Chợ cá nhộn nhịp nhất Quảng Nam

Hơn 15 năm qua chợ cá Tam Tiến vẫn tấp nập thuyền bè ra vào sáng sớm, buôn bán đủ loại tôm cá, cua, ghẹ tươi ngon.

Hàng trăm tàu thuyền đánh bắt cá tập kết ven biển Tam Tiến, chở cá tôm về bờ lúc rạng sáng. Ngư dân cho biết cách đây hơn 15 năm, Tam Tiến đơn thuần là nơi tàu thuyền cập bến. Về sau, khi số lượng tàu đánh cá tăng lên, thương lái cũng tập trung nhiều hơn tạo nên khu chợ sầm uất như hiện nay.

Ngoài thuyền máy, thuyền thúng là phương tiện hiệu quả để chuyển các thùng cá vào bờ.

Khoảng 4h sáng, biển trời vẫn còn đen thăm thẳm, chợ đã bắt đầu nhộn nhịp. Vụ cá nam ở Tam Tiến kéo dài từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 9, nhưng với ngư dân, vụ cá này tới khi có gió Tây Nam thổi về và kết thúc vào gió bấc.

Chợ cá trên bãi biển Tam Tiến thuộc huyện Núi Thành cách TP Tam Kỳ khoảng 15 km. Chợ chỉ họp mùa hè (vào vụ cá nam) và là nơi bán hải sản đầu mối lớn nhất của tỉnh Quảng Nam.

Từ trung tâm thành phố Tam Kỳ, du khách đi xe theo đường DT614 hướng ra biển Tam Thanh gặp một ngã ba. Từ đây, đi thêm khoảng 6 -7 km về phía tay phải là đến nơi.

Hải sản ở chợ đa dạng, hầu như loại nào cũng có, từ cá phèn, cá chim, cá đối, cá cơm, cá ngừ cho tới cá hố, cá nục và các loại tôm, cua, ghẹ.

“Khung cảnh lao động hăng say của mọi người ở đây là cảm hứng cho tôi sáng tác”, anh Trần Minh Trí (1989), nhiếp ảnh gia quê Quảng Nam, cho biết.

Những thùng cá cơm được bán cho thương lái và đem đi phơi. Ngư dân cho biết cá cơm, cá nục thường được khai thác bằng mành mùng (lưới vây rút trũ), nhiều hôm trúng đậm 1-2 tấn cá.

Xịa mực cơm tươi rói hấp dẫn du khách. Mực cơm còn gọi là mực sữa, dài khoảng 5-12 cm, bên trong chứa đầy trứng. Mực cơm được đánh giá là đặc sản giàu dinh dưỡng của vùng biển miền Trung.

Giá bán hải sản tại chợ khác nhau tùy loại lớn nhỏ, như cá chim 120.000 – 140.000 đồng/kg, cá nục 50.000 -70.000 đồng/kg hay mực cơm 100.000-140.000 đồng/kg. Vào dịp lễ, giá bán sẽ cao hơn ngày thường.

Nhiều người dân tại đây đầu tư các lò hấp cá, cơ sở phơi cá với quy mô lớn nên các loại hải sản như cá nục, cá cơm, mực được tiêu thụ nhanh chóng.

Huỳnh Phương / Ảnh: Trần Minh Trí / Vietnam Epress

Tình một đêm – Chuyện cần nói ‘dài kỳ’

66% số người Mỹ và châu Âu được hỏi đã từng qua đêm với người lạ chỉ duy nhất một lần trong đời. Con số cho thấy tình một đêm phổ biến hơn chúng ta tưởng.

“Gửi Deidre,

Vợ tôi có tình một đêm với một người đàn ông lạ. Giờ đây, cô ấy muốn chúng tôi tái hợp nhưng tôi không chắc mình có thể tin tưởng cô ấy lần nữa”.

Tình một đêm - hiện tượng khá phổ biến trong đời sống hiện đại. Ảnh: Mens Health.
Tình một đêm – hiện tượng khá phổ biến trong đời sống hiện đại. Ảnh: Men’s Health.

Câu chuyện của một độc giả giấu tên gửi tới mục tư vấn tình cảm – giới tính “Dear Deidre” của tờ The Sun (Anh) được bắt đầu như vậy.

Độc giả này kể, anh có một gia đình vốn rất hạnh phúc trước đây. Trong một lần tình cờ kiểm tra điện thoại của vợ, anh phát hiện ra ba năm trước, vợ anh từng quan hệ với người bạn trai cũ của con gái. Chàng trai lúc đó chỉ mới 20 tuổi. Đến nay, anh biết đó chỉ là tình một đêm nhưng anh vẫn không chấp nhận được sự lừa dối của vợ và không biết có nên tha thứ hay không.

Nếu tình một đêm là câu chuyện của những người độc thân với nhau, kết thúc sẽ dễ dàng hơn với chỉ hai lựa chọn, hoặc quan hệ sẽ tiến xa hơn, hoặc mãi mãi chỉ dừng ở một đêm duy nhất đó. Tuy nhiên, nếu “tình một đêm” đem lại những rắc rối như độc giả ở trên, sẽ còn nhiều câu chuyện phải bàn về trách nhiệm với mối quan hệ bền vững đã có trước đó.

Trả lời người đàn ông phát hiện vợ có tình một đêm, chủ mục Dear Deidre nói: “Vợ anh đã mắc sai lầm nghiêm trọng, nhưng liệu đó có phải là tội lỗi xóa hết mọi khía cạnh tích cực khác trong hôn nhân của hai người không? Khi nhìn lại, anh có thực sự vô tội không? Nếu trong sâu thẳm trái tim, anh vẫn còn yêu vợ mình, sẽ thật hối tiếc nếu anh không cho cô ấy một cơ hội khác”.

Tình một đêm không phải là câu chuyện mới mẻ, nó khá phổ biến ngày nay, ở bất kỳ đâu trên thế giới. Nhưng những cuộc khảo sát về tình một đêm sẽ vẫn có thể gây sốc cho bạn.

Bà Deidre – chủ mục tư vấn tình cảm – giới tính Dear Deidre của tờ The Sun (Anh).
Bà Deidre – chủ mục tư vấn tình cảm – giới tính “Dear Deidre” của tờ The Sun (Anh).

Trong một cuộc khảo sát của Zava – cổng thông tin sức khỏe khá nổi tiếng ở Anh, vào năm 2017, 500 người châu Âu và 500 người Mỹ được hỏi về suy nghĩ của họ đối với tình một đêm. Kết quả khảo sát là có tới 66% (tương đương 660 người) thừa nhận họ từng qua đêm duy nhất một lần với ai đó trong đời. Trong số những người thừa nhận mối quan hệ tình một đêm của mình, chỉ có 14% xác nhận họ đã lên kế hoạch cho cuộc gặp đó, trong khi 86% còn lại là tự phát và rơi vào hoàn cảnh tình cờ.

Những hoàn cảnh tình cờ dẫn đến tình một đêm không quá đa dạng. Hầu hết đều xuất phát từ một cuộc vui ở những quán rượu hoặc các điểm giải trí, các bữa tiệc… Kết quả khảo sát cũng cho thấy người Mỹ có tình một đêm nhiều hơn người châu Âu. Trung bình mỗi nam giới Mỹ được hỏi có khoảng 7 mối tình một đêm, còn nữ giới là 6 người. Lần lượt tỷ lệ này đối với người châu Âu là nam có 6 và nữ có 4 tình một đêm trong đời.

Phụ nữ ít hài lòng với tình một đêm so với đàn ông. Họ cũng ít kể câu chuyện “qua đường” của mình với bạn bè xung quanh. Điều này là bởi họ bị đánh giá gay gắt hơn nếu nói chuyện về tình một đêm của mình. Đàn ông ngược lại, thường tán dương bạn mình nếu họ có một vài mối tình kiểu một đêm như là một thành tích đáng nể.

Mặc dù tình một đêm không còn bị lên án mạnh mẽ như trước, mọi người vẫn không thấy thoải mái khi nói về nó trong các cuộc giao tiếp, kể cả những người đã có tình một đêm. Hơn 25% phụ nữ và 17% nam giới châu Âu được hỏi khẳng định họ sẽ lên án những người có tình một đêm ngay cả khi đó là những người độc thân. Lần lượt với người Mỹ là 21% nữ giới và 14% nam giới có chung quan điểm.

Nhiều người trong số họ cũng đã cư xử với tình một đêm đúng như cách mối quan hệ được gọi tên. 43% người Mỹ và 29% người châu Âu không giữ liên lạc với đối tác sau đêm duy nhất đó.

Ngày nay, mạng xã hội phát triển với các ứng dụng hẹn hò thầm kín như Tinder, Bumble, Dating của Facebook, thậm chí môi trường trò chuyện Snapchat cũng trở thành nơi để tình một đêm phát triển rộng rãi.

Quan điểm cởi mở đưa đến xu hướng xem sự hòa hợp trong quan hệ tình dục trở thành điểm mấu chốt để đánh giá sự bền vững của một mối quan hệ. Một cuộc khảo sát khác của Match – một dịch vụ hẹn hò của Mỹ – đã chỉ ra rằng, đàn ông tin rằng tình dục tạo ra sự kết nối cảm xúc mạnh mẽ. Sau quan hệ, họ đã vượt qua rào cản ban đầu một cách thoải mái nhất.

“Bạn đã hiểu người đó ở trên giường như thế nào. Khi các bạn tìm hiểu nhau, mọi thứ sẽ tốt hơn, từ đó bạn có nhiều cảm xúc hơn”, Sullivan – một nhà môi giới hôn nhân cho nam giới ở Manhattan chia sẻ trên tờ Men’s Health. Trong khi đó, chuyên gia về tình dục Lang Langston cho biết, quan hệ làm tăng mức độ dopamine trong não và nó là một tác nhân tăng mức độ liên kết giữa hai người với nhau.

Vậy làm thế nào để biết tình một đêm chỉ là “tai nạn” sau cuộc rượu hay đó sẽ là dấu hiệu của một sự gắn kết trong tương lai?

Nếu hai người có một mối quan hệ tình dục tuyệt vời trong đêm duy nhất đó nhưng lại không có nhiều điều để nói với nhau, đó là dấu hiệu cho thấy đó chỉ là ham muốn, Sullivan nhận định. Nhưng nếu bạn kết nối, tận hưởng sự thoải mái của nhau, hỏi nhau rất nhiều trước và cả sau khi quan hệ, có thể đã có điều gì đó sâu sắc hơn chuyện tình một đêm để hai bạn cùng khám phá và bước tới.

Dương Mi (Theo Sun, Men’s Health, Business Insider)

10 đặc điểm quyết định sự hấp dẫn của bạn

10 đặc điểm quyết định sự hấp dẫn của bạn

Mỗi người đều có những phẩm chất khiến mình trở nên xinh đẹp, đáng quý nhưng đôi khi sẽ phải bóc từng lớp mới phát hiện ra.

1. Tính cách

Tính cách của bạn được tạo thành từ quan điểm, suy nghĩ và cách cư xử khiến bạn trở nên độc đáo, riêng biệt. Nhiều người cho rằng tính khí phát triển từ bên trong con người và gần như không đổi trong suốt cuộc đời.

Theo một nghiên cứu của Viện y tế quốc gia Mỹ năm 2017, tính cách có phần di truyền. Vì vậy có khả năng bạn giống tính cha, mẹ hoặc giống cả hai.

2. Nụ cười

Khi ai đó nhìn vào bạn, họ thấy bạn đang cười rạng rỡ hay có khuôn mặt cau có? Bạn hãy yên tâm rằng, chẳng ai nghĩ người cau có là hấp dẫn. Nụ cười phát ra nguồn năng lượng tích cực và khiến người khác thấy tin tưởng bạn hơn. Khi cười, bạn đang xóa bỏ đi hàng rào và cho mọi người thấy bạn là người ấm áp và thân thiện.

Các nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học bang Pennsylvania (Mỹ) cho thấy nụ cười có khả năng lây lan. Ví dụ nói chuyện với một người tích cực, hay cười có thể giúp bạn thoát khỏi cảm giác một ngày tồi tệ.

Nụ cười tạo nên sức hấp dẫn cho bạn. Ảnh: Healthline.
Nụ cười tạo nên sức hấp dẫn cho bạn. Ảnh: Healthline.

3. Cách bạn đối xử với người khác

Đây luôn là dấu hiệu cho thấy vẻ đẹp bên trong bạn. Bạn có gần gũi với cha mẹ, các anh chị em, đối xử với họ bằng tình yêu và tôn trọng không? Bạn có giúp đỡ những người gặp khó khăn trong khả năng mình có không?

Hành trình cuộc đời của một con người không phải là làm mọi thứ cho bản thân mà còn là cho đi và làm cho thế giới này thành một nơi tốt đẹp hơn để sống. Một người bạn đời tiềm năng sẽ nhận ra sự hấp dẫn của bạn thông qua lòng tốt mà bạn dành cho xung quanh.

4. Trí tuệ

Không thể phủ nhận trí tuệ của một người tạo nên sức hấp dẫn cho họ. Bạn sẽ rất ấn tượng tốt đẹp với một người có am hiểu rộng hoặc sâu về một chủ đề, hoặc họ có suy nghĩ sâu sắc khiến bạn càng nghe càng ngấm.

5. Hạnh phúc

Nụ cười là một cách mà cho thấy bạn hạnh phúc, nhưng khi bạn thực sự hạnh phúc thì không cần phải toát ra từ nụ cười. Mọi cử chỉ, dáng đi, lời nói, điệu bộ của bạn sẽ toát ra điều đó. Sự hạnh phúc của một người có thể lây lan. Ở bên những người này, chúng ta sẽ thấy tốt hơn ngay cả khi mọi thứ dường như đang sụp đổ.

6. Đôi mắt của bạn

Bạn đã bao giờ nghe nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn? Sâu bên trong, bạn có bóng tối hay ánh sáng? Khi tìm được điều mình hứng thú, mắt bạn sáng lên và thể hiện sự tinh khiết rạng rỡ. Nhìn sâu vào mắt ai đó có thể nhận ra bản chất con người họ. Đôi mắt đẹp không vì màu sắc hay hàng mi, nó đẹp vì nhìn vào đó, bạn có thể thấy cả một thế giới sắc màu.

7. Cách bạn là chính mình

Một quý cô có thể mặc một chiếc váy rẻ tiền mà trông như hàng hiệu. Ngược lại, một số phụ nữ có thể mặc một chiếc váy hàng nghìn đô nhưng trông giống như khoác áo rách lên người. Tất cả phụ thuộc vào cách bạn thể hiện bản thân và tự tin là chính mình.

8. Giọng hát

Hãy nghĩ về một số ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Điều gì ở họ đã khiến công chúng đổ xô đến các buổi hòa nhạc? Không hẳn vì vẻ ngoài mà vì giọng hát như thôi miên, không thể cưỡng lại. Họ được yêu vì hấp dẫn đến từ tài năng.

9. Khả năng làm cho người khác cảm thấy tốt

Bạn đã bao giờ gặp ai đó, ngồi nói chuyện với họ và cảm thấy như thể đã biết họ cả đời? Có điều gì đó đặc biệt ở người này khiến bạn cảm thấy có thể nói chuyện cả đêm.

Đây là một con người biết lắng nghe, biết kể chuyện. Họ không đánh giá những sai lầm trong quá khứ và luôn khuyến khích người khác nỗ lực hết mình. Hãy xem, có người có ngoại hình đẹp chẳng có ý nghĩa gì nếu bạn không thể ngồi xuống nói chuyện với họ.

10. Khiếu hài hước

Đây là một trong những đặc điểm tính cách đáng chú ý nhất. Người có khiếu hài hước là một người thú vị và dễ dàng tạo được ấn tượng, thành công trong bất cứ cuộc trò chuyện nào. Theo nhà nghiên cứu Jeffrey Hall, đến từ Đại học Kansas (Mỹ), nếu bạn có mối quan hệ với một người đàn ông hài hước, thì đó sẽ là một hành trình đầy niềm vui trong thời gian dài. Cả hai bạn sẽ hạnh phúc bên nhau.

Bảo Nhiên (Theo Powerofpositivit)

“Phản động”

Học Tập Cải Tạo” – Trình Diện Để Đi Tù Đầy | OVV
Ảnh : Trình diện để đi học cải tạo.

Một diễn biến khác, xuất hiện ngay từ những ngày Trung ương Cục nhóm họp để triển khai “Chiến dịch X-1, X-2”, được quan tâm đặc biệt vì liên quan đến an ninh chính trị. Ngày 3-9-1975, Trung ương Cục được báo cáo:

“Bọn chánh quyền cơ sở đi tập trung rất ít. Bọn Tuyên úy cũng đi rất ít. Cảnh sát đặc biệt, dự kiến đi 1.500, nhưng chúng tập trung đến 2.460 tên. Nhưng, dự kiến trên 1.000 tuyên úy chỉ đi 2 tên; dự kiến trên 150 tên chiến tranh tâm lý, đi 46 tên; dự kiến 500 cảnh sát đã chiến chỉ đi 190 tên; Quân cảnh đi 140 tên; Tình báo dự kiến 1000 chỉ đi 142 tên; Biệt kích 1000 chỉ đi 64 tên; Chiêu hồi dự kiến 300 chỉ đi 130 tên; Bình Định dự kiến 1500 chỉ đi 55 tên; Dự kiến đợt I, (đối tượng này) là10.200 nhưng chỉ đi 4.800 tên; còn lại tên 5000; ta tổ chức bắt trên 400 tên; bọn cơ sở, tình báo, quân báo tại chỗ dự kiến 3 vạn mới làm được 8.290 tên. Theo báo cáo thì việc tổ chức học tập là tốt. Hội nghị chủ trương: Đối với bọn tuyên úy công giáo, phật giáo và tin lành giáo, Ban Mặt trận Thành mới tới nói chuyện động viên khuyến khích đi học; các tôn giáo trở về phải có ý kiến với từng người để họ đi học. Sau cuộc nói chuyện sẽ tổ chức bắt nếu họ không chịu đi trình diện. Đối với biệt kích, gia hạn đăng ký một thời gian; đề cao bọn ra trình diện; kêu gọi gia đình động viên con em họ đi học sau đó tổ chức truy bắt”67.

Chính sách cải tạo cũng đã đi vào lịch sử Tòa thánh Vatican từ ngày 15-8-1975, khi Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận được mời tới Dinh Độc Lập, tại đây ông bị bắt giữ và trong ngày hôm ấy được di lý ra trại giam Cây Vông, Phú Khánh.

Việc Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận, người gọi ông Ngô Đình Diệm là cậu ruột, làm giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn vào ngày 25-4-1975 (chỉ chưa đầy một tuần trước khi “giải phóng”) đã làm cho Cách mạng lo lắng. Bản thân nội bộ công giáo cũng có những hoạt động được cho là “mờ ám”; một số linh mục được coi là “cấp tiến” đã ám chỉ các tín hữu của Đức Cha Thuận là “phản động”. Ngày 13-5-1975, một nhóm sinh viên công giáo đã đột nhập vào Tòa Tổng Giám mục đòi Đức Cha Thuận phải từ chức. Ngày hôm sau, 14-5, chính họ lại cũng đột nhập vào Tòa Khâm xua đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre.

Chính quyền không đứng ngoài những hoạt động “cấp tiến” này, nhưng Chính quyền cũng đã hoang mang khi những hành động quá khích như vậy tác động trở lại. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận là trong buổi chiều bắt Đức Cha Thuận, Chính quyền đã triệu tập tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ tới tòa nhà Quốc hội Sài Gòn để nghe “nói chuyện”, nhằm tránh những phản ứng khiến cho tình hình phức tạp thêm. Người dân Sài Gòn quan sát những diễn biến ấy trong nỗi lo sợ rất rõ ràng, nhưng thái độ của mỗi người thì một khác. Nhà báo Đoàn Kế Tường kể: “Sáng 29- 4-1975, tôi và một người bạn gặp nhau trên cầu Sài Gòn, anh hỏi: ‘Đi không?’. Tôi nói không lưỡng lự: ‘Không. Tôi còn mẹ già ở Quảng Trị’. Anh chia tay tôi xuống Tân Cảng, một chiếc tàu hải quân đang đợi chúng tôi ở đó. Nhưng tôi không thể ngờ được là mọi thứ sau 30-4 nó lại đảo lộn lên như thế”.

Đoàn Kế Tường sinh năm 1947 tại làng Đông Dương, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Vì cha từng đi lính Tây nên năm 1960 khi mới mười ba tuổi, ông được đưa vào học trường Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu, được huấn luyện trở thành lính Biệt kích. Từ năm 1965 được đưa lên tác chiến ở vùng Lộc Ninh, Bù Đốp, Phước Long. Là lính trận thật sự, hai lần bị thương, nhưng chàng trai trẻ mười tám tuổivẫn có chút máu Quảng Trị, làm thơ từ trong rừng sâu gửi về các tờ báo ở Sài Gòn rồi được kết nạp vào Hội Văn – Nghệ – Sỹ Quân đội.

Năm 1969, nhân Đại hội Văn – Nghệ – Sỹ Quân đội toàn quốc, Đoàn Kế Tường nhờ Chu Tử68 xin cho về lại Sài Gòn làm báo. Chu Tử, một nhà báo quen biết nhiều nhân vật có thế lực, đã nhờ Trung tướng Lê Nguyên Khang can thiệp, đưa Tường cuối năm ấy về Sài Gòn làm trong tờ báo Đời của Quân đội. Đầu năm 1970 khi Chu Tử ra thêm tờ nhật báo Sóng Thần, Đoàn Kế Tường vừa viết cho Đời vừa viết thêm cho Sóng Thần. Tại đây, anh chơi thân với họa sỹ Ớt (Huỳnh Bá Thành), đang làm cho báo Điện Tín. Tường kể: “Buổi trưa chúng tôi vẫn cùng nhau binh xập xám”.

Nhưng, sau cái ranh giới 30-4-1975, Ớt và Tường không bao giờ có thể “binh xập xám” với nhau. Huỳnh Bá Thành là một cán bộ An ninh T4, biết những ngườinhư Đoàn Kế Tường ở lại và “tư tưởng đang có những diễn biến phức tạp”. Trong Hội nghị ngày 3-9-1975, Trung ương Cục lưu ý “các đối tượng làm việc cho các cơ quan Mỹ, văn nghệ sĩ, báo chí, ký giả” và phân công: “An ninh phối hợp với Hoavận, tình báo nghiên cứu đề xuất phương án đối với Quốc Dân Đảng, Tàu đặc vụ và nhân viên làm việc với nhân viên Mỹ. Tuyên Huấn Thành và Thông tin Văn Hóa nghiên cứu kỹ đối với văn nghệ sỹ, ký giả”69.

Đoàn Kế Tường kể tiếp: “Tôi trốn trình diện dù có quá khứ là thiếu úy biệt kích rồi cùng người bạn thân là Dương Đức Dũng tham gia vào tổ chức Dân quân phục quốc70. .. Chúng tôi in truyền đơn, in lời kêu gọi và phát tán chúng. Ngày 29-4-1975, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã lấy trực thăng bay ra hàng không mẫu hạm Midway mà chúng tôi vẫn nghĩ là ông lên rừng lập chiến khu. Chúng tôi cùng nhau hát: Tôi đi theo anh, Nguyễn Cao Kỳ, anh hùng của dân / Tôi đi theo anh, Nguyễn Cao Kỳ, anh hùng rừng xanh71. Khi đó, tôi còn quá trẻ lại đầy máu nghệ sỹ, cứ nghĩ những việc làm của mình cũng như một cuộc chơi mà sinh viên Sài Gòn vẫn làm hồi trước 1975”.

Nhưng Sài Gòn đã không còn như “hồi trước 1975”. Đoàn Kế Tường kể tiếp: “Trong những ngày ấy, Huỳnh Bá Thành có gặp tôi hỏi, nếu muốn làm báo Tin Sáng thì Thành sẽ giúp, nhưng tôi chỉ đáp cụt lủn: Không! Tôi sẽ vào rừng!”. Đêm 22-10- 1975, Huỳnh Bá Thành đến nhà Đoàn Kế Tường còng tay người bạn từng binh xậpxám hôm nào. Trong đêm ấy, Dương Đức Dũng, Thái Sơn và giáo sư Lê Việt Cương cùng bị bắt.

Gần bốn tháng sau, ngày 10-2-1976, Nguyễn Việt Hưng, Trần Kim Định bị bắt. Đêm 12 rạng sáng 13-2-1976, lực lượng an ninh Thành phố bắt đầu tấn công nhà thờ Vinh Sơn, thu giữ các thiết bị phát thanh và in tiền giả. Hai linh mục cố thủ trong nhà thờ đã dùng súng và lựu đạn chống trả quyết liệt, bắn chết Nguyễn Văn Ràng, một cán bộ an ninh. Mãi tới gần sáng, lực lượng bao vây mới khống chế được nhà thờ, hai linh mục Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Quang Minh cùng 3 người khác bị bắt.

Vụ nhà thờ Vinh Sơn chưa kịp lắng xuống thì ngày 1-4-1976, xảy ra một vụ nổ ở Hồ Con Rùa72 làm cho một người chết, bốn người bị thương và phá hủy hoàn toàn con rùa làm bằng đồng đặt giữa hồ.

Hai ngày sau, báo Sài Gòn Giải Phóng đăng bản tin có tựa đề, “Tóm gọn tại chỗ bọn phản động và phá hoại”, với mấy dòng ngắn gọn: “Ngày 1-4, bọn phản động và phá hoại, trong âm mưu phá rối trật tự trị an và cuộc sống yên lành của nhân dân ta, đã gây tiếng nổ tại công trường quốc tế (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Một tên trong bọn chúng bị chết tại chỗ và bọn còn lại đã bị an ninh ta tóm cổ đưa về điều tra”73. Cùng ngày, tờ Giải phóng, cũng đăng bản tin với độ dài và nội dung: “Trừng trị tại chỗ bọn phản động và phá hoại: Tối 1-4-1976, bọn phản động và phá hoại, trong âm mưu phá rối trật tự trị an và cuộc sống yên lành của nhân dân ta,đã gây tiếng nổ tại công trường quốc tế (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Công trường này ở ngã tư đường Duy Tân, Võ Văn Tần và Trần Cao Vân; ở giữa có một vườn hoa nhỏ, đồng bào ta thường ra ngoài hóng mát. Một tên trong bọn phản động bị chết tại chỗ và bọn còn lại đã bị an ninh ta tóm cổ đưa về điều tra”74.

Vụ nổ xảy ra lúc 8 giờ tối, được Huỳnh Bá Thành kể lại là “vang dội từ phía sau lưng đuổi tới, nhà cửa hai bên đường rung chuyển và đó đây tiếng kính vỡ rơi lổn cổn, khô khốc”75. Khi “trinh sát” đến hiện trường, theo Huỳnh Bá Thành: “Mùi thuốc nổ vẫn còn khét lẹt. Một cảnh tượng hãi hùng trước mắt Trường Sơn: một thâyngười đầy máu, bay mất cái đầu và đôi bàn tay, đang được anh em cảnh sát khiêng lại để gần chỗ đặt chất nổ. Bốn thanh niên bị thương máu me đầy mình được xe cảnh sát tức tốc đưa đi cấp cứu. Bên cạnh cảnh tượng chết chóc và thương tích rùng rợn ấy, con rùa bằng đồng to tướng bị chất nổ làm banh ra từng mảnh nhỏ, văng ra vung vãi. Theo giám định hiện trường của các đồng chí cán bộ cảnh sát thuộc bộ phận khoa học hình sự đã xác định sơ bộ: chất nố được đặt ngay ở thâncon rùa đồng, loại TNT có sức công phá ước chừng mười đến mười lăm kilogam”76.

Việc Chính quyền vội vàng kết luận trên báo chí người chết là “một tên trong bọn phản động” là chưa có căn cứ. Huỳnh Bá Thành, người mà báo Tuổi Trẻ nói rằng đã “tham gia điều tra từ đầu cho tới khi kết thúc vụ án”77, cũng thừa nhận rằng: “Không tìm thấy giấy tờ tùy thân nào trong người hắn… khó mà kết luận tuổi tác chính xác khi người chết không còn mặt mũi và hai bàn tay. Nạn nhân mặc chiếc quân jean Mỹ bạc màu, chiếc áo kaki đã sờn, chân đi dép nhựa mòn sát gót.

Cũng thật khó mà kết luận thành phần xã hội của kẻ đặt chất nổ”78.

Theo Huỳnh Bá Thành thì có ít nhất ba trường hợp đã đến công an đầu thú, một số kẻ khác đã bị bắt khi đang ba hoa ở quán café rằng mình là chủ mưu, nhưng “hóa ra bọn họ đều là những kẻ háo danh hoặc có vấn đề về tâm thần”. Nhiều vụ “bắt bí mật” đã được ngành an ninh thực hiện, một trong số đó là Lỗ Hung79. Lỗ Hung khai nhận và theo Huỳnh Bá Thành, trong người anh ta có một mảnh giấy ghi: “Làm thêm ba thẻ tổ viên tổ hợp ván sàn”. Theo Thành thì vợ chồng nhà văn Trần Dạ Từ và Nhã Ca80 cũng có một tổ hợp ván sàn và Lầu Phá Xấu, theo đặc tình của Thành là Đặng Hoàng Hà81, người mà nữ đặc tình này biết là thường xuyên qua lại với vợ chồng nhà văn Nhã Ca.

Trên thực tế, cho dù mãi tới ngày 6-4-1976 vụ án mới “được làm sáng tỏ”, nhưng ngày 2-4-1976, tức là chỉ mười hai giờ sau vụ nổ, những người như Nhã Ca, Trần Dạ Từ đã bị bắt. Nhà văn Duyên Anh kể: “Buổi tối, mùng 2-4-1976, tôi định xuống Cây Quéo kiếm Trần Dạ Từ hỏi xem Từ có đem về nhà cuốn Em Yêu nào không. Em Yêu là cuốn sách mới nhất của tôi, nhờ Trần Dạ Từ in mướn. Sách chưa kịp vô bìa, thì Sài Gòn mất. Rẽ vào đường Ngô Tùng Châu, nhìn con ngõ nhà anh chị Hoàng Văn Đức thấy tối tăm, bùi ngùi quá, tự nhiên, tôi đạp xe về. Đêm ấy, vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca bị bắt cùng với Đặng Hoàng Hà82, Đặng Hải Sơn. Nếu tôi có mặt ở nhà Từ, tôi cũng bị bắt luôn. Cũng đêm ấy, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Mạnh Côn lên đường trực chỉ Sở Công an”83.

Một chiến dịch bắt bớ văn nghệ sỹ được kéo dài cho đến ngày 28-4-1976. Duyên Anh kể tiếp: “Đêm ấy, đêm kinh hoàng, đêm mở đầu chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ. Hôm sau, cả Sài Gòn xôn xao vụ bắt bớ nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tối mồng 3-4, tôi đến nhà Mai Thảo ở 101 Phan Đình Phùng xem Mai Thảo bị bắt chưa. Tôi ngồi ngoài xe hơi của Đặng Xuân Côn, bảo Côn xuống hỏi thăm Nguyễn Đăng Viên, anh ruột Mai Thảo. Viên rất thông minh, anh trả lời Mai Thảo đi vắng và nhờ Côn, nếu gặp Mai Thảo, nhắn về gấp. Viên ra dấu cho Côn chuồn lẹ. Côn hiểu ý vì đã đoán ra hai khách lạ nón cối, dép râu, nhìn Côn không chớp mắt. Tôi rú ga, vọt mau. Côn ngoái lại, hai khách công an đã phóng ra vỉa hè. ‘Nó đến bắt Mai Thảo’, Côn nói. Tôi đi tìm dấu vết Mai Thảo, không lùng nổi tung tích Mai Thảo. Công an không bắtđược Mai Thảo, đã giả vờ quên tôi. Để tôi kiếm giùm Mai Thảo”84.

Đến chiều ngày 8-4-1976 thì chính Duyên Anh cũng chịu chung số phận. Ôngkể: “Trước đó nửa tiếng đồng hồ, tôi đang băm thịt, nấu cháo nuôi vợ ốm, ông tổ trưởng dân phố của tôi dẫn ông phường trưởng và công an phường đến thăm gia đình tôi, hỏi chuyện sinh hoạt phường khóm và nếp sống mới. Tôi bỏ nồi cháo dưới bếp để tiếp chính quyền. Chừng mười phút, một ông công an cáo lỗi ra về. Mười phút sau, mật vụ ập vào nhà tôi, súng ngắn súng dài đầy đủ. Cộng sản luôn luôn chơi chắc ăn. Họ giả vờ thăm viếng tôi. Khi biết đích xác tôi có mặt ỏ nhà, họ mới đến bắt… Cảnh tượng gia đình tôi, bấy giờ, thật bi thảm. Vợ tôi đang đau nặng, vụt tỉnh, tung mền chạy ra phòng khách. Tôi nhìn cái còng nhãn hiệu Mỹ do cộng sản siết dính trên tay mình, nhìn vợ tôi mặt mày tái mét, nhìn ba đứa con tôi ngơ ngác, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi đợi công an đến bắt tôi sau khi tôi hay tin họ đã bắt Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành, Doãn Quốc Sĩ…”85.

Lý do “bọn phản động cho nổ Hồ Con Rùa” được Huỳnh Bá Thành thuật lại trong cuốn sách mà báo Tuổi Trẻ khẳng định là “một câu chuyện hoàn toàn có thật” là nhằm phá con rùa “ếm đuôi rồng” để cho đuôi rồng quậy phá chế độ mới86.

Duyên Anh, một nhân vật của cuốn sách Vụ Án Hồ Con Rùa, nhận xét: “Bỏ qua thứ văn chương hạng bét và thứ kiến thức tình báo giày dép của Huỳnh Bá Thành, cộng sản khẳng định chúng tôi là tay sai của CIA gài lại. Căn nhà số 104 đường Công Lý (sau này đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa) của vợ chồng Đằng Giao là trụ sở lui tới họp bàn của chúng tôi. Bút hiệu của chúng tôi được nhai nhái hơi hơi giống. Đằng Giao là Đỗ Gia. Chu Thị Thủy là Chu Nữ. Vợ chồng Nhã Ca, Trần Dạ Từ là Lê Dạ, Tú Dung. Nguyễn Mạnh Côn là Nguyễn Côn. Tôi là Vũ Long… Cộng sản đề cao Hoàng Hà Đặng (tên thật Đặng Hoàng Hà) như một ‘lãnh tụ’ ghê gớm, ngang cơ với Hồ Chí Minh thuở hoạt động bí mật. Thật ra, Đặng Hoàng Hà chỉ là anh phóng viên tài tử, con người hiền lành, chưa từng biết tình báo là cái gì. Đưa chúng tôi lên mây, trao mìn về cho chúng tôi, cho chúng tôi thảo luận chiến lược(!) với các đại cố vấn Mỹ trước 1975 rồi khi ‘tóm’ được chúng tôi thì mô tả chúng tôi là những thằng ‘ăn mày’, những thằng ‘đói thuốc phiện thất thểu’ vào tù đền tội, và ‘xưng em’ với nữ công an ngọt xớt”87.

Trên thực tế, trong những ngày ấy cũng có rất nhiều những người chống đối chính quyền bằng hành động, có những người – nhất là giới văn nghệ sỹ – chống đối bằng những lời nói cho sướng mồm, có những kẻ lợi dụng lòng tin, bày đặt chống đối để lừa đảo tiền tình của những người dân không ưa chế độ. Nhưng cũng có những cái bẫy được đặt ở đâu đó.

Ngày 6-04-1976, Chính quyền quyết định tấn công vào nơi được coi là “sào huyệt của bọn phản cách mạng”, đặt trong một khu rừng ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng, bắn chết sáu người, bắt sống “Chủ tịch Trần Duy Ninh và tám tên khác”. Ngày 8- 04-1976, bốn mươi ba mục tiêu ở Sài Gòn bị đồng loạt tấn công: “bắt thêm năm mươi tên, thu giữ một điện đài, hai máy in bạc giả, một máy phát điện, toàn bộ máy móc để xây dựng đài phát thanh, tám mươi súng các loại, 100kg thuốc nổ TNT và một số tài liệu phản động”88.

Hành động này còn mang ý nghĩa trấn áp, vì ngày 29-4-1976, trên cả nước sẽ diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng của Chính quyền Cách mạng: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Thống nhất đầu tiên của Việt Nam. Chính quyền muốn đảm bảo rằng sẽ không xảy ra sự cố. Nhiều người đã bị bắt mà cho đến tận khi nhắm mắt lìa đời vẫn không biết lý do là gì89.

Ngày 7-4-1976, họa sỹ Chóe bị bắt.

Họa sỹ Chóe tên thật là Nguyễn Hải Chí, trong thời gian “đi trung sỹ” tại Phòng III, Bộ Tổng Tham mưu, Chóe nổi tiếng với những tác phẩm biếm họa phản chiến đăng trên báo chí Sài Gòn chế diễu từ Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger, Tổng thống Nixon cho tới Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu; tranh của Chóe cũng châm biếm cả bà Nguyễn Thị Bình và ông Lê Đức Thọ… Ở cơ quan Tổng Tham mưu: “Hạ sĩ Nguyễn Hải Chí bé tí trước đại tướng Cao Văn Viên. Nhưng họa sĩ Chóe thì vĩ đại gấp nghìn lần Cao Văn Viên”90. Trong chiến tranh, biếm họa của Chóe được các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ đăng.

Chính quyền Sài Gòn cũng không ưa gì Chóe. Cuối năm 1974, ông bị bắt do vi phạm lệnh “cấm những người đang phục vụ trong quân đội làm báo”. “Khi đại tướng Tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa đào ngũ trốn khỏi Việt Nam quên đọc Huấn thị, Nhật lệnh, nhờ đại tá thi sĩ Cao Tiêu viết hộ thì hạ sĩ Hải Chí còn nằm ở phòng giam của Cục An Ninh quân đội”91. Ngày 30-4, chính Cách mạng đã mở cửa nhà tù cho Chóe.

Họa sỹ Chóe nhớ lại: “Một hôm đi ngang qua quán cà phê 104 Công Lý của Chu Thị Thủy – Đằng Giao, tôi nghe Nhã Ca kêu, nên có vào ngồi một lúc. Đó là lần duynhất tôi ngồi với họ kể từ sau ngày 30-4”92. Nhưng sự liên đới của Chóe không chỉ bị Huỳnh Bá Thành lưu ý trong lần cà phê ấy.

Trong Vụ Án Hồ Con Rùa, Thành đã viết về mối quan hệ của Tú Dung – Nhã Ca với Barry Hilton: “Viên sĩ quan CIA người Mỹ tên là Barry Hilton cầm tay chỉ việc cho Tú Dung, thì nữ văn sĩ này biến thành một ‘nữ biệt kích’ chống cách mạng mộtcách hoàn toàn không còn lương tri của một người trí thức”. Cách nói đó không chỉ cáo buộc Nhã Ca. Huỳnh Bá Thành, cũng từng là một họa sỹ biếm, biết Barry Hilton đánh giá cao tài năng của Chóe. Barry Hilton đã tuyển tranh của Chóe in thành tập The World of Choe. Sách đã in nhưng vì Barry Hilton là công chức thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ nên phải chấp nhận không phát hành tập sách đả kích Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó.

Chóe bị bắt khi đang làm việc ở tòa soạn báo Lao Động Mới. Ông bị dẫn về nhà ở số 52/8 Quang Trung, Gò Vấp, lúc đã 6 giờ chiều; công an khám xét tới 9 giờ đêm thì giải ông về trại “tạm giam”. Huỳnh Bá Thành là người bắt Chóe.

Ba ngày trước tổng tuyển cử, 26-4-1976, An ninh ra lệnh bắt tiếp Luật sưNguyễn Ngọc Bích. Ông Bích không bao giờ biết vì sao mình bị bắt93. Ông từng làm cho cơ quan trợ giúp Mỹ USAID trong chương trình “cấp căn cước cho người từ mười sáu tuổi trở lên” và sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông nhận được học bổng đi học thêm một năm tại Đại học Harvard, Mỹ. Tháng 4-1975, ông là “chuyên viên đặc nhiệm” cho Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản.

Những cuộc bắt bớ tương tự kéo dài tới năm 1978. Một trong số đó là nhà trí thức cách mạng Hồ Hữu Tường. Từ giữa thập niên 1920 khi du học ở Paris, ông Hồ Hữu Tường từng tham gia phong trào Đệ tứ Quốc tế cùng với các ông Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu. Mặc dù năm 1939, ông Tường từ bỏ chủ nghĩa Marx và phong trào Đệ tứ nhưng năm 1940 ông vẫn bị người Pháp bắt và đày ra Côn Đảo cho tới năm 1944. Ra tù, với tư cách là một nhà trí thức, ông Tường có nhiều bài viết nổi tiếng về cả chính trị, kinh tế và văn hóa phổ biến ở Hà Nội. Năm 1946, ông làm cố vấn cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Đà Lạt. Ông là một trong những người biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt cho bậc trung học của nước Việt Nam, lúc ấy, vừa tuyên ngôn độc lập.

Ông Hồ Hữu Tường bị người Pháp bắt lại năm 1948 và năm 1957, sau khi về sống ở Sài Gòn, bị chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên án tử hình vì làm cố vấn choMặt trận Thống nhất của Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên. Nhờ có sự can thiệp của những nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Albert Camus, Nehru, ông được giảm xuống khổ sai. Ông được trả tự do sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Ra tù, ông được mời làm phó viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh và năm 1967, ông tham gia chính trường với tư cách là một dân biểu đối lập. Ông Hồ Hữu Tường không phải đi cải tạo cho đến khi ông có một vài “sáng kiến chính trị” vào năm1978, năm ông Tường sáu mươi tám tuổi94. Ba lần ông thoát khỏi nhà tù, của người Pháp và của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng tới lần thứ tư thì không. Ngày 26-6-1980, ông Hồ Hữu Tường được đưa từ trại Z30D ở Hàm Tân về Sài Gòn, nhưng trên đường đi thì ông mất.

Năm 1981, trong khuôn khổ một hoạt động của US-VN Reconciliation Project, bà Luật sư Ngô Bá Thành được mời tới Đại học Harvard. Tại đây, bà cho rằng, những người được đi cải tạo là may mắn vì nếu họ bị đưa ra một phiên tòa như Nuremberg thì có thể họ đã bị xử bắn. Luật sư Ngô Bá Thành không biết rằng con gái của ông Hồ Hữu Tường, người tù cải tạo vừa mới chết một năm trước đó, Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm lúc ấy đang dạy lịch sử ở Harvard cũng được người tổ chức chương trình,ông John McAuliffe, mời dự95. Lập luận của bà Ngô Bá Thành không mới đối với Hà Nội nhưng rất ngạc nhiên khi nó được nói ra bởi một luật sư.

Việc đưa vào tù hàng trăm nghìn con người đã buông súng hoặc không hề cầm súng, không bằng một bản án của tòa, sau ngày 30-4-1975, và đặc biệt, câu chuyện đưa 1.652 con người trên tàu Việt Nam Thương Tín vào tù được kể lại sau đây, thật khó để nói là may mắn.

Trưa 29-4-1975, Dân biểu Nguyễn Hữu Chung có được một “sự vụ lệnh” do Tổng thống Dương Văn Minh ký cho phép tàu Việt Nam Thương Tín thực hiện chuyến di tản cuối cùng. Sáng 30-4-1975, khi con tàu này ra tới cửa sông, đã bị B40 bắn theo, giết chết nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm Nhật báo Sống. Con tàu Việt Nam Thương Tín và hàng nghìn người nằm đợi ở đảo Guam gần năm tháng. Sự chờ đợi trước một tương lai vô định trong khi vợ con, cha mẹ vẫn đang kẹt lại quê nhà đã khiến cho nhiều người muốn quay lại Việt Nam, nơi mà họ tin là đã bắt đầu thống nhất và chắc chắn có hòa bình.

Một trong số ấy là Đại úy tình báo Võ Tính96. Ông Võ Tính được người Mỹ tạo điều kiện đưa toàn bộ gia đình di tản. Tuy nhiên, cha ông nói: “Tao chờ đến ngàyđất nước thống nhất, tại sao tao phải đi khi ngày đó gần kề”. Còn cha vợ ông thì khi đó đang mong hai người con trai tập kết từ năm 1954 trở lại.

Ông Võ Tính đã định ở lại Việt Nam, nhưng vào những ngày cuối tháng 4-1975, người Mỹ khuyến cáo là sẽ vô cùng nguy hiểm. Ông Tính được đưa ra Phú Quốc và khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ông được đưa ra Hạm đội 7 để rồi sau đó tới Guam. Cũng như nhiều người lính khác, Đại úy Võ Tính không chắc có bị “Việt Cộng” trả thù trong khi, từ trong thẳm sâu, ông nhận thấy chỉ có Việt Nammới là tổ quốc. Không tìm được lý do hợp lý để bỏ nước, bỏ cha mẹ già, người vợ trẻ và 3 đứa con thơ, Đại úy Võ Tính đã tham gia vận động để người Mỹ cho phép những người Việt quay lại Việt Nam bằng con tàu Việt Nam Thương Tín.

Ngày 29-9-1975, sau khi Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc nhận được sự đồng ý của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, tàu Việt Nam Thương Tín rời Guam trong một buổi lễ tiễn đưa trang trọng: có những phụ nữ mặc áo dài, chào cờ và được truyền hình Mỹ tường thuật. Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ được ủy nhiệm chỉ huy chuyến trở về của con tàu này.

Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín về đến hải phận Vũng Tàu. Mãi tới hôm sau, hai tàu Hải Quân treo cờ đỏ sao vàng mới chạy ra và dừng lại cách tàu Việt Nam Thương Tín gần 200m. Những người lính Hải quân dùng ống nhòm quan sát rất kỹ và sau mấy giờ, họ hướng dẫn tàu Việt Nam Thương Tín chạy ngược ra phía miền Trung. Những người trở về bắt đầu linh cảm điều gì đó bất thường nhưng họ vẫn còn hy vọng và vẫn còn chờ đợi.

Tới Nha Trang, tàu bị dẫn vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Tất cả mọi người đều bị dồn lên những chiếc xe bít bùng và khi được chở tới Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II thì mọi người được lệnh “phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào phòng giam”. Trừ một đứa bé khi ấy 7 tuổi, tất cả đều phải đi tù, người ít nhất 9 tháng, người lâu nhất – Trung tá Trần Đình Trụ – phải ở tù tới 13 năm.

Trích trong ” Bên thắng cuộc ” của Huy Đức / Vinadia.org

Dân tộc Việt Nam ‘còn đang ở tuổi thiếu niên chờ trưởng thành’

Học sinh lớp sáu tại lễ khai giảng ở Hà Nội
Một lễ khai giảng năm học mới ở Hà Nội – hình minh họa
Năm 1916 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu viết bài thơ ngắn “Bính Thìn Xuân Cảm,” trong đó có hai câu lừng danh:
“Dân hai lăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”
Hơn 100 năm sau, cho đến ngày hôm nay, 2021, nhìn vào con người, chính thể và văn hóa Việt Nam tổng quan, chúng ta nên tự vấn, Nước và Dân ta đã hết trẻ con chưa?
Theo tôi, câu trả lời là Chưa.

Dân ta, như là một khối nhân loại trên trường tiến hóa tâm thức, vẫn còn mang nặng bản chất trẻ con. Dù có trưởng thành lên chút ít, nhưng tựu chung thì Việt Nam vẫn còn đang ở trong giai thời thiếu niên, và chưa thực sự trưởng thành.

Từ bản sắc Sử tính sợ hãi ‘the unknown’

Từ trong chiều dài Sử tính Việt, mặc cảm tự ty của một tâm thức nô lệ của dân tộc nầy đã biến hóa ra thành nhiều dạng thức mà bản chất vẫn là phủ định, tiêu cực. Lòng hận thù và sợ hãi ngoại bang là động cơ chính cho lòng yêu nước, rồi thành chủ nghĩa yêu nước, thứ dừng lại ở ý thức hệ quốc gia – rồi trở thành một tôn giáo, một giáo điều. Những lễ lạt ‘về cội nguồn’ ngày càng rầm rộ gần đây là một bằng chứng.

Tổ quốc trở thành thần linh – một sự hình thành ý thức dân tộc gần giống như là của dân Do Thái khi họ tự coi nòi giống họ, đất nước họ, là con và của riêng của Chúa Trời.

Có hai hình thái chủ nhân, masters, của dân Việt vốn phát xuất từ tâm thức nô lệ. Về địa lý chính trị thì ông chủ là Trung Hoa; về sinh mệnh và biến cố thì chủ thể là số Trời. Tinh hoa Sử tính Việt là của một năng ý phủ định và vươn thoát hai ông chủ khắc nghiệt đó nhằm kiến tạo cho chính mình một Sử Mệnh mới.

Qua chiều dài Sử tính khắc nghiệt đó, và vì mang tâm thức thuần phủ định trong lòng yêu nước – đối với ngoại bang – Sử tính Việt thiếu hẳn đi một năng ý tích cực và tự tin cần thiết.

Tính tích cực nội tại vốn đòi hỏi mỗi con dân Việt phải tự mình chuyển hóa chính mình, đứng dậy mà trưởng thành và lớn lao lên trên cơ bản cá nhân – để từ đó xây dựng quốc gia trên nền tảng định chế đại thể và giá trị nội tại cho nhu cầu bảo vệ tổ quốc đồng thời đưa đất nước lên đến một tầm mức tiến hoá cao hơn theo nhịp trống thời đại.

Sự khiếm khuyết của một bản sắc tích cực trong năng thức Việt đã tạo ra một lịch sử hiện thân cho khuyết điểm này. Điều nặng nề là tâm ý Việt vừa sợ và vừa thần phục Trung Hoa – và sau này cũng như thế đối với Pháp và các cường quốc Âu Mỹ. Ta luôn đối đãi với Trung Quốc và Âu Mỹ với một tâm thức nô lệ – vừa tự ty mặc cảm đồng thời hãnh diện bất khuất, vừa thần phục nhưng ghét bỏ.

Từ mặc cảm tự ty và bất an, cái Ta của người Việt, khi đặt trước Văn minh Trung Hoa, nhìn ra đại dương ta thấy nó là một giới hạn. Trong khi đó, người Tây Âu cũng nhìn ra đại dương và đã thấy nó là cơ hội. Vì cái Ta dân tộc nầy, nước nhược tiểu, chưa bao giờ có khả năng lớn mạnh đủ để thử thách cơn sóng lớn của biển khơi, để đứng ngang hàng với các cường quốc khác.

Cũng đã có vài lần trong chiến sử, các hạm đội của hải quân Việt Nam đã chứng tỏ một sức mạnh ấn tượng – như thời Nguyễn Ánh – nhưng tất cả cũng chỉ vừa đủ cho nhu cầu chiến tranh ngắn hạn, chứ chưa hề là hiện thân cho một ý chí thử thách đại dương và làm chủ lãnh hải.

Cho đến sau 1975, từ cao trào vượt biển tỵ nạn thì lần đầu dân Việt mới ít nhiều vượt qua tâm lý sợ hãi và tiêu cực đối với đại dương. Nhưng nên nhớ rằng, phần lớn người Việt vượt biển lúc đó đã biết hành trình sẽ đến nơi nào – chứ không như người Tây Âu nhiều thế kỷ trước, khi lên tàu bước ra khơi họ – dân TâyBan Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan…đã không biết là đại dương như thế nào và sẽ đi về đâu. Thử thách cái không biết đến, the unknown, vẫn là sức mạnh của người Tây Âu. Cho ý chí và tinh thần thử thách tương lai thì dân Việt vẫn còn yếu kém.

Thiếu sáng tạo và lười biếng về tư duy

Tiếp theo, từ trong tâm thức tiêu cực và chấp nhận, văn hóa Việt gần như hoàn toàn là một văn hóa trích mượn – a derivative culture. Nó thể hiện tâm chất bất an và thiếu tự tin. Do đó, họ vừa cực đoan và vừa nhu nhược. Như tôi thấy trong cộng đồng người Việt ở Mỹ rất nhiều vụ việc hễ người khác xúc phạm người Việt thì chúng ta phản ứng mạnh mẽ cao độ. Nhưng chỉ cần một thế hệ, hầu hết con cháu ta đã từ bỏ, hoặc không màng gì đến những bản sắc văn hóa Việt.

Dân Việt nói chung rất thiếu tự tin về nguồn gốc dân tộc mình. Không như dân Ấn Độ hay gốc Hoa ở Mỹ đến mấy thế hệ vẫn còn sử dụng một cách tốt và hãnh diện ngôn ngữ, y phục, phong hóa tập thể trong cộng đồng họ. Trong khi đó, chỉ cần hai thập niên thì người Việt gần như từ bỏ hết bản sắc gốc gác của họ. Từ ngôn ngữ, cách đặt tên cho con, từ cách nhuộm tóc hoe vàng cho đến cung cách văn hóa tập thể, cái Ta của người Việt ở hải ngoại là hiện thân của hai mặt tiêu cực từ một tâm thức bất an và nô lệ đó. Tất cả đều có nguồn gốc từ Sử tính Việt như đã trình bày ở trên.

Hãy nhìn vào thế giới tri thức. Người cầm bút Việt Nam hầu như chỉ có làm được ba chuyện: làm thơ, viết truyện ngắn, và dịch thuật sách ngoại ngữ. Ngay cả về văn chương, văn sĩ Việt vẫn không có khả năng viết chuyện dài, hay trường thiên tiểu thuyết. Trí thức Việt không có ý chí đại thể lớn lao về năng lực tri thức. Họ không có đủ tự tin – dù rất có thể là về khả năng thì họ có đủ – để sáng tạo lý thuyết, triết học cho mình.

Giáo dục Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Bệnh bằng cấp dẫn tới nạn thi cử và gian lận thi: Họp báo về ‘kết quả thi bất thường’ tại tỉnh Hà Giang hồi năm 2018

Hơn nữa, trí thức Việt mang bệnh lười biếng suy nghĩ sáng tạo. Họ nỗ lực cao độ – nhưng phải dựa vào một nội dung có sẵn. Vì vậy, họ chỉ thích dịch sách mà thôi. Vì công việc phiên dịch, chuyển ngữ, họ không cần suy nghĩ về khái niệm, về ý tưởng, về cấu trúc bố cục cho sách. Họ ưa tranh luận về câu văn, cụm từ nào đó có dịch cho đúng với ý nghĩa theo văn bản tiếng ngoại quốc hay không. Họ không bàn đến ý nghĩa của khái niệm hay lý thuyết. Họ chỉ muốn tranh cãi về những tiểu tiết – the trivial facts – vốn chỉ là vay mượn.

Hoang tưởng văn hóa và giấc mơ cường quốc…buôn đất

Tâm ý Việt mang nội dung bất an của một dân tộc, vừa hãnh tiến nhưng đồng thời cũng không đủ tự tin về văn hóa của mình. Từ đó, vì thiếu chiều dày tích lũy giá trị của một nền văn minh có chiều sâu, trí thức Việt mang ý chí huyền thoại hóa lịch sử dân tộc và sáng tác ra những câu chuyện văn hóa Việt cổ đại huyễn hoặc để tự phong cho dân Việt là tác giả của những nguồn mạch văn hóa lớn – chứ không phải của Trung quốc.

Hai vị trí thức đáng kính gần đây, Kim Định và Lê Mạnh Thát, là biểu trưng cho năng ý huyền thoại hóa văn hóa Việt nầy.

Về chính trị địa lý thì giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, than ôi, vẫn mang điều hoang tưởng về khả thể cường quốc – một “tiểu Trung Hoa” theo mô hình xã hội chủ nghĩa mơ hồ, ‘vì lý tưởng XHCN’ bền hơn ở quê hương của nó. Họ thực ra bị chi phối bởi tầm nhìn ngắn hạn và thực dụng.

Sự loay hoay giữ hoang tưởng vĩ cuồng cho quốc gia trung thành với ý thức hệ Marx-Lenin đã bị châu Âu đào thải đang gây mâu thuẫn trầm trọng với khả năng kinh tế và chính trị của thể chế cũng như của giới doanh nhân Việt.

Hãy nhìn đến nguồn gốc của sự giàu có của giới đại gia Việt – hầu hết, gần như tuyệt đối, là nhờ kinh doanh bất động sản.

Hãy thử đi ngang qua những khu chung cư cao tầng ở Hà Nội hay Sài Gòn, ta sẽ thấy một quang cảnh phát triển phố thị vô lý – và nhất là phản cảm, thiếu thẩm mỹ. Từ đường Nguyễn Hữu Cảnh ở Sài Gòn, khi nhìn vào khu chung cư cao tầng Central Park, ta sẽ rùng mình bởi một cảnh tượng xây cất mang sắc thái hiếp đáp hồn người. Quang cảnh phố thị với những nhà cao tầng thiếu thẩm mỹ đã triệt tiêu cái đẹp của tâm hồn người phố thị.

Ở Sài Gòn hiện nay, hầu hết các dự án căn hộ cao cấp đều dành cho giới siêu giàu để họ đầu cơ với chính sách thuế khóa vô lý, phản tiến bộ – trong khi giới trung lưu (tương lai của dân chủ) và nghèo khó đang đối mặt với khủng hoảng gia cư trầm trọng.

Mặc cảm quốc tế và nhu cầu trưởng thành

Vậy hôm nay chúng ta đang ở đâu trên Trái Đất này?

Nhìn lại, ý chí Sử tính quốc gia trước Trung Hoa, và sau là đứng trước Âu Mỹ, hệ thống chính trị Việt Nam muốn được coi trọng và công nhận một cách chính thức, nhưng thiếu dũng cảm để tạo vị thế mà không cầu xin.

Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng Hán, Nguyên, Minh, Thanh các vua chúa Việt Nam phải cử sứ thần sang Trung Hoa để triều cống và xin được phong vương vị.

Về chiến thuật, dĩ nhiên, đó là công việc ngoại giao mềm mỏng, ổn định quan hệ quốc tế với đại cường để phục hồi và xây dựng sau chiến tranh.

Nguyễn Trãi là một trường hợp điển hình. Dù là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo oai phong, tuyệt vời cả về văn ngữ lẫn tinh thần nội dung, nhưng khi đọc Trung Quân Từ Mệnh Tập mà Nguyễn Trãi đã viết thay mặt Lê Lợi gởi cho nhà Minh, chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi cảm nhận được cái nhục nhã, cái thái độ khom mình cúi đầu thần phục đối với phương Bắc. Thế nhưng dần dần chiến thuật nhún nhường cần thiết với nghi thức phong kiến và ngôn ngữ của kẻ yếu đã trở nên một bản chất cá tính của tầng lớp chính trị Việt.

Bản sắc cá tánh muốn được công nhận ảo này còn thành ‘yếu tố di truyền’ trong văn hóa bằng cấp, học hàm , học vị của người Việt. Với truyền thống thi đỗ thì được làm quan để cho cả họ được nhờ, học vị khoa bảng đã trở thành chìa khóa cho thực tại tiến thân trong xã hội – cũng như cho tâm ý được coi trọng và công nhận giá trị nhân bản bởi tha nhân và đại thể khách quan.

Ta chỉ là một công dân khi được có bằng cấp, hay chức vị trong triều đình. Ta chỉ hiện hữu khi Ta được công nhận bởi tha nhân. Từ đó, cái Ta được định hình bằng cái không-Ta, mà bản chất là một biện chứng tiêu cực có gốc rễ từ một tâm ý nô lệ. Bệnh cầu cạnh khoa bảng danh vọng còn đang rất thịnh hành trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Vì sao cần được công nhận? Vì mang tâm thức học trò, muốn được khen.

Bạn hãy suy nghẫm về kinh nghiệm bản thân khi tiếp xúc, giao tiếp, làm ăn, sinh hoạt với người Việt ta. Không ít người lớn tuổi, bằng cấp học vị, học hàm, chức vụ, nghề nghiệp, kể cả giới tu sĩ các tôn giáo hay lãnh đạo chính trị, nhà nước, trong hay ngoài nước, vẫn mang tính tình niên thiếu.

Nếu có dịp giao tiếp, làm việc với người Âu Mỹ bạn sẽ thấy rằng họ – người phương Tây – chững chạc, trưởng thành, có chính kiến hơn chúng ta nhiều, kể cả khi họ không có bằng cấp cao, hay khi còn rất trẻ tuổi. Dĩ nhiên là cũng có những thành phần quần chúng lao động Mỹ chẳng hạn vẫn còn mang nặng tính tình trẻ con. Thế nhưng tôi dám nói rằng nhìn tổng thể, đại đa số dân Việt khắp thế giới, vẫn là một tập thể chưa chín chắn, rất bồng bột, hơi ngây thơ và nhiều hoang tưởng.

Nhìn vào các cộng đồng mạng xã hội mấy năm nay ta thấy cái tệ hại của sự thiếu trưởng thành và tính trẻ con thích cãi lộn. Có người đã nhận xét rằng hãy lên Facebook để thấy cái bản mặt xấu xí của dân Việt – the truly ugly side of Vietnameseness – với tính tình nặng chất trẻ con của họ là như thế nào.

Từ đó, người Việt, tuy là trẻ con – và cũng vì thế – không thể ngồi chung, làm việc với nhau trên bình diện dân sự. Nguyên do chính là vì dân ta thiếu vắng văn hóa cộng đồng. Người Việt không thể thành lập hội đoàn dân sự vững mạnh, lâu dài, uy tín. Hầu hết các tổ chức tự nguyện người Việt khắp thế giới đều tự tan rã vì không ai chịu ai.

tranh cổ động
Chụp lại hình ảnh,Tranh cổ động cố tạo ra hình ảnh toàn XH VN đi theo Đảng CS theo vă hóa tập thể một cách vui mừng, hớn hở nên phi thực

Hệ quả là đến nay, nền văn hóa tập thể của Đảng Cộng Sản Việt Nam – ít nhất là trong nước – hình như là câu trả lời đương nhiên cho sự khiếm khuyết của chất keo văn hóa dân sự và công dân Việt.

Điều cần thiết, theo thiển ý của tôi, là dân Việt ta, nhất là giới trí thức, nay nên tự vấn, nhìn lại chính mình, để can đảm nhận ra những khiếm khuyết – cả về tri thức lẫn tính tình – nhằm tu sửa trên cả bình diện cá nhân lẫn văn hóa, lề lối giao tiếp xã hội.

Nếu không, chẳng lẽ hơn trăm năm sau, nay ta lại phải ngâm tiếp bài thơ đó của Tản Đà, “Cám cảnh khói cây mờ mịt biển. Lo đời sương tuyết bạc đầu non”?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ San Jose, California. Trong số các sách của ông đã có cuốn ‘Thời tính, Hữu thể và Ý chí: Một luận đề siêu hình học” được xuất bản ở Việt Nam năm 2018.

  • TS Nguyễn Hữu Liêm
  • Gửi đến BBC từ San Jose, Hoa Kỳ