3 khu nghỉ dưỡng miền Đông Nam Bộ dịp lễ 30/4

Với lịch trình 2 – 3 ngày quanh TP HCM, du khách có thể tham khảo các điểm nghỉ dưỡng ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương…

Fusion Suites Vung Tau tọa lạc trên đường Trương Công Định, bãi trước (Vũng Tàu) với đầy đủ các tiện ích như: spa, phòng gym, quán bar, nhà hàng, hồ bơi vô cực. Các phòng khách sạn được thiết kế theo phong cách hiện đại với gam màu xanh nhạt làm chủ đạo. Ngoài các tiện nghi bên trong, khách sạn còn có vị trí gần với các điểm tham quan như: ngọn hải đăng, tượng Chúa Kitô, mũi Nghinh Phong... và các quán ăn địa phương như: Bánh khọt cô Ba Vũng Tàu, lẩu cá đuối Út Mười...  Hiện tại, khách sạn có chương trình ưu đãi 50% áp dụng cho 2 đêm lưu trú vào mỗi cuối tuần (thứ 6 - Chủ Nhật). Ngoài ra, các tiện ích tại khách sạn không chỉ phục vụ cho khách lưu trú mà còn đón tiếp các khách vãng lai với nhiều chương trình ưu đãi như giảm giá 50% và phục vụ đêm nhạc đối với quán bar.
Fusion Suites Vung Tau tọa lạc trên đường Trương Công Định, Bãi Trước (Vũng Tàu) có đầy đủ các tiện ích như: spa, phòng gym, quán bar, nhà hàng, hồ bơi vô cực. Các phòng khách sạn được thiết kế theo phong cách hiện đại với gam màu xanh chủ đạo. Khách sạn có vị trí gần với các điểm tham quan như: ngọn hải đăng, tượng Chúa Kitô, mũi Nghinh Phong… và các quán ăn địa phương như: Bánh khọt cô Ba Vũng Tàu, lẩu cá đuối Út Mười…
Hiện tại, khách sạn có chương trình ưu đãi 50% áp dụng cho 2 đêm lưu trú vào mỗi cuối tuần (thứ 6 – Chủ Nhật). Ngoài ra, các tiện ích tại khách sạn mở đón cả du khách không lưu trú tại đây, với chương trình giảm giá tới 50% và phục vụ đêm nhạc ở quán bar.
Giá tại đây dao động 2,4 triệu đồng - 10 triệu đồng/ phòng/ đêm, với đầy đủ các hạng phòng dành cho cặp đôi và gia đình. Ngoài ra, khách sạn còn có căn hộ dành cho khách lưu trú dài hạn với bếp được đặt riêng trong phòng.    Các điểm lưu trú cùng khu vực: Lief Mila Vung Tau 1,6 triệu - 2,3 triệu/ phòng/ đêm không có phòng gia đình; ibis Styles Vũng Tàu 3,1 triệu đồng - 4 triệu đồng/ phòng/ đêm; Melia Hồ Tràm 4 triệu đồng - 12 triệu đồng/ phòng/ đêm.
Giá tại đây dao động 2,4 – 10 triệu đồng/ phòng/ đêm, với đầy đủ các hạng phòng dành cho cặp đôi và gia đình. Ngoài ra, khách sạn còn có căn hộ dành cho khách lưu trú dài hạn với bếp riêng.
Các điểm lưu trú cùng khu vực: Lief Mila Vung Tau 1,6 triệu – 2,3 triệu/ phòng/ đêm, không có phòng gia đình; ibis Styles Vũng Tàu 3,1 triệu đồng – 4 triệu đồng/ phòng/ đêm; Melia Hồ Tràm 4 triệu đồng – 12 triệu đồng/ phòng/ đêm.
Chỉ mất 30 phút di chuyển bằng cano trên sông Sài Gòn để đến với An Lâm Retreat tọa lạc tại ấp Trung, Thuận An (Bình Dương). Không gian gần gũi thiên nhiên, nhiều cây xanh và ven sông phù hợp cho những chuyến nghỉ dưỡng 2 ngày 3 đêm.
An Lâm Retreat tọa lạc tại ấp Trung, Thuận An (Bình Dương), cách TP HCM 30 phút di chuyển bằng cano trên sông Sài Gòn. Khu nghỉ dưỡng có không gian gần gũi thiên nhiên, nằm ven sông với nhiều cây xanh, phù hợp cho những chuyến đi nghỉ dưỡng.
Phong cách theo hướng thiên nhiên ưu tiên những mảng xanh của cây cỏ, nước với các tiện ích như: spa, hồ bơi, hồ bơi riêng tại hạng phòng villa... Resort phục vụ các món ăn đa dạng từ Âu sang Á, chiều lòng nhiều đối tượng khách lưu trú.Resort hiện tại có các chương trình ưu đãi (tuỳ gói), tặng kèm bữa tối BBQ và giảm giá 50% dịch vụ spa, đồng thời đưa rước miễn phí từ sân bay và từ cảng Sài Gòn về đến resort. Giá dao động 4 triệu đồng - 7 triệu đồng/ phòng/ đêm. Đối với hạng phòng VIP, khách lưu trú còn được hưởng thêm tiện ích hồ bơi riêng.Các điểm lưu trú cùng khu vực: Phuong Nam Resort Bình Dương 1,7 triệu đồng - 2,5 triệu đồng/ phòng/ đêm; The Mira Hotel 1,9 triệu đồng - 5,3 triệu đồng/ phòng/ đêm; Citadines Central Bình Dương 1,7 triệu đồng - 2,8 triệu đồng/ phòng/ đêm.
Ở đây có đủ tiện ích như spa, hồ bơi, hồ bơi riêng tại hạng phòng villa… và phục vụ các món ăn đa dạng từ Âu sang Á, chiều lòng nhiều đối tượng khách lưu trú.
Resort hiện có các chương trình ưu đãi (tuỳ gói), tặng kèm bữa tối BBQ và giảm giá 50% dịch vụ spa, đồng thời đưa đón miễn phí từ sân bay và từ cảng Sài Gòn về đến resort. Giá phòng dao động 4 – 7 triệu đồng/ phòng/ đêm. Đối với hạng phòng VIP còn có tiện ích hồ bơi riêng.
Các điểm lưu trú cùng khu vực: Phuong Nam Resort Bình Dương 1,7 triệu đồng – 2,5 triệu đồng/ phòng/ đêm; The Mira Hotel 1,9 triệu đồng – 5,3 triệu đồng/ phòng/ đêm; Citadines Central Bình Dương 1,7 triệu đồng – 2,8 triệu đồng/ phòng/ đêm.
Chi-Bu Vietnam tọa lạc bên bờ sông Ông Kèo (Nhơn Trạch, Đồng Nai), cách Sài Gòn 2 tiếng đi xe máy. Resort không quá đa dạng về các dịch vụ, tiện ích ngoài hồ ngâm nước ngọt, nhà hàng ven sông. Bên cạnh đó, tại đây có các hoạt động thể thao dưới nước như chèo SUP, cách sân golf Jeongson 20 phút đi xe và cách công viên nước Bọ Cạp Vàng 5 phút.
Chi-Bu Vietnam tọa lạc bên bờ sông Ông Kèo (Nhơn Trạch, Đồng Nai), cách Sài Gòn 2 tiếng đi xe máy. Resort có các tiện ích khác lạ như ngoài hồ ngâm nước ngọt, nhà hàng ven sông. Tại đây có các hoạt động thể thao dưới nước như chèo SUP và vị trí cách sân golf Jeongson 20 phút đi xe và cách công viên nước Bọ Cạp Vàng 5 phút.
Tại đây chỉ có 7 phòng nghỉ dưỡng, phục vụ cho một số lượng khách nhất định để đảm bảo sự riêng tư. Các căn lều được thiết kế theo phong cách eco, gần gũi với thiên nhiên. Do không có quá nhiều tiện ích xung quanh, nên nơi đây sẽ thích hợp cho những du khách muốn thư giãn tại nơi cách xa thành phố.Giá tại đây dao động 2,8 triệu đồng - 3,8 triệu đồng/ phòng/ đêm, tuỳ hạng phòng. Các điểm lưu trú cùng khu vực: The Mira Central Park Hotel 1,2 triệu đồng - 5 triệu đồng/ phòng/ đêm; Aurora Hotel 1,8 triệu đồng - 6,6 triệu đồng/ phòng/ đêm.
Tại đây có 7 phòng nghỉ dưỡng, phục vụ một số lượng khách nhất định để đảm bảo sự riêng tư. Các căn lều được thiết kế theo phong cách gần gũi với thiên nhiên. Do không có quá nhiều tiện ích xung quanh, nên nơi đây sẽ thích hợp cho những du khách muốn thư giãn, nghỉ ngơi.
Giá tại đây dao động 2,8 triệu đồng – 3,8 triệu đồng/ phòng/ đêm, tuỳ hạng phòng. Các điểm lưu trú cùng khu vực: The Mira Central Park Hotel 1,2 triệu đồng – 5 triệu đồng/ phòng/ đêm; Aurora Hotel 1,8 triệu đồng – 6,6 triệu đồng/ phòng/ đêm.

Thanh Hằng / Vietnam Express

Ngăn chặn những suy nghĩ tiêu cực bằng 10 phút tập luyện mỗi ngày

Điều duy nhất tồn tại mãi mãi trong cuộc sống chúng ta chính là mối quan hệ với bản thân mình.
Hình minh họa. Credit: Brooke Cagle/Unsplash.

NEW YORK CITY, New York (SGN) – Trong cuộc sống, không ai mà không phải đối mặt với những khó khăn, thử thách và chướng ngại vật trên đời, từ những người ghét mình, từ sự thất bại, thực tế trước mắt và thậm chí những cái bẫy bạn tự đặt cho bản thân. Thông thường, khi đối mặt với những thứ trên, chúng ta thường hay có xu hướng tự nghi ngờ bản thân và mất niềm tin vào mình.

Dưới đây là phương pháp tập luyện để bạn cải thiện đầu óc thanh thản và ngăn chặn những suy nghĩ tiêu cực vào đầu mà chỉ cần có 10 phút mỗi ngày, theo trang mạng Well and Good.

Theo chuyên gia tâm lý Lauren Bille, chủ nhân của chương trình đào tạo Well+Good Retreat, điều duy nhất tồn tại mãi mãi trong cuộc sống chúng ta chính là mối quan hệ với bản thân mình. Điều này có nghĩa rằng bạn nên tạo các thói quen hỗ trợ tinh thần như thiền định hằng ngày và chăm sóc, lo lắng cho bản thân thật tốt.

Mỗi ngày, chuyên gia Bille sẽ đem theo một danh sách nhỏ bên mình. Nó giúp cô xác định được cảm xúc và cách làm thế nào để điều chỉnh nó. Chẳng hạn, khi cảm thấy hồi hộp, cô sẽ đem danh sách ra và nhắc nhở mình hay thở thật sâu để điềm tĩnh lại. Khi cảm thấy mệt mỏi, cô sẽ uống nước hay thiền để tinh thần thông suốt.

“Cuộc sống đôi lúc rất phức tạp và dài đằng đẵng, nên việc tạo cơ hội cho bản thân có hành vi thích nghi và ‘miễn nhiễm’ với áp lực là điều chúng ta nên làm để bảo vệ sức khỏe,” chuyên gia Bille nói. “Việc hình thành mối quan hệ thân thiết với bản thân sẽ giúp ta cải thiện chất lượng cuộc sống hơn.”

Bạn nên dành ít nhất là 10 phút mỗi ngày để ghi lại cảm xúc và hành động tiêu cực của mình và đối chiếu với cột bên trái những câu chữ bạn thể hiện sự tích cực. Mỗi khi cảm thấy bị gò bó và mắc bẫy trong mớ suy nghĩ hỗn độn và tiêu cực, bạn cầm tờ giấy này ra và ngẫm nghĩ những từ ngữ khuyên bảo bạn tích cực hơn và suy nghĩ khác đi.

“Khi tập thói quen này, tôi trở nên có nhận thức hơn về những lý do khiến tôi suy nghĩ hay có những hành động tiêu cực và đáng ghét như thế. Dần dần, tôi thay đổi được cách suy nghĩ của mình, danh sách như là công cụ giúp tôi vượt qua những rào cản của chính mình đặt ra. Khi bạn tử tế và chu đáo với bản thân, bạn cũng sẽ như thế với người khác,” chuyên gia Bille bày tỏ.

Dưới đây là một mẫu danh sách ngắn mà bạn có thể tham khảo.

Khi cảm thấy xấu hổ, hãy ghi nhớ bạn “luôn được thương yêu, nhẹ nhàng và có sự tha thứ”.

Khi cảm thấy mệt mỏi, bạn hãy uống nước, tập thiền và hít thở thật sâu.

Khi cảm giác như bị “quá tải”, bạn hãy hít thở sâu.

Khi cảm thấy sợ hãi, hãy nhớ đến từ “mạnh mẽ”.

Khi thấy lo lắng, bồn chồn, hãy nhớ hít thở thật đều.

Khi cảm thấy bấp bênh và không an toàn, hãy nhớ tự tin lên và hãy tin tưởng bản thân mình.

Khi tức giận, hãy nhớ đến từ “tha lỗi” và “lòng trắc ẩn”.

Khi cảm thấy ghen tức, hãy nhớ yêu thương bản thân mình.

Khi cảm thấy bị lừa dối, bạn hãy luôn tin sự thật sẽ luôn đứng ở phía mình. (K.D)

SG Nhỏ

Tháng Tư về, nhớ Nguyên Sa

Từ trái, Trương Trọng Trác, Trần Tam Tiệp, Nguyên Sa, Du Tử Lê ở trại tị nạn 1975. (Hình Du Tử Lê)

Tôi biết đến thơ Nguyên Sa từ năm 16 tuổi, năm chính thức được gọi là “Nữ sinh.” Không phải riêng tôi, mà hình như tất cả lứa con gái cùng tuổi thời ấy, biết đến những vần thơ của Nguyên Sa từ khi chúng tôi bắt đầu đến trường với tà áo dài trắng, biết thẹn thùng khi nghe câu hát:

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Mặc dù, chiếc áo dài chúng tôi mặc thời ấy nào có phải là lụa Hà Đông.

Rồi, từ ca khúc “Áo lụa Hà Đông” do nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Nguyên Sa vào năm 1957 – qua tiếng hát nam ca sĩ Elvis Phương, tôi biết thêm một Paris bên kia địa cầu, có ánh trăng phủ bờ sông Seine, có sương mù trắng tựa màu áo, tan loãng giữa trời mùa Thu.

“Paris có gì lạ không em?

Mai anh về giữa bến sông Seine

Anh về giữa một giòng sông trắng

Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?

Làm ơn che khuất nửa vừng trăng

Anh về có nương theo giòng nước

Anh sẽ tìm em trong bóng trăng…”

Rồi, từ “Paris có gì lạ không em” – tôi biết thêm một Nguyên Sa từng yêu và nhớ Paris như yêu và nhớ một người tình…

“…tôi yêu Paris hơn một người bạn yêu một người bạn

hơn một người yêu yêu một người yêu” (Paris)

Nguyên Sa tên thật là Trần Bích Lan, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội, ông còn có bút danh Hư Trúc khi làm thơ, nhà báo. Ông còn là một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn trước năm 1975.

 Năm 1949, Nguyên Sa du học Pháp và ở tại Provins. Chính thời gian này, theo một số tài liệu về cuộc đời ông, chính những cuộc chia ly đã trở thành nguồn cảm hứng cho sự ra đời. của Mai Tôi Đi, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tiễn Biệt. Bút danh Nguyên Sa cũng ra đời trong thời gian này.

Ngày 17 Tháng Mười Hai, năm 1955, chỉ vài ngày trước khi về lại Việt Nam, Nguyên Sa lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris với lý do: “Làm đám cưới để có thể cùng nhau hồi hương được thuận tiện hơn.”

Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 Tháng Tư, 1998.

Tôi đã được trải qua những tháng năm đẹp nhất đời, với Sài Gòn, với thơ Nguyên Sa, với những bài nhạc tình phổ từ thơ của ông. Thời đó, mỗi khi nói về chuyện yêu đương học trò, ngoài những câu “kinh điển” của Xuân Diệu như “Yêu là chết trong lòng một ít” thì trên những góc vở hay cuối trang tập, hay trang lưu bút, xuất hiện nhiều nhất là những vần thơ tình của Nguyên Sa.

“Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung

Bày vội vã vào trong hồn mở cửa…”

Hoặc những câu thơ rất “đời” với những hình ảnh bình dị trong cuộc sống

“Hôm nay Nga buồn như con chó ốm,

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chả là nước biển…” (Nga)

Thi sĩ Nguyên Sa và phu nhân trong Vườn Luxembourg, Paris, 1954. (Hình: rfa.org)

Ngày đó, chúng tôi nào biết “Nga” là ai, chỉ biết cái tên ấy được lứa tuổi “nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò” trêu chọc bằng những cái tên…đang yêu như Tâm, Trang, Thy… Tôi nhớ trong lớp học xưa, có cô bạn gái cũng mang tên Nga. Ngày đó, Nga cũng yêu. Tình yêu tuổi học trò đẹp như nắng Sài Gòn, trắng tinh khôi như hai tà áo. Ngày ấy, Sài Gòn còn rợp bóng hai hàng cây xanh mướt. Chúng tôi thường lén nhìn xuống cửa sổ lớp học mỗi đầu ngày, rồi cười khúc khích khi thấy cô bạn gái tên Nga dẫn xe đạp đi bên cạnh anh chàng học cùng trường, khác lớp. Những ngày tình yêu học trò bị “thử thách” bởi những lần giận dỗi, chúng tôi lại chọc ghẹo cô bạn gái bằng câu thơ Nguyên Sa: “Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay T.”

Mãi rất lâu sau này, khi có cơ hội tìm đến các tài liệu về Văn học Nghệ thuật Việt Nam, tôi mới biết “Nga” là nhân vật có thật, là phu nhân của ông – bà Trịnh Thuý Nga. Bài thơ “Nga” còn có một chí tiết đặc biệt khác, đó là được in thay giấy báo tin thành hôn của hai người vào mùa Giáng Sinh 1954.

Thơ của Nguyên Sa không hào nhoáng, không bay bướm. Trái lại, nó giản dị đến mức…trần tục. Nhưng đó là cái trần tục của một gã giang hồ lãng tử. Đó là cái trần tục của một gã say tình nhưng không dám chạm vào trái cấm.

“…Khi em đến nằm ngoan trên đồi cỏ

Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ

Có xôn xao là núi lớn xôn xao

Cánh tay anh, anh đã dặn nằm im

Đôi mắt anh đã trở thành tinh tú

Đứng thật xa để canh chừng giấc ngủ

Đứng thật cao như ngọn hải đăng

Anh canh chừng con thuyền lạ đi ngang

Sẽ chở em về quê hương thần thoại…” (Kỳ Diệu)

Nguyên Sa đã dùng những hình ảnh mềm mại nhất nhưng cũng dữ dội nhất (đôi mắt, con thuyền, tinh tú…) để thổ lộ tình vào thơ. Một sự thổ lộ tinh tế và duyên dáng.

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường

Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương

Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…” (Tuổi Mười Ba)

Thơ của ông là một bầu trời tự do, tự do đến mức lạc vần, không điệu. Bài thơ Paris ông viết là một ví dụ

“…Rồi cả người

cả Paris nhìn tôi qua một nụ cười nhắn nhủ

nụ cười mềm như ánh nắng của cuộc chia ly

của một buổi sáng mai khi những người phu đổ rác bắt đầu đi

những thùng rác bắt đầu cọ vào nhau

với những tiếng kêu của một loài sắt lạnh

như những tiếng kêu của những chiếc đinh khô, những mình búa rắn

của những đôi mắt nhìn theo

và tôi cũng nhìn theo

không biết người ta vừa khâm liệm mình hay khâm liệm một người yêu

Dù người yêu không phải là người con gái có mớ tóc vàng…” (Paris)

hay

“Paris có gì lạ không EM?

Mai anh về em có còn NGOAN

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ

Em có tìm anh trong cánh chim…” (Paris Có Gì Lạ Không Em)

Trong một tài liệu về Nguyên Sa, trích dẫn lý giải của ông về điều này:

“NGOAN với EM là vần ép, SÔNG và TRĂNG thì lạc vận không còn gì để nghi ngờ. Tôi chấp nhận. Tôi nghĩ nếu có trách cứ về những vần cưỡng ép và vần lạc thì cũng đúng thôi, tôi không có gì để biện minh. Tôi chọn lựa nền âm thanh, chọn lựa sự xuất hiện của hàng loạt những tiếng đồng âm, tạo thành một nền âm thanh, để cho những vẫn chỉ có từ thông vận đến lạc vận, bay nhảy.

Tôi vẫn nghĩ là tôi có nhiều may mắn. Tôi không thấy người đọc nào than trách về những sử dụng vần điệu vượt ra ngoài khuôn khổ của vần điệu, hoàn toàn xây dựng trên sự mơ ước sáng tạo, sự phối hợp âm thanh của cả đoạn, của nhiều đoạn, của cả bài.

Chỗ dung thân của thơ phải chăng là sự bao dung có tên là tình yêu?”

Có lẽ, chính “sự bao dung có tên là tình yêu” đó mà rất nhiều mối tình học trò (trong đó có tôi) đã mượn thơ của ông để “nuôi tình mình khôn lớn.” Có những cuộc tình không trọn, nhưng chắc chắn nó đã được sống một khoảng đời rất đẹp với thơ của Nguyên Sa.

Cho đến ngày hôm nay, thơ của Nguyên Sa đối với thế hệ chúng tôi mãi mãi là ký ức ngọt ngào về một Sài Gòn tuy đã qua thời hoa lệ, nhưng vẫn là một Sài Gòn của tuổi đôi mươi với hàng cây me xanh thẳm, những buổi chiều tan học mưa trắng trời, những câu chuyện bất tận về một Paris lãng mạn vô cùng xa lạ ngày đó. Không thể phủ nhận, chính những cuộc tình trên sông Seine, những bóng dáng thướt tha trong sương mù, hay hè phố Saint Michel trong thơ Nguyên Sa đã chắp cánh ước mơ của các cô cậu học trò chúng tôi, ru chúng tôi vào những giấc mộng đời thật đẹp, bao dung và độ lượng.

Do thế mà tháng Tư về, lại nhớ Nguyên Sa!

Tư Lãng / Saigon nhỏ

Cha và con và dương cầm…

Danh cầm – NSND. Đặng Thái Sơn trở về từ Canada, để báo hiếu người cha đẻ, tại Viện Pháp – Hà Nội (L’Institut Francais de Hanoi, 24 phố Tràng Tiền). Cha của Sơn: nhạc sĩ – thi sĩ – họa sĩ Đặng Đình Hưng (1924 – 1990) đã mất tròn 30 năm. Lễ vật Đặng Thái Sơn dâng lên cha là buổi ra mắt sách và triển lãm cùng tên: “Đặng Đình Hưng – một bến lạ” diễn ra vào chiều muộn 20.1.2021.

Đang dịch COVID-19 toàn cầu, Sơn về Hà Nội phải cách ly 14 ngày, được ở tầng trên một khách sạn, phòng rộng, có hai cây dương cầm, cho ban ngày và ban đêm. Với wifi nữa, Sơn thấy là quá đủ để thốt lên: “toàn phần sung sướng”: “Tôi không cần đàn bà, không cần đàn ông, chỉ cần mỗi cây đàn” (theo báo Tuổi Trẻ).
Tôi cùng bạn bè bay từ TP.HCM, quê ngoại Sơn, rơi “thẳng đứng” vào cuộc báo hiếu của người nghệ sĩ. Và tôi, kinh ngạc vỡ lẽ những điều chưa từng.

Về một bộ ba độc đáo: Cha và con và đàn dương cầm.

Một. Người thơ Đặng Đình Hưng trong cõi cô đơn toàn phần

Người cha, theo dân gian Việt, là chủ gia đình (gia trưởng), chiếm vị trí cao nhất: “nóc nhà” (“Con không cha như nhà không nóc”). Đặng Đình Hưng đã giáo dưỡng Sơn theo cách Việt cổ truyền ấy, bằng yêu thương, dạy dỗ, khuyên nhủ, bảo ban… của một người cha Việt thông thường. Và, bằng cả tác phẩm của ông về thơ, nhạc, họa. Đặc biệt là thơ (được in lại khá đủ trong sách Một bến lạ – NXB. Hội Nhà Văn năm 2020, theo đúng hình thái ban đầu của bản thảo thơ Đặng Đình Hưng).

Điều được di truyền xuôi theo huyết thống, từ đời cha sang đời con, thật cảm động,  ngoạn mục và cũng thật nghiệt ngã, đa đoan. Đó chính là bi kịch của sự va đập mạnh, giữa hai bờ con sông văn hóa Đông – Tây (Việt – Pháp), đã bao trùm số phận của cả hai cha con, dù mỗi người mỗi cách, mỗi đậm nhạt, bởi sự ra đời và trưởng thành trong những thời đoạn lịch sử khác nhau, dẫn đến việc sở hữu hai ngôn ngữ nghệ thuật khác biệt: Cha, về căn bản, là thi sĩ. Con, thuần túy nghệ sĩ dương cầm.

NSND. Đặng Thái Sơn biểu diễn bản nhạc Adagio của Bach dành tặng hương hồn cha. Ảnh: T.A.T


Đời cha – ngập ngừng, giằng xé giữa làng quê Việt và phố thị Tây. Đời con – chọn định cư nước ngoài, theo thủ đô dương cầm, mà Canada là lựa chọn đích đáng.

Chứng kiến và thả mình vào cuộc “báo hiếu” của Sơn, tôi nghĩ: cuộc trình diễn và đối thoại về tác phẩm của cả hai cha con tối 20.1, trước đông đặc khán giả, chăm chú, ngạc nhiên và ngưỡng mộ, thì bản thân cuộc này đã vượt lên ý tưởng “báo hiếu” khởi đầu để đạt tới vẻ đẹp bi kịch sâu rộng, đủ ôm chứa cả cuộc giao lưu, tiếp biến văn hóa Đông – Tây, đã hiện diện bi tráng hàng thế kỷ trong nghệ thuật hiện đại Việt Nam, mà cha con họ Đặng là trường hợp điển hình.

Là thi sĩ, Đặng Đình Hưng nhận chịu bi kịch ấy theo cách thơ riêng, khác lạ và độc sáng. Và đã di truyền cách thơ, cách sống ấy cho con trai Đặng Thái Sơn (và còn tránh cho con trượt vào vết xe đổ của chính mình). Cũng bởi thế, cõi thơ Đặng Đình Hưng, mặc nhiên thành nơi diễn ra xung đột khốc liệt về văn hóa Đông – Tây, hàm chứa sự hiển linh của trực giác thơ, vừa cưu mang vẻ đẹp ngời ngợi của đóa hoa vô thường, vừa mang đậm đặc cái thô ráp, trụi trần của hiện thực đời sống đương thời. Thơ ông đã diễn tả cái trực giác linh diệu ấy bằng một thứ tiếng Việt đẹp lạ lùng, về cái buổi đầu thơ ngây, trong veo của cậu trai quê, khát khao ra thị thành: Đêm… Một đứa bé quê ra đứng cửa/ thị thành “lập chí”, bởi không cưỡng nổi lực hấp dẫn thành thị. Vậy nên “lập chí” là từ được lặp lại nhiều nhất, ngay từ đoạn thơ đầu 1958 – 1959, trong nhiều ngữ cảnh thơ lạ biệt, bởi cách phối chữ thơ đặc sắc của thi sĩ Đặng Đình Hưng. 

Nhưng, con đường đến phố thị “lập chí” lại quá gập ghềnh, ra đi mà cứ phải ngoái vọng về quê, nơi cha sinh mẹ đẻ. Những tưởng Tôi đi “lập chí”/đi không thương nhớ mùa ổi chín rũ. Và không thương nhớ cả một thế giới đầy ắp phong vị quê mùa: nụ tầm xuân, con vành khuyên, con bướm vàng, cái chum/ tôi nhớ cái vơi vơi quanh người, cây đinh lăng ra hoa ung dung vuông/ngồi nhắm rượu một cái bể/nắng ngả/ vàng một vệt dài… Đi lập chí hẳn hoi, mà nỗi nhớ của thi sĩ cứ quay, chuếnh choáng trong hơi rượu phảng phất. Rốt cuộc, Cửa ô dỗ người ra đi “lập chí” ra đi hào bạc trắng. “Lập chí” hóa ra một nông nỗi phù du, lại trắng phớ vụ lợi, khiến thi sĩ phát khóc, như mưa: Mưa nút bia/ Mưa đèn pha ôtô/ Mưa ướt mái nhà/ cái yên da xe đạp cũ/ Cuốc không ngủ/// Đóng/// bạn/// hòn cuội

Với những ngắt câu, xuống dòng, những thả chữ thơ như bất chợt, xa vắng, như không liên quan đến lệ rơi và ly biệt. Nhưng đọc những – câu – thơ – mưa kỳ lạ ấy của Đặng Đình Hưng, ta nhói lòng trở về ca dao xưa, tả người lính thú biệt ly vợ con ra trận “bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”. Cuối cùng, thi sĩ đồng quê cay đắng biết mình đã lạc trôi vào Đô thị, và lạc khỏi Tía – tô – xanh (Quê)/ đứa bé/ rơi vào đô –  thị – giả (Đế quốc)/ “lập chí”  vỡ. Tôi thấy lạ vô cùng cái cách dùng ba động từ mạnh: lạc – rơi – vỡ, nội trong hai câu thơ, được bẻ làm ba dòng, mỗi dòng nhõn một động từ, mà dựng lên sắc cạnh một vỡ lẽ bi kịch: đứa bé quê bị lạc quê, rơi tõm vào thành thị, vỡ tan “lập chí’, bởi “đô-thị-giả”, chính là “đế quốc”, là xâm lược và nô dịch.

Chàng trai quê bé nhỏ như “hoàng tử Bé” ấy bàng hoàng biết mình bị lạc khỏi Tía – tô – xanh: Lông mày rậm Tía tô ngắm tôi/ không cười/ Mắt Tía tô buồn… không nói/ Cởi hầu bao… đưa ba hào bạc vụn/ ngần ngừ tôi xách gói sang sông.

Hẳn Đặng Đình Hưng đã đau lòng cho nhân vật trữ tình của mình, quá nhiều lần phải “xách gói” đi về, phân vân nghiêng ngả trong rối bời: không biết mình thuộc về phố hay thuộc về làng. Suốt đời thơ, tâm trạng lưỡng cực này cứ ám ảnh không buông chủ thể thơ Đặng Đình Hưng, tạo thành rất nhiều mã thi ca đẹp chói lòa, rực rỡ, đến huyền hoặc, chỉ thuộc về một mình thi sĩ độc quyền sáng chế, hoàn toàn tự do cấp phép cho mã thi ca của mình ngậm nghĩa thật lạ biệt và độc đáo. 

Vương quốc ấy do thi sĩ Đặng Đình Hưng tự xưng vương, với tâm thế, tình điệu, hình ảnh thơ chi chít li ti xanh tươi, sống động tuôn trào dưới mặt trời thi ca Đặng Đình Hưng. Xuất hiện mã thi ca thương nhớ đồng quê, mã thi ca “phải lòng” thành thị, trong phân vân, rồi cuối cùng, bị thành thị quyến rũ, và chiếm đoạt, để có nguyên một thời để yêu – một thời để chết trong thơ Đặng Đình Hưng. Bởi Đặng Đình Hưng vẫn phải thuộc về đô thị và sáng tạo nghệ thuật của ông, mặc nhiên, theo cách của văn nghệ phương Tây. Từ đó, nảy sinh mã thi ca khởi đầu của thơ ông lại là cô đơn toàn phần. Đạt đến toàn phần cô đơn mới có thể tạo sinh và phục sinh năng lượng sáng tạo, và tiếp tục tạo mã thi ca mới cho chính thơ mình. Đặng Đình Hưng đã phái sinh mình trong cô đơn: tôi ngồi nhà /thì cũng hiện một người y như tôi đang đi/ ở ngoài phố… Và thi sĩ đánh số La Mã cho tôi I, tôi II…

Nhưng, lấp lánh nhất, vẫn là hai mã thi ca, đã được thi sĩ Đặng Đình Hưng đặt thành tên cho hai tập thơ cuối đời: Bến lạ và  Ô mai.

Bến lạ đã thật là… lạ, chập chờn mê tỉnh trong giấc mơ thơ của thẳm sâu tiềm thức thi sĩ. Nó có thể váng vất như một bến tình để ghé alfa/ alfa không có nhà/ Ồ gặp nhau rồi, sao vẫn cứ li/ một nắm hột khuya rắc vào bến lạ// Đời gì/ Sao cứ đi đi, những cái vali cứ về bến lạ. Chủ thể thơ Đặng Đình Hưng, khi buộc phải bỏ nhà quê thuần Việt để hợp hôn với đô thị Tây đã ngạc nhiên mà sinh ra cái bến lạ đầy mơ mòng lãng đãng này, để thi sĩ tự do vung vinh rắc vào bến hư ảo ấy một nắm hột khuya…Và cả đời thi sĩ, dẫu đi tận góc biển chân trời, thì bến lạ vẫn quyến luyến những cái vali cứ về… Thi sĩ phải về, vì ở bến lạ còn có… Ô mai Em

Không ngẫu nhiên, mã thi ca lộng lẫy nhất về tình yêu trong thế giới thơ lạ lùng của Đặng Đình Hưng đã kết đọng ở tập thơ cuối Ô maiÔ mai là giấc mơ thơ cuối chót về tình ái của thi sĩ Đặng Đình Hưng, mà lúc này, con libiđô trong thơ ông đã được mặc khải thành một ảo vọng về thời thơ ấu. Ai chẳng nhớ tuổi ấu thơ một đi không trở lại, chẳng từng tìm thấy tuổi thần tiên ấy của mình trong hoàng tử Bé, của Antoine De Saint – Exupéry? 

Hai. Đặng Thái Sơn cô đơn toàn phần… với dương cầm

Và người cảm thương, nối dài cái thế giới rợn ngợp mã thi ca ấy của Đặng Đình Hưng, không ai khác, chính là người con trai – Đặng Thái Sơn. 

Từ thế giới nghệ thuật của cha, Sơn tái dựng một thế giới mới lạ, với một phương tiện hoàn toàn khác cha và cả mẹ (danh cầm Thái Thị Liên, người đã truyền nghề đàn cho Sơn). Thế giới mới ấy của Sơn không thấm đượm cái “hương xưa” của làng quê Việt như trong thơ của cha. Nó là thế giới âm nhạc rặt phương Tây, với duy nhất cây đàn dương cầm là nhân vật trung tâm. Người con chơi dương cầm đã thắng lớn ở châu Âu, đoạt giải nhất cuộc thi quốc tế F. Chopin, lần thứ X, năm 1980 tại thủ đô Warszawa của Ba Lan.

Đặng Thái Sơn năm ấy mới 22 tuổi, và giải thưởng lớn của Sơn đã rẽ ngoặt cuộc đời cha, tạo điều kiện cho ông kéo dài sự sống thêm chục năm và điều cơ bản, đã làm phát sáng vẻ đẹp tinh thần của người cha (mà theo Sơn, đến tận bây giờ cha mình vẫn là “người nghệ sĩ chìm trong bóng tối” (Bến lạ và Ô mai chỉ được lần lượt in sau khi cha Sơn qua đời, vào năm 1991 và 1993).

Cho đến hôm 20.1, khi chính thức ra mắt tuyển thơ họa cho bố, Sơn mới nhẹ lòng khi “có cảm tưởng như bố được tái sinh”. 

Cha con nhà thơ Đặng Đình Hưng và NSND. Đặng Thái Sơn tại Hà Nội năm 1983. Ảnh: TLGĐ


Thực ra, tôi nghĩ Đặng Đình Hưng đã tái sinh nghệ thuật của mình trong chính tiếng đàn dương cầm thiên tài của con trai. Tiếng đàn ấy mang theo toàn bộ di sản văn hóa của người cha, nhất là một thứ di sản tưởng như siêu hình là sự “cô đơn toàn phần” (chẳng phải Sơn đã từng quả quyết đấy ư: Sơn chẳng cần đàn ông, đàn bà, chỉ cần mỗi cây dương cầm đó sao?). Và những “cơn thèm” dâng mênh mang, những đợt sóng “thể nghiệm” vỗ ào ạt điên cuồng trong thơ người cha đã biến động vào đôi bàn tay con chơi dương cầm, ào ào, mãnh liệt như giông như bão, như gió gào, rồi lắng lại, êm đềm nhỏ nhẹ như khóc thầm trên những phím đen trắng. Sơn đã khởi động gió bão trên phím dương cầm, có khi bằng cả hai bàn tay cùng giáng xuống mạnh mẽ. Tôi bỗng chạnh nhớ một cảnh tượng bi tráng từng chính mắt thấy: Văn Cao, năm sinh nhật 60 tuổi, tại phòng đàn gác hai 51 Trần Hưng Đạo, đã chơi đàn dương cầm dữ dội… bằng cùi chỏ!  

Đấy là cảm giác mạnh không chỉ của tôi, khi nghe Sơn chơi bản nhạc Adagio của Bach dành tặng hương hồn cha Đặng Đình Hưng, với lời dặn dò nhỏ nhẹ: “Xin quý vị đừng vỗ tay khi kết thúc”. 

Linh cảm mách bảo tôi rằng, trên cao kia, người cha đang hiển hiện trong bức hình chân dung phóng to phủ kín phông hậu sân khấu, chắc sẽ nở một nụ cười hiền với đứa con trai, giờ đây đã qua tuổi lục thập…

Và lời Sơn tự thú, nhuốm vị hài hước nhẹ, đã khiến không chỉ tôi trong khán phòng Viện Pháp đêm ấy, rưng rưng: “Người ta bảo, không biết tôi là con cưng hay con ghẻ của chế độ? (cười). Tôi chỉ là con ngoan của bố”.

“Con ngoan của bố” ư?  Nghe đến đấy, cầm lòng không đậu. Muốn rơi lệ… 

PGS-TS. Nguyễn Thị Minh Thái