Cuộc sống ở làng cá Phú Hải

THỪA THIÊN – HUẾNằm sát biển Thuận An là một làng cá nhỏ nhưng nhộn nhịp mỗi sớm chiều, khi ngư dân đưa những mẻ cá tươi về bờ.

Bức ảnh chụp kỹ thuật panorama ghép 9 tấm, thu lại toàn cảnh xã Phú Hải, thuộc bộ ảnh “Hương sắc làng cá Phú Hải” do hai nhiếp ảnh gia xứ Huế, Nguyễn Phong và Kelvin Long, thực hiện. Ngoài các di tích, lăng tẩm nổi tiếng vùng đất cố đô, hai tác giả mong muốn giới thiệu thêm du lịch biển, đời sống ngư dân làng biển ở Huế đến với khách thập phương.

Xã Phú Hải, có diện tích khoảng 3,33 km2, phía đông giáp Biển Đông và phía tây giáp phá Tam Giang, cách trung tâm TP Huế khoảng 20 km. Xã có khu neo đậu, tránh trú bão và làng cá Phú Hải, nằm gần bãi biển Thuận An, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân ổn định và phát triển nghề cá.

Các tàu cá đánh bắt xa bờ neo đậu tại âu thuyền Phú Hải. Vào mùa mưa bão, khu neo đậu tránh trú bão này đủ cho hàng trăm tàu thuyền lớn nhỏ từ các xã Phú Hải, Phú Thuận, Phú Diên; thị trấn Thuận An và các vùng biển lân cận huyện Phú Vang.

Cách âu thuyền Phú Hải khoảng 300 m là làng cá Phú Hải, với các ghe thuyền nhỏ phục vụ bà con đánh bắt gần bờ. Đây là nơi tập trung cư dân của bốn thôn Cự Lại.

Hầu hết người dân ở đây làm nghề cá, nuôi trồng thủy sản từ khi còn rất trẻ. Vợ chồng anh Tám, chị Nở (ảnh) sinh sống ngay sát làng biển Phú Hải. Trước mỗi chuyến đánh bắt, cũng như những ngư dân khác, họ thắp hương cầu nguyện an toàn và được lộc biển.

Ngư dân dùng đòn gánh thuyền xoay vòng để đẩy thuyền ra biển. Một phương pháp khác thuận lợi và ít dùng sức ngư dân hơn là dùng xe đẩy thuyền. Tuy nhiên, không nhiều hộ có khả năng trang bị phương tiện này.

Vào những ngày sóng cao, công việc đưa thuyền ra biển vất vả hơn. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Phong cho biết ngư dân Phú Hải tùy theo mùa và thủy triều mà có thời gian đánh bắt khác nhau. Do đánh bắt gần bờ, mỗi chuyến họ đi trong ngày thường rơi vào các khung giờ 16h – 4h sáng hoặc sáng sớm đến 14h.

Khoảnh khắc ngư dân phấn khởi khi trúng mẻ cá to được chụp bằng ống kính mắt cá tạo hiệu ứng ấn tượng. Dân Phú Hải ngoài thả lưới kéo cá còn câu thêm mực, sau mỗi chuyến đánh bắt hải sản bán được dao động từ 2 – 4 triệu đồng, có khi chỉ đủ tiền dầu cho thuyền ra vào.

Sau chuyến đi biển mệt nhọc, thuyền vào bờ đầy ắp lộc biển, điển hình là các loại cá khoai, cá trích, mực nang và ghẹ xanh. Trên ảnh là mẻ trứng mực.

Các ngư dân trao đổi, mua bán hải sản ngay trên bờ biển, hoặc khi trúng đậm thì mang ra bán ở chợ Cự Lại. Nếu có dịp ghé biển Thuận An, du khách có thể dành thêm thời gian trải nghiệm du lịch sinh thái, tìm hiểu đời sống ngư dân tại xã ven biển Phú Hải.

“Các tàu cá ở đây đều trang bị cờ đỏ sao vàng, được treo mỗi chuyến ra khơi, giúp các tàu nhận diện trên biển. Việc treo cờ còn là trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc vì biển cả là nguồn sống, là quê hương”, anh Tám nói.

Huỳnh Phương / VNExpress

Về thăm hai ông thầy cười

Gần tết, nhờ Nhà xuất bản Kim Đồng, tôi được tiếp bước tiền nhân – ủa quên theo vết chứ không phải tiếp bước nghe xui, về Nam Định và Hà Nam thăm mộ cụ Tú Xương và ngôi nhà xưa của cụ Nguyễn Khuyến.

Sinh thời, “Ai hỏi nhà ông tới/ Nhà ông đã bán rồi”, nhưng bây giờ ‘ngôi nhà’ nghìn thu xưa của cụ nằm trang trọng trong công viên Vị Xuyên rộng lớn. Ngôi mộ được xây vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, trên bề mặt mộ có một phiến đá nằm nghiêng khắc tên nhà thơ cùng quê quán, năm sinh, năm mất. Trước mộ có tấm bia đá, mặt trước khắc hai câu trong bài thơ Sông lấp của Tú Xương: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”; mặt sau là hai câu thơ Nguyễn Khuyến khóc cụ Tú: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Chắc chắn trên cả nước nầy chưa có một ngôi mộ thi nhân nào được đặt trang trọng trong công viên như vậy.

Ngôi nhà xưa của cụ Nguyễn Khuyến

Cụ Trần Tế Xương (1870-1907), đã để lại cho hậu thế nhiều bài thơ hay và về thể loại thơ châm biếm thì thuộc loại thượng đẳng sư phụ. Mỗi khi xuân về tết đến, kẻ yêu thơ, buồn vì thế thái nhân tình làm sao mà chẳng nhớ bài thơ nầy.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối,
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người.

Mộ cụ Tú Xương

Sau khi xin cụ phù hộ cho sang năm sáng tác được mùa, tôi rong ruổi về Hà Nam để ghé thăm khu di tích từ đường của cụ Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Khu di tích nầy nằm ở làng Vị Hạ, xã Trung Lương (xưa là xã Yên Đổ), huyện Bình Lục, Hà Nam. Khu từ đường Nguyễn Khuyến được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ VH,TT-DL) công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia năm 1991.

Trước khu từ đường có một bia đá khắc bài thơ Thu điếu bằng chữ nôm, quốc ngữ và anh ngữ. Đọc bài thơ xong, du khách có thể đi thăm cái ‘ao thu lạnh lẽo nước trong veo’ bằng ‘ngõ trúc quanh co khách vắng teo’ trước khu từ đường. Ao thu đã vào mùa đông, nước không còn trong veo nữa chỉ có ngõ trúc là vắng teo thiệt. Và người dường như cũng teo lại khắp mọi phần trong cơ thể.

Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng hiệu là Quế Sơn, tự Miễu Chi, sinh năm 1835, mất năm 1909 tại Yên Đổ. Rõ ràng là sống dai hơn bác Tú Xương. Khi mất đi, cụ để lại cho hậu thế. các tác phẩm gồm có Quế Sơn thi tậpYên Đổ thi tậpBách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ, cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.

Trong bộ phận thơ nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, thơ ông dùng để trải lòng; viết về con người, cảnh vật và cuộc sống ở quê hương – và cũng không ít bài chế giễu, đả kích những kẻ tham lam, ích kỷ, cơ hội lúc bấy giờ…

Ngồi trước nhà từ đường, tôi và nhà thơ Cao Xuân Sơn cùng buột miệng đọc bài Chỗ lội làng Ngang:

Đầu làng Ngang có một chỗ lội,
Có đền ông Cuội cao vòi vọi;
Đàn bà qua đấy vén quần lên,
Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối;
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười,
Cái gì trăng trắng như câu cúi?
Đàn bà khép nép đứng liền thưa:
– Con chót hớ hênh ông xá tội;
– Thôi, thôi con có tội chi mà,
Lại đây ông cho giống ông Cuội;
Từ đấy làng Ngang đẻ ra người,
Đẻ ra rặt những thằng nói dối.

Ông thầy thơ trào phúng nầy, dù là nhà nho, gương mặt trên bàn thờ rất trang nghiêm nhưng lại thuộc loại nghịch ngầm. Hãy đọc những bài thơ trào phúng nho nhỏ của ông.

Bỡn cô tiểu ngủ ngày

Ôm tiu, gối mỏ ngáy khò khò/ Gió lọt phòng thiền mát mẻ cô/ Then cửa từ bi gài lỏng cánh/ Nén hương tế độ đốt đầy lò/ Cá khe lắng kệ đầu hi hóp/ Chim núi nghe kinh, cổ gật gù /Nhắn bảo chúng sinh như muốn độ /Sẽ quì,  sẽ niệm/ sẽ nam mô “

Cò mổ trai

Trai sao chẳng biết tính con cò/ Mày hở hang chi nó mổ cho/ Đã cậy dài mu không khép kín/ Cho nên dài mỏ chực ăn to/ Thôi về bãi bể cho êm ái/ Để mặc bên sông nó gật gù/Cò trắng dầu khôn đành gác mỏ/ Trai già chờ lúc lại phơi mu.

Gái goá than lụt

Con tạo ghen chi gái má hồng/ Mà đem nước đến vỗ tầm vông/  gió lùa cửa cổng bèo man mát/ Trăng xỏ buồn trai bóng phập phồng/ Những sợ anh kình rình dưới rốn/ Lại lo chú chuối lẫn bên hông/ Quản chi điểm phấn trang hồng nữa /Chỉ biết nơi sâu với chốn nông/

Gái rửa bờ sông“ Thu vén giang sơn một cắp tròn /nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn/ Biết chăng chỉ có ông hà bá /Mỉm mép  cười thầm với nước non /”

Đĩ cầu Nôm

Thiên hạ bao giờ cho hết đi/ Trời sinh ra cũng để mà chơi/ Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời /Chơi thủng trống, long dùi âu mới thích /Đĩ bao tử càng chơi càng lịch/ Tha hố cho khúc khích chị em cười /Người ta đấng của ba loài/ nếu những như ai thì đĩ mốc/ Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc/khá  khen thay làm đĩ có tông/ khách giang hồ chẳng chốn nào không/ suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng/ Đĩ mười phương chơi cho đủ chín/ Còn một phương để nhịn lấy chồng/ Chém cha cái kiếp nào hồng/ Bạn với kẻ anh hùng cho đúng số/ Vợ bợm, chồng quan danh phận đó/ Mai sau ngày giỗ có văn nôm/ Cha đời con đĩ cầu Nôm’”  (tục truyền con đĩ cầu Nôm là cô Tư Hồng.

Dạ, bẩm cụ con không theo kịp cụ ạ! Xin cụ xá tội!

Tản văn Lê Văn Nghĩa /Vanvn.vn

Chương 2: Cải tạo

Hình ảnh Sài Gòn (Vietnam) trước 1975 | lầm bầm
Ảnh : Saigon trước 1975

Sau hai mươi năm chia cắt, lịch sử đã đặt nhiều gia đình miền Nam vào những tình huống vô cùng nghiệt ngã. Có những gia đình trong khi vui mừng đón đứa con “nhảy núi” trở về thì đứa con “nguỵ” đang phấp phỏng nằm chờ trên gác; có những cán bộ cao cấp từ Hà Nội vô mới biết đứa con mà khi tập kết mình để lại đã trở thành “lính nguỵ”. Dù 175 nghìn khẩu súng các loại đã được giao nộp ngay trong mấy ngày đầu tiên sau 30-4, nhưng hơn nửa triệu sỹ quan, binh lính Việt Nam Cộng Hòa tan rã thì vẫn đang nhà ai nấy ở. Tất cả đều căng ra chờ đợi.

NHỮNG NGÀY ĐẦU

Lữ đoàn 203 được lệnh rút về Long Bình lúc 5 giờ chiều ngày 30-4, nhường công việc chiếm đóng Dinh và bảo vệ Sài Gòn cho Quân đoàn IV. Nhưng, theo ông Bùi Văn Tùng, gần một trăm chiếc tăng của ông đã không thể di chuyển, vì giờ đóngười dân Sài Gòn bắt đầu đổ ra đường. Sau những giờ phút căng thẳng nhất, như sợi dây căng hết cỡ đã đứt tung ra, mọi người Việt Nam, kể cả những người lính, cho dù ở phía nào, đều cảm thấy chiến tranh kết thúc!

Chiến tranh kết thúc. Cái cảm giác ấy, thoạt tiên cũng im ắng như thành phố lúc vừa thôi tiếng súng, đột nhiên vỡ tung. Dòng người òa ra, tràn ngập đường phố. Một vài thanh niên, học sinh mạnh dạn tiến vào vườn hoa trước Dinh Độc Lập, sờ vào những chiếc tăng T54, những chiến xa bấy giờ đã không còn phải bắn, đang nằm lặng lẽ.

“Việt Cộng” trên những chiếc xe tăng vừa húc đổ cánh cổng cuối cùng, giờ đây, vừa có cái cảm giác viên mãn của những người chiến thắng, vừa có cái nhẹ nhõmcủa những người lính đã bước qua ngưỡng của sự khốc liệt, trở nên độ lượng, hiền lành. Thái độ này của các “chú bộ đội” đã kéo đoàn người đến với những chiếc T54 đông dần lên. Họ bắt đầu tìm hiểu những khái niệm về “Việt Cộng”, nhiều người“tiến lên”, hỏi thêm về “miền Bắc”. Chưa ai thực sự biết điều gì sẽ xảy ra cho thành phố, cho mình, nhưng vẫn thấy nhẹ nhõm và có không ít người còn cảm thấymừng.

Đêm 30-4, ở khu vực trường Petrus Ký mất điện một lúc. Một vài chiếc tăng của Quân Giải phóng được lệnh chạy ra đường để “thị uy”. Sáng 1-5, mới khoảng 7 giờ, công chức, giáo viên Petrus Ký thấy “Cách mạng” đóng trong trường, lục tục ra“trình diện”. “Quân quản” lúc bấy giờ ai nấy vẫn còn bận đồ bà ba đen, tỏ ra rất lúng túng. Ông Kiệt giao cho ông Dương Minh Hồ, cán bộ Văn phòng Thành ủy, đi kiếm bộ đồ “coi được” ra tiếp các thầy cô giáo.

Ngay trong đêm 30-4, những cán bộ của Đài Phát thanh Giải Phóng từ trên R về đã tiếp quản Đài Phát thanh Sài Gòn và phát sóng những mệnh lệnh đầu tiên của Ủy ban Quân quản về trật tự, an ninh, về thu nạp vũ khí chất nổ. Đa số các “lệnh”đã được ông Hà Phú Thuận, chánh Văn phòng Trung ương Cục, “soạn thảo” theo chỉ đạo của Đảng Uỷ Đặc biệt từ khi còn ở trên R.

Không chỉ có niềm vui của những người đi từ trong rừng ra. Trong những ngày đầu, một số quan chức của Chính quyền Sài Gòn cũng nuôi hy vọng. Tiến sỹNguyễn Văn Hảo là một trong số đó. Trưa ngày 30-4-1975, ông Hảo có mặt ở Dinh Độc Lập vì cho đến khi chiếc tăng 390 cán lên thềm Dinh, Chính phủ của Tổng thống Dương Văn Minh vẫn chưa kịp nhận bàn giao. Khi ấy, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã di tản. Ông Hảo, Phó thủ tướng, trở thành người còn lại có cương vị cao nhất trong Chính quyền Trần Văn Hương.

Trước đó ít hôm, ông Hảo có kêu ông Hồ Ngọc Nhuận. Khi ông Nhuận tới nhà, ông Hảo bỏ bữa cơm tối, đưa ông Nhuận lên lầu và nói: “Tôi có việc muốn nhờ ông truyền đạt đến Cách mạng. Một là về mười sáu tấn vàng, người ta nói ông Nguyễn Văn Thiệu mang đi, nhưng thật sự là tôi đã giữ lại được41. Hai là về nạn thất thoát chất xám. Tôi đã thuyết phục được một số anh em chuyên viên, trí thức ở lại, nhưng không xuể. Cách mạng phải làm gì đó, phải nói cái gì đó càng sớm càng tốt”.

Sáng 3-5-1975, Ủy ban Quân quản ra thông báo: “Cuộc tổng tiến công nổi dậy của quân dân miền Nam ta nhằm đập tan ngụy quyền tay sai Mỹ đã giành đượcthắng lợi hoàn toàn. Thành phố Sài Gòn, thành phố được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã hoàn toàn giải phóng. Để nhanh chóng ổn định trật tự anninh trong thành phố, xây dựng trật tự cách mạng mới, củng cố và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Để nhanh chóng khôi phục và ổn định đời sống bình thường của các giới đồng bào trong thành phố Sài Gòn – Gia Định. Căn cứ quyết định của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, chúng tôi xin thông báo danh sách Uỷ ban Quân Quản thành phố Sài Gòn – Gia Định”.

Ủy ban Quân quản lúc ấy gồm chủ tịch – Thượng tướng Trần Văn Trà, và các phó chủ tịch – Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Thiếu tướng Hoàng Cầm, Thiếu tướng Trần Văn Danh và ông Cao Đăng Chiếm.

Khi chiến dịch bắt đầu, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đã tuyên truyền về việc sẽ lập ở miền Nam một “chính phủ ba thành phần”. Tuy nhiên, khi cờ đã được cắm trên Dinh Độc Lập, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn quyết định dẹp bỏ ý tưởng này. Ngày 1-5-1975, Tố Hữu đã chuyển “lệnh” tới Trung ương Cục:

“Gửi anh Tám, anh Bảy [Nhờ Trung ương Cục chuyển anh Tám]. Xin báo để các anh biết: Theo ý kiến anh Ba42, về Chính phủ, không còn vấn đề ba thành phần. Cấu tạo Chính phủ không thể có bọn tay sai Mỹ, không để cho Mỹ có chỗ dựa và phải làm cho quần chúng thấy rõ sức mạnh, thế mạnh của cách mạng; ta vừa phát động quần chúng lại vừa buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược. Chính phủ thể hiện tinh thần đó phải gồm ta và những người yêu nước, thật sự tán thành lập trường hoà bình độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc, thống nhất Tổ quốc của ta. Bộ Chính trị chủ trương đối với những người đã đầu hàng ta như Dương Văn Minh chẳng hạn thì không bắt, nhưng cần có cách quản lý, giám sát, ta chỉ trừng trị bọn phá hoại hiện hành… trong khi phát động phong trào quần chúng hành động cách mạng, chú ý chọn lọc, bồi dưỡng cốt cán trong quần chúng. Để có đủ cán bộ kịp tung ra phát động quần chúng, nên chọn một số cán bộ của Đảng, đoàn thể và cán bộ quân đội, huấn luyện ngắn ngày về chính sách, về phương pháp công tác, về kỷ luật. Khi tổ chức lễ mừng trong cả nước, theo ý kiến Bộ Chính trị, nên có đoàn đại biểu miền Nam ra dự mít tin ở Hà Nội và có đoàn Miền Bắc vào dự ở Sài Gòn. LÀNH43” .

Ngày 6-5-1975, ông Võ Văn Kiệt đi cắt tóc chuẩn bị lễ ra mắt Ủy Ban Quân quản. Người thợ cắt tóc thấy một ông đứng tuổi đi xe U-oát tới, trong khi cắt tóc có bộ đội đứng chờ, tuy không biết rõ ông là ai, nhưng cắt tóc cho ông xong, đã lễ phép cúi chào, ông trả tiền thế nào cũng không chịu lấy. Xe U-oát của ông Kiệt đi tới đâu, người dân tránh ra nhường chỗ rộng rãi cho đi. Những xe khác của “Quân Giải Phóng” cũng được cư xử như vậy.

Nhiều tuần sau đó, “các chú bộ đội” đi xe buýt không phải trả tiền và người dân bắt đầu làm quen với những chiếc xe quân sự chạy vô đường cấm. Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Lúc đó, uy thế của cách mạng trùm lên tất cả”. Ngay cả những “tên ác ôn”, kẻ cướp giật, các băng nhóm cũng chỉ lo giữ thân hoặc xem xét, theo dõi. Nhưng cũng có những người quá hăng hái. Hầu hết đàn ông trong cư xá Ngân hàng tại An Phú, Thủ Đức nơi ông Huỳnh Bửu Sơn cư ngụ giờ đó đã di tản hoặc bị đưa đi cải tạo. Một người gác-dan, lâu nay vẫn được gọi là “thằng Vàng”, bỗng dưng xưng một cái danh rất kêu, nhảy ra nắm lấy chức Trưởng ban Quản trị Cư xá.

Những phụ nữ còn lại trong Cư xá, vốn lâu nay được coi như là các mệnh phụ phu nhân, không chịu. Họ họp lại và bầu ông Huỳnh Bửu Sơn lên thay. Ông Sơn nhanh nhảu gửi lên xã báo cáo kết quả ông được bầu chọn là Trưởng Ban. Báo cáo được đóng dấu từ con dấu mà Cư xá vẫn dùng từ trước.

Lập tức, ông Huỳnh Bửu Sơn bị triệu tập. Ông vừa ngồi xuống ghế, đã có hai bộ đội xách AK ra hỏi: “Anh biết tội gì không?”. “Dạ không”. “Cách mạng đã giải phóng rồi mà anh vẫn còn sử dụng con dấu của Ngụy. Tội anh đáng bắn. Nhưng thôi, từ nay, ông này là Trưởng Ban”. Người bộ đội nói rồi chỉ tay qua ông Vàng, hình như đã có mặt ở đấy từ trước.

Câu chuyện của ông Huỳnh Bửu Sơn không phải là hy hữu. Ngày 29-6-1975, một cuộc “đấu tố” với hơn “2000 dân” đã được nhóm họp trước chợ Thanh Đa:

“Đồng bào đã sôi nổi tố cáo những tên Lô trưởng Cư xá, điển hình là Lê Văn Minh, Trưởng Lô 9, nguyên là một viên chức Ngụy quyền, nay tự xưng là người của Cách mạng… Phát huy tinh thần làm chủ Cư xá, đồng bào đã yêu cầu chánh quyền loại bỏ 24 tên lô trưởng phản động do Ngụy quyền để lại”44.

Cuộc cướp chính quyền sớm nhất ở Sài Gòn được nói là đã diễn ra vào lúc 7 giờ sáng ngày 30-4-1975 tại phường Trần Quang Khải, quận Một. Chi bộ Đảng bí mật ở đây đã cho vây bót Tân Định, tước vũ khí của những cảnh sát vào giờ ấy chỉ mong sớm được về với gia đình. Ngay sau khi Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố Bàn giao chính quyền, ở Quận 11, cờ cũng được cắm trong Dinh Quận trưởng.

Tiến trình “cướp chính quyền” và xây dựng chính quyền thường được bắt đầu như trường hợp ở phường Cây Bàng: “Khi tiếng súng của quân Giải phóng bắn tới tấp vào các căn cứ quân sự của địch, nhân dân Phường Cây Bàng đồng lòng nổi dậy phá kềm, truy quét kẻ địch, giành quyền làm chủ về tay mình và tràn ra đường đónchờ quân giải phóng. Khi các chiến sĩ ta tiến vào, đồng bào mừng reo, hoan hô nhiệt liệt. Ngay sau khi dẹp xong giặc, uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tựquản được thành lập. Các tổ chức nhân dân cách mạng cũng được khẩn trương xây dựng. Đến nay, 2-5, Phường Cây bàng đã thành lập xong Tổ An ninh, Hội Mẹ giải phóng, Tổ Thông tin Tuyên truyền, Tổ Y tế và Uỷ ban tự quản. Đang xúc tiến thànhlập Tổ Cứu đói và Phòng chống Hoả hoạn”45.

Trước 30-4-1975, tại Sài Gòn có 735 đảng viên tại chỗ. Trung ương Cục bổ sung thêm 2.820 cán bộ đảng viên từ trong các cơ quan của R về. Nhưng đến cuối tháng 5-1975, số đảng viên đã nhanh chóng tăng lên đến 6.553 người. Những chiến sỹ cách mạng nằm vùng, những người từ trong các căn cứ kháng chiến ra và các “cán bộ 30-4”, nhanh chóng nắm giữ các vị trí then chốt của thành phố, kiểm soát Đài Phát thanh, thành lập báo Sài Gòn Giải Phóng và điều hành một hệ thống đoàn thể xuyên suốt từ Thành phố cho đến các thôn ấp.

Không chỉ có “Cách mạng 30-4”, ông Võ Văn Kiệt thừa nhận, không ai trong số những người tiếp quản Sài Gòn năm 1975 có kiến thức về quản lý nhà nước. Mục tiêu lớn nhất đặt ra trong những ngày đầu là nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, ổn định chủ yếu bằng các giải pháp chính trị. Riêng các cơ sở kinh tế, giáo dục, y tế… thì dự định từ trong R là sẽ để cho các ngành, chủ yếu từ miền Bắc vào, tiếp quản những cơ sở có liên quan đến ngành mình.

“Ngụy Quyền”

Theo ông Nguyễn Văn Trân, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục: “Khi tiếp quản miền Bắc, cụ Hồ cho lưu dụng hầu hết các viên chức trong bộ máy hành chánh cũ và bảo lưu mức lương cũ còn cao hơn cả lương chúng tôi. Cụ Hồ còn đảm bảo tính kế thừa nhà nước bằng cách công nhận hiệu lực tiếp tục của một số sắc luật có từ thời Pháp. Công việc xây dựng chính quyền mới, vì thế không nặng như khi chúng tôi làm ở Sài Gòn”.

Hệ thống hành chánh của Sài Gòn bắt đầu được thiết lập quy củ từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông Diệm vốn là một quan Thượng thư Triều Nguyễn, nhưng khi nắm quyền đã thay đổi phương thức tuyển chọn quan lại thông qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, bằng việc thành lập trường Quốc Gia Hành Chánh. Trường Quốc Gia Hành Chánh đào tạo: tham sự, hệ hai năm cho các chức vụ như trưởng ban, trưởng phòng của các ty; đốc sự, hệ bốn năm cho các chức vụ phó quận, trưởng ty; và bậc cao học cho các viên chức hành chánh cấp bộ. Cho đến năm 1960, chức tỉnh trưởng thời ông Diệm vẫn là một viên chức chính trị.

Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời, đường lối Cách mạng miền Nam được xác định là phải bằng “con đường bạo lực”, ông Diệm đáp lại bằng cách “quân sự hoá bộ máy”, bổ nhiệm các quân nhân đứng đầu cơ quan hành pháp cấp tỉnh, cấp huyện. Một viên chức từ trường Quốc Gia Hành Chánh ra, đương là quận trưởng, nếu muốn tiếp tục, phải ra Nha Trang học một khóa quân sự sáu tháng. Ngược lại, một thiếu tá tiểu đoàn trưởng có năng lực có thể được bổ nhiệm quận trưởng sau khi trải qua một lớp về bộ binh cao cấp và một lớp sáu tháng về khoa học hành chánh, và sau đó về thực tập sáu tháng dưới quyền một viên phó quận trước khi được bổ nhiệm làm quận trưởng.

Tuy nhiên, hành chánh vẫn được coi là một vấn đề cực kỳ chuyên môn, nên dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đã có những trì trệ trong việc xử lý nhu cầuhành chánh cho dân, bởi các vị quận trưởng quan tâm đến quân sự hơn. Thủ tướng đã cùng với Bộ Nội vụ ký một hướng dẫn, theo đó, các tỉnh trưởng, quận trưởng phải ủy quyền bắt buộc cho cấp phó. Dưới chế độ Sài Gòn, cấp tỉnh, cấp quận chỉ có một cấp phó và người này phải là đốc sự tốt nghiệp từ Quốc Gia Hành Chánh ra.

Ở cấp phường xã, tuy không đòi hỏi phải tốt nghiệp từ trường này, nhưng một xã trưởng, ấp trưởng sau khi được bầu hay một trưởng phường sau khi được bổ nhiệm đều phải đi học sáu tháng ở Trường Đào tạo Cán bộ Xã Ấp. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đánh giá cao vai trò của cán bộ phường xã tới mức ông thường xuyên có mặt trong lễ khai giảng và bế giảng các lớp học này và nói với các học viên: “Tôi là tổng thống trung ương, các anh là tổng thống địa phương”.

Tuy nhiên, “Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà từ Trung ương tới địa phương” trước khi có tuyên bố của Đại tướng Dương Văn Minh đã bắt đầu “tan rã”. Khoảng gần 200 nghìn người có quan hệ với người Mỹ hoặc đang làm việc trong bộ máy chính quyền cũ đã kịp thời “di tản” trong vài tuần lễ trước “30-4”. Số còn lại gần như cũng đã ý thức được tình thế của mình, tự động “bỏ trống nhiệm sở”. Nhưng cho dù họ có ở lại, thì với mục tiêu của cuộc chiến tranh kể từ sau Hiệp định Paris là “đập tan bộ máy của chính quyền tay sai”, việc những người chiến thắng sử dụng chuyên môn của những viên chức có trình độ cao trong bộ máy Sài Gòn là điều khó xảy ra.

Công Điện ngày 18-4-1975 của Ban Bí thư xác định đối tượng làm việc trong chính quyền cũ được lưu dụng: “Ta cần có chính sách mạnh dạn sử dụng những người thật thà phục vụ cách mạng, nhất là công nhân, lao động, cán bộ kỹ thuật, trừ những phần tử thù địch, bọn mật vụ, bọn phá hoại hiện hành…”. Theo Chỉ thị ngày 19-4-1975, cũng của Ban Bí thư, với cấp nhân viên, sau khi “được giáo dục” tại phường, xã: “a, Đối với những tên thật thà hối cải thì tạo điều kiện cho họ tiến bộ, lập công chuộc tội; b, Đối với số cảnh sát, cứu hoả thì có thể sử dụng, trừ bọnác ôn phản động và ta phải đưa cán bộ cốt cán vào để quản lý giáo dục…”. Từ cấp quận phó trở lên, và hầu hết các chỉ huy cảnh sát từ cấp đội trở lên… đều thuộc diện đưa đi tập trung cải tạo dài hạn.

Một “đồng chí” được giới thiệu là “trưởng Ban Tuyên huấn An ninh Miền” đã từng công khai tuyên bố: “Việc học tập cải tạo đối với công chức, nhân viên nguỵ quyền sẽ phải công phu và gian khổ về tinh thần hơn so với nguỵ quân vì công chức cao cấp nguỵ quyền là những người trực tiếp hoặc tham gia tích cực vào bộ máy kềm kẹp nhân dân. Họ được huấn luyện kỹ càng do đó, ảnh hưởng chế độ cũ về mặt nhận thức và tư tưởng khá sâu”46.

Sau ngày “giải phóng”, các chủ trương của nhà nước cũng chủ yếu được vận hành thông qua các phong trào chính trị, cho dù có sử dụng “ngụy quyền” lưu dụng thì kiến thức chuyên môn của họ cũng không biết để làm gì. Chưa kể, trong con mắt của chính quyền, theo “đồng chí Trưởng Ban Tuyên huấn An ninh Miền”: “Họ được huấn luyện kỹ càng để tham gia tích cực vào bộ máy kìm kẹp nhân dân”47.

“Ngụy Quân”

Một tuần sau, ngày 5-5-1975, Ủy Ban Quân quản Sài Gòn ban bố:

“Mệnh lệnh số 1 về việc ra trình diện, đăng ký và nộp vũ khí của sĩ quan, binh lính, cảnh sát, và nhân viên ngụy quyền: Điều I: Tất cả các sĩ quan, binh lính, cảnh sát, tình báo mật vụ, nhân viên ngụy quyền trong thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định đều phải ra trình diện và đăng ký. Thời hạn bắt đầu từ ngày 8-5-1975 cho đến ngày 31-5-1975 là ngày cuối cùng. Điều II: Cấp tướng và tá trình diện và đăng ký tại số nhà 213 Đại lộ Hồng Bàng, cấp uý trình diện và đăng ký tại uỷ ban nhân dân cách mạng quận, cấp hạ sĩ và binh lính trình diện và đăng ký tại uỷ ban nhân dân cách mạng phường. Cảnh sát, công an tình báo mật vụ trình diện và đăng ký tại trụ sở Ban an ninh nội chính thuộc Ủy ban Quân Qủan thành phố Sài Gòn. Nhân viên công chức làm việc tại nhiệm sở nào trình diện và đăng ký tại nhiệm sở nấy. Điều III: Khi ra trình diện và đăng ký nhất thiết phải mang nộp chứng minh thư, các loại giấy tờ cá nhân, tất cả vũ khí, trang bị, hồ sơ tài liệu, phương tiện, ngân quỹ… Điều IV: Người nào, nhà nào, tập thể nào, cơ sở nào có giữ vũ ,khí chất nổ và các phương tiện, khí tài thông tin đều phải tới khai và nộp tất cả. Điều V: Mệnh lệnh này phải được triệt để chấp hành đến 24 giờ ngày 31 (ba mươi mốt) tháng 5 (năm) năm 1975, những người không ra trình diện cố tình lẩn trốn sẽ bị nghiêm trị, những người đã ra trình diện, đăng ký nhưng còn khai gian, giấu diếm võ khí tài liệu, phương tiện nghĩa là chưa thành thật, sau này phát hiện ra thì xem như chưa tuân lệnh, người nào đăng nạp vũ khí, tài liệu, khí tài vật tư quý giá và phát hiện nhiều vấn đề có giá trị khác sẽ được xem xét khen thưởng xứng đáng. Tất cả những người đã ra trình diện đăng ký tạm thời trước khi có lịch này đều phải làm đăng ký chánh thức lại theo mệnh lệnh này. Sài Gòn, ngày 5-5-1975/Thay mặt Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn-Gia Định/Chủ tịch/Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ.”

Việc ra trình diện không kéo quá dài như dự kiến. Chỉ trong vòng năm ngày, đã có 23 viên tướng có mặt tại Sài Gòn tự động đến Trung tâm Dự bị Viện Đại học Sài Gòn: Tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư đoàn 3; Tướng trẻ Trần Quốc Lịch, 40 tuổi, tư lệnh Sư 5; Tướng Phan Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt động Quân khu II; Tướng Hồ Trung Hậu, nguyên phó tư lệnh Sư Đoàn Dù… Nhưng chủ yếu là những viên tướng đã nghỉ hưu từ trước: Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Sằng, Trung tướng Lê Văn Nghiêm… Cũng có những người đã thôi chức từ rất lâu như Trung tướng Lê Văn Kim, về hưu từ năm 1964; Trung tướng Nguyễn Văn Vĩ, nguyên Tổng trưởng Quốc phòng, về hưu từ năm 1972; Thiếu tướng Lâm Văn Phát, người từng bị Sài Gòn kết án tử hình vắng mặt từ năm 1965…

Trong thời điểm khắc nghiệt nhất của chế độ Sài Gòn, những người “ngoan cố” đã ra đi hoặc đã tuẫn tiết như Tướng Lê Văn Hưng, phó tư lệnh; Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV và một số tỉnh trưởng Miền Tây khác. Những người còn lại ở lại và chấp nhận những gì sẽ đến với mình48.

Ở Sài Gòn, 443.360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sỹ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền,9.306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4.162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sỹ quan cấp tá.

Gần một tháng sau sau Lệnh Trình diện, ngày 10-6-1975, Uỷ Ban Quân quản ra thông cáo “Về việc Học tập Cải tạo Sỹ quan, Hạ sỹ quan, Binh lính và Nhân viên Quân đội Ngụy, Tình báo, Cảnh sát và Ngụy quyền đã trình diện đăng ký”. Theo đó: Tất cả hạ sỹ quan binh lính và nhân viên quân đội Nguỵ thuộc các quân binh chủng tại Sài Gòn-Gia Định, tình báo cảnh sát và nhân viên Nguỵ quyền quận, phường, khóm, xã, ấp đã trình diện đăng ký phải đi học tập cải tạo trong ba ngày kể từ ngày 11-6-1975 đến ngày 13-6-1975. Nhân viên Nguỵ quyền từ trưởng phó phòng trở xuống thuộc các phủ, bộ, vụ, viện, nha, sở, ty… đã đăng ký đi học tập từ ngày 18 đến ngày 20-6-1975. Thời gian học tập liên tục từ 7 giờ đến 16 giờ [giờ ĐôngDương] trưa nghỉ một giờ. Người đi học tự mang thức ăn trưa và chiều, sau khi học, về nhà nghỉ. Lệnh học tập này phải được tuyệt đối chấp hành ai không đi học tậpcải tạo đúng thời hạn coi như phạm pháp.

Cũng trong ngày hôm ấy, lệnh học tập cải tạo được thông báo đến các sỹ quan theo đó, “sỹ quan quân đội Nguỵ, cảnh sát, tình báo biệt phái từ thiếu uý đến đại uý” được hướng dẫn: “Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các vật dụng cánhân, lương thực, thực phẩm [bằng tiền hoặc hiện vật] đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”. “Sỹ quan cấp tướng, tá”, được hướng dẫn mang theo “thựcphẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.

Từ ngày 11-6, tất cả hạ sỹ quan binh lính đã đến các địa điểm trong Thành phố học tập và họ cảm thấy yên tâm khi thời gian học tập chỉ có ba ngày, đúng như thông báo và cách tiến hành thì mang tính “học tập” nhiều hơn là “cải tạo”. Báo chí bắt đầu được sử dụng để trấn an những sỹ quan còn có chút băn khoăn lo lắng trong lòng.

Bài xã luận “Tiếp tục cải tạo để trở thành người công dân chân chính” đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 17-6-1975 viết: “Đợt học tập cải tạo của binh lính, hạ sỹ quan nguỵ quân và nhân viên nguỵ quyền mở ra đã được mấy ngày. Trong các thu hoạch của các học viên, có một điểm chung làm mọi người chú ý: hầu hết đều phát biểu thừa nhận mình trước kia dù làm bất cứ việc gì trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền, đều là những người có tội với nhân dân, với cách mạng. Họ đều hứa sẽ tự cải tạo mình thành những con người tốt. Cuộc học tập này đã làm cho phần lớn binh sỹ nguỵ biết phân biệt ai là địch, ai là ta. Sự phân biệt này rất quan trọng. So với trước khi học đây là một bước tiến bộ đầu tiên của binh lính nguỵ quân và nhân viên nguỵ quyền. Nhưng cũng chỉ là một bước tiến đầu tiên mà thôi. Phân biệt được địch, ta, hứa phấn đấu để trở thành người tốt, mới chỉ là tiến bộ về mặt nhận thức, mới chỉ là sự bày tỏ thái độ. Họ có thật sự tiến bộ hay không? Thái độ của họ có thành thật hay không? Hay giả vờ tiến bộ, giả vờ hứa hẹn cốt cho qua cửa ải này, rồi trà trộn vào cộng đồng dân tộc với những tư tưởng thù địch với dân tộc? Đối với những con người đã từng bị giặc Mỹ nhồi nhét những tư tưởng xấu xa, ý thức chống nhân dân, chống cách mạng trong suốt hai mươi năm qua thì làm sao họ có thể gột rửa hết trong ba ngày học tập? Vì vậy, cách mạng tạo cho họ điều kiện để chứng minh sự tiến bộ của mình bằng hành động. Nhân dân ta đã có kinh nghiệm: đánh giá một con người phải căn cứ trên hành động của họ. Ta giáo dục họ những tư tưởng đúng, là cốt để họ làm đúng chứ không chỉ để nói đúng mà thôi”.

Một bài báo khác dẫn lời anh Trần Văn Lành, một trung sỹ quân nhu, nói: “Trước khi đi học tập, tôi đã tưởng là sẽ bị ngược đãi, bị hạ nhục và có thể bị đánh đập nữa”49. Nhưng, “điều đó đã không xảy ra” và sau học tập, anh Lành đã được cấp “Giấy công nhận hoàn thành học tập cải tạo” – tờ giấy có giá trị công nhận những người “lính Ngụy” bắt đầu được “trở lại làm người” trong chế độ mới. Một người khác, được giới thiệu là “Binh nhất Lê Công Đắc”, thì cho rằng: “Qua cuộc học tập này, chính quyền cách mạng đã dắt chúng tôi ra khỏi nơi tối tăm, đưa chúng tôi về với nẻo chính nghĩa”50. Những phát biểu này được các sỹ quan theo dõi sát và khi thấy sau “ba ngày học tập” binh lính được trở về nhà, thấy “cách mạng đã làm những gì cách mạng nói”, các sỹ quan đã yên tâm hơn.

Không ai biết rằng, từ ngày 18-4-1975, Chỉ thị 218/CT-TW của Ban Bí thư đã quy định: “Đối với sỹ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sỹ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau này tuỳ theo yêu cầu của ta và tuỳ theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo an ninh quân đội, sỹ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sỹ quan hay sỹ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ”51.

Ở nhiều địa phương, một số “tên ác ôn đầu sỏ” đã được “xử lý” ngay và chỉ vài ngày sau 30-4, các sỹ quan gần như đã được đưa đi cải tạo. Tuy nhiên, Sài Gòn, nơi tập trung gần nửa triệu sỹ quan và binh lính chế độ cũ, nơi tập trung sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, nên mọi quyết định đều được Trung ương Cục và Đảng ủy Đặc biệt bàn bạc lên kế hoạch.

Ngay trong phòng làm việc của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Trung ương Cục đã bàn cách đưa các sỹ quan của ông đi “cải tạo lâu dài”. Kế hoạch được gọi làChiến dịch X-1. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: Việc công bố ba mức thời gian học tập – hạ sỹ quan binh lính, ba ngày; cấp úy, mười ngày; tướng, tá, một tháng – là có ý để cho các đội tượng ngầm hiểu rằng, thời gian học tập tối đa của các sỹ quan chỉ là một tháng.

Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, năm ấy là một sỹ quan biệt phái với quân hàm đại úy, thuộc diện “học tập mười ngày” viết: “Hầu hết đều bình thản đến cổng, xinvào. Có người cưng con gái đi theo đỡ đần con rể. Có người thuộc diện “ba ngày” tiễn đưa bạn, ngồi quán nhậu ngà ngà cũng theo bạn vào cổng cho vui. Có người giải ngũ nằn nì xin ‘đi học để có cái giấy về dễ làm ăn’. Nhưng, qua con ngựa sắt là dòng sông không trở lại”52.

Nơi tập trung của ông Tạ Chí Đại Trường là một trường học, ông viết: “Sáng 23- 6-1975, tôi đi vòng giã từ phố phường rồi cầm khúc bánh mì đến công trường Taberd. Mười giờ 30 sáng. Hai viên sỹ quan cầm súng lặng lẽ chỉ lối vào. Ngoàiđường vắng, cổng trường kín chỉ chừa chỗ lách, không thể biết bên trong có gì”53. Những “sỹ quan cấp úy” ấy đã bình thản đến guichet (quầy) nộp “tiền ăn mười ngày”, lấy biên lai… cho đến khi vào hành lang, cán bộ tới ra lệnh bỏ đồ kim khí ra, mới thấy có “cái gì nặng nề lảng vảng”, rồi khi “trời càng về khuya, mưa tầm tã” thì “bắt đầu mới rùng mình”.

Đại úy Tạ Chí Đại Trường viết: “Tôi mang mùng giăng trên tầng gác hội trường nhưng không ngủ được. Từ trên gác nhìn ra bóng tối nhiều hơn ánh sáng… Ánh đèn pha trải dài trên sân nước. Một vài người lính đi lại mang B40 lắp đầu đạn khiến cáibóng càng dài ra”54. Tối 25-6, Đại úy Trường cùng các chiến hữu nhận được lệnh di chuyển, “Có người dẫn ra đường. Vắng ngắt. Xe đậu dài ngút”. Rồi, thay vì “học tập mười ngày”, ông thầy dạy sử Tạ Chí Đại Trường đã phải trải qua các trại từ hôm ấy cho đến tháng 6-1981.

Mười ngày, một tháng qua nhanh. Không ai nhận được bất cứ tin tức gì liên quan đến những người thân bị đưa đi học tập. Rồi đột nhiên, một sỹ quan được tha về, người đó là Cựu Tổng trưởng Quốc phòng, tướng Nguyễn Văn Vỹ.

Vừa ra khỏi trại, Tướng Vỹ phát biểu: “Chúng tôi ăn còn ngon hơn bộ đội. Tôi mong những người có thân nhân đi học tập cải tạo hãy yên lòng và tin tưởng Cáchmạng, đừng tin ở những lời đồn vô căn cứ”55. Tướng Nguyễn Văn Vỹ là người mà ngay hôm đầu ra trình diện đã phát biểu: “Tôi hiểu rõ quân đội trong này lắm, tệlắm, xấu lắm; và mấy ngày hôm nay thấy rõ bộ đội Cách mạng rất kỷ luật, chững chạc, đàng hoàng. Anh em vào nhà tôi ở cầu Thị Nghè không hề bị mất mát gì hết. Cách mạng vào yên ổn, thanh bình ngay, ai cũng yên tâm và sung sướng”56.

Ở thời điểm Tướng Vỹ phát ngôn trên báo, dân chúng không cần phải nghe tin đồn, chồng con họ bặt vô âm tín đã hơn ba tháng cho dù “Cách mạng nói” sĩ quan cấp úy chỉ đi học tập “mười ngày”, cấp tá chỉ đi “một tháng”. Tuy nhiên, đấy cũng chưa phải là thời điểm mà những người ở nhà hay ở bên trong hàng rào dây kẽmgai tuyệt vọng. Chính quyền biết điều đó và Tướng Vỹ được tha để nói những lời có giá trị trấn an. Đồng thời, “các sỹ quan và nhân viên ngụy quyền” bắt đầu được phép và được động viên viết thư về nhà.

Đầu tháng Bảy, báo Giải Phóng, tờ báo trong R của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, cho đăng lá thư của ông Trần Văn Tức “nguyên là đại úy cảnh sát ở Côn Sơn”, gửi vợ là bà “Nguyễn Bích Thủy, ở số 52-54 Nguyễn Khắc, Sài Gòn 2”. Khi cho đăng lá thư, tờ Giải Phóng nói rõ là “để bạn đọc hiểu thêm cuộc sống hiện naycủa các sĩ quan (trong quân đội ngụy trước đây) đang học tập cải tạo”57. Thông điệp mà Chính quyền muốn gửi qua bức thư này được lồng vào một cách vụng về: “À, ở thư trước anh quên dặn em là đừng tin lời đồn nhảm của bọn phản động của bọn ngụy tuyên truyền làm cho em và ba má ở nhà hoang mang lo sợ. Nếu người nàonói xuyên tạc đó là bọn lưu manh thừa dịp để làm tiền hoặc bọn ngụy phản cách mạng, em nên đến chánh quyền cách mạng tố cáo họ. Anh cố gắng học tập cải tạo tốt để chánh phủ cách mạng khoan hồng cho những đứa con lạc lối được thành người công dân chân chính và sớm về đoàn tụ với gia đình tăng gia sản xuất”58. Hơn một tháng sau, tờ Tin Sáng có bài phỏng vấn bà “LQL”, người vừa trở lại Sài Gòn sau chuyến thăm chồng là “Thiếu tá Tiểu Đoàn phó Tiểu Đoàn 7, Thủy Quân Lục Chiến Ngụy”. Tờ Tin Sáng không nói rõ chị L thăm chồng ở trại nào và chồng chị là ai, chỉ giới thiệu: “Thiếu tá và cả Tiểu đoàn 7 của ông đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An và đã cùng toàn bộ binh lính trong Tiểu đoàn 7 đầu hàng quân đội giải phóng ngày 27-3 vừa qua”. Câu chuyện ở trại cải tạo được tờ Tin Sáng dẫn dắt cho thấy không khí trong các trại cải tạo từa tựa như một trại hè59. Bài phỏng vấn kết thúc bằng lời dặn dò của người chồng: “Em yên trí về lo làm ăn, ở đây em khỏi lo hai thứ rượu và gái, đã làm hai đứa thường mất hạnh phúc như trước kia. Cuộc sống ở đây rất điều hòa và lành mạnh như em đã thấy, chắc chắn bọn anh sẽ khá hơn trước”.

Người phỏng vấn, phóng viên Phan Bảo An, sử dụng những ngôn từ như “tên tướng ngụy…”, khiến người đọc có cảm giác nó được viết bởi một cán bộ tuyên huấn từ “R” về hoặc từ Bắc vào. Nhưng Phan Bảo An là bút danh của ông Phan Xuân Huy, một cựu dân biểu Sài Gòn. Ông Phan Xuân Huy nói rằng cuộc phỏng vấn ông thực hiện được là tình cờ chứ không phải do Chính quyền sắp xếp60; tuy nhiên, về sau ông mới phát hiện ra “người vợ” là con của một gia đình Cách mạng.

Cho đến tháng 9-1975, chỉ những người có nhân thân rất đặc biệt mới có thểvào trại thăm thân nhân. Lá thư của “ông Trần Văn Tức gửi vợ là bà Nguyễn Bích Thủy” trùng hợp với thời gian mà ở các trại cải tạo, “ngụy quân, ngụy quyền” được yêu cầu viết thư về nhà. Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, thời gian này đang cải tạo ở Trảng Lớn, Tây Ninh, kể: “Thư hàng tháng được coi như là một ân huệ của Nhànước ban cho người có tội phải cải tạo,‘dựa trên ý thức truyền thống thông cảm với tình gia đình đậm đà của người dân Việt Nam’… Thư gửi được quản giáo kiểm duyệt. Nội dung thư cứ phải nói ‘học tập tốt, lao động tốt’ và phải động viên gia đình”61. “Đoàn tụ”Có lẽ không mấy gia đình ở miền Nam không đồng thời có người thân vừa ở phía bên này vừa ở phía bên kia. Và có lẽ không có ở đâu, ý thức hệ lại chia cách tình thân đến thế. Ông Tư Bôn, giám đốc Việt Nam Tổng Phát hành, có cậu ruột là một cán bộ cộng sản nổi tiếng, ông Mai Văn Bộ, nhưng vẫn không thoát vòng lao lý. Ở đề lao Gia Định, ông Bộ có vào thăm nhưng người cháu đang bị liệt vẫn tiếp tục bị giam cầm.

Nhà văn Doãn Quốc Sĩ là con rể của nhà thơ Tú Mỡ – người có tác phẩm được miền Bắc đưa vào sách giáo khoa phổ thông – nhưng vẫn phải đi tù. Doãn Quốc Sĩ bị tù tổng cộng mười bốn năm, trong thời gian đó ông không được gặp mặt bố mẹ đang sống ở Hà Nội, thậm chí không được gặp cả người anh ruột Doãn Nho là một nhạc sĩ con cưng chế độ.

Trung tá Phan Lạc Phúc62 cũng có cùng hoàn cảnh như nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Ông Phúc có một người em ruột là sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, năm 1962 tham gia đảo chính bất thành, đi theo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nhưng sau năm 1975, ông Phan Lạc Phúc vẫn phải chịu hơn mười năm cải tạo.

Đại úy Dù Phan Nhật Nam63 có cha là ông Phan Văn Trình, vốn là một sỹ quan tình báo được Việt Minh đánh vào Sở Mật thám Liên bang Đông Pháp. Ngày 2-9-1950, ông Trình đã lập công bằng cách lấy hồ sơ của Sở Mật thám mang ra Việt Bắc. Nhưng, như số phận của nhiều nhà tình báo khác, ông Phan Văn Trình đã không được tin dùng. Ông chỉ là một cán bộ nhỏ công tác ở Hải Phòng và sau năm1975 về Nam chỉ nhận được chức phó chủ tịch một phường ở Sài Gòn. Đại úy Phan Nhật Nam biết trước là không thể nhờ vả được gì vào bố mình. Bởi chính ông, năm 1973, đã từng gây khó khăn cho bố64.

Theo ông Phan Nhật Nam: “Năm 1981, ở Mỹ, khi Mặt trận Hoàng Cơ Minh trao giải cho cuốn sách của tôi, Tù binh và Hòa bình, ở trại Lam Sơn, Thanh Hóa, từ ngày 7-9-1981, tôi bắt đầu bị cùm trong phòng biệt giam. Trong hoàn cảnh đó, ngày 8-5-1985, khi ba tôi lên thăm, ông vất vả ra Hà Nội chờ xin giấy thăm nuôi tôi ở Cục Quản lý trại giam, thay vì có thể xin ở trại như các tù nhân khác. Cuộc thăm nuôi lại chỉ được diễn ra trong vòng mười lăm phút. Cho dù đó là lần đầu tiên gặp nhau sau hơn ba mươi năm, tôi vẫn nói với ông: Ba vất vả quá, thôi đừng thăm nuôi nữa, đợi khi ra tù, con về”65.

Cũng có không ít quan chức Cách mạng thay vì bảo lãnh, đã vận động ngay chính những người trong gia đình mình đi “học tập”. Có người muốn chứng minh với Đảng sự “chí công vô tư”. Có người tin là cần thiết đối với người thân của họ.

Thiếu úy Việt Nam Cộng Hòa Lưu Đình Triều có ba mẹ là cán bộ cao cấp của Cách mạng. Năm 1954, lúc Lưu Đình Triều một tuổi, chị gái Triều ba tuổi, anh đãđược ba mẹ để lại cho bà ngoại để đi tập kết. Trong suốt hơn hai mươi năm, hai chị em Lưu Đình Triều đã lớn lên như những đứa trẻ mồ côi trong khi ba mẹ mình sống ở Hà Nội trong một phần căn biệt thự trên đường Điện Biên Phủ với sổ mua hàng “Tôn Đản”. Ba anh là ông Lưu Quý Kỳ, vụ trưởng Báo chí Ban Tuyên huấn Trung ương kiêm tổng thư ký Hội Nhà báo. Còn anh, năm 1972, khi Chính quyền Sài Gòn tạm đóng cửa các trường đại học và hạ bớt tuổi hoãn quân dịch của sinh viên, như nhiều sinh viên khác, Lưu Đình Triều bị động viên vào lính.

Năm 1975, ông Lưu Quý Kỳ trở về, Lưu Đình Triều nhớ lại: “Bao lần tôi đã nằm tưởng tượng ra cảnh hội ngộ này và nghĩ rằng lúc ấy tôi sẽ hét vang cái tiếng gọi mà tôi đã thèm khát hàng chục năm trời: Ba ơi! Má ơi!”. Nhưng, ngay trong ngày gặp lại, Lưu Đình Triều đã cảm nhận được một “hố sâu thực sự”.

Lúc đó, do tình hình đi lại khó khăn, ông Lưu Quý Kỳ về Nam trước, vợ và con ông, những người sinh ra ở Hà Nội, đã gửi gắm tình cảm vào chiếc máy ghi âm mà ông Kỳ mang theo. Cô em gái Triều sau khi thăm hỏi anh chị, hồn nhiên hỏi: “Từ hôm giải phóng tới giờ anh chị biết bài hát nào mới chưa. Em và con Thảo, con chú Tân, hay hát lắm. Để bọn em hát cho anh chị nghe nhé”. Rồi hai cô gái Hà Nội cất giọng lanh lảnh hát trong máy ghi âm: Sài Gòn đó, quê ta ơi / Trong biển lửa vẫn ngời ngời / Ta đi như sóng căm hờn dâng trào / Xô lên trên xác quân thù hung bạo / Giành một mùa xuân tươi sáng khắp miền Nam…

Lưu Đình Triều viết: “Khi nghe tới đó, tim tôi như thắt lại. Một ‘quân thù’ đang đứng cạnh ba đây. Ba có biết không? Có căm hờn nó không? Từ giờ phút đó, niềm vui hội ngộ trong tôi giảm hẳn. Chỉ có nỗi lo âu, thắc thỏm là mới dâng trào”.

Vài tháng sau, Lưu Đình Triều vẫn phải đi cải tạo. Trong thời gian ở trại, Lưu Đình Triều kể: “Ban ngày chúng tôi phải học lý luận, ban đêm học hát những bàinhư Bão Nổi Lên Rồi, Rầm Rập bước Chân Ta Đi Trên Đường Phố Sài Gòn… Sau khi được “lên lớp” về Truyền thống Chống Ngoại xâm, Đường lối Sáng suốt của ĐảngTa, Cuộc Chiến tranh Chính nghĩa, Chính sách Khoan hồng của Chính phủ Cách mạng…, các trại viên phải tập trung thảo luận, theo hướng: phải phân tích được âm mưu của Mỹ – Ngụy; phải nhận ra Ngụy quyền không chính nghĩa, chỉ có Cáchmạng mới chính nghĩa. Học xong lại phải “soi rọi bản thân”, kể ra những tội lỗi của mình, mỗi người phải nghĩ cho ra một điều phi nghĩa của Quân đội Việt Nam Cộng hòa”.

Lưu Đình Triều nói: “Tôi dẫn chuyện lính Sư 7 hành quân bắt gà, bắt heo của dân. Có người là lính tài vụ, cả đời chỉ đi phát lương, với mong muốn được Chính phủ khoan hồng, đã nhận phát lương cũng coi như tạo điều kiện cho lính đi càn quấy. Có người than, tao nghĩ không ra tội, chúng mày ạ”.

Từ tháng thứ ba, Triều kể: “Mỗi tháng, trại viên được thăm nuôi một lần. Trong số những người thăm nuôi có người quê Biên Hòa, tôi nhắn chị tôi đi thăm. Hóa ra, khi ấy chị tôi đang đi Hà Nội. Khi chị tôi về, lên trại đúng lúc trại cấm thăm nuôi vì một sự cố do trại viên gây ra. Tôi nhìn thấy chị tôi, khoát tay bảo về nhưng chị tôi cứ đứng bên kia đường không chịu. Một người quản giáo tốt bụng tới vỗ vai, nói: ‘Đi theo tôi’. Đi ra, vệ binh chặn lại; nhưng người quản giáo can thiệp. Hai chị em nhìn nhau khóc, khiến người quản giáo cũng khóc”.

Chỉ huy trại khi ấy cũng biết Lưu Đình Triều là con cán bộ cao cấp nên chủ động gửi thư cho ông Lưu Quý Kỳ, nói: “Chúng tôi biết anh, nếu được, anh lên trại chúng ta nói chuyện về cháu”. Ông Lưu Quý Kỳ có lên nhưng thay vì gặp con và bảo lãnh, ông chỉ viết thư khuyên “con cố gắng học tập tốt”. Lưu Đình Triều nhớ lại: “Tôi vừa đọc thư ba tôi vừa xé và vừa cay đắng khóc”.

Có những quan chức Cách mạng không bảo lãnh cho con cháu của mình bởi họ tin rằng những đứa con, đứa cháu lầm đường của họ cần có thời gian cải tạo. Có những quan chức cẩn trọng biết rằng tờ bảo lãnh đôi khi sẽ là một trong những cáicớ để khi cần, các đồng chí của mình đem ra “xử lý”. Ông Trần Quốc Hương nguyên là một nhà chỉ huy tình báo, từng là cấp trên của “ông cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ và “trưởng văn phòng báo Time” Phạm Xuân Ẩn. Năm 1950, ông Hương “đánh” từ Hà Nội vào Nam một cán bộ tình báo có tên là Từ Câu. Vì hoạt động trong lòng chế độ

Sài Gòn nên con cái của ông Từ Câu cũng phải đi lính như những gia đình khác. Sau1975, họ cũng phải đi “học tập”. Khi ông Từ Câu mất, các con ông – thiếu úy Từ Dũng và thiếu úy Từ Tuấn – đang bị cải tạo ở Minh Hải, gia đình có đơn xin cho con về để tang cha. Ông Mười Hương phê đơn, chuyển Giám đốc Công an, xin cho họ“được về để tang rồi vào trại lại”. Trước Đại hội V, ông Trần Quốc Hương66 bị tố cáo “bốn vấn đề”, trong đó, “một đồng chí trong tiểu ban bảo vệ Đảng” tố ông đã canthiệp cho “hai thiếu úy Ngụy ra khỏi trại giam”.

Trích trong ” Bên thắng cuộc “/ Huy Đức / Chương 2: Cải tạo / vinadia.org

Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam

Vanvn- Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ đó tồn tại được là do sự xuất hiện của những cây bút trào phúng sáng giá. Thử hỏi, họ đã cười những gì trong thời đại mà họ đang sống?

Trước hết, “kính lão đắc thọ”, xin được mở đầu bằng nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909), quê ở Nam Định. Ông xứng đáng là bậc “tiên chỉ” trên vuông chiếu của nền văn học trào phúng thế kỷ XX. Tiếng cười của ông thâm trầm và kín đáo. Tưởng là cười cợt, bông lơn nhưng ẩn sau từng dòng chữ là những giọt nước mắt đau đời. Khi đất nước mất vào tay giặc Pháp, nhân cách lớn của Nguyễn Khuyến là không cộng tác với chúng, lấy cớ mắt lòa.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Có lần, ông được mời vào trình diện công sứ Hà Nam, thực chất là để hắn kiểm tra thái độ chính trị. Cũng khăn áo chỉnh tề bước vào dinh, thay vì chào hắn, ông hướng vào mấy cây cột vái mấy cái rồi nói: “Lạy cụ lớn ạ!”. Mọi người bật cười. Ông xin lỗi mắt lòa, không trông thấy gì rõ cả. Viên công sứ giận tím người, nhưng làm sao bắt bẻ được.

Khi chứng kiến Hội Tây được tổ chức hằng năm trên đất nước ta thuở ấy – nhằm mừng ngày cách mạng Pháp (14.7.1789) ông chỉ thấy: “Bà quan tênh nghếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom ghé hát chèo/ Cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo” (Hội Tây).

Những câu thơ trào lộng này khiến ai đọc cũng ngậm ngùi, cũng tủi nhục, cũng đớn đau khi nhìn lại một giai đoạn bi đát của lịch sử nước nhà. Phải thấm nỗi đau, nỗi nhục ấy, Nguyễn Khuyến mới có thể hạ những câu như từng đường gươm sắc bén.

Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) là người đời truyền tụng: “Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Lời tiên đoán ấy không sai. Tú Xương nổi tiếng đến độ, người ta cho rằng đất Nam Định có hai đặc sản: “Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”.

Tú Xương đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học để tạo nên cốt cách trào phúng và trữ tình – sau này, nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học bằng chữ “Tú” của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều “môn đệ” nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một mình – Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Da… rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)…

Tiếng cười của Tú Xương sâu cay, phản ánh rõ nét những nhố nhăng của cái xã hội buổi giao thời Pháp-Việt. Chẳng hạn, đây là cảnh lễ xướng danh của khoa thi năm 1897: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ/ Ậm ọe quan trường miệng thét loa/ Cờ kéo rợp trời quan sứ đến/ Váy lê quét đất mụ đầm ra/ Nhân tài đất Bắc nào ai đó/ Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”. Nghe mà ứa nước mắt.

Nhà thơ Tú Xương (1870-1907)

Trong số các “môn đệ” của Tú Xương, người nối danh không hổ danh thầy là Tú Mỡ (1900-1976). Tiếng cười độc đáo của ông là biết kế thừa cái hay của các sư phụ đi trước và từ ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ là ông đã cười rất ác vào cái ông nghị… gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua nổi! Ông đã vẽ những bức chân dung bằng thơ với đường nét tiêu biểu nhất, không lẫn lộn với ai khác.

Chẳng hạn, đây là một đoạn trong cảnh khuếch trương của các ông nghị trước khi ra bầu cử, ta thấy có giọng châm biếm hài hước của Tú Xương: “Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết/ Công tâm, công ích, lời tâm huyết/ Phen này mở hiệu viết văn thuê/ Dẫu chẳng làm giàu cũng đỡ kiết/ Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh/ Nghe đâu mỗi vé một “rồng xanh”/ Phen này có lẽ mưa ra bạc/ Mà nghị viên ta khỏi phỗng sành” (Bầu cử). “Rồng xanh”: giấy bạc thời Pháp thuộc.

Không rõ, phong thổ của từng vùng đất có ảnh hưởng đến tâm tính hay không, chứ giáp tỉnh Nam Định ở phía Nam là huyện Lý Nhân (Hà Nam) lại có nhà thơ trào phúng nổi tiếng Kép Trà (1873-1923), tên thật Hoàng Thụy Phương, kém Tú Xương 3 tuổi. Hầu như không một quan tham nào ở Hà Nam thoát khỏi ngọn bút phê phán sắc bén của ông.

Sự kiện đáng kể nhất của Kép Trà là đã công khai tấn công bọn “áo mão” mị dân trong lễ kỷ niệm thi hào Nguyễn Du, tối ngày 10-8-1924 tại Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội). Bài thơ được truyền tụng nhiều nhất của ông là thuật lại buổi lễ đó: “Mấy chị đào non cười khúc khích/ Một đoàn mặt trắng huýt lung tung/ Tiên Điền, cụ hỡi hay chăng tá?/ Giỗ cụ, hương trầm bỗng thối hung” (Hỏi cụ Tiên Điền).

Phan Điện (1874-1945) là cây cười tiêu biểu của Hà Tĩnh. Giống như đàn anh Tú Xương, dù ông văn hay chữ tốt, nhưng khoa thi nào cũng… rớt vì phạm trường quy! Người đầu tiên cười vua bù nhìn Bảo Đại có lẽ là Phan Điện.

Khi nhà vua ra Bắc, đi ngang qua huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) cùng với Nam Phương hoàng hậu, quan lại địa phương cho nam thanh nữ tú xếp hàng đầu rồi giàn hương án để rước đón. Con nít trong làng rủ nhau đi xem “mặt rồng” ầm ĩ nên làm đổ một bức tường, đè chết mấy trẻ nhỏ.

Trước sự kiện này, Phan Điện có bài thơ sâu cay: “Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?/ Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!/ Gái đạo phát tài cười tủm tỉm/ Trai lương phải tội chạy long đong/ Mề – đay xiết kể ơn hoàng thượng/ Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng/ Đố biết vì ai nên nỗi thế?/ Vì quan sở tại khéo tâng công!” (Vì ai?).

Đi du lịch miền Trung, đến xứ Huế mộng mơ, chắc hẳn chúng ta sẽ nhớ đến hai câu thơ viết về Huế thuở nước nhà còn nô lệ: “Núi Ngự không cây cu ngủ đất/ Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!”.

Đó là thơ của cây bút trào phúng đất Thần kinh: Nguyễn Khoa Vy (1881-1968), hiệu Thảo Am. Tương truyền, thuở nhỏ, có lần ông lẻn vào Tịnh tâm hái trộm trái cây, gặp lúc vua Thành Thái và thị vệ đang ngồi chơi. Biết đây là cậu học trò thuộc dòng khoa bảng Nguyễn Khoa nên nhà vua mới ra đề thử tài.

Làm thơ xong, vua khen hay và thưởng cho vài chiếc kẹo, Nguyễn Khoa Vy nhận ngay rồi quay lưng chạy. Lính lệ bắt lại ghép vào tội vô lễ với Hoàng thượng, Nguyễn Khoa Vy liền đọc bài thơ tạ tội: “Đang nghịch không ngờ lại gặp vua/ Còng lưng mà chạy rớt càng cua/ Bây giờ lại được vua ban thưởng/ Cảm tạ đâu nào dám “bonjour”! (Không đề).

Tiếng Pháp xen lẫn vào bài thơ tiếng Việt thật tự nhiên- cũng là phong cách cười kín đáo, tế nhị của người Huế vậy.

Vượt qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam, có lẽ ta nên dừng chân lại tâm tình với nhà thơ Tú Quỳ (1828-1926). Thơ trào phúng của ông khá nhiều, tựu trung là đả kích cường hào ác bá và bài trừ mê tín dị đoan…

Chẳng hạn đối với những tên Việt gian, cộng tác với giặc Pháp thì ông chưởi xéo qua bài thơ Vịnh con bò khá độc đáo: “Vũ trụ không qua đồng cỏ tốt/ Sơn hà khó sánh miếng ăn no/ Thâm sơn ruộng thẳm dơ lưng cạch/ Cắm cổ lôi cày mặc kẻ lo”.

Đi dần vào phương Nam, ta ắt gặp Phan Văn Trị (1830-1910) không chỉ là một nhà thơ bút chiến số một của Nam kỳ, ông còn là cây bút trào phúng có bản sắc độc đáo. Ông đả kích không khoan nhượng với cái xấu, sự lươn lẹo của bọn Việt gian ngoi lên bằng con đường nịnh nọt giặc Pháp.

Hát bội là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông: “Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi/ Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi/ Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc/ Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi/ Trên đỉnh có nhà còn lợp lọng/ Dưới chơn không ngựa lại giơ roi/ Hèn chi chúng nói bội là bạc/ Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi”.

Còn có cả Học Lạc (1842-1915) nữa, tên thật Nguyễn Văn Học. Dù học giỏi nhưng thi không đậu, lại gặp lúc Pháp thực hiện chế độ giáo dục Pháp – Việt nên ông không tha thiết gì đến việc tiến thân bằng khoa cử nữa, bỏ về Mỹ Tho học nghề làm thuốc Bắc kiếm sống. Ngòi bút của ông tấn công không trực diện bọn hương chức tham nhũng qua các bài thơ vịnh Con tôm, Con trâu, Con chó chết trôi…

Và đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông, dù viết về Ông làng hát bội nhưng ai cũng biết là Học Lạc ám chỉ ai: “Trong bụng trống trơn, mang cổ giữa/ Trên đầu trọc lóc, bịt khăn ngang/ Vào buồng gọi tổ, châu đầu lạy/ Ra rạp rằng con, nịt thắt mang”.

Hầu như xuyên suốt thế kỷ XX, ở vùng nào trên đất nước ta cũng có những cây cười tiêu biểu. Sau năm 1945 cho đến năm 1975 ở ngoài Bắc nổi lên những cây thơ trào phúng như Xích Điểu, Thợ Rèn, Nguyễn Đình, Sĩ Giang, Lã Vọng, Búa Đanh, Huyền Thanh, Chính Nghĩa, Búa Tạ, Đặc Công v.v… Tiếng cười của các cây bút này vẫn nặng về xây dựng lối sống  mới và chủ yếu là đánh kẻ thù xâm lược bằng những thủ pháp sắc sảo, có ấn tượng.

Xin giới thiệu một, hai cây bút tiêu biểu nhất, chẳng hạn, nhà thơ Xích Điểu (1913-2003), người Hà Nội. Ngòi bút của ông tập trung châm biếm kẻ thù và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội.

Bài thơ Chống tiêu cực làng ta, ông phê thẳng tay: “Tưởng đâu thuở trước bọn văn nô/ Rơi rớt thời nay vẫn sót lò/ Anh bảo bút đây vì tập thể/ Thật ra bút bợ cá nhân to/ Bút bic anh xài đỏ đỏ đen/ Tô màu thành tích nỏ cần xem/ Chỉ cần đối tượng anh tâng bốc/ Luôn nhớ anh bằng những tiếng khen”…

Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn, (1923-2008) tự nhận viết trào phúng để phục vụ nhiệm vụ chính trị kịp thời, phê phán cái xấu trong nội bộ.

Một bài thơ tiêu biểu của Thợ Rèn là Tết Tây: “Chúc trước tết Tây để tết ta/ Các quan liêm chính bớt ăn quà/ Nể lòng cấp dưới nên khôn nỡ/ Lòng vả lòng sung ta với ta/ Gần tết ngược xuôi khắp mọi miền/ Xe hơi rầm rập phố Trường Yên/ Thời trân thức thức trên xe ấy/ Biết chở về đâu? Lẽ tất nhiên!”.

Ngoài ra còn có thể kể thêm các anh tài khác như Bút Châm, Hạt Tiêu, Ong Mật, Mực Đỏ, Dương Quân, Thiện Chí…

Về các cây bút trào phúng miền Nam (1954-1975), hầu như chưa có chuyên luận nào đề cập đến. Có thể kể đến Tú Trọc, Hà Thượng Nhân, Cả Tếu, Ch. Số Zách, Trạng Đớp, Tú Kếu, Cung Văn, Tú Ngang… Thơ trào phúng của họ có lúc dám cà khịa cả chính quyền Sài Gòn. Và tất nhiên đã thơ trào phúng thì họ không thể bỏ qua các sự kiện thời sự.

Lướt qua thế kỷ thơ trào phúng của thế kỷ XX dẫu do dung lượng một bài báo chưa giới thiệu được trọn vẹn nhưng cũng đủ thấy cái kho kiến văn, cái tầm ngạo nghễ của trí thức nước ta quả thật là rộng lớn vô biên.

LÊ BẰNG HỮU / Vanvn.vn

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ

Cộng đồng người Việt ở Mỹ đã luôn gặp phải khó khăn khi cố gắng duy trì tính kết nối với quá khứ, nhưng thế hệ mới đã và đang tìm ra những cách thức sáng tạo để tìm về nguồn cội.

Năm 2000 đánh dấu một thời khắc chuyển giao quan trọng đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Sau 25 năm xây dựng cuộc sống mới cho bản thân nhờ lao động vất vả ngày dài, gây dựng gia đình và nỗ lực thoát nghèo, người ta bắt đầu nhận ra họ đang bỏ quên phần công việc quan trọng, ấy là ghi lại lịch sử hình thành những nơi như Little Saigon.

Các cá nhân chỉ có thể sống một cuộc đời của chính mình và đạt thành tựu, như câu chuyện của Hai Bà Trưng, chỉ khi chúng ta có thể kể về lịch sử của chính chúng ta, chúng ta biết căn tính thực sự của mình là một dân tộc và nơi chốn cộng đồng của chúng ta trên thế giới này, từ quá khứ sang hiện tại và trải tới tương lai.

Sự nhận diện này trong Little Saigon bắt đầu với thế hệ lớn tuổi, những người đã chứng kiến bạn bè mình, thủ lĩnh của mình qua đời trước khi câu chuyện của họ kịp được ghi lại cho thế hệ mai sau.

Trang Việt Báo ngay lập tức thực hiện một dạng sử ký bằng lời dài tập có tên Viết Về Nước Mỹ. Tuy nhiên, những câu chuyện tuyệt vời ấy lại chỉ được phát hành bằng tiếng Việt. Đối với những người nói tiếng Anh, có một câu chuyện lịch sử khác về cộng đồng người Việt ở quận Cam, nhưng chỉ có sáu bản còn tồn tại. Do đó, với rất nhiều người thế hệ trẻ hơn ở Mỹ, những người như nhà văn Nguyễn Thanh Việt, không phải cứ ra thư viện công là tìm kiếm được câu trả lời về một lịch sử mà gia đình họ từ chối nói về.

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-1
Bang Washington D.C, Mỹ.

Có vô vàn những cuốn sách tiếng Anh viết về Việt Nam, nhưng hầu như không có một cuốn nào nói về cộng đồng người Mỹ gốc Việt từ những năm 1975. Và chính thế hệ trẻ sẽ là người cất tiếng thay cho sự im lặng của những người đi trước.

Lớp học giả người Việt đầu tiên viết bằng tiếng Anh xuất hiện quanh thời điểm này. Họ hoàn thành chương trình Tiến sĩ từ những trường đại học danh tiếng trên khắp nước Mỹ, xuất bản những nghiên cứu mà cuối cùng đã giúp thế hệ trẻ hiểu được những trải nghiệm và xúc cảm mà thế hệ cha ông họ đã mang khi cố gắng sinh tồn nơi đất khách quê người, có lẽ cũng chẳng hề mong đợi họ.

Một vài tên sách có thể nêu ra đây như, Little Saigons (2009, tác giả người Philippine Karin Aguilar-San Juan) The American Dream in Vietnamese (2011); Transnationalizing Vietnam (2012);  Becoming Refugee American (2017).; và Returns of War (2018). Sau đó là những tác phẩm văn chương lấy đề tài quá khứ như The Sympathizer (2016) và The Best We Could Do (2018).

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-2
Tiến sĩ Thủy Võ Đặng

Một trong những nhà tiên phong của lứa lớp kể trên là Tiến sĩ Thủy Võ Đặng. Như bao người ở đây, chị ra đời sau năm 1975, và đã nhận thấy rằng cách duy nhất để biết về lịch sử của cộng đồng chính là tự nghiên cứu. Chị đã làm ủy viên của Hiệp hội Nghệ thuật và Thư tín những người Mỹ gốc Việt khi được Đại học California tại Irvine mời tới làm giám tuyển cho Kho lưu trữ Đông Nam Á của trường. Chị cũng giảng dạy các khóa về “Trải nghiệm của người Mỹ gốc Việt” và không lâu sau đó, bắt đầu ghi lại gần 40 năm lịch sử tại vùng ven Little Saigon. Đội ngũ của chị đã phỏng vấn hàng trăm người thuộc mọi lứa tuổi trong cộng đồng này và sau đó đã xuất bản cuốn sách có tên “Vietnamese in Orange County” (Người Việt ở quận Cam, năm 2015, Arcadia Publishing).

Làm giám tuyển và thủ thư nghiên cứu, chị đã giúp vô số những người trẻ thuộc cộng đồng người Việt ở nước ngoài lớn nhất khám phá nguồn cội của mình. Khi được hỏi về tác động của lịch sử đối với sinh viên, chị nói rằng, “Tôi đã làm việc với những em nhỏ lớp 4 tới đây để làm dự án Ngày Lịch sử Quốc gia. Và dù mới chỉ có 10 tuổi thôi, các em đã có khả năng cảm thụ lịch sử của một dân tộc đã phải tha hương bởi chiến tranh, một dân tộc đã can trường vươn lên tại Hoa Kỳ”.

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-3
Bang California, Mỹ.

Trước Covid, Tiến sĩ Thủy vẫn thường tới các cuộc trao giải, các triển lãm nghệ thuật, và liên hoan phim dành cho cộng đồng người Việt ở quận Cam. Chị là một diễn giả công chúng năng nổ, kết nối rất tốt với cả người già và người trẻ. Chị cảm thấy mình có trách nhiệm vận dụng những kĩ năng của một học giả để gợi nhắc cho đồng bào mình rằng, mặc dù cộng đồng hải ngoại có thể tự hào với những bác sĩ và nha sĩ sinh ra và lớn lên ở nơi đây nhưng một xã hội sẽ không thể thịnh vượng nếu không có văn hóa.

Tiến sỹ Thủy cho biết: “Tôi cũng đã nghe những người trẻ chia sẻ cảm giác của họ về những hạn chế trong ngành nghề mà họ có thể theo đuổi – vậy là một thử thách nữa chính là làm thế nào để hỗ trợ những thế hệ tương lai theo đuổi nghệ thuật, giáo dục, khảo cứu – những lĩnh vực ít lợi nhuận nhưng lại thực cần thiết nếu chúng ta muốn thay đổi văn hóa này và thách thức những lối mòn đã và đang đại diện chúng tôi.”  

Cách đó hơn 4 ngàn cây số, ở tận phía bắc bang New York là một khu vực quan trọng khác nữa của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Cách đây không lâu, sử gia nổi tiếng Christopher Goscha đã lái xe gần 500km để tới thuyết giảng tại Đại học Cornell về cuốn sách lịch sử dày 500 trang của ông về Việt Nam. Sau bài giảng tuyệt vời, ông đã từ chối quà cảm ơn và tình nguyện ở lại dọn dẹp.

Không mấy học giả đẳng cấp hành xử như thế, nhưng Giáo sư Goscha muốn gặp người bạn của mình, Alex Thái Võ, một trong những sáng lập viên của chuỗi diễn thuyết Voices on Vietnam vốn có thể mời một số học giả nói tiếng Anh hàng đầu về nghiên cứu Việt Nam, cũng như mời được Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc.

Giáo sư Goscha có lẽ cũng thực hiện nghiên cứu tại Cornell nơi có một trong những chương trình nghiên cứu Đông Nam Á tốt nhất tại Hoa Kỳ với kho sách và hồ sơ lưu trữ bằng tiếng Anh và tiếng Việt không nơi nào sánh kịp. Ngôi trường này cũng giống như một mái nhà của Hiệp hội người Việt ở Cornell, một cộng đồng bé hạt tiêu được thành lập cách đây gần 30 năm. Nhờ một chút may mắn và rất nhiều tình yêu thương, họ đã trở thành mái ấm của nhiều thế hệ cử nhân, học viên cao học, nhân sự, giảng viên và thành viên trong cộng đồng – cả Mỹ và Việt Nam. Họ tổ chức nhiều sự kiện và hoạt động kết nối mọi người dựa trên ba trụ cột: giáo dục, dịch vụ và văn hóa.

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-4
Alex Thai Vo

Alex Thai Vo đã là một trong những học viên cao học mà Cornell đã may mắn có được. Anh vô cùng biết ơn cha khi đã nuôi dưỡng trong anh niềm đam mê với quê hương.

Alex có chia sẻ: “Khi tôi tới Mỹ, một nỗi lo của cha tôi chính là tôi sẽ quên mất tiếng Việt. Thực ra, tôi cũng chưa học được mấy khi còn ở Việt Nam. Tôi còn chưa học xong mẫu giáo, nên thực sự chưa từng có cơ hội học tiếng Việt. Thế là, ngày nào cũng vậy, sau khi đi học về, cha sẽ bảo tôi ngồi vào chiếc bàn nhỏ cha làm cho tôi. Cha nói tôi chép sách, hết quyển này tới quyển khác, từ Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm Khúc tới những cuốn sách lịch sử bằng tiếng Việt dày cộp, còn cha ngồi khâu vá. Chính việc chép sách ấy đã khiến tôi yêu thích văn hóa và lịch sử Việt Nam, giúp tôi trân quý hơn nguồn cội của mình”.

Alex thường trổ tài nấu nướng để kết nối mọi người, dù đó là bữa tiệc sinh nhật và tiệc karaoke, hay mời bạn tới gói bánh tét để bán gây quỹ cho dự án Tâm Việt. Tâm Việt là dự án nhằm gửi áo ấm tới trẻ em nghèo tại vùng sâu vùng xa của Việt Nam.

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-5
Tiến sĩ Jennifer Kim-Anh Trần

Ở vùng ngoại ô Bắc California, Tiến sĩ Jennifer Kim-Anh Trần, giảng viên tại trường California State, East Bay, cũng chịu ảnh hưởng từ cha chị. “Cha tôi đã là một thủ lĩnh cộng đồng tích cực tại Oakland từ khi tôi còn nhỏ. Cha luôn khuyến khích tôi trân trọng văn hóa và truyền thống Việt. Tôi tham gia vào cộng đồng người Việt khi đang học đại học. Khi đó cha đã cho tôi một cơ hội xây dựng chương trình hè về kĩ năng lãnh đạo cho sinh viên người Việt vừa qua Mỹ.”

Trải nghiệm đó cũng như niềm tin mà chị đã gây dựng tại quê hương đã giúp chị trở thành giám đốc điều hành của phòng Thương mại người Mỹ gốc Việt tại Oakland, California, một địa chỉ để chị gắn kết cộng đồng này. 

Thành tựu mà chị tự hào nhất chính là thuyết phục cộng đồng người Việt tại Mỹ công khai phản đối những chính sách chống người di cư và tị nạn của chính quyền Trump. Vào năm 2017, cộng đồng người Việt đã chung tay với các tổ chức đại diện cho 20 quốc gia chào đón những người tị nạn mới tới Bắc California và chứng minh sự tử tế và mến khách của người dân Mỹ cho dù Tổng thống của họ thì không như vậy.

Những nỗ lực này đã kết trái khi những đối tác cộng đồng đã mạnh mẽ ủng hộ những người Việt nói riêng và những người châu Á nói chung chống lại nạn phân biệt chủng tộc đã bùng phát trong bốn năm ông Trump cầm quyền. Tiến sĩ Jennifer Kim-Anh Trần hi vọng rằng người Việt Nam tại Mỹ sẽ đền đáp sự thiện lương mà họ đã từng nhận được ấy, nhất là khi chị biết rằng “những vấn đề mà họ trải qua là vấn đề chung với những cộng đồng da màu”. Những nỗ lực của chị giúp đảm bảo rằng cộng đồng người Việt được thừa nhận và được lắng nghe.

Không nơi nào mà những người Việt trở nên hữu hình như ở các tiệm làm móng. Gần 50% thợ làm móng chuyên nghiệp tại Mỹ là người Việt. Tại California, bang có tới gần một triệu người Việt định cư, cứ năm thợ làm móng chuyên nghiệp thì có 4 người là người Việt. Đây là một ngành công nghiệp có lời, với doanh thu hàng năm lên tới hơn 7 tỉ đô-la Mĩ. Đó là một loại thành công giúp biết bao người Việt di cư và tị nạn tại Mĩ vươn lên tầng lớp trung lưu. 

Nhưng nó thường tới kèm theo cái giá rất đắt.

Chúng ta đều biết tới những rủi ro về sinh hóa khi làm việc tại tiệm làm móng nhờ công của Tiến sĩ Thu Quách. Chị tới Mỹ khi lên 5 tuổi. Khi mẹ chị, thợ làm đầu và làm móng, qua đời vì ung thư, TS. Thu Quách muốn biết liệu có phải những hóa chất mẹ chị tiếp xúc là nguyên nhân. Với bằng tiến sĩ về dịch bệnh học tại trường đại học California tại Berkeley, chị đã xuất bản hơn hai mươi bài báo được bình duyệt về các nguy cơ sức khỏe khi làm tại các tiệm làm móng.

Thế hệ Việt Nam mới trong cộng đồng ở Mỹ-6
Tiến sĩ Thu Quách

Sau khi phát hiện ra những người làm ở đây có nguy cơ phơi nhiễm cao với “bộ ba độc hại bao gồm phthalates, toluen và formaldehyde,” chị đã dành hàng giờ để dạy nhân sự tại các tiệm làm móng cách yêu cầu hệ thống thông gió tốt hơn, đồ bảo hộ cá nhân đúng chuẩn và nhiều sản phẩm không chứa bộ ba hóa chất độc hại này. 

Tìm được tiếng nói của mình, chị đã đồng sáng lập nên Pivot, một tổ chức tình nguyện cấp tiến của người Việt, giúp lên tiếng về một số những vấn đề nghiêm trọng mà cộng đồng người Việt gặp phải.

Chị nói: “Đã có Liên đoàn công dân Mỹ gốc Nhật thực sự mạnh mẽ và hoạt động lâu dài. Tôi cũng muốn kiến tạo nên điều tương tự cho người Việt và vì thế tôi đã nỗ lực cùng những người khác để đồng sáng lập nên Pivot, gây dựng nó chỉ để có được thứ gì đó mà chúng tôi có thể neo vào. Nó không chỉ về văn hóa mà còn có tính mục đích và cấp tiến”.

Trong đợt bầu cử 2020, Pivot đã xây dựng trang web Viet Fact Check để chống lại những thông tin sai lệch và tin giả trong cộng đồng người Việt. Hiện tại, trang web vẫn được cập nhật để đưa tin về các chủ đề như Covid.

Phương Nguyễn và Betty Châu Nguyễn 

T.S. Phương Nguyễn là Giáo sư dự bị (associate professor) chuyên ngành Lịch sử Hoa Kỳ tại Đại học California State, Monterey Bay. Ông là tác giả cuốn Becoming Refugee American: The Politics of Rescue in Little Saigon [tạm dịch: Trở thành người Mỹ tị nạn: Chính trị Giải cứu ở Little Saigon] (NXB Đại học Illinois, 2017). 

Betty Châu Nguyễn là quản lý sự kiện đặc biệt tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Middlebury tại Monterey. Bà là đồng sáng lập Tổ chức Bản sắc Văn hóa Đông Nam Á tại Vancouver, Canada. 

Theo VietnamNet

Đừng khóc cho Bill và Melinda!

Đừng khóc cho Bill và Melinda!
VỢ CHỒNG TỶ PHÚ BILL AND MELINDA GATES VỪA TUYÊN BỐ CHIA TAY. LY HÔN Ở NƯỚC MỸ LÀ CHUYỆN THƯỜNG NGÀY Ở HUYỆN. NHƯNG CÂU TRẢ LỜI THÚ VỊ HƠN LÀ CHO CÂU HỎI: “TIỀN ĐỂ LÀM GÌ?”.

Bill gặp Melinda năm anh vừa trở thành tỷ phú trẻ nhất thế giới (31 tuổi) trong một bữa tiệc của công ty. Melinda là cô gái duy nhất được tuyển chọn từ các trường đại học hàng đầu vào làm cho Microsoft năm đó. Cô đến muộn và thấy một còn 2 chỗ trống nên ngồi vào 1 chỗ. Lát sau Bill đến và ngồi vào ghế bên cạnh…

Một tuần sau, hai người tình cờ gặp nhau trong bãi đậu xe công ty. Bill mời cô đi ăn tối, lịch kín nên hẹn thứ Sáu sau 2 tuần (CEO của công ty kỹ nghệ lớn nhất toàn cầu lúc đó). Cô lính mới trả lời: “Dạ thôi, hẹn hò mà phải lên kế hoạch xa thế thì… không tùy hứng”.

Bill gọi lại nàng ngay chiều hôm đó, mời nàng đi ăn: “Tối nay có đủ tùy hứng cho em không?”.

Trước khi cưới Bill làm một danh sách “pros-cons’ (lợi và bất lợi) của việc cưới vợ trên bảng trắng treo trong phòng ngủ của mình. Sau 6 năm thì lợi hơn hại và họ cưới nhau.

Cuộn hôn nhân 27 năm đã cho thế giới 3 người trẻ tuổi đàng hoàng, tử tế. Quỹ từ thiện tư nhân lớn nhất thế giới cho đến nay Bill – Melinda Foundation trị giá cần 60 tỷ USD, chuyên giúp đỡ nước nghèo và người nghèo trong các vấn đề cụ thể như chống bại liệt, sốt rét, HIV-AIDs và bây giờ là gần 2 tỷ chống COVID. Đây là chưa kể hệ thống hỗ trợ tài chính và giáo dục cho người nghèo; Việt Nam cũng được hưởng khá khá từ quỹ này

Bà Melinda còn lập quỹ riêng Pivotal Ventures, để làm những việc từ thiện theo ý riêng của mình, không nằm trong quan tâm của quỹ chung.

Đừng khóc cho Bill và Melinda! - Ảnh 1.

Hai ông bà sáng lập ra “Lời hứa tặng cho – The giving pledge” cùng các tỷ phú hàng đầu thế giới như Warren Buffet, Mark Zuckerberg, George Lucas và bà Mackenzie Scott, vợ cũ của Bezos… cam kết cho đi phần lớn tài sản của mình khi họ còn sống.

Nhưng ông cũng không bỏ lên núi nhịn ăn và thiền… Ông bà có nhiều tài sản riêng, đặc biệt là ngôi nhà do ông tự xây bên bờ hồ Washington rộng 5 mẫu. Khách đến chơi được gắn một ghim vào ve áo và đi đâu thì tòa nhà sẽ tự chỉnh khí hậu, âm nhạc theo đúng sở thích của khách… Bill nói rằng, nhà ông có công nghệ tiên tiến nhất nhưng không phải để khoe, mà để âm thầm phục vụ con người. Trong quá trình xây dựng, hàng xóm phàn nàn về bụi đất đá trên đường, ông bà đã tặng rửa xe miễn phí và sửa chữa nhỏ do chính đội xây nhà của ông làm cho tất cả hàng xóm trong suốt thời gian công trình.

Đừng khóc cho Bill và Melinda !

Có tiền là để thay đổi thế giới tích cực hơn, và để sống theo ý mình! Ly hôn chả làm họ thiệt hại gì. Họ có tự do khi còn tương đối trẻ, con đã lớn và vẫn cam kết tiếp tục các hoạt động từ thiện của mình!

Chúng ta nên mừng vì tình trường nay có thêm 2 người giàu có, tử tế, trông cũng khá và hoàn toàn tự nhiên, không có nhựa hay silicon!

(Trích từ fb Hoàng Thị Mai Hương) / Theo Doanh nghiệp và Tiếp thi