Những hệ thống kênh đào nổi tiếng khắp thế giới

Từ các thành phố đầm phá nổi đến kênh nước xuyên quốc gia, đây là những con kênh và đường thủy ngoạn mục nhất trên toàn cầu.

Kênh đào Rideau, Canada: Quanh co qua thủ đô Ottawa của Canada, Rideau là hệ thống kênh đào được vận hành liên tục lâu đời nhất ở Bắc Mỹ. Khai trương vào năm 1832, công trình là tuyến đường từ Montreal đến Kingston, được ca ngợi là một trong những kỳ công kỹ thuật vĩ đại nhất của Canada thế kỷ 19. Mỗi mùa đông, con kênh ở trung tâm thành phố Ottawa lại biến thành thiên đường băng giá. Với khoảng 7,8 km, nơi đây là sân trượt băng tự nhiên dài nhất trên thế giới.

Kênh Corinth, Hy Lạp: Cắt ngang qua eo đất Corinth, tuyến đường thủy này nối vịnh Corinth với vịnh Saronic. Được hoàn thành vào năm 1893, kênh được xây dựng như một lối tắt, giúp tiết kiệm thời gian di chuyển của tàu khoảng 185 hải lý (340 km). Khoảng 6,3 km kênh có chiều rộng 25 m khiến nơi đây là một trong những tuyến đường thủy nhỏ nhất trên thế giới. Với những vách đá dựng đứng bao quanh ấn tượng, kênh Corinth trở thành điểm du lịch nổi tiếng ở Hy Lạp.

Giethoorn, Hà Lan: Nằm phía đông bắc của Amsterdam, giáp vườn quốc gia Weerribben-Wieden là ngôi làng hẻo lánh Giethoorn được khen ngợi với những tuyến đường thủy tuyệt đẹp. Ngôi làng nổi tiếng vì không có đường và các ngôi nhà đẹp như trong truyện cổ tích, được kết nối bằng một mê cung kênh rạch cùng hơn 150 cây cầu gỗ. Ngồi thuyền, đi xe đạp hoặc dạo bộ là những phương thức để tham quan Giethoorn, khiến nơi đây trở thành miền bình yên để trốn chạy khỏi khói bụi đô thị.

Kênh nước Dubai, UAE: Khai trương lần đầu tiên vào năm 2016, kênh dài khoảng 3,2 km, uốn khúc giữa Old Creek và vịnh Business. Được khen ngợi với thiết kế hiện đại, kênh đào có các cửa hàng và khách sạn sang trọng ở hai bên cùng những cây cầu mang đến tầm nhìn tuyệt đẹp ra đường chân trời của Dubai.

Cần Thơ, Việt Nam: Được mệnh danh “vựa lúa” vì đất đai màu mỡ và ngành nông nghiệp phát triển mạnh, đồng bằng sông Cửu Long là mê cung kỳ diệu của sông, đầm và cồn đảo. Nối liền với các sông Cửu Long là hệ thống kênh đào, rạch chằng chịt. Cần Thơ là trung tâm và thành phố lớn nhất của khu vực này. Nằm ở bờ nam sông Hậu, thành phố nổi tiếng với các khu chợ nổi trên vùng sông nước Ninh Kiều sầm uất. Với đầy hoa và nông sản nhiều màu sắc, chợ nổi là điểm du lịch hút khách bậc nhất nơi đây.

Nikolaifleet, Hamburg, Đức: Có nhiều cây cầu hơn bất kỳ thành phố nào trên thế giới, Hamburg là “thành phố của nước”. Nằm ở nơi sông Elbe đổ ra biển, Hamburg là cảng lớn nhất của Đức, có hàng trăm kênh đào quanh co và những cây cầu. Nikolaifleet là con kênh đẹp nhất của thành phố, ngăn cách đảo Cremon với đất liền. Hai bên là các tòa nhà màu đỏ nổi tiếng của Hamburg được phản chiếu trong nước.

Đại Vận Hà, Trung Quốc: Có từ thế kỷ 5, Đại Vận Hà là một trong những công trình xây dựng dân dụng lớn và quy mô nhất trước cách mạng công nghiệp. Trải dài ở miền Đông Trung Quốc trong hơn 1.800 km, công trình được biết đến là con kênh lâu đời nhất và dài nhất trên thế giới. Với vai trò đối với sự thịnh vượng kinh tế của Trung Quốc, con kênh được UNESCO công nhận và là một trong những kỳ quan nhân tạo vĩ đại nhất của đất nước.

Kênh đào Volga-Don, Nga: Hoàn thành vào năm 1952, kênh đào Volga-Don là cửa ngõ lớn để đến Biển Trắng, Biển Đen qua sông Volga và sông Don. Hầu hết con kênh được xây dựng bởi Gulag của Liên Xô và các tù nhân chiến tranh Đức. Trên kênh có một cổng vòm mang phong cách Tân cổ điển theo phong cách thời Stalin.

Kênh đào Panama, Panama: Trải dài khoảng 82 km, con kênh nổi tiếng của Panama nối Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Được hoàn thành vào năm 1914, đây là một trong những tuyến đường thủy chiến lược nhất trên thế giới. Con đường thuận tiện và hiệu quả hơn cho các tàu đi lại giữa bờ đông và bờ tây Mỹ. Với vị trí đắc địa cắt qua eo đất hẹp của Panama, hàng năm có khoảng 13.000 đến 14.000 tàu từ khắp nơi trên thế giới đi qua kênh đào này.

Kênh đào Grand, Venice, Italy: Kênh đào Grand len lỏi qua trung tâm của thành phố nổi Venice có lẽ là con đường thủy nổi tiếng nhất. Kênh có chức năng là giao thông chính của thành phố vì việc sử dụng ôtô bị nghiêm cấm. Với chỉ hơn 3 km, kênh Grand như động mạch chính của Venice, chia đôi thành phố. Được hoàn thành vào năm 1591, cầu Rialto xa hoa là một trong những điểm tham quan chính và là cây cầu lâu đời nhất của kênh đào.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN / LOVE EXPLORING

TÌM LAI LỊCH BÀI VÈ “CÔ GÁI SƠN TÂY YẾM THỦNG TÀY GIẦN”

Hồi xưa, trong dân gian lưu truyền rộng rãi bài vè về Cô gái Sơn Tây. Bài vè này về sau được Nhà văn Vũ Ngọc Phan sưu tầm và công bố lần đầu và năm 1957. Trong cuốn sách “Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam” có in bài này. 

Theo người già kể lại thì bài này bắt đầu lưu truyền vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, sau cuộc thi Hoa khôi Đông Dương (giống như thi hoa hậu bây giờ) do người Pháp tổ chức. Có hai cô vào chung kết, một cô tỉnh Đoài (Sơn Tây), một cô tỉnh Bắc (Bắc Ninh). Cuối cùng cô gái Sơn Tây trở thành hoa khôi toàn cõi Đông Dương.

Cánh mày râu tỉnh Bắc mới tung ra bài vè này cho bõ tức, để bênh vực và an ủi á hậu tỉnh nhà. Cánh đàn ông tỉnh Đoài cũng không chịu kém cạnh, đặt vè đối lại và cũng cho lưu truyền khắp nơi. Nhưng bài vè bênh vực cô gái Sơn Tây không nổi tiếng bằng bài kia nên ít người nhớ được trọn vẹn.

Lúc bấy giờ chưa có phây búc, nghe nói mỗi bên bỏ ra cả rổ tiền chinh, đưa cho trẻ con ở quê và cánh hát xẩm ở bến sông, bãi chợ, ga tàu hỏa để lưu truyền bài vè này.

Dưới đây là bài Cô gái Sơn Tây:

Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày giần
Răng đen hạt nhót, chân đi cù nèo
Tóc rễ tre cô chải lược bồ cào
Xù xì da cóc, hắc lào tứ tung
Trên đầu chấy rận như sung
Rốn lồi quả quít, má hồng trôn niêu
Cô tưởng mình cô ái ố mỹ miều
Chồng con chả lấy, để liều thân ru
Hai nách cô thơm như ổ chuột chù
Mắt như gián nhấm, lại gù lưng tôm
Trứng rận bằng quả nhãn lồng
Miệng cười tủm tỉm như sông Ngân Hà
Con rận bằng con ba ba
Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh
Hàng xóm vác gậy đi rình
Hóa ra rận đực nóng mình bò ra
Bánh đúc cô nếm nồi ba
Mía re tráng miệng hết và trăm cây
Giã gạo vú chấm đầu chày
Xay thóc cả ngày được một đấu ba
Đêm nằm nghĩ hết gần xa
Giở mình một cái, gãy mười ba thang giường.

Có nơi truyền tụng thêm đoạn sau:

Đi chợ quên thúng quên tiền
Về nhà quên ngõ đâm xiên vào chùa.
Thổi cơm trên sống dưới khê
Chung quanh tứ bề như thể cháo hoa
Ăn thì nồi bảy nồi ba
Đầu năm chí cuối chẳng để ra đồng nào.
Rửa bát ngủ gật cầu ao,
Ngủ trưa chồng gọi kêu tao nhức đầu.
Nói thì cảu nhảu càu nhàu
Dạy em như nước đổ đầu lá khoai
Ăn thì chẳng chịu kém ai
Hễ nói đến gánh thì vai số thờ
Em còn giữ thói lẳng lơ
Đánh như đập mẹt chẳng chừa được đâu.

Bài đối lại có đoạn như sau:

Chả xinh cũng gái xứ Đoài,
Mà thiên hạ nói ngang tai mếch lòng
Đầu đâu có chấy chùm sum
Má đâu lại có má hồng trôn niêu
Ghét nhau thêu dệt trăm chiều
Chuột chù tổ chấy toàn điều nói ngoa
Da như da cóc, rận ba ba
Nhót răng, quýt rốn lại là nói không!

Lâm Khang sưu tầm. / Tễu Blog

Sống lâu nhờ mẹo “xoè bàn tay, đếm ngón tay” kéo dài 5.000 năm của người Nhật

Ảnh minh hoạ.

Jin Shin Jyutsu là phương pháp bí truyền kéo dài tuổi thọ của người Nhật Bản đã lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác suốt 5.000 năm nay. Cách thức thực hiện đơn giản nhưng hiệu quả lại vô cùng kỳ diệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VƯỢT NGOÀI SỨC TƯỞNG TƯỢNG

Trung tâm Ung thư Markey thuộc Trường ĐH Kentucky (Mỹ) phát hiện những bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phương pháp Jin Shin Jyutsu “nhận được những cải thiện rõ rệt” trong việc giảm triệu chứng căng thẳng, đau đớn và buồn nôn, theo Lifehack.

Một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Y tế Kaiser Permanente ở California, Mỹ đã tiến hành áp dụng phương pháp Jin Shin Jyutsu cho một bệnh nhân đa u tủy xương. Thông thường, khi xạ trị, bệnh nhân sẽ gặp nguy cơ bị viêm niêm mạc cao, nhưng bệnh nhân này chỉ bị viêm niêm mạc nhẹ một lần duy nhất. Anh ấy cũng “bị nôn ít hoặc không nôn trong suốt quá trình nằm viện”. Trong số các bệnh nhân đa u tủy xương đang điều trị ở trung tâm, anh ấy là trường hợp duy nhất không bị nôn.

Ảnh chụp màn hình: Cafebiz.

Từ đó, các nhà nghiên cứu kết luận Jin Shin Jyutsu thật sự hiệu quả bởi tất cả các bộ phận trong cơ thể được kết nối với nhau. Khi một phần trong cơ thể bị “ốm”, nó sẽ gây đau đớn cho toàn cơ thể, chứ không chỉ ở riêng phần đó.

Lúc đó, 5 ngón tay và lòng bàn tay sẽ kết nối với cảm xúc và các cơ quan trong cơ thể. Tác động vào bàn tay trong 3-5 phút sẽ cải thiện nguồn năng lượng truyền đến các khu vực cần thiết, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần.

THỰC HIỆN JIN SHIN JYUTSU NHƯ THẾ NÀO

Ngón tay cái

Nếu bị căng thẳng, bạn chỉ cần giữ ngón tay cái thật chặt và đếm đến 20 giây. Việc đơn giản này lại có tác dụng giúp giảm căng thẳng cũng như làm dịu hệ thống thần kinh của bạn.

Bạn đang bị rối loạn tiêu hóa cũng nên thực hiện theo bài tập này bởi ngón tay cái được kết nối với lá lách và dạ dày

Ngón tay trỏ

Ngón tay trỏ được kết nối đến thận. Có thể ngăn chặn sỏi thận và suy thận bằng cách giữ ngón tay trỏ trong một thời gian ngắn để cân bằng nước trong cơ thể, ngăn ngừa sỏi hình thành.

Ngón tay giữa

Tức giận, thất vọng và mệt mỏi đều được kết nối với ngón tay giữa. Nếu bạn đang trải qua một cơn đau đầu nhẹ, hãy nắm chặt ngón tay giữa, nỗi đau của bạn sẽ biến mất.

Mặt khác, các ngón tay giữa được kết nối với gan, túi mật và bàng quang, vì vậy bạn có thể điều trị bệnh liên quan đến các bộ phận kia một cách tự nhiên bằng cách giữ ngón tay ba lần trong ngày.

Ngón tay đeo nhẫn

Ngón tay này được kết nối với trung tâm, đến phổi. Khi nắm chặt, massage ngón tay đeo nhẫn giúp bạn thở tốt hơn. Bài tập này có lợi cho những người đang bị khó thở hay các vấn đề về hô hấp.

Ngón tay út

Nắm chặt và ấn nhẹ ngón tay út giúp làm dịu dây thần kinh trong cơ thể. Đồng thời, những ngón tay nhỏ được kết nối với trung tâm còn giúp ngăn ngừa cơn đau tim và bệnh về tim mạch.

Lòng bàn tay

Lòng bàn tay được kết nối với cơ hoành và rốn. Áp sát hai lòng bàn tay của bạn với nhau có lợi cho chăm sóc sức khỏe tổng thể.

Nguồn: Doanh nghiệp & Tiếp thị

Nguyễn Đăng Mạnh – Gia đình – Những ngày thơ ấu

Thương nhớ mãi thầy Nguyễn Đăng Mạnh | Văn Việt
Ông Nguyễ Đăng Mạnh

Giấy khai sinh của tôi ghi: sinh ngày 18 – 3 – 1930 tại làng Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nguyên Quán: làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. (nay thuộc phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội).

Làng Thổ Khôi nằm vắt ngang đê sông Hồng, ruộng ít, dân làng ít người sống bằng nghề nông, chủ yếu đi học, làm quan, làm viên chức, làm thuyền thợ hay buôn bán. Làng chỉ có một nghề truyền thống là làm vàng mã. Gái làng suốt ngày ngồi bẻ nan thoăn thoắt, phết hồ, dán giấy, làm thành những thoi vàng, thoi bạc dùng cho cõi âm. Làng ít ruộng nên dân xuất ngoại rất nhiều, ở đâu cũng có: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Nam Định, Thanh, Nghệ, Tĩnh, Sài Gòn…vv..

Khi tôi sinh ra thì bố tôi đang giữ chức lục sự (Coi việc án từ ở các phủ huyện thời Pháp thuộc) ở huyện Hải Hậu. Ông đọc được chữ Hán và biết làm thuốc. Ông có nhiều sách chữ Hán, đều là sách thuốc Tầu. Có lúc tôi thấy ông mời hẳn một thày lang đến nhà để học nghề. Ông cũng thích làm thơ. Nhiều đêm, đã khuya, thấy ông thức dậy, thắp đèn làm thơ. Hồi ấy ông làm việc ở phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình. ở đây có một viên tổng đốc về hưu tên là Nguyễn Năng Quốc. Ông này thường gọi một số viên chức trong phủ đến nhà uống rượu, ngâm thơ. Ông bố tôi xem chừng rất hào hứng chuẩn bị cho những buổi thơ phú thù tạc như thế. Tôi không hiểu thơ phú của ông có hay ho gì không, chỉ thấy tài hoa của ông thể hiện rất rõ ở các thú chơi như trồng hoa, thư pháp, đồ cổ, nuôi gà chọi, chim hoạ mi, các loại chó cảnh, mèo cảnh… Ông đặc biệt sành sỏi về nghệ thuật tỉa thuỷ tiên. Hàng năm cứ đến giáp Tết âm lịch ông lại lên Hà Nội mua về một sọt thuỷ tiên củ. Ông chọn lấy những củ cho là đẹp rồi ngồi cả buổi gọt tỉa bằng một mũi dao trổ. Phải tỉa như thế nào đó để khi thuỷ tiên trổ lá, trổ hoa thì dò hoa mọc thẳng vút trên cái nền lá quấn quýt uốn râu rồng. Lại phải làm sao cho hoa nở theo ý muốn của mình đúng vào đêm giao thừa. Trời lạnh thì áp đèn để thúc. Trời nóng thì lại phải cuốn giò hoa bằng giấy bản dấp nước để hãm. Có lần ông đã đem thuỷ tiên đi thi ở đình Hàng Bạc, Hà Nội và được ăn giải nhì. Lần ấy, tôi có được ông cho đi theo. Tôi nhớ giải là một bức trạm nổi trên gỗ thiếp vàng một đôi chim đậu trên một nhành mai. Ông cũng rất sành sỏi trong nghệ thuật trồng lan. Trên dàn hoa thì treo la liệt phong lan, dưới sân thì bầy hàng trăm chậu địa lan đặt trên đôn sứ hay bệ gạch. Tôi nhớ lõm bõm những cái tên địa lan rất đẹp: Đại Kiều, Tiểu Kiều, Bạch Ngọc, Mặc lan…vv.. Một trong những kỷ niệm của tôi thời nhỏ là luồn lỏi giữa những chậu lan, tìm bắt những con dế chui dưới chậu lan hay các khe của những bệ gạch. Ông cũng rất mê chim hoạ mi. Trong nhà, ngoài hiên la liệt những lồng chim. Cái to, cái nhỏ, có cái cao hàng vài ba thước, tất cả đều quang dầu. Suốt ngày ríu ran tiếng chim hót. Ông đặc biệt thích thú nuôi chim chọi. Phải biết chọn chim theo hình tướng: đầu thế nào, mắt thế nào, thân thế nào, chân, cựa thế nào…vv… Lại phải nuôi kèm chim mái để “ xuỳ” cho chim đực chọi nhau. Nuôi chim thì hết sức cầu kỳ. Gần đến mùa thi thì nước uống phải là nước sâm, thức ăn là gạo tấm tẩm lòng đỏ trứng gà rồi xấy khô. Tẩm đi tẩm lại đến khi nào hạt tấm có màu nâu xẫm mới thôi. Rồi phải tẩm bổ thêm cào cào, châu chấu, dế, thậm chí cả đông trùng hạ thảo… Hàng năm những cuộc thi chọi chim hoạ mi thường được tổ chức ở đình Ngọc Hà, Hà Nội. Ông bố tôi cũng nhiều lần đưa chim đi thi và được giải.

Bố tôi tính lành nhưng ham chơi. Cái gì cũng thích. Trà Tàu, thuốc lào, thuốc phiện, chơi hoa, chơi chim, chọi gà, nuôi mèo, nuôi chó, chơi hoành phi câu đối, đồ cổ, hát ả đào. Trong nhà, trong tủ bầy đủ cả: điếu ống, điếu bát, bàn đèn, các kiểu tẩu hút thuốc phiện, ấm chén cổ, lọ hoa, độc bình, đàn nguyệt, đàn đáy, trống chầu, dùi trống có khắc thơ Đường… Ông mê hát ả đào và mê cả cô đầu nữa. Mẹ tôi có lần nói, ông ấy mê gái đến không biết sợ là gì nữa. Có năm bệnh dịch phát triển ở địa phương. Đường xá vắng tanh, nhất là ban đêm. Người ta sợ quan ôn đi lùng bắt phu xuống âm phủ. Thế mà ông ấy vẫn cứ đi đến xóm hát như thường, không sợ gì cả.

Mẹ tôi đúng là điển hình của một bà vợ viên chức. Chẳng làm gì cả. Nấu ăn đã có đầy tớ. Bế bồng, chăm bẵm con nhỏ, đã có vú em. Chỉ thỉnh thoảng đi chợ, có con sen cắp rổ đi theo. Thường thường khi bố tôi đi làm thì bà cùng một số vợ viên chức khác họp nhau đánh tổ tôm, tài bàn. Bà rất thích nghe đọc truyện cổ và thuộc rất nhiều truyện nôm như Kiều, Nhị độ mai, Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa, Phan Trần… Cho đến nay tôi vẫn còn nhớ hình ảnh này của bà: Cơm trưa xong, nằm nghiêng trên tấm phản quang dầu, nhai trầu và hút thuốc lá sâu kèn, nghe con gái – Chị cả tôi – đọc tiểu thuyết cổ, hết Chinh Đông, Chinh Tây, lại đến Tam quốc chí, Hán Sở tranh hùng, Phấn trang lâu, Bình Sơn Lãnh yến…vv.. Hàng năm bà thường đưa các con đi chơi các hội chùa: hội Phủ Giầy, Chợ Viềng Hải Lạng, đền Sòng, Phố Cát, hội Trường Yên…vv..

Tôi không thể không nói đến một người trong gia đình rất có ảnh hưởng tới tôi thời thơ ấu: bà chị cả tôi. Bà tên là Nguyễn Kim Hồi, hơn tôi đúng một giáp. Chị tôi thời con gái rất xinh đẹp, nhưng tính cách hết sức táo tợn. Cho đến nay, tôi chưa từng gặp một người con gái nào táo tợn đến mức ấy: dám vào lớp học đang giờ giảng bài, xin phép thầy giáo rồi đi thẳng đến một cậu học trò vừa trêu ghẹo mình, tát trái cho một cái rồi đàng hoàng đi ra; bố đi vắng, mời bạn trai đến nhà, đốt pháo đón mừng; thuê thuyền đi chơi trên sông với bạn trai; con gái mới mười sáu, mười bảy mà rất hách dịch: bắt đầy tớ lớn tuổi hơn mình xoè bàn tay ra, lấy thước kẻ đánh vì tội giặt quần áo, rũ không sạch mùi xà phòng; các em lười học thì phạt bằng cách vẽ vòng tròn dưới đất, bắt đứng đó không được bước ra ngoài khi chưa cho phép. Tính cách như thế khiến các em sợ hơn cả bố mẹ. Đặc biệt, con gái mà đi đánh ghen hộ mẹ: đưa đầy tớ đến nhà hát, đánh chửi cô đầu. Chị tôi rất mê thơ lãng mạn và các loại tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thanh Châu, Ngọc Giao, Lan Khai, Lê Văn Trương…vv.. Hứng lên, ngồi một mình cũng cao giọng ngâm thơ sang sảng… Hồi gia đình tôi chuyển sang Phủ Nghĩa Hưng, Nam Định, có thuê một ngôi nhà lầu: chị tôi mua đủ thứ sách báo chất lên một căn buồng trên gác: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Loa, Tri Tân, Thanh Nghị … và các loại thơ ca, tiểu thuyết kể trên. Bố tôi rất quan liêu, tuy cấm con gái không được đọc tiểu thuyết, nhưng không bao giờ lên gác để biết có cả một kho sách báo trên đó. Kho sách báo này đã là một thư viện phong phú và đầy hấp dẫn đối với tôi từ tuổi thiếu niên nhi đồng.

Tôi học tiểu học ở trường huyện. Học thì lười, chỉ ham chơi. Rất mê truyện kiếm hiệp, truyện cổ Tầu. Thích vẽ tranh phỏng theo những tranh minh hoạ trong các truyện, thích nhất vẽ hiệp sĩ múa gươm, phi thân lên mái nhà, và những ông tướng Tầu: Quan Công, Trương Phi, Lã Bố… ấy thế mà cũng có nhiều thằng bạn rất phục. Chúng phải đổi vài ba tờ giấy trắng để lấy một bức vẽ của tôi.

Tôi từ nhỏ đã không thích sinh hoạt tập thể. Bố mẹ tôi muốn cho tôi sinh hoạt trong đội Sói con (louveteau) của trường huyện: cắm trại, mặc đồng phục, hát đồng ca, nấu ăn chung, vui chơi tập thể…vv.. Tôi ở với họ nửa buổi rồi thừa lúc họ không để ý, lủi trốn về nhà. Tôi không thích sinh hoạt tập thể, có lẽ một phần vì ít tiếp xúc với người ngoài, nhát, vụng về trong giao tiếp, làm gì cũng lúng túng, chậm chạp. Nhưng quả thực từ nhỏ tôi đã có thói quen sống và chơi một mình. Mẹ tôi sinh tất cả mười một lần, nhưng chỉ nuôi được 6: hai trai, bốn gái. Anh tôi từ nhỏ đã được gửi cho một ông cậu làm giáo viên ở tỉnh Bắc Ninh kèm cặp cho. ở nhà còn lại toàn con gái, tôi chơi với ai được! Đành chỉ chơi một mình. Nghĩa là ngồi một mình, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện phỏng theo những sách vở đọc được, đặc biệt là các truyện võ hiệp, truyện cổ Tầu, truyện tình lãng mạn…Tất nhiên bao giờ cũng biến mình thành một nhân vật chính trong đó. Phải nói rằng tôi từ nhỏ đã có một đầu óc rất giàu tưởng tượng đến mức như là bệnh hoạn, cứ nhắm mắt lại là lập tức như lạc vào một thế giới hoang đường nào.

Nếu không ngồi chơi một mình thì đi lang thang vớ vẩn ở phố huyện hay trên những cánh đồng, bờ đê, đường làng, ngõ xóm, bắt cào cào, châu chấu, chuồn chuồn, chui vào các đền miếu quanh vùng, trèo cây, hái quả, vừa đi vừa tưởng tượng. Tôi rất thích quả bàng chín. Nó có một vị ngọt ngọt chua chua rất riêng và một hương thơm riêng. Về sau này, ngẫm ra, tôi gọi đấy là hương vị của mùa thu. Ăn một quả bàng chín như nuốt vào trong bụng hương vị của mùa thu. Không hiểu sao tôi cũng rất thích mùi thuốc pháo và mùi hơi ét xăng ô tô. Hễ có xe ô tô đi qua trước nhà, thế nào cũng phải chạy ra hít lấy hít để… Sau này đọc bài Tựa Tây Sương  của Thánh Thán, thấy ông kể ra la liệt các thứ khoái trên đời, trong đó có cái khoái ngửi mùi thuốc pháo. Té ra cái khoái của tôi cũng không phải là cá biệt.

Thấm vào tâm hồn tôi cho đến mãi bây giờ là cái gọi là không khí những phố huyện, phố phủ ngày xưa: ấy là một đoạn đường đất hoặc rải đá khoảng ba bốn trăm mét, hai bên có vài hàng cơm, hàng phở, quán nước, một trạm dây thép, một trạm y tế, vài cửa hiệu tạp hoá, xa xa nơi đầu phố hay cuối phố là một trường tiểu học. To tát oai nghiêm hơn cả là dinh quan huyện, ngoài cổng có lính gác. Ra vào cửa quan là mấy thầy thừa, thầy lục, mấy ông xã, ông lý ở các làng lên hầu kiện, mấy anh nho lại áo the, khăn xếp, cắp ô. Tỏ ra bận rộn hơn cả là mấy chú lính cơ, lính lệ chạy ra chạy vào. Văn minh nhất huyện là mấy thầy giáo cấp một thường vận Âu phục, đi đứng nghiêm trang. Quan huyện thì dường như là người của một thế giới khác. Đi đâu có trống báo hiệu và chỉ thấy một chiếc xe ô tô hòm kính lướt nhanh qua phố huyện.

Nói chung phố huyện là một cảnh sống đơn điệu, quẩn quanh, nhạt tẻ. Buồn vắng hơn nữa là về ban đêm. Các cửa hàng đèn dầu leo lét, tù mù giữa cảnh đêm tối thăm thẳm.

Phố huyện thường xa thành phố, gần nông thôn. Kề ngay phố huyện là đồng ruộng, làng mạc, là bờ tre, nương dâu, là cánh cò, cánh vạc, con trâu kéo cày, là những dân quê lam lũ chân lấm tay bùn… Cho nên từ huyện lên tỉnh thì cũng coi như là từ nhà quê ra tỉnh.

Môi trường sống thời thơ ấu có ảnh hưởng rất quan trọng đối với năng lực cảm thụ văn chương của tôi. Từ những thú chơi cổ điển của ông bố tôi, tôi rất dễ cảm nhận được vẻ đẹp “ vang bóng một thời” của văn Nguyễn Tuân. Và cảnh làng quê, cảnh phố huyện đã khiến tôi dễ nhập thân ngay vào thế giới nghệ thuật của những Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Đỗ Đức Thu, Bùi Hiển, Tô Hoài, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm…vv.., thế giới của những phố huyện nghèo, của những nhân vật quan lại, lính tráng, viên chức nhỏ, hương lý, của những cảnh sông dài trời rộng, những bến sông hoang vắng, của linh hồn đồng quê cổ kính, bình dị miền Bắc bàng bạc một chất thơ buồn… Đó cũng là cái buồn của ca dao, của chèo. Đọc một câu ca dao, nghe một làn điệu chèo, bao giờ tôi cũng thấy hiện lên trong trí tưởng tượng của mình cảnh đồng quê heo hút ngày xưa khiến nhiều khi chảy nước mắt.

Trí nhớ của con người ta có những quy luật riêng của nó mà con người không ý thức được, không làm chủ được. Có những hình ảnh rất xa xưa và không có ý nghĩa gì cả, tự nhiên cứ hiện lên trong trí nhớ của ta, có thể gọi là những hồi ức ngoài ý muốn (mémoires involontaires). Tôi thường có những hồi ức như vậy. Chẳng hạn, bỗng nhớ một ông già tên là Xã An, mặc quần trắng, áo dài trắng, có những cái khuy cài nâu nâu màu hổ phách. Không hiểu sao lại nhớ cụ thể cả tên ông ta, tuy không biết ông là ai. Gần đây hỏi chị tôi, chị tôi cho biết, ông Xã An là chủ ngôi nhà cha mẹ tôi thuê hồi bố tôi làm việc ở huyện Hải Hậu (Nam Định). Lúc đó tôi chỉ độ năm, sáu tuổi. Trong trí nhớ của tôi cũng hay hiện lên hình ảnh một khu vườn rau vào mùa thu. Có những luống cải thưa thớt, xác xơ, mấy cái ngồng cải cao vọt lên với những bông hoa nở vàng. Vài con bướm trắng bay chập chờn quanh những bông hoa. Rồi hình ảnh người vú em, tuy đã luống tuổi, nhưng chúng tôi vẫn gọi là Chị – Chị Đại. Chị có một cái nốt ruồi lớn ở dưới mắt phải. Chị vừa quét sân vừa đọc ngân nga mấy câu lục bát để đùa ghẹo tôi:

Nước Hải Lạng vừa trong vừa mát,
Đường Hải Lạng lắm cát dễ đi
  kia xinh đẹp làm chi
Để cho câu M. trở đi trở về…

Lúc này, bố tôi đã chuyển về làm việc ở phủ Nghĩa Hưng (Nam Định). Tôi đã hơn 10 tuổi. Vào dịp đầu xuân, Hải Lạng (thuộc phủ Nghĩa Hưng) mở hội, có đấu cờ người. Mỗi quân cờ là một cô gái đồng trinh cầm một cái biển có ghi chữ Tướng, Sĩ, Tượng…vv… Những cô được chọn cầm biển tướng, sĩ là những cô xinh đẹp hơn cả. Hầu như năm nào tôi cũng cùng gia đình đi xem hội làng Hải Lạng. Chúng tôi đi thuyền xuôi từ thị trấn Nghĩa Hưng tới Hải Lạng, kề ngay bến sông. Một hình ảnh khác cũng thường trở đi trở lại trong trí nhớ của tôi: một người đàn bà ăn mày, rách rưới, mắt loà, bước rờ rẫm lên hè nhà tôi trông ra chợ phủ Thái Ninh, vừa bước đi, miệng vừa ngốn một ngọn rau muống. Lúc này bố tôi đã chuyển tới làm việc ở phủ Thái Ninh (Thái Bình). Tôi đã 13, 14 tuổi…vv… Những hình ảnh ấy chẳng có ý nghĩa gì. Chúng chỉ gợi lên không khí của một thời rất xa xưa một đi không trở lại. Và tôi cảm thấy buồn, một nỗi buồn vu vơ. Những cảnh ấy nay còn không? Những con người ấy chắc đã chết cả rồi! Hồn họ đang ở đâu? “Hồn ở đâu bây giờ!” (Vũ Đình Liên)

Nhưng có những kỷ niệm cũng rất vụn vặt thôi, và cũng hiện lên trong trí nhớ tôi một cách tự phát, mà sao cứ ám ảnh sâu sắc và có tác động rất lớn, rất lâu dài tới tâm lý, tính cách của tôi. Nói đến những kỷ niệm ấy, tôi thấy nhất thiết phải kể đến chi tiết này- một chi tiết rất nhỏ, có thể nói là chẳng có nghĩa lý gì, vậy mà sao nó cứ theo đuổi tôi đến tận bây giờ và có lẽ cho tới khi nhắm mắt. Một chi tiết thực sự có ảnh hưởng đến cá tính, tính cách của tôi: hồi đó tôi mới khoảng 11, 12 tuổi gì đó, có một lần ông bố tôi sai tôi múc cho ông một thau nước rửa mặt. Tôi múc vài gáo nước vào thau rồi bưng đến cho ông. Nhìn vào thau, thấy ít nước quá, ông nhăn mặt: “Cái thằng, sao bủn xỉn, bần tiện thế!”. Đấy, chi tiết chỉ có thế thôi, thế mà tôi cứ ấm ức, xấu hổ và rất tự ái, thấy mình bị coi là bần tiện, là bo bíu, là tiểu nhân, là không đường hoàng, nói chung là đáng khinh bỉ, chẳng làm nên trò trống gì …Từ đó, có thể nói, mọi hành vi của tôi trong sinh hoạt đời thường hay trong công tác, trong cách ứng xử với người này người khác, trong hoạt động văn học…vv… đều là những cố gắng sao cho người đời đừng khinh mình là keo bẩn, tiểu nhân, không đường hoàng… Dù nghèo túng không bao giờ lèm nhèm trong chuyện tiền bạc. Việc không làm được thì tránh không làm. Phát biểu hay viết lách về cái gì, phải biết đến nơi đến chốn, biết đến đâu, nói đến đấy và phải có ý kiến riêng, không được thế thì thôi, không nói, không viết. Không cầu cạnh người sang, người trên để họ có thể khinh mình. Trời cho cái gì thì hưởng cái đó, không cay cú, cố đấm ăn xôi, không xin xỏ, hay tranh cuớp của ai… Nói chung tôi quan niệm được làm chủ bản thân mình là sướng nhất. Vì thế không làm bất cứ điều gì vượt quá thân phận, tầm vóc, khả năng của mình để rơi vào bị động, mất tự do, tự chủ và bị thiên hạ khinh bỉ. Tôi rất thích dùng hai chữ sang trọng là vì thế. Sang trọng đối lập với nhếch nhác, hèn hạ. Nghèo mà vẫn sang. “Phó thường dân” cũng có thể sang. Thậm chí kém cỏi vẫn có thể sang, nghĩa là tự chủ trong phạm vi khả năng của mình, tránh không bị khinh tức là sang. Và tôi đã viết một bài “ Về khái niệm sang trong đánh giá văn học”.

Một kỷ niệm khác cũng có ảnh hưởng lớn tới tâm lý, tính cách của tôi: chuyện tập xe đạp. Không hiểu sao tôi lại khốn khổ đến vậy trong việc tập đi xe đạp. Hồi mười ba, mười bốn tuổi, học cấp II ở thành phố Nam Định, tôi đã cùng mấy thằng bạn ở chung một nhà trọ tập đi xe đạp. Trèo lên xe, đạp mấy vòng, nhưng cứ hễ thằng bạn giữ hộ xe buông tay ra là ngã đổ kềnh ra đất. Tập mãi không được, đã thế lại còn bị toạc một mảng thịt ở ống chân, đến nay vẫn còn vết sẹo. Sợ quá không dám tập nữa. Một chuyện ai cũng làm được, kể cả đàn bà con gái hay đứa trẻ sáu bẩy tuổi, vậy mà mình không làm được. Nhục quá! Hèn kém quá! Điều này khiến tôi luôn có tâm lý bi quan về năng lực của mình. Nghĩa là thấy mình bất tài, bất lực, chẳng làm nên trò trống gì. Cho nên bị ai coi thường, tuy cũng tức, nhưng liền đó lại tự thấy: nó khinh mình cũng phải thôi. Mình là thằng hèn kém, nó khinh cũng chẳng oan ức gì.

Không thể tưởng tượng được cái nhục không biết đi xe đạp của tôi kéo dài cho mãi đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954). Lúc ấy tôi đã 24 tuổi. Trong chiến tranh, mấy ai có xe đạp mà đi. vì thế không biết đi xe đạp, chưa thấy bức xúc lắm, và cũng không ai biết. Nhưng hoà bình rồi. Không biết đi xe đạp thì nguy quá. Mà lộ ra thì xấu hổ chết được! Tôi quyết định, nhất định phải tập, mà phải tập một mình, tập dấu, tập bí mật. Đợi lúc đêm xuống, tôi thuê một cái xe đạp, dắt đến một chỗ vắng vẻ có đường dốc, rồi ngồi lên xe thả cho nó lao xuống và cứ thế đạp phứa đi. Sau nhiều lần ngã, tôi đi được xe đạp. Sướng quá! Thế là có quyết tâm thì cũng không đến nỗi kém cạnh ai. (Hồi này gia đình tôi ở một vùng ven thị xã Thái Nguyên)

Có lẽ vì chuyện này mà tôi một mặt vẫn bi quan về năng lực của mình, nhưng mặt khác cho rằng có quyết tâm thì cũng có thể vượt lên được. Đồng thời tôi có tâm lí dễ dị ứng với những người có thái độ tự mãn và rất thông cảm với những người bị đời khinh bỉ. Sau này trong học tập và nghiên cứu khoa học, tôi luôn luôn gắng sức, cố vượt lên bản thân mình một cách âm thầm lặng lẽ. Tuy vậy khi có ai đó đánh giá cao tài trí của mình, tôi tuy cũng thích, nhưng không bao giờ tỏ ra hí hửng, thậm chí vẫn cứ ngờ ngợ: “Chẳng lẽ mình mà cũng có tài thật sao!”

Xin nói thêm về một nét tính cách này mà tôi tự nhận thấy đã có từ nhỏ: thực chất thì hèn nhát, nhưng lại muốn tỏ ra là dũng cảm. Chẳng hạn, vào các đền miếu bỏ hoang, phá phách các đồ thờ cúng, lấy những cây gươm thờ múa may chơi. Có khi đái cả vào bát hương. Những trò quậy phá ấy chẳng chết ai, vậy mà cũng làm cho một số đàn bà, con gái hoảng sợ và nể phục. Đúng là thứ anh hùng rơm.

Sau này lớn lên, tôi thích ăn nói ngang ngược, nhưng chỉ dám nói trong phạm vi một công chúng vốn hâm mộ mình hoặc đồng tình với mình hay không có khả năng hại được mình. Viết lách cũng thế. Không muốn nói xuôi chiều, thích gai góc một chút, nhưng cũng chỉ trong giới hạn không nguy hiểm lắm đến bản thân mình và vừa đủ cho một số người yếu bóng vía phải nể trọng.

Theo Vianadia.org

Choáng với nơi cứ 8 người thì 1 người là triệu phú USD

Choáng với nơi cứ 8 người thì 1 người là triệu phú USD
THUẾ THU NHẬP ƯU ĐÃI LÀ YẾU TỐ GIÚP 2 BANG VÙNG SÂU VÙNG XA CỦA THỤY SỸ THU HÚT NGƯỜI GIÀU

Theo đăng tải mới đây trên tờ SonntagsBlickIn, hai bang Schwyz và Zug của Thụy Sỹ ghi nhận số lượng triệu phú USD nhiều nhất cả nước.

Phân tích số liệu của chính phủ, bao gồm số liệu về tài sản và thuế, cho thấy tại hai bang này, cứ 8 cư dân thì có 1 người là triệu phú USD.

Nằm ở miền trung Thụy Sỹ, Schwyz và Zug có thuế thu nhập cá nhân thấp hơn so với các bang lớn và đông dân hơn như Zurich và Geneva.

Theo giáo sư kinh tế chính trị Christoph Schaltegger của Đại học Lucerne, Schwyz và Zug là hai ví dụ điển hình cho thấy sự cạnh tranh về thuế giữa các bang là điều tích cực.

“Điều này giúp các khu vực xa xôi với kết cấu hạ tầng yếu cơ hội cạnh tranh với các trung tâm đô thị hấp dẫn”, ông Schaltegger nhận xét trên SonntagsBlick.

Tính trên cả Thụy Sỹ, năm 2017, cứ 1.000 người nộp thuế thì có 62 người là triệu phú USD. Con số này gấp gần 6 lần so với tỷ lệ 11/1.000 người vào năm 1969.

Theo dịch vụ khai thuế Transforma AG, tại thành phố Bar, thuộc bang Zug, cư dân chỉ phải nộp thuế 7,5% trên mỗi phần thu nhập 100.000 Francs Thụy Sỹ (109.450 USD). Trong khi đó, mức thuế thu nhập cá nhân tại Geneva là khoảng 16%.

Theo Trang Linh / VnEconomy