có người bộ đội nào…”.

Điều đó lại chạm vào tự ái của một số người quản giáo duyệt thư, nhiều anh đã kiêu hùng, mắng: “Nhà nước giam giữ các anh không phải nhằm mục đích chia rẽ giađình, và chúng tôi chiến đấu không phải là để cướp đoạt vợ con của các anh! ”107. Có lẽ, nếu có ai mất vợ thì cũng chỉ vì thời thế. Vợ của nhà thơ Tạ Ký đã đi lấy chồng“Việt Cộng” khi ông còn bị giam ở trại T6, Long Khánh, cùng với nhà sử học Tạ Chí Đại Trường và họa sỹ Trịnh Cung.

Trại T6 có một nhà xí hai ngăn nằm ngay rìa đường vào rẫy của dân, sát bờ rào dây kẽm gai. Thời gian đầu, thân nhân chưa được chính thức thăm nuôi, các trại viên T6 có sáng kiến dùng nhà xí để nhận tin gia đình và trò chuyện với người thânmà không bị quản giáo phát hiện. Các trại viên thường thay phiên nhau ra ngồi “trực” ở đó để chờ nhận tin nhắn, nhiều tù nhân đã gặp được người thân, những người cất công đi tìm chồng, tìm con, tìm cha, dù chỉ để nhìn thoáng thấy mặt nhau trong giây lát hay nói thật nhanh một câu báo tin nhà. Họ thường phải lên đấy trước, mượn quần áo làm đồng, cuốc xẻng của những nông dân sống gần trại để ngụy trang và nhờ chính những nông dân này che giấu, men theo hàng rào kẽm gai như những người dân đi làm ruộng tình cờ ngang qua hố xí. Cũng chính nơi đó, những người tù nôn nao ngồi chờ…

Một ngày cận Tết năm 1976, đúng vào phiên “trực hố xí” của họa sỹ Trịnh Cung, ông nhận được tin nhắn: Tạ Ký gặp mẹ lúc 2 giờ trưa nay!”. Trịnh Cung vội báo tin cho Tạ Ký. Khi đó, theo ông Trịnh Cung: “Đó là một tin vui bất ngờ của Tạ Ký vì đãnửa năm chưa được thăm nuôi. Nhưng thông tin mà anh nhận được từ mẹ chỉ là: Vợ con nó lấy thằng Việt cộng rồi. Ở nhà có mẹ lo sắp nhỏ, con yên tâm. Khi đượcphép, mẹ sẽ đi thăm”108. Không riêng Tạ Ký, không ít sỹ quan “Ngụy” từ trại cải tạo, khi đột ngột trở về đã phải đột ngột bước ra khỏi nhà mình, vì “đứa con ngày chia tay còn thơ không còn nhận ra mình, trong khi trong nhà lại treo cái nón cối”109.

“Học tập”

Đầu tháng 4-1865, khi viết thư đầu hàng gửi Đại tướng Tư lệnh Quân miền Bắc Ulysses S. Grant, Đại tướng Robert E. Lee đã xin cho những người lính của ông được mang lừa ngựa, mà họ đã đem từ nhà tham chiến, trở về quê cũ làm ăn.

Còn Đại tướng Dương Văn Minh, cuối tháng 4-1975, đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Trong những động thái chính trị trước đó, không có dấu hiệu nào cho thấy Tướng Minh và “bộ tham mưu” của ông đã lo lắng cho số phận của hàng triệu binh sỹ miền Nam.

Cũng thật khó để trách tướng Minh. Trước khi tuyên bố đầu hàng, ông đã không có cơ hội nào để thương lượng với những người chiến thắng. Nhưng sự khác nhau căn bản giữa hai cuộc chiến tranh nằm ở chỗ: ở Mỹ, năm 1865, những chiến binh miền Nam được các tướng thắng trận mô tả như “một đoàn quân tả tơi, nhưng hiên ngang”, còn ở Việt Nam, năm 1975, những người lính miền Nam Việt Nam bị những người Chiến thắng gọi là “tay sai”, là “dã thú”.

Chưa bao giờ Chính quyền cho công bố chính xác số lượng người bị đưa đi cải tạo110. Theo số liệu dẫn trong Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị, tính tới tháng 9-1982 chỉ riêng ở Sài Gòn, Chính quyền đã tha về hơn ba vạn sỹ quan đã từng là tù cải tạo. Tháng 1-1988, hàng ngàn tù cải tạo đã được tha. Từ đó, gần như toàn bộ số tù cải tạo ở tất cả các trại giam, kể cả từ trại Nam Hà, khoảng 210 người, đều được đưa về trại Z30D. Họ gồm các sỹ quan cấp tướng, cấp tá, hoặc những người từng phục vụ trong các lực lượng như an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt, tình báo. Nhiều người trong số họ đã phải ở tù tới đầu năm 1992111.

Tướng Trần Văn Trà và ông Cao Đăng Chiếm, hai đại diện của quân đội và công an trong Ủy Ban Quân quản, đảm trách việc chuẩn bị “Chiến dịch X-1”. Tuy nhiên, theo ông Võ Văn Kiệt, Đảng ủy Quân quản và Trung ương Cục cũng đã bàn luận rất nhiều, không chỉ là tính những thủ thuật để hàng trăm nghìn sỹ quan quân đội miền Nam tự mang khăn gói vào tù, mà còn đề ra mục tiêu chính trị cho việc tập trung cải tạo. Chủ trương đưa những sỹ quan cao cấp, những người có “nợ máu” đi cải tạo lâu dài cũng không hẳn là để “trả thù” mà, theo ông Kiệt, còn “để họ thấy sai, thấy sự lầm lạc và hiểu cuộc chiến tranh của Cách mạng là chính nghĩa”112.

Có thể đọc được suy nghĩ ấy của những người như ông Kiệt trong các bài xã luận đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngay trong những ngày “Chiến dịch X-1” đang diễn ra113.

Ngày 11-6-1975, hạ sỹ quan, binh lính bắt đầu ngày “học tập” đầu tiên. Ngày 12-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng có bài “Thấm nhuần tinh thần nhân đạo Việt nam”, xã luận: “Cách mạng thắng lợi, giải phóng đồng bào ta, đồng thời cũng giải phóng luôn cả người lính nguỵ. Cuộc đời làm lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ đã chấm dứt. Họ khỏi phải chết. Họ thoát khỏi kiếp sống cực nhục trong đội quân chống lại tổ quốc. Đó là hành vi nhân đạo đầu tiên rất căn bản của cách mạng đối với họ. Giờ đây, dù họ có bị bắt giam hay không, họ vẫn là những tù, hàng binh trong tay các lực lượng vũ trang giải phóng… Tuy nhiên, nếu chúng không chống cự thì ta cũng không giết chúng. Chúng cũng là con người Việt Nam. Đế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Đồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính”114.

Ngày 15-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng xã luận tiếp:

“Hòa hợp là một chính sách lớn của cách mạng. Muốn hoà hợp dân tộc thì điều cơ bản và đầu tiên là phải làm sao cho mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc có một lập trường thống nhất làm cơ sở. Giặc Mỹ và bọn tay sai bán nước dã dùng một chính sách chia rẽ tệ hại nhất. Chúng gây thù hằn giữa các thành viên của dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa các địa phương. Chúng cố tình chia cắt nước ta…

Nguy hiểm hơn cả là chúng đã dùng mọi thủ đoạn để nhồi nhét vào đầu óc của một số người chủ nghĩa chống cộng điên cuồng để làm bình phong che dấu mục đích xâm lược. Bởi vì chúng biết rằng những người cộng sản là những người yêu nước nhứt, là những người chống đế quốc quyết liệt nhứt… Làm sao có thể hoà hợp giữa những người yêu nước với những người chống lại tổ quốc, dù dưới bất cứ hình thức nào và nhãn hiệu nào? Súng đã nộp mà tư tưởng chống cách mạng vẫn còn thì hoà hợp làm sao được?…

Vì vậy, hoà hợp dân tộc là trước hết, họ phải gột sạch những nọc độc tư tưởng giặc Mỹ đã gieo rắc, từng bước tiếp thu ánh sáng chính nghĩa của dân tộc. Đợt học tập tổ chức cho binh sỹ nguỵ quân, nguỵ quyền hiện nay đã mở ra cho họ một cơ hội tốt để làm việc đó. Qua học tập, họ phải thấy cho rõ âm mưu và tội ác của giặc Mỹ và tay sai, phải nhận ra chính sách khoan hồng đầy nhân nghĩa của cách mạng, phải thấy hết lỗi lầm của mình đối với dân tộc và con đường tất yếu họ phải đi từ đây để làm lại cuộc đời, trở thành người công dân Việt Nam chân chính. Đó là con đường duy nhất đưa họ đi đến hoà hợp với đông đảo các tầng lớp nhân dân”115.

Cho tới đầu thập niên 1990, quan điểm của Đảng về việc tập trung cải tạo vẫn còn khắc nghiệt. Thông báo ngày 20-2-1991 của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương “Về những luận điệu xuyên tạc của Bùi Tín trên đài BBC” viết:

“Việc cải tạo những phần tử đã gây nhiều tội ác hoặc còn mang nặng tư tưởng chống cộng, thù địch quyết liệt với cách mạng thì hoàn toàn không phải là vi phạm nhân quyền, càng không phải là việc làm trái với chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chính là việc làm cần thiết để bảo vệ cuộc sống hòa bình, yên vui của nhân dân, bảo vệ nhân quyền cho mọi người và để tăng cường hòa hợp dân tộc”.

Đúng như ông Võ Văn Kiệt thừa nhận, đòi hỏi những sỹ quan thua trận “tiếp thu ánh sáng chính nghĩa” từ những người đưa mình vào tù là một yêu cầu quá cao. Cán bộ quản giáo miền Bắc, những người trực tiếp giáo dục lại các “ngụy quân và ngụy quyền” là những người lớn lên trong một xã hội hoàn toàn khép kín. Những giai thoại nói mấy chú bộ đội ngày mới vô, thấy Sài Gòn giàu có, đã giữ tư thế cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng cách khoe: “Ngoài đó, ti vi tủ lạnh chạy đầy đường”, không chỉ là những chuyện kể khôi hài. Chuyện bộ đội tiếp quản biệt thự, cao ốc, nhìn thấy cái bồn cầu sứ trắng tinh tưởng là bồn rửa rau, cho rau vào, giật nước, thấy rau trôi mất bèn kêu: “Bọn tư bản nó gài bẫy” cũng không hẳn là tiếu lâm chính trị.

Hầu hết bộ đội miền Bắc đều ra đi từ những làng quê nghèo đói. Đến khi vào tới Sài Gòn thì đến Đài Tiếng nói Việt Nam cũng ít có dịp được nghe, sách báo thì ngay cả Thép Đã Tôi Thế Đấy, Rừng Thẳm Tuyết Dày… cũng không đủ đọc. Họ được dạy rằng người dân miền Nam đang phải rên xiết, lầm than; nhiều thanh niên miền Bắc trong ngày 30-4-1975 còn ước ao được nhanh chóng vào Nam để giáo dục những thanh niên lầm đường lạc lối.

Không ít quản giáo khi tiếp xúc với những sỹ quan được đào tạo chính quy của miền Nam đã nhận ra sức hiểu biết của mình đang ở đâu. Cũng có những người vì mặc cảm đã dùng quyền uy lấn át. Nhưng cũng có những người tiếp tục trung thành với những gì được dạy. Sự say sưa làm “thầy” của họ đã tạo ra không ít tình huống trớ trêu.

Theo ông Nguyễn Văn Trân116, người được bổ sung vào Trung ương Cục đầu tháng 4-1975, chủ trương từ trước của Bộ Chính trị là: Số nguy hiểm thì đưa ra miền Bắc cải tạo, số không nguy hiểm thì để lại trong Nam. Bản thân những người trong cuộc cũng nhận thấy những người được cải tạo ở miền Nam thì cuộc sống có phần nhẹ nhàng hơn, ngắn hạn hơn.

Những người “tù nặng, tù lâu” thì ra Bắc. Những năm đầu việc cải tạo do bộ đội quản lý, kể từ sau cuộc chiến tranh biên giới 17-2-1979, tù cải tạo được chuyển dần sang các trại ở Nam Hà, Thanh Hóa.

Không chỉ bị hành hạ về tinh thần, thật khó lý giải vì sao những người chiến thắng lại giam giữ những đối thủ đã đầu hàng mình lâu như vậy. Cho tới đầu thập niên 1990, những người lính biệt kích bị bắt hồi đầu thập niên 1960, những tù binh “Ngụy” bị bắt hồi Mậu Thân (1968), hồi Chiến dịch Hạ Lào 1971 vẫn còn phải đang “cải tạo”.

Nhà thơ Tô Thùy Yên, sau mười năm ở tù về đã viết:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin ruới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này…

Cải tạo không chỉ là câu chuyện của từng số phận mà còn là một phần trong “cuộc bể dâu” cuối thế kỷ 20 của Việt Nam.

Trích trong cuốn “Bên thắng cuộc “/ Huy Đức / Chương 2: Cải tạo

Bàn về thói ưa nói xấu sau lưng của nhiều người Việt

Chẳng riêng gì chỉ người Việt mới có thói nói xấu. Thế nhưng, để đến mức phổ biến, có thể dễ dàng bắt gặp thì nó cũng là nét đặc trưng trong tính cách người Việt. Đó là một tính xấu và cần phải loại bỏ trong đời sống xã hội. Có thế mới mong xã hội phát triển, hiện đại.

Vì sao người Việt ưa nói xấu sau lưng?

Nói xấu vì không muốn ai hơn mình

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM, nói xấu là hậu quả của tính cộng đồng. Người Việt trồng lúa nước nên sinh sống thành những làng xã. Ở đó, họ quen biết nhau, quan tâm đến nhau, chia sẻ với nhau, hướng về nhau, từ đó tạo ra tính cộng đồng, cộng cảm. Cũng trong cộng đồng ấy, mỗi người có một vị trí nhất định nên không ai muốn mất vị trí ấy, từ đó đẻ ra bệnh sĩ diện. Cũng vì sĩ diện, không muốn ai hơn mình mà sinh ra nói xấu nhau.

Ông Thêm bổ sung: Chẳng bao giờ người ta lại đi nói xấu một người kém mình cả. Với người kém mình, người Việt luôn có xu hướng giúp đỡ họ. Ngược lại, với những người ngang bằng mình mà đang có xu hướng vượt lên hoặc những người cao hơn mình ở một phương diện nào đó thì người Việt có khuynh hướng nói xấu nhằm cào bằng họ xuống ngang hàng với mình, dìm người ta xuống vì không muốn họ hơn mình. Vì thế, cứ thấy ai hơn mình là tập trung vào “đánh hội đồng”. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã thốt lên: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”.

Vì sao chỉ nói xấu sau lưng?

Thừa nhận người Việt không muốn người khác hơn mình nên nói xấu, thế nhưng GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng, việc nói xấu ấy chỉ diễn ra sau lưng, nghĩa là người bị nói xấu không hề nghe được.

Lý giải điều này, ông Thêm cho rằng, đó là do văn hóa Việt là nền văn hóa trọng tình, trọng sự hòa hiếu nên thường tránh đối đầu trực tiếp. Nói xấu trước mặt, xúc phạm trực tiếp đến thể diện người khác sẽ khiến người ta “mất mặt”, gây thù chuốc oán là điều người Việt luôn né tránh. Vì vậy, việc nói xấu luôn chỉ diễn ra sau lưng để người bị nói xấu không nghe thấy, thay vì nói thẳng.

Thậm chí, nhiều khi dù ghét, dù không thích người nào đó, nhưng người Việt thường có xu hướng không thể hiện rõ mà còn khen, kể cả tâng bốc dù thực sự lời tâng bốc ấy là không có cơ sở, cao quá so với những gì người ta có. Nhiều khi, lời khen đó còn mang tính nịnh nọt.

Càng khen quá lời càng dễ nói xấu sau lưng

Cũng theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, việc khen trước mặt thường là xã giao, là đãi bôi. Khi nghe lời khen không đúng với sự thực thì người được khen rất dễ nhận biết. Do vậy nên cảnh giác.

Còn khi lời khen của một người không chỉ là xã giao, đãi bôi, mà khen quá lời, tâng bốc, mang tính nịnh nọt thì khả năng nói xấu sau lưng của người đó càng lớn. Bởi khi một người khen quá lời thì thường là có mưu đồ gì đó. Có thể là sự cầu cạnh, lợi dụng, tôi khen anh vì anh có quyền lực, anh sẽ ưu ái cho tôi, tôi sẽ được việc… Người không ưa xu nịnh thì sẽ gạt đi những lời khen không có thật ấy. Nhưng thực tế, người thích xu nịnh, thích được khen trong xã hội cũng không ít. Khi nào mà sự lợi dụng ấy không còn nữa hoặc không được như mong muốn thì người ta sẽ “trở về với thực tại”, sẽ quay ra nói xấu người mà trước đó họ đã tâng bốc.

“Sự nói xấu, suy cho cùng là cái nhìn thiển cận. Bởi khi đó, người ta sẽ chỉ chằm chằm nhìn vào mặt xấu của người khác, cố tình lờ đi mặt tốt của nhau. Đáng tiếc là trong một xã hội trọng tình thì sự thiếu khách quan ấy lại khá phổ biến”, ông Thêm cho biết.

Người nào hay nói xấu?

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, những nền văn hóa âm tính dễ mắc tật nói xấu hơn những nền văn hóa dương tính. Những nhóm người âm tính dễ mắc tật nói xấu hơn những nhóm người dương tính. Xét về giới thì phụ nữ nói xấu nhau nhiều hơn nam giới. Xét về công việc thì người làm những công việc nhàn hạ, rỗi rãi nói xấu nhau nhiều hơn người phải lao động chân tay vất vả.

Lại vì muốn nói xấu thì phải có người cùng tung hứng nên người làm công việc tiếp xúc với nhau nhiều dễ mắc tật nói xấu hơn người làm những công việc đơn độc. Bởi vậy, theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, “dân công chức văn phòng mắc tật nói xấu cao hơn những người làm các công việc khác, vì thời gian nhàn hạ nhiều, lại do quản lý lỏng lẻo nên họ có nhiều cơ hội để ngồi túm năm tụm ba buôn chuyện. Còn những người lao động chân tay, càng vất vả thì người ta càng ít nói xấu vì thời gian nghỉ ngơi còn hạn hẹp. Điều đó lý giải vì sao những người lao động chân tay thường bộc trực, có sao nói vậy, thậm chí nhiều khi người ta nói “vỗ mặt” nhưng nói xong thì thôi chứ không mấy để bụng”.

Chữa nói xấu bằng cách nào?

Ông Thêm khẳng định: “Nói xấu là một tật xấu hoàn toàn có thể sửa được. Muốn vậy, “người ta phải có mong muốn trở thành những người trung thực, thẳng thắn, không ưa xu nịnh, tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật. Không gì khác hơn là phải đẩy mạnh công tác giáo dục”.

Tuy nhiên, cũng theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm thì giảm bớt tính nói xấu là việc làm “quá khó” hiện nay. Bởi do quản lý xã hội buông lỏng cùng với thời buổi kinh tế thị trường, con người chạy theo giá trị vật chất quá mức, đạo đức xã hội xuống cấp, nhiều quy định, đòi hỏi không phù hợp với thực tế nên nhiều khi bắt buộc người ta phải nói dối. Đó là lý do vì sao không dám nói thẳng khuyết điểm trước mặt mà chỉ nói sau lưng, rồi có thời gian để ngồi nói xấu nhau ngay trong giờ làm việc.

Cũng vì cơ chế thị trường phải cạnh tranh nhau nên không hiếm chuyện để hạ uy tín đối thủ của mình, người ta phao tin thất thiệt khiến cho đối thủ bị ảnh hưởng, thậm chí là phá sản. “Chuyện đó bây giờ không hiếm nữa rồi và cách thức cũng rất tinh vi”, theo ông Thêm.

Theo KIẾN THỨC

Biden đánh cược $6,000 tỷ

Cuối cùng, dù hai chương trình hơn $4 ngàn tỷ của ông Joe Biden có được thông qua toàn vẹn hay không, ông vẫn có lợi.
Cuối cùng, dù hai chương trình hơn $4 ngàn tỷ của ông Joe Biden có được thông qua toàn vẹn hay không, ông vẫn có lợi.

Chưa có vị tổng thống Mỹ nào trong 100 ngày đầu tiên nhậm chức đã đặt xuống $6,000 tỷ, đánh cá rằng trong tương mai số tiền khổng lồ đó sẽ sinh lợi lớn. Sáu ngàn tỷ mỹ kim bằng một phần tư Tổng Sản Lượng Nội Địa (GDP) Mỹ; cao hơn GDP các nước Nhật ($5.37 ngàn) và Đức ($4.31 ngàn), hai cường quốc kinh tế đứng hàng thứ ba và thứ tư; gấp hơn 2 lần GDP các nước hạng 5, 6, 7 là Anh, Pháp Ấn Độ. (Việt Nam được xếp hạng 38 khiêm tốn, GDP khoảng $355 tỷ).

Ba chương trình chi tiêu của chính phủ Joe Biden gọi tên chỉ khác nhau một chữ đứng giữa, là ARP (American Rescue Plan) lo cứu trợ; AJP (American Jobs Plan) tạo công việc làm; và AFP (American Families Plan) hỗ trợ các gia đình.

ARP chi $1.9 ngàn tỷ nhằm ngăn chặn bệnh dịch và kích thích kinh tế, đã được Quốc hội thông qua trong tháng Ba, tất cả các đại biểu Cộng Hòa bỏ phiếu chống.

AJP $2.3 ngàn tỷ được đề nghị trong tháng Ba, với mục tiêu tạo công việc làm xây dựng các hạ tầng cơ sở. Hai món chi lớn nhất là $650 tỷ cho đường xá cầu cống và $650 tỷ cho hệ thống nước và đường dây “broadband” nối các vùng thôn quê vào internet. Số còn lại nhắm vào y tế cho người già, tàn tật và hỗ trợ việc sản xuất chất bán dẫn và năng lượng mới.

AFP sẽ tốn $1.8 ngàn tỷ được đưa ra vào tháng Tư, chi ra một ngàn tỷ và cắt thuế $800 tỷ cho những gia đình từ trung lưu trở xuống.

Số tiền $1.9 ngàn chi vào ARP sẽ đi vay nợ vì công trái của chính phủ Mỹ vẫn bán khá dễ dàng. Để chi cho AJP, chính phủ Biden sẽ tăng thuế lợi nhuận các công ty từ 21% lên 28%, có thể giảm bớt chút đỉnh nhờ lấp một số lỗ hổng và đặt ra suất thuế tối thiểu các công ty phải đóng (60 trong 500 đại công ty đóng thuế rất ít, hàng chục công ty như FedEx, Nike, Amazon không phải đóng đồng thuế nào cả).

Chương trình AFP sẽ được tài trợ bằng cách gia tăng suất thuế đánh trên những người giàu nhất nước. Lợi tức cá nhân từ $523,600 một năm trở lên đang bị đánh thuế 37% sẽ tăng lên 39.6%. Số người bị tăng thuế chiếm dưới 1% dân số Mỹ. Tăng nặng nề hơn là thuế đánh trên lợi tức kiếm được nhờ đầu tư. Những người đầu tư vào thị trường chứng khoán hay địa ốc, vân vân, khi bán có lời hiện nay bị đánh thuế khoảng 20%, sẽ tăng lên thành 39.6% nếu lợi tức cao từ một triệu đô la trở lên. Chỉ có 0.3% (ba trong 1,000 gia đình Mỹ) sẽ bị ảnh hưởng.

Hai chương trình sau của ông Joe Biden, AJP và AFP, bị chống nhiều nhất là vụ tăng thuế. Lý luận phản đối chính là thuế tăng lên sẽ khiến người ta nản chí không muốn làm việc, không muốn đầu tư thêm, thị trường chứng khoán sẽ tụt xuống, công nhân sẽ mất việc. Ngược lại, cắt giảm thuế sẽ khích lệ các công ty đầu tư, tạo thêm công việc làm cho mọi người.

Trong những ngày qua, thị trường chứng khoán cho thấy giới đầu tư vẫn lạc quan về tương lai. Giá các cổ phiếu tiếp tục leo thang vì người ta nhìn vào viễn ảnh tiền lời của các công ty thế nào cũng tăng khi kinh tế hồi phục. Ngày 22 tháng Tư, 2021, nghe tin chính phủ sắp tăng thuế trên lợi tức đầu tư, giá các cổ phần tụt mất 0.9%; nhưng ngày hôm sau lên trở lại. Trong tháng Tư,chỉ số S&P 500 đã tăng thêm 5.2%.

Lori Calvasina, giám đốc đầu tư của công ty RBC Capital Markets ở New York đã coi lại quá khứ, thấy rằng trong những năm tăng thuế giá cổ phiếu vẫn lên; chỉ số S&P 500 trung bình tăng thêm 11%. Cuối năm 1986, thời Tổng thống Reagan, thuế lợi tức cao nhất tăng từ 20% lên 28%. Trong một năm sau đó, thị trường chứng khoán đã lên cao thêm 40%. Năm 1991, Tổng thống Clinton cũng tăng thuế chút đỉnh, S&P 500 lên cao thêm 26%.Năm 2013, thời Obama, thuế trên lợi tức đầu tư tăng từ 15% lên 23.8%, S&P 500 vẫn tăng 30%.

Một lý do khiến giới đầu tư không nản chí khi bị đánh thuế nặng, là động cơ khiến họ đầu tư không phải để kiếm tiền chi tiêu. Họ thuộc tầng lớp những người không phải lo kiếm tiền để chi tiêu nữa; vì họ đã có đủ các thứ, cả những món xa xỉ nhất, hết cả rồi. Nhưng họ vẫn muốn làm giàu. Những người giàu nhất nước Mỹ, không phải ai cũng như ai. Trong số những người lợi tức cao nhất phải đóng thuế nặng nhất, chỉ một phần trăm kiếm được một nửa số lợi tức của tất cả. Bị đánh thuế nặng người ta vẫn tiếp tục đầu tư để kiếm thêm tiền, tài sản cứ tiếp tục gia tăng, vì họ không chịu thua khi so sánh mình với nhữngngười cùng thuộc tầng lớp giàu có. Tiền kiếm ra được bị đánh thuế nặng, nhưng kiếm thêm tiền vẫn kiếm, thấy cơ hội đầu tư ra tiền vẫn chụp lấy ngay. Một trong số những người giàu nhất nước Mỹ là ông Warren Buffet. Ông, cũng như Bill Gates, đều không phản đối những lần thuế lên cao.

Cuộc đánh cá $6 ngàn tỷ đô la của ông Biden sẽ được đánh giá trên căn bản nó có giúp kinh tế Mỹ lên cao hay không. Chắc chắn kinh tế sẽ tự động lên sau khi đã tụt xuống quá thấp vì Covid-19. Sẽ thêm nhiều người có công việc làm, số tiêu thụ (chiếm ba phần tư Tổng Sản Lượng Nội Địa) gia tăng, kích thích kinh tế Mỹ lên trong mấy năm tới.

Nhưng các đại biểu quốc hội thuộc đảng Cộng Hòa đang phản đối các món chi tiêu trong AJP và AFP không liên quan gì đến hạ tầng cơ sở. Tòa Bạch Ốc đã giải thích rằng những số tiền chi cho người già, chi cho trẻ em sẽ cho phép nhiều phụ nữ được rảnh tay không phải săn sóc cha mẹ gà hay con nhỏ. Họ sẽ đi kiếm việc làm, đóng góp vào nền kinh tế. Những chi tiêu về giáo dục, như các trường mẫu giáo, học miễn phí ở cấp trường cao đẳng (college) đều thuộc loại hạ tầng cơ sở; vì đào tạo các thế hệ công nhân tương lai.

Chưa biết hai chương trình sau của ông Biden sẽ được quốc hội mổ xẻ như thế nào. Muốn thông qua dễ dàng, Tòa Bạch Ốc sẽ phải trình bày như các dự luật ngân sách, để khỏi bị cản trở khi đi qua Thượng viện nơi các luật ngân sách có thể được thông qua với 51 phiếu thuận. Những vấn đề khác có thể không được biểu quyết nếu không được 60 phiếu đồng ý. Hiện nay đảng Dân chủ đã có 50 ghế nghị sĩ, cộng thêm phiếu của bà phó tổng thống ngồi chủ tọa.

Các đại biểu Cộng Hòa vạch ra rằng ba chương trình của ông Biden chứa đựng những dự án mà đảng Dân chủ đã cổ động từ lâu. Trợ cấp cho trẻ em các gia đình nghèo, miễn phí cho sinh viên, giúp tiền cho việc nghiên cứu và sản xuất năng lượng mới, vân vân, tất cả đều không liên can gì đến tai họa Covid-19, cũng không thể xếp vào loại các vấn đề hạ tầng cơ sở. Tòa Bạch Ốc sẽ tìm cách giải thích, nhưng khó thuyết phục những người chống đối. Các chương trình AJP và AFP sẽ bị cắt xén, nhưng sau cùng cũng sẽ được thông qua như các dự luật ngân sách.

Sở dĩ ông Joe Biden dám đánh cá lớn $6 ngàn tỷ như vậy là vì dư luận dân chúng ủng hộ các món chi tiêu được đề nghị. Sau cơn đại dịch, người ta thấy vai trò của chính phủ quan trọng hơn, không lo nhà nước lớn quá nữa!
Một lý do khiến ông Biden “đánh bạo” là vì ông đã rút kinh nghiệm khi làm phó tổng thống. Năm 2008, kinh tế Mỹ đã suy thoái trầm trọng. Khi ông Obama nhậm chức, đáng lẽ chính phủ phải chi tiêu một số tiền lớn để kích thích tiêu thụ, nhưng đã rụt rè chỉ đưa ra một dự án $800 tỷ. Chỉ vì muốn được các đại biểu Cộng Hòa ủng hộ; mặc dù lúc đó đảng Dân chủ kiểm soát cả hai viện. Hậu quả là kinh tế không ngóc lên được, và qua năm 2010 đảng Dân chủ đại bại trong kỳ bầu cử quốc hội. Đến năm 2018 họ mới chiếm lại Hạ viện và năm 2020 kiểm soát Thượng viện với đa số mong manh.

Cuối cùng, dù hai chương trình hơn $4 ngàn tỷ của ông Joe Biden có được thông qua toàn vẹn hay không, ông vẫn có lợi. Sang năm, nếu bình thường thì đảng Cộng Hòa sẽ chiếm lại đa số cả hai viện quốc hội. Nhưng đảng Dân chủ sẽ dùng các dự án $6 ngàn tỷ này để vận động. Họ sẽ nói với dân chúng rằng các đại biểu Cộng Hòa đã bỏ phiếu chống cả ba đạo luật được đa số dân Mỹ ủng hộ. Mà cả ba đều nhắm giúp người già, giúp trẻ em, xây trường học, cho sinh viên học miễn phí, gia tăng số người được bảo hiểm y tế, vân vân!

Đến tháng 11 năm 2022 chúng ta mới biết dân chúng Mỹ phán đoán ra sao!