Đà Nẵng trong sương mây

Cầu Rồng,

Cầu sông Hàn, cầu Thuận Phước và các điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Đà Nẵng mang vẻ đẹp rất riêng vào những ngày nhiều mây.

Đà Nẵng huyền ảo trong làn mây hoàng hôn, khi thành phố vừa lên đèn. Tác giả bộ ảnh Nguyễn Sanh Quốc Huy, cho biết dùng kỹ thuật chụp panorama, ghép 27 tấm để thu toàn bộ vẻ đẹp các cây cầu vào trong một bức ảnh, từ trái qua là cầu Trần Thị Lý, cầu Rồng, cầu sông Hàn và cầu Thuận Phước.

Đà Nẵng là thủ phủ miền Trung, gần như chia đều khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội và TP HCM, đồng thời là trung tâm kết nối 3 di sản văn hóa thế giới là cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn.

“Thành phố của những cây cầu” mang vẻ đẹp rực rỡ vào ban đêm trong làn sương mây qua qua ảnh chụp panorama.

Đà Nẵng còn được mệnh danh là “thành phố ánh sáng” khi những cây cầu, các tòa cao ốc và khu dân cư đồng loạt lên đèn về đêm.

Cầu Rồng ẩn hiện trong mây. Với kiến trúc độc đáo mô phỏng rồng thời Lý mạnh mẽ vươn ra biển, đây là điểm nhấn quan trọng, biểu tượng kiến trúc của thành phố. Cây cầu hiện đại này có chiều dài khoảng 666 m, bắc qua sông Hàn tại bùng binh Lê Đình Dương – Bạch Đằng, tạo con đường ngắn nhất từ sân bay quốc tế Đà Nẵng tới các phố chính, và cũng là tuyến đường đến biển Mỹ Khê và Non Nước. Một cảnh tượng đẹp du khách không nên bỏ qua khi khám phá cầu Rồng là chiêm ngưỡng cầu rồng phun lửa, phun nước vào mỗi tối thứ 7, chủ nhật lúc 21h.

Mây trôi trên cầu Trần Thị Lý, cây cầu vốn là cầu đường sắt, thời Pháp cầu được gọi là De Lattre de Tassigny. Sau năm 1975, cầu được đặt tên là Trần Thị Lý và nâng cấp thành cầu đường bộ. Công trình tạo nên một điểm nhấn kiến trúc, nối liền quận Hải Châu, quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn góp phần giảm ùn tắt giao thông ở cửa ngõ phía đông Đà Nẵng.

Cầu Thuận Phước lảng bảng trong sương mây. Tháng 7/2009, cầu Thuận Phước chính thức được thông xe với tổng chiều dài 1.856 m. Cầu nối liền hai tuyến đường ven biển Nguyễn Tất Thành và Hoàng Sa – Trường Sa, tạo hệ thống tuyến giao thông liên hoàn ven biển từ hầm Hải Vân đến bán đảo Sơn Trà, qua cầu Mân Quang và nối liền với tuyến du lịch Sơn Trà – Hội An.

Mây giăng trên làng Pháp thuộc khu du lịch Bà Nà Hills. Tác giả bộ ảnh chia sẻ rằng mình không cần đi vùng cao miền bắc hay Tây Nguyên mới săn được mây. Tại Đà Nẵng, nếu chịu khó “canh” và có thêm một chút may mắn, du khách sẽ chụp được khoảnh khắc mây tràn về trên phố cũng như ở các điểm du lịch nổi tiếng như Bà Nà hay bán đảo Sơn Trà.

Cầu Vàng, tọa lạc trên núi cao như “chốn bồng lai tiên cảnh”, kết nối cảnh quan từ ga Marseille tới vườn Thiên Thai và vườn hoa Le Jardin D’Amour của Bà Nà Hills. Công trình trở thành biểu tượng mới của du lịch Đà Nẵng sau khi mở cửa đón khách từ tháng 6/2018.

Chùa Linh Ứng Bà Nà mang vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm trong mây. Nơi đây có tượng Thích Ca Phật Đài cao 27 m được tạc với dáng ngồi thiền định trên đài sen 6 m.

Cảnh sắc bán đảo Sơn Trà với mây trôi trên đồi núi. Đi xe máy theo con đường ven biển Hoàng Sa, du khách khám phá vẻ đẹp bán đảo Sơn Trà, cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 10 km về hướng đông bắc. Bán đảo này có diện tích hơn 4.400 ha, dài 13 km với chu vi khoảng 60 km. Cùng với đèo Hải Vân và vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà như bình phong che chắn cho TP Đà Nẵng.

Mây bay trên tượng Phật Bà Quan thế âm Bồ Tát cao 67 m, đứng trên tòa sen có đường kính 35 m tại chùa Linh Ứng Sơn Trà. Nằm ở độ cao 693 m so với mực nước biển, ngôi chùa này là quần thể nhiều hạng mục gồm chánh điện, nhà tổ, giảng đường, tăng đường và thư viện.

Đèo Hải Vân trải dài theo sườn núi Hải Vân, nhìn về thành phố Đà Nẵng trong làn mây bồng bềnh. Đèo cao 500 m so với mực nuớc biển, là ranh giới tỉnh Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng. Vua Lê Thánh Tông Khi dừng chân đèo Hải Vân từng phong nơi đây là “thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Huỳnh Phương
Ảnh: Nguyễn Sanh Quốc Huy

Một me tây thuở Gia Long – Minh Mạng

Vừa rồi thấy bà Bé Tý, một me tây ở Hà Nội, được triều đình Huế ban cho kim bội hạng nhất, nhiều người hơi lấy làm lạ, tuy họ có biết rằng trước đây ba mươi năm cũng đã có một người như thế được phong tứ phẩm phu nhân là bà Tư Hồng.

Kỳ thực, dù bà Bé Tý, dù bà Tư Hồng, được triều đình ban cho phẩm hàm hay huy chương, cũng chẳng có gì là lạ hết. Từ hồi xứ ta bắt đầu có hạng đàn bà gọi là me tây, tức là bắt đầu họ đã nhận lãnh cái vinh dự ấy.

Chúng tôi xin kể cho bạn đọc nghe chuyện một me tây thuở Gia Long – Minh Mạng. Ấy là bà Nguyễn Thị Len (có nguồn ghi Nguyễn Thị Sen), vợ chúa tàu Phụng, tức ông Nguyễn Văn Chấn, người Pháp mà là một công thần của triều nhà Nguyễn, vốn tên là Vannier.

Theo sử chép, ông Vannier cùng đi với đức cha Bá-đa-lộc sang nước ta năm 1784, lúc vua Gia Long còn chưa dẹp yên loạn Tây Sơn và lên ngôi thiên tử. Ở giúp nhà vua cho đến năm 1829, dưới triều Minh Mạng, ông Vannier mới cùng đi về Pháp với ông Chaigneau, tức là Nguyễn Văn Thắng, chúa tàu Long.

Tính ra ông Vannier kiều cư nước ta trong một thời gian dài đến 35 năm. Trong khoảng thời gian ấy ông có cưới một người đàn bà An Nam làm vợ và có đẻ ra nhiều con cái. Nhân đó bà me tây Nguyễn Thị Len đã được trở nên người sang trọng, trước thì ở giữa xã hội người Nam, sau đến ở giữa xã hội người Pháp.

Nhân đọc sách Tây hành nhật ký (Giá Viên biệt lục) chúng tôi phát kiến ra được cái dật sử này.

Năm Tự Đức thứ 16 (1863), vì muốn chuộc lại ba tỉnh phía bắc Nam Kỳ, nhà vua sai ba ông Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản sang sứ bên Pháp đình, chính ông Phạm Phú Thứ thảo ra sách Tây hành nhật ký, chép chuyện hàng ngày về việc sử.

Khí tiết trung nghĩa của công thần Phan Thanh Giản

Phái đoàn nhà Nguyễn do Kinh lược sứ Nam kỳ Phan Thanh Giản sang thăm Pháp.
Buổi chiều ngày 23 tháng 8 năm Tự Đức thứ 16, lúc sứ bộ đến ở Paris đã ba tuần lễ, cả ba ông sứ thần cùng tiếp bà me tây Nguyễn Thị Len tại Sứ quán, rồi từ đó thấy thỉnh thoảng lại chép đến Nguyễn Thị Len.

Nguyên trước đó mười ngày, bà Nguyễn Thị Len ở tại thành Lo-ri-ăng, nghe tin sứ bộ đến thì có gửi thơ cho ông Hà-ba-lý (Aubarez), một viên quan của Pháp đình giữ việc giao thiệp với sứ bộ, xin các quan sứ thần cho bà đến ra mắt. Các quan trả lời cho phép. Khi ấy bà Nguyễn Thị Len mới đi xe hỏa đến Paris với một cô con gái tên Marie. Khi hai mẹ con bước vào trong sứ quán, trông thấy người bản quốc, bà Nguyễn Thị Len khóc òa lên:

– Từ tôi theo chồng về ở bên này đến nay đã 37 năm. Tôi đã 75 tuổi rưỡi rồi! Khi chồng tôi còn sống, có hẹn với tôi rằng thế nào cũng trở qua An Nam một chuyến, không ngờ rồi chồng tôi qua đời đi, tôi mỗi ngày một già một yếu, lại lũ con ngăn trở mãi, sợ đời tôi không có ngày trở về cố quốc được!

Ấy là lời đầu hết bà Nguyễn Thị Len nói với ba vị sứ thần. Rồi bà chắp tay kính hỏi thăm đức hoàng đế vạn an và cảm ơn các quan sứ thần đã cho phép bà vào yết kiến, là sự bà cho là có phước lắm mới được.

Bà Nguyễn Thị Len ở lâu bên Tây nên có quên hết ít nhiều tiếng Ta. Trong khi nói chuyện, chốc chốc bà lại xen tiếng Tây vào, làm con gái bà, cô Marie cứ phải đứng bên mà nhắc.

Các quan sứ thần bảo kẻ hầu pha trà mời bà Nguyễn Thị Len uống.

Bà còn nói chuyện. Kể ra quê quán của mình ở Phường Đúc (không nói rõ tỉnh nào); cha, tên là Nguyễn Văn Dõng; hai anh, tên là Văn Hương và Văn Hữu; Văn Hữu làm chức cai đội thủy binh. Từ lúc bà sang Tây, không hề được tin tức ở nhà một lần nào.

Các quan bèn hỏi trong hàng thuộc viên cả một sứ bộ thử có ai biết gia thế bà Nguyễn Thị Len không. Thì có hai ông, Tạ Huệ Kế và Ngô Văn Nhuận nói có nghe biết một ít.

Bà Nguyễn Thị Len lấy Vannier, sinh hạ được đến mười người con: ba trai bảy gái. Bà đã có một đứa cháu nội trai, năm ấy vừa tròn 20 tuổi, mới vừa theo quan Tây sang Gia Định. Bảy con gái thì đã có chồng. Cô Marie sang bên An Nam, hai tuổi mới về bên Pháp, bây giờ đã 39 tuổi.

Một me tây thuở Gia Long - Minh Mạng

Mẹ con bà Nguyễn Thị Len đến Paris rồi thuê khách sạn mà ở, chờ cho đến ngày tiễn đưa sứ bộ trở về.

Sau đó hai hôm, ngày 25 tháng 8, là ngày lễ Vạn thọ, sanh nhật vua Tự Đức, sứ quán có mở tiệc chúc mừng. Hôm ấy cũng có mẹ con bà Nguyễn Thị Len dự tiệc, và một người con trai của bà lấy tên An Nam là Nguyễn Văn Lễ nữa, Văn lễ đã 51 tuổi.

Đi ăn tiệc, bà Nguyễn Thị Len mặc y phục An Nam, khăn nhiễu và áo cặp hàng hoa; cô Marie cũng vậy. Bà kể chuyện rằng vào thuở Gia Long – Minh Mạng, chồng bà từng được ban cho triều phục và bà cũng được ban cho thịnh phục, đến những hơn mười cặp áo; áo bà mặc hôm nay tức là của ban cho.

Một người vợ Tây được nhà vua ban cho thịnh phục, đến những 10 cặp áo thì tưởng lại còn vinh hạnh hơn là phẩm hàm và huy chương nữa!

Trong tiệc bà Nguyễn Thị Len được mời vào chỗ long trọng. Nhờ ông Aubarez đem lịch sử bà giới thiệu giữa tọa khách nên các quan Tây mới được biết bà và tỏ ý kính trọng, trầm trồ khen ngợi không thôi.

Trong những ngày sứ bộ ở Paris, mẹ con bà Nguyễn Thị Len cứ hay tới lui sứ quán mà thăm viếng các quan. Tối hôm mồng 10 tháng 9, các quan trong bộ Ngoại giao Pháp đến chơi ở sứ quán thì cũng có gặp mẹ con bà ở đấy. Các quan hỏi biết lai lịch của bà thì ai nấy đều khen lao và an ủy.

Hôm đó, ba vị sứ thần hỏi bà Nguyễn Thị Len ở lâu tại Paris như thế, chẳng kẻo bỏ bễ công việc ở nhà chăng. Bà nói con cái đã ở riêng cả rồi, việc nhà chẳng có gì hệ lụy. Còn không bao lâu nữa sứ bộ sẽ về nước, bà muốn ở lại tiễn chân bà mới an tâm.

Quả nhiên đến ngày 26 tháng 9 các quan sứ thần sắp sửa rời Paris để đi sang Y-pha-nho thì mẹ con bà Nguyễn Thị Len lại đến sứ quán tống biệt. Cố nhiên lần này bà phải khóc nhiều hơn lần trước.

Các quan sứ thần chi ra 50 lượng bạc, 10 ngân tiền, 10 tấm vừa the vừa lụa cấp cho mẹ con bà. Số bạc và lụa chi cấp ấy về sau có đem bản kê khai trình ngự lãm.

Đọc chuyện bà Nguyễn Thị Len đây, hẳn độc giả phải cho là một me tây tốt số, có lẽ từ đó đến giờ, chưa có me tây nào sánh bì.

Quý là ở tại chỗ được theo ở với chồng trọn đời, lên bậc cụ, có đông con mà lại trai gái đã thành lập. Không có đâu như những kẻ khác, tiếng là lấy Tây mà rốt cục lại, chồng chẳng có mà con cũng chẳng có, chết một cái là “gia tài nhập quan”! Như thế, phẩm hàm đã chẳng làm chi rồi, mà huy chương cũng chẳng làm chi nữa!

Phan Khôi

Nguồn: Hà Nội báo, Hà Nội, s. 17 (29 Avril 1936), tr. 13 – 15.

Đăng lại từ trang lainguyenan.free.fr
Phần Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1937
Do nhà văn Lại Nguyên Ân sưu tầm

7 tư tưởng từ triết gia “cá tính bậc nhất trong lịch sử” có thể cứu rỗi mọi tổn thương trong bạn, kể cả đau khổ vì yêu: Vì sao không cần kết hôn cũng chẳng cần ly hôn?

7 tư tưởng từ triết gia "cá tính bậc nhất trong lịch sử" có thể cứu rỗi mọi tổn thương trong bạn, kể cả đau khổ vì yêu: Vì sao không cần kết hôn cũng chẳng cần ly hôn?
“Người đàn ông mà bạn ngủ cùng tối qua, vào sáng ngày hôm sau, anh ta không còn là người đó nữa”, Osho viết, “Mỗi người đều là một bí ẩn vô tận mà bạn không bao giờ có thể nói rằng: Tôi đã biết rõ cô ấy, hay Tôi đã biết anh ấy”.

Từ trăm năm trước,Osho – vị thiền sư, triết gia cá tính bậc nhất trong lịch sử – đã có những diễn giải về tình yêu khiến thế giới… sốc nặng. Ấy thế mà ngày nay, người trẻ lại phải gật gù tán đồng với những gì ông phát biểu.

1, Người đàn ông mà bạn ngủ cùng tối qua, vào sáng ngày hôm sau, anh ta không còn là người đó nữa

Khi ta bắt đầu đem lòng yêu một người, mọi thứ thật mới mẻ và kỳ diệu. Nhưng dần theo thời gian, mọi thứ trở thành thói quen hàng ngày và tình yêu sa vào buồn chán. 

“Cuộc hôn nhân gần như kết thúc vào thời điểm tuần trăng mật kết thúc, sau đó bạn cứ tiếp tục giả vờ”, Osho bông đùa, “Nhưng đằng sau những hành động giả vờ này là một sự buồn chán ghê gớm”.

Làm sao để không còn buồn chán khi yêu? “Hãy nhận biết hơn”, Osho nói, “Nếu trở nên nhận biết hơn, bạn sẽ có thể nhận thấy rằng mỗi khoảnh khắc đều mới mẻ. Người đàn ông mà bạn đã ngủ cùng tối qua, hãy nhìn lại khuôn mặt của người đó vào sáng hôm sau. Anh ấy không còn là người đó nữa, quá nhiều điều đã xảy ra”.

Khi đó, người ta yêu trở thành một bí ẩn vô tận, tình yêu trở thành “một cuộc phiêu lưu không ngừng”.

“Hãy luôn là tuần trăng mật. Hãy không ngừng tìm kiếm, khám phá nhau, tìm kiếm những cách yêu mới, tìm kiếm những con đường để ở bên nhau. Và mỗi người đều là một bí ẩn vô tận mà bạn không bao giờ có thể nói rằng: Tôi đã biết rõ cô ấy, hay Tôi đã biết anh ấy”.

7 tư tưởng từ triết gia cá tính bậc nhất trong lịch sử có thể cứu rỗi mọi tổn thương trong bạn, kể cả đau khổ vì yêu: Vì sao không cần kết hôn cũng chẳng cần ly hôn?  - Ảnh 1.

2. Không cần phải kết hôn và không cần phải ly hôn

Theo Osho, con người thường đề cao các mối quan hệ bởi vì “kết nối là không đảm bảo, còn mối quan hệ là đảm bảo”. Việc neo bám vào mối quan hệ, như vợ chồng, người yêu… cho ta cảm giác an toàn.

Tuy vậy, đây cũng là lý do người ta bắt đầu xem nhau như một điều hiển nhiên – điều hủy hoại tất cả cuộc tình. Osho nói rằng, ta có thể sống với người mình yêu thương mà không cần đến hôn nhân. 

Nếu hai người có thể yêu nhau và sống trọn đời bên nhau, không ai có thể chia rẽ được. Nhưng không cần phải kết hôn và không cần ly hôn, ông nói.

3. Khi yêu, bạn yêu hết lòng; Khi ghét, hãy cứ ghét cay ghét đắng

Nếu một ngày, bạn nhận ra mình đang ghét cay ghét đắng một phẩm chất nào đó nơi người mình yêu, đừng vội kết luận rằng bạn không còn yêu họ nữa.

Triết gia Osho nói rằng, ghét không phải là một cực đối lập với yêu, mà ngược lại, “ghét bổ sung cho yêu”. Điều này tương tự như nghỉ ngơi không phải đối lập với làm việc, mà bổ trợ cho công việc; hay như ngày không chống lại đêm mà bổ trợ cho đêm,

“Bạn yêu vào buổi sáng, bạn ghét vào buổi chiều. Khi yêu, bạn yêu hết lòng; khi ghét, bạn cứ thật sự ghét, cứ ghét cay ghét đắng”, Osho viết, “Sự căm ghét không thể hủy hoại tình yêu; đêm không thể hủy hoại ngày, và bóng tối không thể giết chết ánh sáng. Không thể nào, chúng vẫn tồn tại”.

4. Thật ổn khi mọi thứ không hòa hợp

“Chúng ta bị gieo vào đầu ý nghĩ từ thời thơ ấu rằng giữa chồng và vợ luôn có sự hòa hợp, mọi thứ luôn ăn khớp với nhau. Toàn bộ hệ tư tưởng đó chính là vấn đề”, Osho nói trong “Yêu” (Being in love)

Sự hòa hợp không phải là điều quá quan trọng, “nó thậm chí nhàm chán”, theo Osho. Những người yêu nhau, cho dù đôi lúc cãi nhau hay nóng giận với nhau, điều đó không có nghĩa là tình yêu không còn nữa. Mà điều đó có nghĩa là tình yêu có khả năng đón nhận cả những bất đồng, tranh cãi, vượt qua tất cả những rào cản này.

Khi đó, việc cùng chung sống là một quá trình học hỏi tuyệt vời: Học cách tha thứ, giảng hòa, thấu hiểu người kia. “Thật ổn khi mọi thứ không hòa hợp. Thật ổn khi luôn có khoảng cách để bạn luôn có điều gì đó khám phá, điều gì đó để vượt qua, và để nỗ lực kết nối khoảng cách đó”, Osho ghi.  

5. Đừng ngại cho người yêu nhận ra bạn thay đổi

Những người yêu nhau thường có một giao ước chung thầm lặng, rằng mỗi người sẽ luôn hành xử theo một cách nào đó. “Người chồng về nhà, buộc mình vào một vai diễn nào đó”, Osho bình luận, “Vào thời điểm bước chân về nhà, anh ta không còn là một người sống động, anh ta chỉ là một người chồng”.

Trên thực tế, chúng ta không ngừng thay đổi qua từng giai đoạn của đời người. Vì vậy, để tình yêu lâu bền, những người yêu nhau cần có một tâm thế mới: Đừng bao giờ ngần ngại cho người mình yêu nhìn thấy sự tươi mới không ngừng của mình.

Khi một người bộc lộ sự thay đổi, rắc rối sẽ xảy ra vì cả hai cần làm quen với điều mới. Nhưng rắc rối đó là dấu hiệu của một tình yêu chân thật, rằng cả hai đang sống thành thật với chính mình và với người còn lại. 

6. Tình yêu nên được xem là một “thú vui xa xỉ” thay vì một nhu cầu

Trong những bài giảng về tình yêu, Osho thường nhắc đến một “đỉnh cao của tình yêu”. Trong tình cảm đó, những người yêu nhau không phụ thuộc, không sở hữu, không đòi hỏi, không chi phối và cũng không bị chi phối.

Một khi không có bất cứ kỳ vọng nào, lẽ dĩ nhiên, không có ghen tuông, xung đột hay sự thất vọng.

Osho liên tưởng: “Một con chim bay đến đậu ở cửa nhà bạn và hót, con chim đó không đòi bạn cấp giấy chứng nhận hay khen ngợi nó. Nó ríu rít rồi hạnh phúc bay đi, không để lại dấu vết nào. Đó là cách tình yêu phát triển”.

Làm sao để đạt đến điều này? Theo Osho, tình yêu vô điều kiện chỉ có thể đến từ những người sống quá hạnh phúc và trọn vẹn với chính bản thân mình, “vì quá tràn đầy nên mới cho đi”. Họ biết rằng nếu người yêu họ bỏ đi, họ vẫn sẽ hạnh phúc. Niềm hạnh phúc của họ không thể bị tước đoạt bởi vì nó chưa từng được vay mượn từ bất cứ ai.

7 tư tưởng từ triết gia cá tính bậc nhất trong lịch sử có thể cứu rỗi mọi tổn thương trong bạn, kể cả đau khổ vì yêu: Vì sao không cần kết hôn cũng chẳng cần ly hôn?  - Ảnh 2.

7. Cuối cùng, một tình yêu thật sự cũng sẽ thay đổi

Cuối cùng, vào khoảnh khắc ta nhận ra tình yêu đã trôi qua, rằng nó không còn hiện hữu nữa, ta có thể làm gì? Osho cho rằng, thật xấu xa nếu ta đánh lừa người từng yêu bằng cách tiếp tục “kéo lê” tình yêu đó.

“Nếu tình yêu vẫn còn suốt cuộc đời bạn, cho đến khi bạn nằm xuống mồ, điều đó cũng tốt”, Osho nói trong “Yêu”, “Và nếu nó kéo dài chỉ trong một đêm, đến sáng hôm sau, bạn cảm thấy không còn dành cho nhau nữa, nhưng bạn đã có một đêm tuyệt đẹp bên nhau, bạn phải cảm thấy biết ơn về điều đó”.

Khi yêu, hãy sống trọn vẹn với tình yêu đó. Và khi tình yêu qua đi, hãy chào tạm biệt và hoàn toàn kết thúc với nó. “Có nhiều người lạ trên thế giới này, ai mà biết được”, Osho nói, “Tình yêu rời bỏ bạn chỉ là cách để bạn có thể tìm thấy một người lạ tốt hơn”.

“Điều bạn cần làm không phải là học cách yêu, mà là loại bỏ những cách đánh mất tình yêu”. Trong Yêu (Being in love) – bậc đạo sư gây tranh cãi bậc nhất, người được tôn vinh là một trong 1000 người kiến tạo của thế kỷ 20 – dẫn người đọc vào một hành trình tìm hiểu về “hiện tượng bí ẩn” mang tên tình yêu.

Sách của Osho đã được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ trên thế giới. Tờ Sunday Times của London mô tả Osho là một trong 1000 người kiến tạo của thế kỷ 20. Còn tờ Sunday Mid-day của Ấn Độ bình chọn Osho là một trong 10 người, cùng với Gandhi, Nehru và Đức Phật, thay đổi vận mệnh của Ấn Độ.

Ngọc Nhi / Tthịheo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Nguyễn Tất Thành / Nguyễn Ái Quốc một lầm lẫn vô tình hay cố ý

Tư liệu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trước năm 1930 | Hồ Chí Minh
Ảnh : Nguyễn ái Quốc ở Pháp

Khi viết về thời kỳ lịch sử này, hầu hết các nhà nghiên cứu Pháp-Việt đều coi Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc là ba nhân vật chính của phong trào chống Pháp. Điều đó không sai. Nhưng sự sai lầm đến từ sự kiện: Nguyễn Tất Thành là người nhận tên Nguyễn Ái Quốc nhưng không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sở dĩ chưa ai soi tỏ sai lầm này, vì các lý do sau đây:

1/ Vì Hồ Chí Minh tự nhận là Nguyễn Ái Quốc, nên không ai dám cãi lời “Bác”. 1948, khi viết “hồi ký” ký Trần Dân Tiên, ông Hồ cần dựa trên uy tín của Nguyễn Ái Quốc -cái tên mà người Việt đã biết, đã coi như anh hùng, qua những bài báo chống Pháp thập niên 1920 tại Pháp- để lập cho mình một căn cước “lãnh tụ tuyệt vời” đúng như lời Lữ Phương: Cuốn “tiểu sử” viết về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên đã biểu lộ rất rõ cái nhu cầu năm 1948 mà Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng của ông đang muốn tạo ra cho phong trào yêu nước cộng sản trước tình hình mới – một lãnh tụ tuyệt vời và chỉ có lãnh tụ đó mới là tuyệt vời thôi“. Cho nên ông đã tạo ra các bằng chứng để biện minh Nguyễn Tất Thành chính là Nguyễn Ái Quốc.

2/ Sự kiện này, có thể làm được năm 1948, vì ba người trong cuộc: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đã qua đời. Nguyễn Thế Truyền bị bắt từ tháng 5/1941, bị đầy đi Madagascar. Đến tháng 6/1946, Moutet can thiệp, hai anh em ông Truyền mới được thả, nhưng bị quản thúc tại Sài Gòn đến 1947. Tóm lại, 1948, ở Việt Bắc, Hồ Chí Minh tưởng Nguyễn Thế Truyền vẫn đang bị đi đầy, nhóm Ngũ Long không còn ai, vậy mình có thể nhận là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Le Paria, là người lập ra nhóm An Nam Yêu Nước mà không bị ai phản bác. Đúng như dự tính của ông Hồ: không bao giờ Nguyễn Thế Truyền đả động đến việc viết chung bút hiệu. Chỉ khi cuốn hồi ký 41 năm làm báo của Hồ Hữu Tường được in ra năm 1984 tại Paris sau khi ông mất, việc này mới tỏ.

3/ Một mặt khác, sau khi thua trận, người Pháp có mặc cảm tự ti đối với Hồ Chí Minh, mặc cảm này dường như đã thấm vào vô thức của nhiều người, kể cả các nhà nghiên cứu đứng đắn.Vì vậy, dù họ có đặt ra một số nghi vấn về tác giả Nguyễn Ái Quốc nhưng rồi vẫn mặc nhiên coi Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Riêng đối với những đảng viên cộng sản Pháp như sử gia Alain Ruscio, và đặc biệt Léo Poldès, người quản lý Câu Lạc Bộ Faubourg, nơi Nguyễn Tất Thành đến học nói tiếng Pháp trước công chúng, thì sự tôn sùng lãnh tụ Hồ Chí Minh còn có ý “kể công” và tuyên truyền cho đảng Cộng Sản Pháp.

4/ Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc, một mặt, không biết rõ những khó khăn của một người ngoại quốc học viết tiếng Pháp, một mặt, tưởng Nguyễn Tất Thành cũng như hầu hết những thanh niên Việt sang Pháp thời ấy, đều giỏi tiếng Pháp.

5/ Thu Trang trong cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp, rồi Thu Trang-Gaspard trong cuốn Hồ Chí Minh à Paris, và Lê Thị Kinh trong bộ Phan Châu Trinh qua các tài liệu mới, là những trường hợp đặc biệt, mặc dù hết sức trung thành với “Bác Hồ“, nhưng vẫn đưa ra được những bằng chứng nghi ngờ Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc.

6/ Sau cùng, sự nhầm lẫn của các nhà nghiên cứu, còn đến từ một sự kiện khác: việc sử dụng những báo cáo sai lầm của mật thám. Yếu tố sau cùng này là rường mối của các sai lầm mà chúng tôi gọi là sai lầm của những nhà nghiên cứu đứng đắn và sự kiện này cần được mổ xẻ, phân tích kỹ càng.

NGUYỄN NHƯ CHUYÊN

Nguyễn Như Chuyên là loại thám tử trà trộn vào hàng ngũ “địch” vẫn thấy trong các phim trinh thám. Khi chính quyền thực dân thả Phan Châu Trinh và cho ông đi Pháp, họ đã gài sẵn một thám tử đi theo hai cha con, là Nguyễn Như Chuyên, thông dịch viên ở Đông Dương, đi với tư cách “sinh viên” được học bổng 3 năm của Pháp, cùng chuyến tầu711. Nhiệm vụ của Chuyên có lẽ chỉ bộ trưởng, toàn quyền và một vài người được giao trách nhiệm trực tiếp biết, vì các bộ não an ninh dường như cũng không biết rõ, vẫn coi Chuyên là “đồng bọn” với hai ông Phan.

Tới Pháp, Chuyên vào học trường Jules Ferry tại Versailles ít lâu rồi bỏ, thường đi về giữa Paris và Le Havre, khai là có cửa hàng ở Le Havre. Gần gụi Phan Châu Trinh, làm thông dịch cho ông, trao đổi thư từ “tâm huyết” với ông trong nhiều năm, được ông coi là đồ đệ. Chuyên ở cùng khách sạn với Phan Châu Trinh, rue l’Abbé de l’Epée, rồi rue Cujas. Khi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt, Chuyên cũng bị bắt, bị điều tra thẩm vấn hệt như “tòng phạm” của hai ông Phan. Chuyên có mon men làm thân ông Trường nhưng ông Trường là người cực kỳ thận trọng, đã cảnh báo ông Trinh, nhưng ông Trinh không nghe. Trong hồi ký, ông Trường trách ông Trinh “khinh xuất” là như thế. Chính Nguyễn Như Chuyên đã mạo khai để hai ông Phan bị bắt về tội “phiến loạn”.

Cũng nên đọc qua một đoạn hỏi cung “cò mồi” của quan ba Caron với Chuyên:

“- Hỏi: Hôm khám nhà anh 14/10/1914 ở khách sạn Flandres, 16 Cujas, thấy trong lò sưởi có nhiều giấy tờ đã đốt. Giấy tờ gì vậy?

– Đáp: Chính là các thư của Phan Châu Trinh vì tôi sợ nên đã đốt. Chính qua các thư đó mà tôi biết các khoản tiền chính phủ Đức giúp Phan Châu Trinh cũng như dự định nổi dậy ở Đông Dương trong đó có các thư của Phan Văn Trường về quan hệ của ông ta ở Tàu và sự giúp đỡ của Tàu cho các nhà cách mạng Đông Dương.

– Hỏi: Anh nói thêm chi tiết về kế hoạch nổi dậy?

– Đáp: Phải chờ cơ hội thuận tiện và chiến cuộc ở Âu châu có thể là hiệu lệnh cho cuộc nổi dậy. Quân cách mạng sẽ được các nhà cầm quyền Tàu ở biên giới cấp vũ khí tiền bạc cùng với các lãnh sự Đức ở Tầu. Quan hệ với Tàu do Phan Văn Trường, còn Phan Châu Trinh phải quan hệ với nhà cầm quyền Đức”712.

Tổ chức mua súng ống là bịa đặt vì hai ông Phan hoàn toàn chống lại bạo động cách mạng. Những câu hỏi được dàn dựng một cách ngu xuẩn: “Hôm khám nhà anh thấy đốt… tư liệu gì vậy? Tại sao Chuyên biết sẽ bị khám nhà mà đốt? Lại nhè đúng lúc công an sắp đến mới đốt để cho họ thấy tro? Tại sao không giữ những thư của Phan Châu Trinh nhận tiền của Đức, nếu có? Tại sao những giấy tờ Phan Văn Trường liên lạc với Tàu làm cách mạng, lại ở nhà Nguyễn Như Chuyên? Phương pháp làm việc của Caron và đồng bọn quả đúng là ô nhục như lời luật sư Moutet nhận định sau này.

Dù là “sinh viên“, Chuyên “được” giam vào ngục nhà binh Cherche-Midi ở tù chung với Phan Văn Trường! “Phan Châu Trinh cứ khen Nguyễn Như Chuyên thông minh và là chính trị gia khéo léo, chứ tôi thấy y rất tồi trong vai thám tử mà người ta giao cho hắn đóng cạnh tôi trong ngục Cherche-Midi713.

Sau khi đi cung về Chuyên thuật lại với ông Trường: “Họ đã quyết định chặt đầu cả ba đấy. Đây là chiến thuật của Sarraut muốn đánh một cú vang dội. Ông phải viết thư ngay tức khắc cho thủ lãnh luật sư đoàn, hay cho Quan ba Caron, hay một người có quyền thế nào khác, kêu xin cầu cứu đi“. Phan Văn Trường chẳng động đậy.

Lần cung hôm sau, ra về, y nói: “Họ đã bắt tôi phải khai là ông nhận tiền của của lãnh sự Đức để mua súng vậy ông còn chần chừ gì nữa“. Phan Văn Trường vẫn không nhúc nhích. Cuối cùng, hắn quát to bằng tiếng Pháp: “Đấy! đấy! Tôi đã bảo hắn là việc hết sức quan trọng, tôi đã khuyên hắn phải viết thư xin những vị có thẩm quyền can thiệp, mà hắn chẳng coi ra gì, cứ rắn như đá, dù hắn đã có hai anh em bị đi đầy714.

Sau cùng, Chuyên giả điên, nhẩy vào cắn Phan Văn Trường, một người lính canh cản lại. Chuyên được chuyển vào nhà thương điên, Phan Văn Trường vẫn nghĩ đó chỉ là một vở hài kịch được dàn dựng. Cớ điên để vô hiệu hoá những lời khai man của Chuyên và có cớ xử hai ông được miễn tố. Sự miễn tố này, là công của luật sư Marius Moutet, đồng nghiệp của Phan Văn Trường tại toà Thượng thẩm, và Phan đã gặp trong hội nghị về nhân quyền ở Lille năm 1914, đã là người bảo vệ hai ông Phan, hiệu quả nhất. Quan tư Roux có can thiệp cho ông Trinh, nhưng chỉ thêm rách việc, vì Caron nói thẳng với ông Trinh: Ông đừng tưởng cứ quen Roux mà xong đâu!

Tại Quốc hội, tháng 2/1925, trong cuộc đối chất với Outrey, Moutet kể lại lúc còn đang đi lính, ông được tin Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, bạn đồng nghiệp của ông tại toà Thượng Thẩm bị bắt. Đang đóng ở Vosges, ông đã viết nhiều thư can thiệp nhưng vô hiệu. Phải đợi đến lúc đắc cử dân biểu, về Quốc Hội, ông mới đến gặp Thủ tướng Viviani và nói rằng: “Tôi muốn trình thủ tướng người ta đã dùng những phương pháp ô nhục. Là thủ tướng, ông cho phép tôi mở lại hồ sơ, tôi muốn chứng minh rằng nó hoàn toàn trống rỗng”. Ông Viviani gọi trách nhiệm toà án binh đến và ra lệnh: “Tôi yêu cầu ông đưa ngay hồ sơ cho ông Moutet”. Thưa quý vị, tôi đã mở hồ sơ và quả nó trống rỗng. Người ta bảo tôi: “Trống đấy, nhưng hồ sơ thật ở bên Đông Dương kia!”715

Albert Sarraut không còn lối thoát. Đành phải tính cách thối lui cho khỏi mất mặt. Và có lẽ bi hài kịch Nguyễn Như Chuyên giả điên được dàn dựng trong hoàn cảnh đó.

Ngày 2/3/1918, một mật báo cho biết: Nguyễn Như Chuyên được đưa vào nhà thương điên Bicêtre từ 22/4/1915 đến 16/4/1916 được ra. Sau khi vào bệnh viện lần thứ nhì, ngày 13/2/1918 Chuyên được ra khỏi để “đi đến Toulouse, số 23 đường Braqueville, nhà người chụp ảnh Khánh Ký, người đã cam kết nhận y để kiếm việc làm cho y”716. Vậy Bicêtre có lẽ là “địa chỉ tạm thời” mà Chuyên được ở với bệnh danh “trầm cảm” do bác sỹ cấp, để đánh lạc hướng, và Chuyên sẽ về Toulouse với ông Khánh Ký, để tiện bề theo dõi nhóm Yêu Nước.

Sau chiến tranh, Phan Văn Trường trở lại Paris làm luật sư, mật thám vẫn theo dõi các thân chủ của ông, đe dọa nếu mượn Phan Văn Trường, một kẻ phiến loạn, chống nhà nước Pháp biện hộ, thì có ngày mang họa.

VẤN ĐỀ CHỈ ĐIỂM, MẬT THÁM

Chính quyền thuộc địa dùng nhiều mật thám người Việt, dễ len lỏi vào môi trường Việt kiều. Những người có bí danh như Jean, chuyên theo dõi Nguyễn Tất Thành hay Désiré, theo dõi Nguyễn Thế Truyền, đều là Việt. Trong số mật thám có cả các quan: Đốc Phủ Bảy là một trường hợp. Nhưng mật thám có thể đưa những thông tin sai lầm:

Cuốn Cochinchine – Nam Kỳ717 của Léon Werth, là một tác phẩm văn học giá trị, nói lên sự khâm phục kín đáo của Werth đối với Nguyễn An Ninh và mô tả tỷ mỷ đời sống hàng ngày ở Nam Kỳ dưới sự áp bức của bọn thực dân vô giáo dục trên một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời nhưng cam chịu. Léon Werth kể lại câu chuyện sau đây: hai mật thám người Việt có nhiệm vụ theo dõi Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn, nhưng thay vì theo Ninh, họ lại đi theo Dejean de la Bâtie718. Khi Werth và Ninh rời Sài Gòn đi Lục tỉnh, mật thám vẫn tiếp tục theo dõi La Bâtie và làm báo cáo hàng ngày. Đến lúc cơ quan an ninh ở Rạch Giá đánh điện lên, Sài Gòn mới biết là nhầm, hình như hai người này bị đuổi!719

Trong năm 1919, Edouard đưa ra những bản báo cáo về Nguyễn Ái Quốc rất dài và tỉ mỉ, đặc biệt mật báo về cuộc thảo luận tối 19/12/1919 ở Villa des Gobelins720 mà ông được dự – Edouard hình như là Đốc phủ Bẩy, công chức ở bộ Thuộc Địa, “chơi thân” với nhóm Yêu Nước- chép lại lời Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết rất hùng hồn về hiện tình Việt Nam và thế giới, trong lúc chính sở mật thám cũng chưa biết Nguyễn Ái Quốc là ai! Đọc bản báo cáo này, người ta có thể nhận ra Nguyễn Thế Truyền vì phù hợp với lối phát biểu của ông, nhất là chi tiết: “Nguyễn Ái Quốc” lấy tàu đi Toulouse.

THEO DÕI NGUYỄN ÁI QUỐC

Vấn đề theo dõi Nguyễn Ái Quốc rất phức tạp, vì những lý do sau đây:

1/ Người Pháp và người Tây phương nói chung, thường dùng Họ thay Tên. Vì vậy, đối với người Pháp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quấc, đều là M. Nguyễn. Ấy là chưa kể các Nguyễn khác trong nhóm Yêu Nước, riêng gia đình Nguyễn Thế Truyền có đến bốn năm Nguyễn.

2/ Thời gian đầu, mật thám chưa phân biệt được 3 nhân vật chính: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành721. Vì vậy, có một số mật báo hoàn toàn trái ngược nhau, ví dụ tả Nguyễn Ái Quốc là người miền Nam, tức Nguyễn An Ninh, hoặc học ở Pháp từ nhỏ, tức Nguyễn Thế Truyền. Có mật báo còn nhầm Nguyễn Ái Quốc với Nguyễn Chuyên722, rồi nhầm Nguyễn Chuyên với Nguyễn Như Chuyên… Đến khi chụp được ảnh Nguyễn Tất Thành, mới vỡ lẽ. Nhưng từ bộ trưởng, toàn quyền đến thanh tra, tất cả đều cho là Thành mạo nhận.

3/ Chính Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền cũng tung hoả mù: Truyền và Ninh cố tình giao các văn bản họ đã viết cho Nguyễn Tất Thành đem khoe với mật thám rằng mình vừa viết xong.

Vì thế, từ cuối 1919, đã có những bản mật báo ghi rõ: Nguyễn Ái Quốc vừa viết xong cuốn sách này, dịch cuốn sách kia… và Daniel Hémery đã dựa vào những báo cáo này để viết câu: “Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã “sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés- Những Kẻ Bị Đàn Áp, có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation – Bản Án Chế Độ Thực Dân và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm Tây phương, như L’Esprit des lois- Vạn Pháp Tinh Lý sang Quốc ngữ.”723. Sự thể đã trở thành khôi hài: một người mới sang Pháp 6 tháng, đang học tiếng Pháp, làm sao có thể có những dự tính “đội đá vá trời” như vậy?

Việc vở kịch Le dragon de bambou – Rồng tre, là một ví dụ. Có thể Truyền hay Ninh viết, rồi đưa Thành đem đến cho Léo Poldès, đảng viên cộng sản, người điều khiển các buổi nói chuyện ở Câu Lạc Bộ Ven Đô – Club du Faubourg, khu 17, nơi Tất Thành, từ 14/7/1921, ở ngõ Compoint gần đấy, hay đến để tập nói tiếng Pháp giữa công chúng. Léo Poldès đọc thích quá, đã giúp việc dựng kịch. Ông nhận xét về vở kịch này như sau: “Hoàn chỉnh, hóm hỉnh, đối thoại hài hước quất vun vút như roi, sống động như lối khôi hài của Aristophane”724.

4/ Ngày 12/10/1919, Guesde báo cáo cho bộ trưởng: “Nguyễn Ái Quốc đã được mời ra sở cảnh sát để hỏi và chụp ảnh ngày 20/9/1919. Anh ta kiên quyết khai tên là Nguyễn Ái Quốc mặc dù ta biết là khai man725.

5/ Mật báo ngày 28/11/1919, mô tả khá đúng tình trạng hoả mù ấy: “Chúng tôi thấy ở Paris có một người An Nam hình như gốc Bắc, tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hắn giấu kỹ danh tánh thật. Chính hắn đã ký những bản truyền đơn đòi tự trị ở Đông Dương. Hắn ở số 6, villa des Gobelins, nhà luật sư Phan Văn Trường, hắn chuyên về vấn đề chính trị và cả ngày ở thư viện Quốc gia, phố Richelieu, thư viện Sainte-Geneviève, Place du Panthéon, ở văn phòng Hội Nhân Quyền, phố L’Université, hoặc nậm nọa với bọn khả nghi cùng chủng loại. Hắn thư từ với Phan Châu Trinh ở Pons, Phan Văn Trường và Khánh Ký hiện đang ở Mayence. Tình báo cho biết tại nhà số 6 Villa des Gobelins bọn An Nam có khi tụ họp tới một giờ sáng, cãi nhau ỏm tỏi đến nỗi láng giềng phải than phiền. (…) Các thám tử của ta theo dõi rất sát tên được gọi là Nguyễn Ái Quốc, một người đã kết thân được với hắn, sớm muộn gì rồi hắn cũng sẽ thổ lộ cho biết danh tánh thật726.

Phan Văn Trường cho biết nhà ông lúc nào cũng có vài người canh gác bên kia đường – Villa des Gobelins là một ngõ cụt nhỏ, immeuble khang trang. Vậy thám tử “tìm thấy” Nguyễn Tất Thành ở số 6 Villa des Gobelins là đương nhiên, và Tất Thành nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, cũng đương nhiên. Sự tranh luận sôi nổi có thể về đề tài những bài báo sẽ viết. Thời điểm ấy, theo Phan Văn Trường, mọi người đều đến thư viện, đọc và học, vì không có tiền mua than củi để sưởi nhà, rất dễ nhầm người này với người kia, nhất là những người cùng tên Nguyễn.

6/ Ngày 16/9/1920 tổng thanh tra Pierre Guesde thông tri cho Cảnh Sát Cuộc: “Phải gọi Nguyễn Ái Quốc đến hỏi lại: Tên thật là gì? Gốc gác ở đâu? Cha mẹ tên gì?…

Vì ở Đông Dương mọi người đều phải có thẻ căn cước, giấy thông hành, thẻ thuế thân, không thể có chuyện một người đến Pháp mà không có giấy tờ gì cả727.

7/ Ngày 12/10/1920, Pierre Guesde viết bài tổng kết gửi lên bộ trưởng, tình hình vẫn hết sức lộn xộn: Cơ quan an ninh Pháp vẫn chưa xác định được ai là người viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, vì họ không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc. Chắc chắn do sự khác biệt quá lớn giữa thứ tiếng Pháp mới học của Nguyễn Tất Thành, và thứ tiếng Pháp nhuần nhuyễn tinh vi trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Theo một tài liệu Vidéo của Viện Quốc Gia lưu trữ Âm thanh và Hình ảnh Pháp INA – Institut National Audiovisuel về buổi Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một nhà báo Pháp tháng 6/1964728, thì quả đúng như thế: Ông Hồ nói tiếng Pháp dở, nhiều lỗi sơ đẳng, có câu ông dịch tiếng Việt từng chữ một, người Pháp không nói như thế. Có chỗ ông không hiểu câu hỏi của phóng viên. Một trình độ Pháp văn như vậy không thể viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Đứng trước tình trạng: có một “bóng ma” Nguyễn Ái Quốc rất tài tình được mô tả trong các bản mật báo: diễn thuyết liên miên, phát biểu trong các buổi họp của đảng Xã hội, viết sách, viết báo, dịch sách, trả lời phỏng vấn báo Triều Tiên, báo Mỹ… Và một “người thật” là Nguyễn Tất Thành tự xưng mình là Nguyễn Ái Quốc, mà lại nói không thông tiếng Pháp, Pierre Guesde, tường trình về sự hoang mang của mật vụ như sau:

Paris ngày 12 tháng 10 năm 1920

Thưa ông Bộ Trưởng,

(…) Trước hết, Nguyễn Ái Quốc, giấu danh tánh thật của y. Y không muốn bị lộ tung tích; y đã đổi tên nhiều lần khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác, cái tên Nguyễn Ái Quốc hiện nay chỉ đánh lừa được kẻ không biết tiếng An Nam; Nguyễn Ái Quốc có nghiã đơn thuần là “Nguyễn yêu nước”. Tất cả mọi cố gắng đều dồn vào việc điều tra hộ tịch của Quốc. Những người chỉ điểm An Nam và các thanh tra an ninh đều bắt tay vào việc và trao đổi thường xuyên với Đông Dương.

Những thông tin do Cảnh Sát Cuộc – Préfecture de Police cung cấp chẳng có gì chính xác (…) Trong buổi nói chuyện với ông thanh tra Cảnh Sát Trưởng, tôi đã thông báo là ông toàn quyền Đông Dương rất có lý khi nhấn mạnh đến việc cần xác định danh tánh Quốc. Tôi còn nói thêm: “Nguyễn Ái Quốc tự nhận mình là người An Nam. Có thật thế không? Ai chứng tỏ điều đó? Y nói rằng y không có giấy tờ nào do nhà cầm quyền Đông Dương cung cấp. Y xen vào chính trị, trà trộn vào những nhóm chính trị, phát biểu trong những buổi hội họp cách mạng, và chúng ta không biết rõ đối thủ là ai! (…)”

Sau buổi tôi nói chuyện cùng ông thanh tra, Nguyễn Ái Quốc bị gọi đến Cảnh Sát Cuộc. Người ta đã chụp hình và hỏi cung y. Việc này xẩy ra ngày 20 tháng 9 (20/9/1920). Những câu trả lời của Quốc được lưu trữ trong biên bản đính kèm. Y vẫn khăng khăng nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Chúng ta chắc chắn đó là lời mạo nhận.”

Nhưng ngay sau đó, trong bức thư, Pierre Guesde lại viết những lời ngược lại:

“Trong tình trạng hiện nay của ăng-kết, với những thông tin tiếp được từ Đông Dương, tôi nghĩ có thể xác định rằng Nguyễn Ái Quốc chẳng qua là tên Nguyễn Tất Thành, kẻ đã ở An Nam năm 1908, trong khi xẩy ra bạo loạn, và đã ở Anh trước khi đến Pháp. Mà Nguyễn Tất Thành được coi là kẻ phiến động nguy hiểm.

Ngay từ ngày 25/7/1919, qua điện tín số 1791, chính phủ Đông Dương đã thông báo rằng một bản thỉnh nguyện có ẩn ý, gửi từ Paris, hôm 18/6, cho nhiều tờ báo ở thuộc địa, dưới cái tựa “Những thỉnh nguyện của dân tộc An nam”. Bản thỉnh nguyện này, trước tên ký, có ghi: Thay mặt nhóm người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc” (…)

Nguyễn Ái Quốc đã liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung Hoa, Triều Tiên, Nga, Ái Nhĩ Lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã Hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua (1/5/1920) và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này. Tài liệu đính kèm.

Những lời trên đây chứng tỏ sự bối rối của cơ quan an ninh Pháp: Một mặt cho rằng có một Nguyễn Ái Quốc giả, tức là kẻ đến trình diện, tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Một mặt lại tin rằng có một Nguyễn Ái Quốc thật -qua các mật báo- người ấy mới chính là Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết và là tác giả các văn bản.

Thời gian từ 1919 đến tháng 5/1920, Nguyễn Ái Quốc “thật” được các chỉ điểm Pháp mô tả như một người đã “liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung Hoa, Triều Tiên, Nga, Ái Nhĩ Lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua (1/5/1920) và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này. Tài liệu đính kèm.

Chân dung này chính là Nguyễn An Ninh, nhờ ba yếu tố: vô chính phủ, diễn thuyết liên miên và viết sách đòi độc lập cho Đông Dương. Nguyễn Thế Truyền lúc đó còn học ở Toulouse, chắc không đi về Paris thường xuyên và Nguyễn Tất Thành, mới sang, không rành tiếng Pháp, không thể diễn thuyết và viết sách tiếng Pháp được.

Pierre Guesde viết tiếp: “Những bài báo phát xuất từ Nguyễn Ái Quốc và đồng bọn được đón nhận khá tốt trong một loại báo (đặc biệt báo L’Humanité). Chúng ta thấy những bài ký tên y trong những báo khác nhau, đặc biệt trong tờ L’Humanité ngày 2/8/1919, và trong tờ Le Populaire ngày 4 và 14/10/1919. Y ở số 6, villa des Gobelins, Paris, trong một nhà lầu do Phan Văn Trường thuê. Phan Văn Trường là một trong những tay phiến động nguy hiểm nhất hiện đang ở Đức cùng với Khánh Ký và François Albert, tất cả đều là bạn Nguyễn Ái Quốc cũng như Phan Châu Trinh thường trực ở nhà Nguyễn Ái Quốc và hiện đang ở đây luôn. Kèm đây là lá thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho M. Outrey, từ Biarritz, ngày 16/10/1919, cho thấy ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về chính phủ ta như thế nào. (…) Ta có thể xác định rằng Phan Văn Trường là kẻ thông minh nhất và quỷ quyệt nhất trong nhóm. Nguyễn Ái Quốc là thư ký và là người cho Phan Văn Trường mượn tên729.

Bản tường trình của Pierre Guesde bị rối loạn vì những thông tin sai lầm của thám tử, nhất là khi François Albert, một người trong nhóm Yêu Nước, bị hỏi cung cũng khai chẳng hề gặp Nguyễn Ái Quốc bao giờ.

Thực ra những thám tử của Guesde lầm mà không lầm vì vô tình, họ đã xác định được 1/3 sự thực: Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn An Ninh. Bởi vì, người mà thám tử thấy viết sách, giao thiệp với nhóm Xã Hội, nhóm Vô Chính Phủ và diễn thuyết liên miên, năm 1919-1920, chính là Nguyễn An Ninh. Người “vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương” cũng là Nguyễn An Ninh, có thể đó là cuốn La France en Indochine. Người viết Lá thư gửi từ Biarritz cho M. Outrey cũng là Nguyễn An Ninh – Sẽ giải thích sau. Trong bản báo cáo, Pierre Guesde rất tinh tường qua những nhận xét khác của ông:

– Một mực không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc. Đọc các văn bản Nguyễn Ái Quốc, ông ta đoán đây là người Pháp viết tiếng Pháp. Đặc biệt ông ta chú ý đến những bài quan trọng như La question des indigènes en Indochine – Vấn đề dân bản xứ ở Đông dương do Phan Văn Trường viết; bài L’Indochine et la Corée; une intéressante comparaison – Đông Dương và Triều Tiên, một sự so sánh lý thú và bài Lettre à Monsieur Outrey – Thư gửi ông Outrey do Nguyễn An Ninh viết.

– Ông ta xác định Phan Văn Trường là người nguy hiểm nhất.

Tóm lại, tới ngày 12/10/1920, Pierre Guesde vẫn đinh ninh Nguyễn Tất Thành là người “gánh” cái tên Nguyễn Ái Quốc cho Phan Văn Trường. Điều này cũng không sai, nhưng Guesde cũng chỉ tìm ra 1/3 sự thật: Phan Văn Trường cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Trong phụ bản số 2 của bản báo cáo gửi bộ trưởng Thuộc Địa, Guesde kết luận:

Sau khi trao đổi với toàn quyền Đông Dương, thấy cần phải biết rõ Nguyễn Ái Quốc là ai. Ngày 20/9/1920 đã đưa giấy gọi Nguyễn Ái Quốc đến sở cảnh sát để chụp ảnh và hỏi lai lịch (kết quả kèm theo đây). Thấy rõ đây vẫn là lời khai man”730.

Và khi Nguyễn Tất Thành đã đi Nga, năm 1923, trong thư gửi toàn quyền Đông Dương ngày 12/9/1923 Pierre Guesde còn viết: “Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do y viết hoặc đã được sửa chữa rất nhiều. Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ để viết những bài y ký tên731.

NGUYỄN TẤT THÀNH TRỞ THÀNH NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ XIN VÀO HỘI TAM ĐIỂM

Khi Nguyễn Tất Thành đến Paris tháng 6/1919, Hội Nghị Hoà Bình đã khai mạc từ 18/1/1919 ở Versailles. Mục đích của hội nghị là xây dựng những quốc gia Âu Châu mới sau thế chiến. Nhóm Yêu Nước muốn lợi dụng tình hình quốc tế thuận lợi, để xác định sự hiện diện của Việt Nam, một đất nước đã bị mất chủ quyền. Có thể họ đã thảo luận với đại biểu các nước khác trong hậu trường Hội Nghị, trước khi tung bản thư Thỉnh Nguyện.

Khi bản Thỉnh Nguyện hoàn tất, tại sao Phan Văn Trường giao cho Nguyễn Tất Thành đem đến Versailles, mà không giao cho một người khác?

Bởi Nguyễn Tất Thành là khuôn mặt mới, vừa chân ướt chân ráo đến Paris, chưa bị mật thám bao vây. Lần xuất hiện đầu tiên này, chưa ai biết Nguyễn Tất Thành là ai.

Nguyễn Tất Thành, xa nước từ 1911, sống vất vả trên tàu, rồi biệt lập ở Luân Đôn, vừa sang Pháp, chưa biết rõ những thông tin về tình hình trong nước, cũng không đủ kiến thức và không rành tiếng Pháp, nên chỉ có thể giữ vai trò khiêm tốn: học Pháp văn, giữ sổ sách chi thu, tập viết những mẩu tin, phụ trách việc in và phát truyền đơn. Không thể viết được những bài xã luận ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc, nhưng vì muốn trở thành chính khách, Nguyễn Tất Thành xung phong nhận tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

Việc đưa bản Thỉnh nguyện đến Versailles là chặng đầu. Xin vào hội Tam Điểm, là chặng thứ nhì. Việc này chắc chắn phải do sự sắp đặt của Phan Văn Trường -có thể Phan Văn Trường cũng có chân trong Hội Tam Điểm- vì Nguyễn Tất Thành mới tới Paris, không thể biết rõ về hội Tam Điểm.

Theo Pierre Brocheux: “Tháng 8/1919, Quốc đệ đơn xin vào nhóm Ernest Renan trong hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie), 16 Rue Cadet, nhưng không được732.

-Theo Thu Trang: “Ngày 14/6/1922, Nguyễn Ái Quốc được kết nạp vào hội Tam Điểm733

Tháng 8/1919, người ta chưa biết Nguyễn Tất Thành là ai. Hội Tam Điểm từ chối. Nhưng đến tháng 6/1922, ba năm sau, Nguyễn Tất Thành đã “chính thức” trở thành Nguyễn Ái Quốc, một tên tuổi trong làng báo chống thực dân. Hội Tam Điểm mới chấp nhận. Nhưng chỉ được vài tháng, Nguyễn Ái Quốc bỏ Tam Điểm, vì sao?

Tam Điểm là một hội kín, có truyền thống lâu đời trên thế giới, dựa trên nguyên tắc cao quý “Thân ái -Fraternité- giữa người và người”. Nhưng trên thực tế, hội quy tụ những phần tử ưu tú của xã hội, có thể nắm vận mệnh các dân tộc. Người làm chính trị vào hội Tam Điểm để được bảo vệ khi gặp bất trắc. Trần Trọng Kim cũng ở trong hội Tam Điểm, vì vậy khi làm chính trị, ông có thể nói thẳng mà không sợ chính quyền thuộc địa đàn áp.

Có thể Phan Văn Trường đã tìm cách đưa Nguyễn Tất Thành vào hội Tam Điểm khi Thành mới tới Paris, vì ông tin tưởng ở tương lai người thanh niên nhiệt tình này, và muốn có một thế lực hậu thuẫn cho Tất Thành. Nhưng khi được vào hội rồi, Nguyễn Ái Quốc/Tất Thành không chịu nổi không khí trí thức trưởng giả của hội, nhất là trong những trao đổi, Thành không thể không để lộ những trống vắng về ngôn ngữ và kiến thức của mình trước các thành viên là những phần tử ưu tú của xã hội Pháp. Ngoài ra, còn có thể bị áp lực của đảng Cộng Sản Pháp, nên ít lâu sau Nguyễn Tất Thành đã bỏ hội Tam Điểm.

Về việc Nguyễn Ái Quốc có giấy mời đi dự hội nghị Tours của đảng Xã Hội Pháp, cuối năm 1920, Hoàng Văn Chí cho rằng do Nguyễn Thế Truyền sắp đặt. Có lẽ không đúng, mà vẫn do Phan Văn Trường lo liệu, vì lúc đó Nguyễn Thế Truyền đang ở Việt Nam.

Ta cần phải biết rằng giới chính khách và trí thức Pháp -hay ở nước nào cũng vậy- không dễ thâm nhập, phải là bạn ngồi cùng ghế đại học với họ, hoặc có danh, hoặc có tài. Họ có thể tranh đấu cho cần lao, nhưng họ không làm bạn với những người cần lao, ít học. Một nghịch lý nhưng là sự thật. Vừa đến Paris, làm thợ ảnh, tiếng Pháp chưa thông, làm sao Nguyễn Tất Thành có thể gặp người này, người kia, trong chính giới Pháp? Nếu không được những trí thức thực sự như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, giới thiệu, và phải “có tên tuổi” trong làng báo như Nguyễn Ái Quốc.

Nhờ những yếu tố này, Tất Thành/Ái Quốc mới có thể được chấp nhận trong môi trường chính trị cánh tả của Pháp. Nhưng “đội” tên Nguyễn Ái Quốc cũng là một gánh nặng, mà đôi khi chính bản thân Nguyễn Tất Thành không kham nổi. Việc tìm lối thoát đi Nga có thể cũng là một cách giải quyết hợp lý hợp tình.

Trích từ ” Nguyễn Ái Quốc – lai lịch và văn bản ” / Thụy Khê /Vinadia.Org

Ai đã sát hại tất cả các nhà khoa học COVID?

Ảnh: pxhere

Các bác sĩ, nhà khoa học và các chuyên gia y tế tham gia nghiên cứu virus cúm Vũ Hán (COVID-19) trên toàn cầu đang chết một cách bí ẩn.

Một trong những cái chết gần đây nhất là của Alexander “Sasha” Kagansky, một nhà khoa học người Nga đang nghiên cứu phát triển vắc-xin COVID-19. Ông đã bị ném từ cửa sổ căn hộ tầng 14 ở St.Petersburg xuống đất. Sau khi khám nghiệm tử thi, cảnh sát phát hiện trên người ông có vết thương do bị đâm.

Ông Kagansky gần đây đã được chính phủ Nga trao tặng một khoản tài trợ để nghiên cứu các phương pháp chẩn đoán và điều trị khối u não mới. Ông cũng là người ủng hộ mạnh mẽ các liệu pháp tự nhiên như thảo mộc và nấm để tiêu diệt tế bào ung thư.

Một người khác cũng qua đời trong năm nay là Frank Plummer, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm vi sinh học quốc gia Canada, nhà nghiên cứu hàng đầu về virus corona. Ông đã chết vào ngày 4/2/2020, nghi vấn do đau tim. Cuộc điều tra của trang Great Game India đặt giả thuyết rằng cái chết của ông là một vụ ám sát.

Tiến sĩ Bing Liu, một chuyên gia nghiên cứu virus viêm phổi Vũ Hán tại Trung tâm Y khoa ĐH Pittsburgh (UPMC), Mỹ. Vào chiều ngày 2/5, ông đã bị một người đàn ông được xác định là Hao Gu dùng súng bắn chết tại nhà riêng.

Các đồng nghiệp của ông tại Khoa Sinh học Hệ thống và Tính toán cho biết Bing đang chuẩn bị đưa ra những phát hiện rất quan trọng đối với việc tìm hiểu cơ chế tế bào làm cơ sở cho sự lây nhiễm SARS-CoV-2 và cơ sở tế bào của các biến chứng sau đó.

Ngoài ra còn có Gita Ramjee, một nhà khoa học về HIV, người được cho là đã chết vì COVID-19 khi đến London để thuyết trình về phương thức điều trị và phòng ngừa HIV. Khi trở về Durban, cô cảm thấy không khỏe nên đã đến bệnh viện, nơi cô qua đời không lâu sau đó. Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, cả HIV và SARS-CoV-2 đều có nhiều điểm tương đồng. Cả hai loại virus đều sử dụng những đặc tính và chiến thuật tương tự để xâm nhập cơ thể người.

Một tài xế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tên là Pyae Sone Win Maung cũng đã chết vào ngày 20/4 khi vận chuyển các mẫu phẩm Covid-19 đến Liên hợp quốc trên một chiếc xe in logo tổ chức đa quốc gia này. Nhiều phát súng đã thoát nòng, khiến anh tử vong và làm bị thương một hành khách khác.

Ngày 8/12/2020, Brandy Vaughan, cựu giám đốc kinh doanh của tập đoàn dược phẩm Merck & Co. kiêm đồng sáng lập LearnTheRisk.org, cũng được phát hiện đã chết trong nhà riêng vào đầu tháng này bên cạnh đứa con trai chín tuổi. Trước đó, Vaughan đã không ngừng nỗ lực giáo dục công chúng về các nguy cơ an toàn của vắc xin.

Brandy đã nhìn thấy sự thối nát từ bên trong khi cô bán loại thuốc (VIOXX) của Merck vốn đã giết chết hàng nghìn người theo đúng nghĩa đen. Vioxx – Rofecoxib là một loại thuốc giảm đau, chữa viêm khớp nhưng lại gây bệnh tim nặng.

Theo Đại Kỷ Nguyên.