Sắc màu các loài chim hút mật Việt Nam

Trong thế giới các loài chim, họ Hút mật (Nectarriniidae) nổi tiếng với các loài chim có sắc màu rực rỡ vô cùng bắt mắt. Cùng khám phá điều này qua các loài chim hút mật Việt Nam.

Chim hút mật bụng hung (Chalcoparia singalensis) dài khoảng 11 cm, là loài chim định cư, sinh sống tại nhiều vùng miền Việt Nam, dễ bắt gặp tại các vườn quốc gia Cát Tiên, Bù Gia Mập. Sinh cảnh của loài này là rừng lá rộng thường xanh, rừng rụng lá, rừng thứ sinh, rừng ngập mặn, thi thoảng là rừng trồng. Ảnh: eBird.

Chim hút mật họng nâu (Anthreptes malacensis) dài khoảng 14 cm, là loài định cư phổ biến lại Nam Trung Bộ và Nam Bộ, thường gặp ở vườn quốc gia Cát Tiên, Bù Gia Mập, Phú Quốc. Chúng sống ở bìa rừng, rừng thứ sinh, rừng ngập mặn, cây bụi ven biển, rừng trồng và vườn ở vùng đất thấp. Ảnh: eBird.

Chim hút mật họng hồng (Leptocoma brasiliana) dài khoảng 10 cm, là loài định cư tương đối phổ biến tại Nam Trung Bộ và Nam Bộ (vườn quốc gia Cát Tiên, khu BTTN Vĩnh Cửu). Sinh cảnh của chúng là rừng lá rộng thường xanh nơi trống trải, rừng đầm lầy, bìa rừng, rừng thứ sinh, cây bụi ven biển, , rừng ngập mặn, rừng trồng. Ảnh: eBird.

Chim hút mật lưng đen (Leptocoma calcostetha) dài khoảng 14 cm, là loài định cư tương đối phổ biến ở Nam Bộ. Loài chim này sống ở rừng ngập mặn, cây bụi ven biển, rừng thứ sinh, rừng trồng gần biển. Ảnh: eBird.

Chim hút mật họng đen (Cinnyris asiaticus) dài khoảng 11 cm, là loài định cư tương đối phổ biến ở Trung, Nam Trung Bộ và Tây Bắc của Nam Bộ. Chúng sống trong rừng cây gỗ lớn rụng lá, cây bụi ven biển, vườn trồng, đất nông nghiệp. Ảnh: eBird.

Chim hút mật họng tím (Cinnyris jugularis) dài từ 11-13 cm, là loài định cư tương đối phổ biến trên cả nước (vườn quốc gia Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên). Sinh cảnh của chúng là rừng lá cây gỗ lớn, rừng đầm lầy, rừng ngập mặn, cây bụi ven biển, vườn trồng, đất cánh tác. Ảnh: eBird.

Chùm ảnh: Đã mắt với sắc màu các loài chim hút mật Việt Nam

Chim hút mật họng vàng (Aethopyga gouldiae) dài 11-16,5 cm, là loài định cư tương đối phổ biến tại Tây Bắc, Đông Bắc và Nam Trung Bộ (vườn quốc gia Hoàng Liên, Bạch Mã, Chư Yang Sin, Bidoup Núi Bà). Chúng sống trong rừng lá rộng thường xanh, bìa rừng, rừng thứ sinh ở độ cao 1.000-2.600 mét. Ảnh: eBird.

Chim hút mật Nê Pan (Aethopyga nipalensis) dài 11-33,5 cm, là loài định cư tương đối phổ biến tại Tây Bắc và Trung Bộ (vườn quốc gia Hoàng Liên, Chư Yang Sin, Bidoup Núi Bà). Sinh cảnh cúa chúng là rừng lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh, bìa rừng ở độ cao 1.140 – 2.750 mét. Ảnh: eBird.

Chim hút mật đuôi nhọn (Aethopyga christinae) dài 10-12 cm, là loài định cư tương đối phổ biến trong cả nước (vườn quốc gia Hoàng Liên, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Chư Yang Sin). Chúng sống ở rừng lá rộng thường xanh, bán thường xanh, bìa rừng, rừng thứ sinh. Ảnh: eBird.

Chim hút mật ngực đỏ (Aethopyga saturata) dài 11-15 cm, là loài định cư ít phổ biến, ghi nhận tại Tây Bắc, Đông Bắc và Trung Bộ (vườn quốc gia Tam Đảo, Cúc Phương, Bạch Mã, Chư Yang Sin, Bidoup Núi Bà). Chúng sống ở rừng thường xanh, bìa rừng có độ cao từ 200 – 1.700 mét. Ảnh: eBird.

Chim hút mật đỏ (Aethopyga siparaja) dài 11-13,5 cm, là loài định cư tương đối phổ biến trong cả nước (vườn quốc gia Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên). Sinh cảnh của chúng là rừng lá rộng thường xanh, rừng rụng lá, bìa rừng, rừng thứ sinh, vườn trồng. Ảnh: eBird.

Chim hút mật bụng vạch (Kurochkinegramma hypogrammicum) dài 14-15 cm, là loài định cư được ghi nhận trong cả nước, phổ biến hơn ở Nam Bộ. Chúng sống ở rừng lá rộng thường xanh. Ảnh: eBird.

Theo KIẾN THỨC 

Muốn cuộc sống thuận lợi, thông minh thôi chưa đủ, mà phải học cách “khôn đúng lúc, “giả ngu” đúng chỗ”

Muốn cuộc sống thuận lợi, thông minh thôi chưa đủ, mà phải học cách "khôn đúng lúc, "giả ngu" đúng chỗ"
Thay vì làm một người thông minh ngu ngốc, chi bằng ta hãy làm một người ngốc nghếch thông minh.

Nếu như một người đàn ông vô tình đi nhầm vào nhà vệ sinh nữ, họ có thể nói như thế nào để gỡ rối?

“Xin lỗi, tôi đi nhầm!”

“Tôi thực sự không nhìn thấy gì hết!”

Nhưng cách xử lí tình huống hay nhất chính là câu “Xin lỗi anh“.

Khi ấy, sự ngốc nghếch của người nói sẽ có tác dụng ngăn chặn xung đột sắp xảy ra. Tục ngữ có câu: “Giả chết bắt quạ”. Người giả ngốc mới là người chiến thắng. Ông vua dầu mỏ Rockefeller từng nói: “Kẻ ngốc là người tự cho mình là thông minh. Người thông minh là người luôn biết cách giả ngốc.”

Giả ngốc là nhìn thấu nhưng không vạch trần

Thời Tống có người tên Trương Tề Hiền. Trong một lần tổ chức yến tiệc, ông vô tình nhìn thấy một gia nhân của mình lén trộm đồ trên bàn tiệc. Biết chuyện, ông cũng chỉ để đấy chứ không nói với bất kì ai trong suốt nhiều năm. Sau này khi lên làm Tể tướng, ông liền cất nhắc các thuộc hạ dưới trướng, ngoại trừ người ăn trộm năm xưa.

Có những người và những chuyện, mình hiểu là được, chứ đâu cần phải nói ra miệng. Thử nghĩ mà xem, nói ra ngoài hả hê cái miệng, cũng đâu giúp bạn được thêm lợi lộc gì khác. Trong cuộc sống, việc giả ngốc để nhìn đời sẽ thông minh hơn việc cố chấp phân định rạch ròi đúng sai.

“Giả ngốc” trong hôn nhân sẽ giúp vợ chồng được hòa thuận và ấm êm. Cô vợ thích đẹp nên hay đi mua quần áo mới. Nhưng vì sợ bị chồng mắng, cô thường giấu đồ mới trong tủ đến mấy ngày sau mới bỏ ra mặc.

Khi chồng hỏi: “Lại mua đồ mới à?

Cô liền đáp: “Đâu có, là đồ cũ ngày trước tôi mua mà chưa mặc.”

Anh chồng dù biết chuyện những cũng chỉ cười và không hỏi thêm gì nữa.

Trong một lần dọn dẹp, cô vợ lại vô tình phát hiện quỹ đen của người chồng kẹp trong đống sách. Cô vợ không thấy tức giận mà chỉ thấy buồn cười. Cô vợ lại lẳng lặng để vào chỗ cũ và làm như mình chưa từng thấy. Có lẽ đây chính là cặp vợ chồng ngốc nghếch mà thông minh nhất trên đời.

Trên đời không có ai ngốc, chỉ là họ đang vờ như mình không biết gì để cảm nhận thứ được gọi là hạnh phúc. Chuyện đời không phải là không thể nói. Nhưng khi đã nhìn thấu rồi, chúng ta cũng đâu cần thiết phải nói trắng ra. Người với người không có chuyện ai ngốc hơn ai, chỉ là kẻ thông minh hơn sẽ biết cách khôn đúng lúc, “giả ngu” đúng chỗ. Bởi vậy nên có người đã từng cảm thán: “Thông minh khó, ngốc nghếch cũng khó. Nhưng từ thông minh biến thành ngu ngốc còn khó hơn.”

Muốn cuộc sống thuận lợi, thông minh thôi chưa đủ, mà phải học cách khôn đúng lúc, giả ngu đúng chỗ - Ảnh 1.

Giả ngốc là cho người một lối thoát

Khi còn làm HLV trong chương trình The voice Trung Quốc, Lý Kiện từng để lại nhiều ấn tượng cho khán giả.

Ở vòng giấu mặt, một thí sinh nữ đã tỏ vẻ lúng túng khi bị hỏi một câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp. Cô nói nhỏ rằng: “Tôi là một ca sĩ hoạt náo.” Khán giá ở đó, ai cũng cảm thấy khó hiểu, tò mò về cái nghề “ca sĩ hoạt náo” của cô. HLV Ha Lâm bèn giải thích: “Ca sĩ hoạt náo là những ca sĩ được mời đến trong những hoạt động như cắt băng khánh thành, khai trương để góp vui và tạo không khí náo nhiệt.”

Khi Ha Lâm đang thao thao bất tuyệt, Lý Kiện bỗng ngắt lời: “Cô ấy cũng giống chúng ta thôi mà.”

Vẻ mặt ngại ngùng chợt tan biến, thay vào đó, cô thí sinh nở một nụ cười tươi đáp: “Tôi làm sao có thể giống như các vị HLV ở đây chứ?” Lý Kiện đã dùng sự tinh tế của mình để làm cho không khí trong khán phòng bớt gượng gạo.

“Thông minh là bẩm sinh, nhưng giả ngốc là một triết lý nên học.”

Năm ấy, một bộ hạ của Trương Tác Lâm tên là Lưu Dực Phi bị đánh cho một trận thừa sống thiếu chết ở Thượng Hải. Sau đó, Dực Phi phải cải trang thành hòa thượng đi ăn xin dọc đường mới lết về được Đông Bắc. Biết mình là bại tướng nên Dực Phi đã sợ hãi vô cùng khi đến gặp Trương Tác Lâm. Không ngờ, Trương Tác Lâm không những không trách mắng mà còn vui mừng chào đón Dực Phi.

Ông nói: “Thật là tốt quá. Cậu trở về rồi, nghe nói cậu phải cải trang thành hòa thượng đúng không? Ở Giang Nam, chỉ có cậu và Tôn Truyền Phương đánh được liên tục 8 giờ đồng hồ. Những người khác, chưa kịp đánh đã hàng. Tôi sẽ tạo điều kiện cho cậu đi thêm chuyến nữa, hãy chăm chỉ rèn luyện!”

Cách làm này của Trương Tác Lâm không chỉ giữ thể diện cho Dực Phi, mà còn khích lệ sỹ khí và lòng trung thành của người thủ hạ này với ông. Một mũi tên trúng 2 đích.

Người thông minh là người biết tìm một lối thoát cho người khác mỗi khi người ấy bị dồn vào thế khó. Thuận cho người cũng chính là thuận cho mình. Không đuổi cùng giết tận, không chê bai điểm yếu của người khác. Hãy giả ngốc đúng lúc đúng chỗ để hóa giải sự khó xử và gian nan. Giả ngốc là một bài học làm người mà ai cũng phải học.

Ngu chính là không biết nhưng tỏ ra nguy hiểm. Thông minh là biết nhưng lại vờ như không biết. William Shakespeare từng nói: “Thay vì làm một người thông minh ngu ngốc, chi bằng ta hãy làm một người ngốc nghếch thông minh.”

Theo Đình Trọng / Doanh nghiệp và tiếp thị

Cha tôi chết không cần quan tài

ĐÀO NAM HÒA

Tôi ghi lại bài này thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến Bố Mẹ tôi nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7. Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào nhưng thời điểm có lẽ ấn tượng nhất và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền Nam Việt Nam nhớ mãi là ngày 30-4-1975.

Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá nát tan hoang. Mất tất cả! Ngày 10-6-1975 tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không lấy mấy ngàn dằn túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem hai chỉ vàng cuối cùng còn lại của gia đình – là đôi bông tai của bà nội tôi để lại – ra tiệm vàng bán. Đó là kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng hai ngàn đồng lương thực các thứ và dằn túi một ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi ông về. Mười ngày trôi qua nhanh chóng. Không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn.

Giá sinh hoạt tăng từng giờ. Buổi sáng 100 đồng một ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau ba tuần thì 12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới hai tuổi. Mười hai con tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo châu củi quế.

Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh làm ruộng rau muống, một hình thức của kinh tế mới để giãn dân. Không lên voi nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống xong gánh bộ về tới chợ cách đó sáu cây số để bán. Buổi sáng khoảng ba giờ khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé cao 1,45m nặng chưa tới 40kg. Sáu ký rau mới đổi được một ký gạo. Một tuần mới cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ cỏ, trồng khoai mỳ…

Sức ăn trước ngày 30-4-1975 của gia đình tôi một bữa là ba lít gạo, tức một tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay một tuần chỉ còn 13 lít! Bắt đầu tháng 7-1975 lần lượt đồ đạc trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng, nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo, đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay… đều giã từ để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo giở gạch bông, giở bớt tôn ngoài mái hiên, tôn trần nhà… bán tiếp. Bán cho đến khi căn nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoại trừ vài cái nồi nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng. Buổi tối trải chiếu ngủ dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ. Không biết bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh bầu… (mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản).

Bố tôi sau sáu tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về. Ông dặn khi lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ. Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông! Tôi nhớ mãi ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hóa (Hố Nai). Cả nhà chỉ có một cái xe đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo một cái giỏ đi chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, một ký đường, hai hộp sữa và một bộ quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh hai bao đầy mà lòng tôi trào dâng niềm tủi hổ.

Sau đợt đổi tiền ngày 22-9-1975, chúng tôi như đàn chim vỡ tổ. Tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá. Hơn ba năm sau, bố tôi được cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ, có lần xin không được, quá đói, chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.

Bố không khóc, cũng không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất nước là tất cả mất”. Khóc lóc than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say sưa thêm mà thôi. Rồi theo “chủ trương”, ông không được ở lại thành phố. Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần “Ngụy quân, Ngụy quyền” nên không ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978, ông lên rừng Gia Ray ngay chân núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo. Ngày ngày ông và hai em tôi sống nhờ rừng.

Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn ba năm trong trại cải tạo. Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô. 10 năm sau, tôi đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy mini scooter, lần đầu tiên lên thăm ông. Quà cho Ông chỉ là một lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.

Bữa cơm hôm đó, ông nói:

– Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho bố con mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.

Rồi ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:

– Nhớ lời bố dặn. Nếu bố có chết, các con không cần quan tài làm chi cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây bố dưới chân núi là bố mát mẻ rồi.

Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh nặng thêm! Năm 1999, sau bao nhiêu khó khăn vì không có tiền làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì bốn bố con tôi cũng tới được Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và chín em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không được phái đoàn Mỹ chấp thuận. Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có năm va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.

Đến Mỹ ba anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare vì ông đã 74 tuổi. Ban đầu hội thiện nguyện giúp thuê nhà. Bốn bố con phải ở chung trong một căn apartment hai phòng ngủ cùng với hai người nữa là sáu người. Quá chật, chúng tôi đành ra ở riêng trong khi bố tôi được Chính phủ Mỹ cho ở nhà housing. Và từ đó ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghĩa nhất kể từ sau ngày 30-4-1975!

Hàng tháng ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng 80$. Thức ăn thì ông đi xin các hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở ông vào một quán kêu cho ông mấy món ngon. Ông từ chối, chỉ xin cho một dĩa bánh cuốn là đủ. Ông nói: Ở Việt Nam nhà mình còn quá khổ, bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi. Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần 400$, bố để dành và cứ sáu tháng bố gởi về Việt Nam cho mẹ và chín đứa con còn ở lại.

Chị cả tôi viết thư qua có câu: “Bố ơi, nhiều lần con phải đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200 ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ của bố cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như thế… Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …”. Bố đọc thư không khóc! mặc dù bố biết chị chỉ cân nặng có… 34kg! Gan góc đến thế là cùng! Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần tám năm ở Mỹ, tự dưng bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già.

Di chúc nói rõ. Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa, người của hội thiện nguyện, và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài chỉ mất có 800$ thôi! Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người nhà mình ở Việt Nam. Sau đó mấy ngày, bố đột quỵ! Người ta đưa Bố vào trại dưỡng lão. Rồi bố hấp hối. Ba anh em tôi họp nhau và quyết định làm theo di chúc của bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà thiêu. Khi bố tắt thở, sau một tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra. Trong phòng người ta bỏ bố vào một cái bao và kéo cái fermeture là xong! Quá đơn giản cho một kiếp người! Ba anh em tôi lúc đó mới đi làm, ăn lương một giờ 8$ (lương tối thiểu), chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn biết có làm đám tang bỏ bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người tham dự thì cũng vậy thôi, vì bố đâu biết gì nữa, mà sao tôi vẫn cảm thấy xót xa vô bờ.

Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính, từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh! Người ta bỏ bố lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng. Tất cả con, dâu và cháu chỉ có năm người. Họ dừng lại và hỏi chúng tôi muốn nói gì không. Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ lắp bắp nói như kẻ không hồn:

– Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!

Rồi họ lạnh lùng kéo bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng. Tôi không khóc! Không còn nước mắt để khóc! Hai tuần sau tôi lấy tro cốt bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt, bên dưới có ghi tên bố tôi, chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa…

Có một nhà văn của tuổi trẻ và bản ngã đam mê

Tháng 8 năm 2020, chúng tôi đến gặp nhà văn Nguyễn Thị Hoàng tại tư gia. “Cô giáo Hoàng” xuất hiện. Năm nay đã 81 tuổi nhưng bà vẫn minh mẫn sắc sảo, phong thái đài các. Trang điểm đậm nhưng thân thể nhẹ nhàng trong váy đầm thanh lịch, Nguyễn Thị Hoàng thong thả mời trà và nói chuyện

Đến giấc trưa đoàn mời bà đi nhà hàng nhưng “cô giáo Hoàng” kiên quyết bà phải là người mời, mới đúng phép chủ nhà tiếp khách phương xa. Trước khi rời nhà, bà thay áo đầm khác còn duyên dáng hơn, với một đôi giày mới, và màu son óng ánh hơn một chút.

Năm tháng sau, vào những ngày đầu năm 2021, bộ tiểu thuyết năm cuốn của nhà văn nữ danh tiếng Nguyễn Thị Hoàng đã trở lại với đời sống sau hàng chục năm khuất bóng, trong vẻ trang trọng, thanh nhã và đượm màu thời gian. “Vòng tay học trò”, “Cuộc tình trong ngục thất”, “Tuần trăng mật màu xanh”, “Một ngày rồi thôi”, “Tiếng chuông gọi người tình trở về”… Những tựa sách của một thời mê đắm.

***

Văn Nguyễn Thị Hoàng đài các như người. Tôi đọc bà cách đây mới năm năm, khi tình cờ ngã vào một thoáng “Vòng tay học trò” khiến mình ngỡ ngàng rung động:

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng.

“Con đường rừng một buổi hoàng hôn nào đó. Rặng hoa đào và bóng dáng mùa xuân. Mười ngón tay em và những chiếc áo len màu. Miệng em cười và lời yêu thương muộn màng không nói. Tôi chọn em làm đối tượng một đoạn đời ngắn ngủi. Từ đêm em đi là hết. Là hết. Những đoạn đời kế tiếp của em không thuộc về tôi nữa. Tôi không chấp nhận sự biến hình phản bội đó. Em đã hủy hoại ảo tưởng trong hồn tôi nâng niu để trở thành kẻ khác… Mình đã quen thuộc trong đời sống nhau những ngày xanh thắm ấy. Từ đêm em đi là hết, là hết. Cuộc phân ly vĩnh viễn giữa em với tôi, giữa tôi với đời, giữa tôi và bản ngã đam mê của thú rừng thức giấc” .

Tôi tìm đọc “Vòng tay học trò” ngay sau đó, tuy không dám kỳ vọng, những tưởng mình đã sang một thời đại khác và tuổi mộng cũng đã chào ra đi, sẽ khó tìm thấy sự đồng cảm với cuốn sách. Nhưng không ngờ mối tình cấm giữa cô giáo trẻ với cậu học sinh mới lớn, qua giọng văn cực lãng mạn, sang trọng, đầy nữ tính, khơi dậy tận cùng những khát khao thân xác, những tha thiết nhung nhớ, hờn ghen giận dữ, hy vọng và tuyệt vọng, chán nản và ơ thờ… đã cuốn lấy tôi.

“Vòng tay học trò” dậy sóng văn đàn thời điểm ra đời, bởi sự táo bạo chưa từng. Chưa có ai dám viết và viết hay như thế về một chuyện tình vượt lễ giáo, bất chấp quy ước xã hội. Hơn một bất chấp, một thách thức luân lý. Lẽ tất nhiên mối tình cấm ấy bị nhiều tờ báo chỉ trích là phi đạo đức. Nhưng dường như thế hệ độc giả thanh niên không quan tâm: cuốn sách trong vòng mấy tháng mà tái bản đến 4 lần!

Mối tình cấm này được cho là câu chuyện của chính cuộc đời nhà văn, cô giáo Nguyễn Thị Hoàng với một nam sinh trên Đà Lạt. Sau này khi được phỏng vấn, Nguyễn Thị Hoàng không hẳn thừa nhận, nhưng cũng không phủ nhận chuyện đó.

Từ đây, Nguyễn Thị Hoàng trở thành hiện tượng.

***

Nguyễn Thị Hoàng sinh năm 1939 tại Huế, khi còn thiếu nữ học trường Đồng Khánh. Năm 1957 Nguyễn Thị Hoàng theo gia đình vào sống ở Nha Trang. Năm 1960 vào Sài Gòn, học Đại học Văn khoa và Luật, nhưng bỏ dở vì chán. Năm 1962 cô giáo Hoàng lên Đà Lạt dạy Việt văn và Anh văn tại trường nam sinh Trần Hưng Đạo, nơi được cho là diễn ra mối tình tuyệt vọng của “Vòng tay học trò”.

Năm 1963 bị đuổi dạy vì tai tiếng hoặc tự bỏ dạy, cô giáo Hoàng quay về Nha Trang giam mình trong một tháng hoàn tất tiểu thuyết “Vòng tay học trò”. Một số tài liệu nói là viết ở Sài Gòn. Những mê dại, cuồng si và nỗi đau đớn của mối tình trái khoáy vẫn còn tươi nguyên ào ạt chảy trên hàng trăm trang giấy như không kịp thở, làm nên một khúc tình ca buốt ngọt tim gan.

Năm 1964 tờ Bách khoa in mấy kỳ tiểu thuyết này khiến dư luận xôn xao, nhưng vì chuyện chồng con gia đình mà đến 1966 Vòng tay học trò” mới chính thức xuất bản đầy đủ. Nguyễn Thị Hoàng ngay lập tức nổi tiếng.

Nhưng Nguyễn Thị Hoàng đến văn đàn trước nhất với thơ. Bà đã in hai tập thơ “Sầu riêng” (1960) và “Sau phút đam mê” (1961), sau đó là thơ đăng rải rác trên báo. Thơ sớm hay, cho thấy một tài năng thực sự:

“Em đợi anh về những chiều thứ bảy

Hiu hắt vòm trời buổi sáng thứ hai

Nhạc dạo mơ hồ trong tiếng mưa bay

Thành phố ngủ quên những ngày chủ nhật”

“Sàigòn xa hoa

Sàìgòn mê muội

tôi trở về vùi chôn tuổi buồn đau

lang thang từ buổi xa nhau

từng đêm lệ nhỏ trong màu rượu cay

trời cao chim nhỏ xa bay

tôi về cửa khép phương này mình tôi

Sàigòn hồng má hồng môi

tóc nghiêng nửa mái cung trời hoàng hôn

góc hè phố cũ

hàng hiên cô đơn

nhìn nhau ngơ ngác

Sàigòn cuồng điên âm thanh

Sàigòn đê mê bóng tối

thôi tôi không chờ không đợi

cho lời yêu câm mãi rồi thôi”

***

Điều gì tạo nên sức hấp dẫn của văn chương Nguyễn Thị Hoàng đối với thanh niên thời ấy, khiến bà trở thành một nhà văn bestseller? Tôi mạo muội nghĩ tới mấy điều. Trước hết là bởi Nguyễn Thị Hoàng sở hữu một lối văn điệu đà, êm mượt, giàu nhạc tính, những tổ hợp câu dài phóng đãng Tây phương, bên cạnh những ngắt nghỉ, luyến láy bất ngờ, diễn tả những trạng thái tâm lý tinh vi, tạo nên một thanh âm rất bắt tai thời đại.

“Tất cả đã rụng tàn rồi có phải. Như mùa hè đã phai màu và không bao giờ còn tới nữa một lần. Như tuổi thắm tôi cũng vút bay theo, những gót chân vui mừng cuống quýt lối yêu mê khờ dại ngẩn ngơ, bay theo những tảng nắng ngất ngây thơm, những tiếng cười giọng nói, những gặp gỡ xa lìa, những bất ngờ và chấm hết. Có phải.” (“Một ngày rồi thôi”).

“Tất cả đã rụng tàn rồi có phải” – một kiểu cấu trúc lạ và hay, mà trong văn của Nguyễn Thị Hoàng ta hay bắt gặp. Đọc văn của Nguyễn Thị Hoàng luôn có cảm giác câu trước gọi câu sau, chảy trôi mượt mà như thể không phải dụng công gì hết. Hồ Trường An từng miêu tả Nguyễn Thị Hoàng “viết nhanh như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngòi bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi”. Cho dù nhiều khi lạm dụng quá nhiều tính từ đưa đẩy và lối diễn đạt kiểu cách, vẫn không thể phủ nhận năng lực ngôn ngữ đặc biệt của bà.

Thứ hai là bởi trong văn Nguyễn Thị Hoàng thường thể hiện hình ảnh những người trẻ tuổi, dù là nam, dù là nữ, đều không yên ổn với thực tại, luôn cựa quậy, luôn khao khát vượt lên, luôn kiếm tìm gì đó, một hoài bão sống, một tình yêu tuyệt đối, một sự nhận diện bản thân… Có lẽ những hình ảnh ấy có sự đồng điệu sâu sắc với tâm lý của người trẻ thành thị bấy giờ, yêu cuồng sống vội trong âm sắc náo động của đô thị Sài Gòn, của phong trào hippy, nhưng vẫn cảm thấy trống rỗng, muốn biết mình là ai và vẫn thèm khát điều gì đó lớn lao.

Thứ ba nữa là bởi Nguyễn Thị Hoàng đã khai thác câu chuyện tình yêu ở nhiều góc độ đa dạng, mà thường là những mối tình lỡ làng, khác biệt và thách thức các ranh giới. Thứ cấm kỵ bao giờ cũng hấp dẫn. Ở đó các nhân vật bộc lộ mọi trạng thái yêu, niềm đam mê, sự giằng xé, nỗi ngất ngây, khát vọng vẻ đẹp tuyệt bích, và những người trẻ tìm thấy mình trong đó.

***

Hiển hiện trong bộ năm cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng là hình ảnh những người nữ trẻ, cách này hay cách khác, đều nổi loạn, không hài lòng với thực tại, theo đuổi những niềm tin, những khát vọng riêng có. Họ nhạy cảm, đa đoan, giàu nữ tính, nhưng lại mạnh mẽ, bất chấp lề lối đời thường, dám sống cho khát vọng của mình. Như Trâm của “Vòng tay học trò”, đã chán ngán Sài Gòn và những cuộc vui lang bạt: “Nàng bỏ đi như một từ khước. Và như một lẩn trốn. Từ khước những thú vui buông thả đưa tới lỡ lầm cay đắng, đưa tới trống không dằng dặc tủi hờn. Lẩn trốn những đòi hỏi xôn xao của chính mình, của một bản chất sôi nổi thèm sống, thèm yêu đến tột cùng, đến vô bờ vô bến”.

Huyền trong “Tiếng chuông gọi người tình trở về” không bao giờ yên nguôi: “Em sinh ra chỉ mơ những chốn cao vút, xa vời và muốn anh bao giờ cũng cao vút, xa vời như em mong ước. Nhưng không anh hay một người nào xa vời cao vút hết. Chỉ mình trí óc em ở ngoài, bay bổng trong khi mọi người bình thường sum họp vui vầy dưới kia đời sống bình thường”.

Nguyện của Một ngày rồi thôi: “Nguyện lại cảm thấy, vừa kiêu hãnh vừa tủi hờn vô cớ là đời sống bên ngoài, vòng vây quen thuộc eo hẹp và tầm thường không đủ dung chứa mình.”

***

Độc giả bây giờ có đọc Nguyễn Thị Hoàng không? Những tâm tình của nhân vật trong các cuốn tiểu thuyết này có quá lạ lẫm với hiện tại sau 60, 70 năm? Lối văn có quá miên man điệu đà đối với thời đại quen lướt nhanh đọc ngắn?

Trong Lời tựa của tập truyện ngắn “Trên thiên đường ký ức” năm 2019, Nguyễn Thị Hoàng đã nghĩ về điều này: “Thế hệ đọc những trang cũ ngày xưa đã già cỗi hoặc lụi tàn. Tuổi trẻ ngày nay sẽ hoàn toàn xa lạ và có thể vô cảm với mớ đồ cũ trên tay, nhưng qua dòng trôi chảy của thời gian và thế sự, biết đâu vẫn còn có ai vớt lại chút bọt bèo mong manh của quá khứ. Chút bọt bèo có thể sẽ là mầm xanh cho mùa hoa trái mới, cũng có thể là phiến hóa thạch vô tri vì cuộc đợi chờ vô vọng mấy mươi năm mà kỳ thực đã mấy nghìn năm bên bờ ảo hóa”.

Hẳn sẽ còn nhiều người tìm đọc Nguyễn Thị Hoàng, bởi chúng ta vẫn luôn cần tìm hiểu quá khứ để cắt nghĩa cho hiện tại.

 Nguyễn Hoàng Diệu Thủy / Vannghe CA

50% các gia đình ở TPHCM có thân nhân ở nước ngoài

 Có gần 2 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có liên hệ với TPHCM, như có nguồn gốc, có thân nhân, có hợp tác, làm việc hoặc thường xuyên lưu trú, trong đó đáng chú ý khoảng 50% hộ gia đình ở TPHCM có thân nhân ở nước ngoài.

Chiều 20/4, UBND TPHCM tổ chức lễ vinh danh 33 tập thể và 17 cá nhân có thành tích xuất sắc về công tác người Việt Nam ở nước ngoài tại TPHCM giai đoạn 2018-2020.

Đến dự có Đại sứ Lương Thanh Nghị – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao); Phó Chủ tịch UBND TPHCM Dương Anh Đức…

Tại buổi lễ, ông Võ Thành Chất – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TPHCM cho biết hiện có gần 2 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có liên hệ với TPHCM, như có nguồn gốc, có thân nhân; có hợp tác, làm việc hoặc thường xuyên lưu trú tại TPHCM.

Đáng chú ý, theo ông Chất, có khoảng 50% hộ gia đình ở TPHCM đang có thân nhân là người Việt Nam ở nước ngoài.

Lãnh đạo Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài cho biết TPHCM đã vận dụng một số chính sách bố trí, sử dụng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các cơ quan nghiên cứu khoa học thuộc TPHCM như: Viện Khoa học tính toán, Viện Nghiên cứu Sinh học, Khu Công nghệ cao với chế độ làm việc bán thời gian và cấp kinh phí hỗ trợ đặc biệt để hoạt động…

50% các gia đình ở TPHCM có thân nhân ở nước ngoài ảnh 1
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tham quan các mô hình nghiên cứu và trao đổi thân mật với các chuyên gia kiều bào tại hội nghị bàn về ứng phó dịch COVID-19 vào cuối năm 2020

Nhiều ngành, cơ quan, đơn vị đã mời gọi và thu hút được sự hợp tác của chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Tại TPHCM, những năm qua đã có hơn 400 chuyên gia, trí thức kiều bào về làm việc dài hạn, gần 200 trí thức hợp tác trực tiếp với các trường Đại học, Khu công nghệ cao, các bệnh viện… Gần 3.000 công ty có vốn của kiều bào được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng vốn điều lệ hơn 45.000 tỷ đồng.

Mỗi năm có khoảng 30.000 người Việt trẻ ở nước ngoài về thăm quê hương, tìm kiếm cơ hội kinh doanh bằng các dự án khởi nghiệp tại TPHCM. Dù khó khăn, lượng kiều hối năm 2020 đạt 6,1 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2019.

“Công tác giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài được lãnh đạo TPHCM quan tâm sâu sát, các thủ tục hành chính được đơn giản hóa, thái độ phục vụ kiều bào cởi mở, thân thiện…” – ông Chất khẳng định và cho biết thêm từ năm 1993 đến nay, TPHCM luôn là đơn vị nhận kiều hối nhiều nhất nước, với lượng kiều hối tăng lên qua các năm, kể cả trong tình huống xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực.

Phó Chủ tịch UBND TPHCM Dương Anh Đức phát biểu tại lễ vinh danh các kiều bào có nhiều đóng góp cho sự phát triển của TPHCM.

Theo Đại sứ Lương Thanh Nghị, hiện nay có khoảng 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, sinh sống làm việc tại hơn 130 quốc gia, vùng lãnh thổ. Kiều bào đóng góp về kinh tế, trí thức – khoa học công nghệ, và đồng thời là sứ giả văn hóa mang hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Đến tháng 10/2020, cả nước đã có 365 dự án của kiều bào đầu tư tại 27 tỉnh thành, với tổng giá trị vốn hơn 1,6 tỷ USD, tạo nhiều việc làm. Từ 1993 đến nay, lượng kiều hối gửi về Việt Nam là hơn 175 tỷ USD.

“Năm 2020 dù rất khó khăn, nhưng bà con vẫn gửi về 15,7 tỷ USD, trong đó TPHCM là 6,1 tỷ. Điều đáng mừng là 60% lượng kiều hối này được đầu tư vào sản xuất kinh doanh chứ không chỉ tiêu dùng và tiết kiệm như trước đây” – Đại sứ Lương Thanh Nghị cho hay.

Tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Dương Anh Đức cho biết, lãnh đạo TPHCM rất trân trọng những ý kiến tư vấn, tham mưu của các nhà khoa học kiều bào, nhằm giúp đất nước nhanh chóng tiếp cận với trình độ phát triển tiên tiến của thế giới.

Phó Chủ tịch Dương Anh Đức bày tỏ mong muốn bà con kiều bào tiếp tục chung sức với Đảng bộ, chính quyền và người dân TPHCM, đóng góp tích cực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2021.

Lãnh đạo UBND TPHCM cũng đề nghị Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TPHCM tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa TPHCM và bà con kiều bào.

Tại lễ vinh danh, Chủ tịch UBND TPHCM đã tặng bằng khen cho 17 tập thể, 33 cá nhân có thành tích xuất sắc trong hỗ trợ công dân Việt Nam, đầu tư sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, y học, hợp tác giảng dạy, đào tạo và tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội tại TPHCM.

Theo TPO