‘Trang trại rau’ trên sân thượng của chàng trai Hà Nội

Ngày Tết, Tùng cắt bắp cải, su hào tặng họ hàng. Trong nhà cậu trưng những chậu cà chua, dâu tây, sung Mỹ do chính mình trồng trên sân thượng

Nguyễn Mạnh Tùng, 28 tuổi, là chủ nhân của một khu vườn rộng khoảng 80 m2 trên ban công và tầng thượng của gia đình ở Khâm Thiên (quận Đống Đa). Tùng đam mê trồng trọt từ ngày bé, cứ thấy cây dại ngoài đường là đánh về trồng ở nhà. Chín năm trước, cậu chính thức trồng bài bản.

Do đam mê nên việc làm vườn với chàng trai Hà Nội này chưa bao giờ là trở ngại. Cậu nuôi gà đẻ trứng và chục đôi chim câu ở tầng áp mái. “Tôi không bao giờ mua phân bón vì tận dụng chất thải gia cầm”, chàng trai tiết lộ một trong các bí quyết làm vườn.

Một khi cây bị sâu bệnh, Tùng sẽ nhổ bỏ chứ chưa bao giờ dùng thuốc trừ sâu. Theo chàng trai, làm vườn quan trọng nhất là đúng mùa vụ, giống tốt, ánh sáng, dinh dưỡng tốt và nắm chắc kỹ thuật.

Ví dụ cà chua bạch tuộc (giống của Nga), Tùng trồng vào tháng 8-9 dương lịch trong thùng xốp hoặc chậu to. Mỗi thùng trộn 5-7 kg phân gà với 20 kg đất, thêm ít vôi bột và nấm trichodema. Cây nuôi một thân chính cho khi gần tới giàn thì nuôi thêm một nhánh phụ to khoẻ nhất. Giai đoạn ra hoa bón thêm phân hữu cơ từ dịch chuối (làm từ vỏ chuối, chuối xay ủ) và nước rác (từ các lá rau, lá già của cây ủ). Hàng ngày chăm tỉa lá già và lá bị che khuất.

Tuy là năm đầu tiên thử nghiệm trồng cà chua bạch tuộc, “nông dân sân thượng” này hài lòng với kết quả đạt được. Quả mọng, ngon ngọt và sai trái. Bốn gốc cho thu hoạch 40 kg trong khi vẫn tiếp tục cho thu hoạch vụ sau, chứ không bị tàn như cà chua thông thường.

Ngoài rau, Tùng rất thích trồng quả. Vườn đang có 100 chậu dâu tây và bắt đầu cho thu hoạch. Vào lúc chín rộ, cứ sau vài ngày có thể thu hoạch được cả cân. Bốn mươi cây sung Mỹ cùng táo Thái và nho cũng cho quả lai rai.

“Đến mùa hè tôi trồng các loại dưa thì gia đình không phải đi chợ mua quả nữa. Vụ dưa hè 2020 nhà tôi ăn không xuể, còn cho tặng bạn bè, họ hàng được kha khá”, chàng trai chia sẻ.

Đam mê với làm vườn, Tùng hay thử nghiệm các giống mới của nước ngoài. Cậu trồng súp lơ tím, ngô tím, cà chua hay các giống dưa. Các giống này tuy rủi ro, song màu sắc đẹp và đa phần ngon hơn giống cũ.

Từ khi làm vườn, gia đình Tùng bớt được nhiều chi phí. Mẹ chỉ phải đi chợ mua tôm, cá và những thứ không tăng gia được. “Nhà tôi ăn chủ yếu trứng, thịt gà và rau quả làm ra, chi phí chợ búa có thể giảm trên 50% so với trước. Bố mẹ tôi rất thích điều này”, Tùng nói. Quan trọng nhất, bữa cơm cho cảm giác an toàn và ngon miệng, không khí trong gia đình năng động và sức khỏe ai cũng tốt hơn.

Rau Tùng trồng không chỉ cung cấp cho gia đình cậu mà còn cho gia đình năm người nhà chị gái, thi thoảng vẫn có thể biếu tặng bạn bè, họ hàng.

“Mỗi ngày tôi lên vườn ngày hai lần sáng, tối. Bố tôi chung sở thích giúp đỡ tưới và thu hái, còn tôi lo kỹ thuật là chính”, chàng trai nói.

Năm 2017 Tùng đi nghĩa vụ quân sự. Điều chàng trai không an lòng nhất lúc xa nhà là khu vườn không được chăm sóc tốt. Trở lại năm ngoái, chàng trai tích lũy thêm được kinh nghiệm từ thời còn ở trong quân ngũ nên chăm vườn càng “mát tay”.

Trong hình, Tùng mang cây trái trồng được xuống trưng ở phòng khách 3 ngày Tết. Với cậu, đây là điều đáng để tự hào.

Phan Dương /Vietnamexpress
Ảnh: Nhân vật cung cấp

Thành phố ở nước ta không khác gì một cái làng to

“Bản thân các thành phố ở ta giống như một cái làng to, cư dân ở đó chưa hẳn là công dân, mà mới là người làng ra phố, sinh hoạt, thói quen vẫn như người nông dân”, nhà văn hóa Phan Cẩm Thượng cho biết.

Các thành phố ở ta giống như một cái làng to

Tư duy làng thời 4.0

Làng xã Việt Nam có một lịch sử lâu dài, mô hình làng xã đã được duy trì rất hiệu quả qua hàng ngàn năm. Đơn vị hành chính nhỏ nhất là Làng, lớn nhất là Nước nên mới có tên gọi thân thuộc Làng Nước. Dân trồng lúa nước, hiểu biết tường tận từng thửa đất khô đất hạn nên gọi là “lão nông tri điền”; phong tục tập quán cũng hình thành từ cây lúa nước, từ thổ nhưỡng, thiên văn… nên gọi là nền văn minh lúa nước.

Sự phát triển bền vững của nền văn minh lúa nước kéo dài hàng ngàn năm với những công trình trị thủy đặc sắc không chỉ biểu hiện ở sông Hồng, sông Thái Bình, vùng đất 9 rồng…mà còn tạo dựng nên những kiệt tác văn hóa như Sơn Tinh Thủy Tinh, Bánh Chưng Bánh Dày, Mỵ Châu Trọng Thủy, Chử Đồng Tử…

Đặc điểm cơ bản của văn minh lúa nước có tính đến yếu tố văn hóa địa là sự phân tán, nhỏ lẻ và không đồng đều. Làng thì phân tán, nhỏ lẻ, Nước là tập hợp của các Làng, quyền lợi của Làng cũng là quyền lợi của Nước ở cấp độ tập trung cao. Chính điều này đã gắn kết mọi công dân thành cộng đồng lớn, có mục đích chung, tạo nên sức mạnh vĩ đại chống ngoại xâm và chiến thắng mọi kẻ thù trong suốt chiều dài lịch sử.

Duy trì chỉ một loại cây lúa nước làm chủ lực qua hàng ngàn năm nên kinh nghiệm đặc biệt phong phú nhưng sự phong phú ấy cũng chỉ tập trung vào mùa vụ, giống má, thời tiết, con nước…chứ không mở rộng được. Kho tàng tục ngữ ca dao cực kỳ giầu có nhưng đó là sự giầu có về kinh nghiệm đúc kết từ thực tế cày bừa cấy hái, kho tàng thiếu vắng hẳn những công trình kỳ vĩ, sáng tạo.

Ông Kim Định viết hẳn một cuốn sách có tựa đề “triết lý cái Đình” là vì vậy. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết vở kịch Vũ Như Tô xoay quanh câu chuyện dựng cửu trùng đài là nhằm bố khuyết cho sự thiếu vắng những công trình kỹ vĩ, sáng tạo, cái đẹp. Về nghệ thuật thì rất thành công nhưng trên thực tế thì Vũ Như Tô như là một khát vọng vươn cao, bay xa.

Nghiên cứu về văn minh lúa nước, nhà văn hóa Phan Cẩm Thượng cũng đã nhận xét: “Văn hóa làng xã là đặc điểm chính của người Việt, kể cả các sắc tộc khác cũng sinh sống ở các bản làng phân tán. Chính vì thế, nền kinh tế không tập trung, không có tích lũy xã hội lớn. Chương trình kinh tế chỉ là từng vụ từng mùa, không lâu dài…”

Bàn tiếp về tư duy tiểu nông, ngắn hạn, Phan Cẩm Thượng cho rằng: “Tư duy này nằm rất rõ ở sản xuất nông nghiệp, chủ yếu cấy trồng lúa nước, năng xuất thấp, dự trữ ít, các làng xã phát triển độc lập, không có liên kết nào về kinh tế, chưa kể tập tục riêng, nên xây dựng to nhất với cộng đồng làng chỉ là cái Đình”.

Chúng ta đã đi qua thời kỳ khó khăn thiếu đói vì áp dụng mô hình kinh tế tập trung, quan hệ người nông dân với đất không phải là “lão nông tri điền” mà là kinh tế tập thể. Chúng ta đã đi qua thời kỳ đổi mới, người nông dân được sử dụng mảnh đất theo kinh nghiệm trồng cấy của mình và công cuộc xóa đói giảm nghèo đã thành công.

Nhưng cuộc cách mạng công nghiệp đã sắp xong sứ mệnh của nó trên thế giới và giờ đây nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghệ. Những “lão nông tri điền” thành thạo cây lúa nước bước vào cuộc cách mạng nông sản sạch, đúng chuẩn khoa học tiên tiến chắc chắn lúng túng, bỡ ngỡ.

Kinh nghiệm ngàn đời, sức bền của tư duy nhỏ lẻ vốn có hiệu quả trên từng mảnh ruộng nhỏ lẻ giờ đây đã trở nên vướng víu và cản trở không chỉ người nông dân mà quan trọng hơn: Nó cản trở tư duy quản lý tầm vĩ mô trước làn sóng mới của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4.

Giáo sư – Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp nhận định: “Người dân lười học và khó học cái mới đến nơi đến chốn, hợp tác xã thì không cung cấp được nguồn ra hiệu quả, tiếng nói và chuyên môn yếu kém không có sự kết nối từ cầu đến cung”.

Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, ông Nguyễn Đức Kiên, tại phiên thẩm tra các báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội, cũng thừa nhận: “Trong ba năm gần đây, dù nông nghiệp vẫn là bệ giảm sốc của nền kinh tế nhưng không có năm nào là không phải giải cứu, vẫn là phó mặc bà con nông dân muốn làm gì thì làm chứ không có chuỗi liên kết”.

Theo như nhà lý luận phê bình Vương Trí Nhàn lý giải, giải cứu nông sản là lối làm ăn của thời chiến tranh, bao cấp, cái thời tất cả mọi người đều thiếu. Người nông dân rất khổ sở, cứ trồng cái gì được mùa là lại bị hạ giá, lại béo con buôn. Họ làm rất ngẫu nhiên, cơ quan nhà nước về sở nông nghiệp chỉ lo thu thuế, lo hướng dẫn,…

Các Sở, Phòng Nông nghiệp thậm chí còn chỉ mua giống của Trung Quốc chứ không chịu nghiên cứu, tìm tòi ra giống phù hợp với đất đai, khí hậu của chúng ta. Người nông dân ở đây rất bí trong việc phát triển. Trong khi, nền nông nghiệp của chúng ta vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, chưa tạo ra vùng nông nghiệp mới mẻ hoàn toàn, chuyên biệt mỗi loại cây một khu vực, chưa đảm bảo đầu ra cho các sản phẩm.

Nguồn kinh phí hàng năm của các đơn vị ít chịu đầu tư vào nghiên cứu mà lại “đổ” vào truyền thông, đánh bóng tên tuổi. Còn công nghiệp cũng cho nước ngoài vào làm, mỗi ông tỉnh, huyện thích làm gì thì làm đó chứ chưa được quy hoạch bài bản.

“Điều này cho thấy cấu tạo xã hội Việt Nam là một sinh vật đơn bào, nhiều bộ phận giống nhau, các bộ phận không hỗ trợ nhau mà cạnh tranh nhau, có thể thay thế nhau, làm xấu nhau đi. Làng quê nào cũng giống nhau: cùng đi buôn, cùng trồng lúa… trong khi các làng nghề truyền thống lại không được phát triển rõ nét. Nếu có sự khác biệt, sẽ hỗ trợ nhau cùng phát triển, tạo nên cả một vùng miền, tổng thể phát triển”, ông Vương Trí Nhàn chỉ ra.

Dân thành thị giống người làng ra phố

Không chỉ vậy, nhìn vào quy hoạch nông thôn cũng như đô thị tại Việt Nam, tư duy manh mún ở khắp nơi. Với nông thôn, thay vào nhà ngói là hàng loạt nhà tầng, nhà mái bằng cùng với con đường vào làng đổ bê tông nho nhỏ, chỉ đủ cho cái xe bò và 2 làn đường trâu đi. Họ không quan tâm đến đặc trưng khí hậu vùng miền sao cho thích hợp với sự phát triển và hài hòa với khí hậu.

Tiến sĩ Lê Đỗ Mười (Viện phó Viện chiến lược và Phát triển Giao thông) phân tích, về tiêu chí quy hoạch nông thôn mới hiện nay cần phải thay đổi. Chúng ta phải nhìn nhận từ góc độ nông thôn hoá đô thị hay đô thị hoá nông thôn? Hai cái chúng ta cần xác định, vùng miền nào đô thị hoá nông thôn và nông thôn hoá đô thị thì mới có chiến lược phù hợp.

Ví dụ miền núi, vùng khó khăn, chúng ta phải dần đưa vào tiêu chí đô thị để hiện đại hoá nông thôn. Nhưng với khu vực thành thị, chúng ta phải xanh hoá, nông thôn hoá đô thị. Đây là hai định hướng do người đứng đầu đưa ra, sao cho phù hợp với tiêu chí từng vùng miền, thì mới mang tính chất quy hoạch nông thôn mới.

“Hiện nay, nông thôn mới chúng ta đang thiên về đô thị hoá nông thôn hết. Dẫn đến không đúng hết với một số vùng, nên chúng ta cần thay đổi. Từng vùng miền phải xác định tiêu chí riêng, phù hợp. Không dùng tiêu chí chung cho cả quốc gia!”, ông Lê Đỗ Mười nhấn mạnh.

Tại thành thị, các nhà cao tầng mọc lên liêp số lượng tính theo tá, còn cơ sở hạ tầng như đường xá giao thông được tính trên đầu bàn tay, dẫn đến hiện tượng (như cố tiến sỹ Phạm Sỹ Liêm từng nói: “Hà Nội hay các tỉnh thành khác đều đang xảy ra một hiện tượng: Bất động sản dẫn dắt quy hoạch”. Trong khi đó, Nghị định chống ách tắc giao thông đô thị của Chính phủ ban hành từ năm 2008, thành phố đã có chủ trương di dời các nhà máy, xí nghiệp, trường đại học, bệnh viện ra ngoài nội đô để giảm tải cho thành phố.

Nhà văn hóa Phan Cẩm Thượng cùng từng than thở: “Về quy hoạch thì nan giải bởi kiến trúc sư không phải là người quyết định kiến trúc. Nếu lái tầu là giám đốc nhà ga mà không phải là công nhân lái tầu, thì con tầu ấy chạy lung tung lắm. Xây dựng thành phố, cần bắt đầu tư quy hoạch dài hạn, xây dựng hạ tầng cơ sở, rồi mới đến nhà cửa. Ta thì đang làm ngược lại, xây nhà xong mới xây đường”.

Sự phát triển khập khiễng từ làng xã lên đến thành thị mà truyền thông đang dùng mỹ từ “đô thị thông minh”, thực chất chỉ như ông Phan Cẩm Thượng ví von: “Bản thân các thành phố ở ta giống như một cái làng to, cư dân ở đó chưa hẳn là công dân đô thị, mà mới là người làng ra phố, sinh hoạt, thói quen vẫn như người nông dân”.

Hiện đại hóa, đô thị hóa làng xã là xu thế tất yếu. Với văn minh lúa nước thì thi duy về sự thay đổi chỉ là hoán đổi vị trí những thứ thân thuộc gắn bó “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Đó không là sự phát triển mà là sự bền chắc của tư duy tiểu nông thuộc văn minh lúa nước.

Văn hóa nảy sinh cùng với nó chiếu chèo, gánh tuồng, hát giao duyên, chuyện kể bên bếp lửa. Chúng ta đã chủ động phát triển, xây nhiều nhà hát, bảo tàng văn hóa, rất nhiều lễ hội dân gian bùng nổ như pháo hoa.

Nhưng hiệu quả thì nhà hát không sáng đèn, bảo tàng vắng người, nhiều công trình văn hóa phải chuyển đổi một phần sang kinh doanh chỗ bán bia, bán đồ ăn… Nhịp sống nông nghiệp tuân theo mùa vụ trồng cấy đã bị thay thế bởi nhịp sống công nghiệp quay đều đặn như cỗ máy. Tư duy tiểu nông đã hết thời nhưng chưa đi khuất bóng, tư duy công nghiệp, tư duy công nghệ lại lừng chừng chưa đến kịp, khoảng trống đang chờ được lấp đầy.

Ông Phan Cẩm Thượng cho rằng: “Nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường, nhưng hoạt động văn hóa, thể thao thì chưa, phần lớn vẫn chờ đợi bao cấp. Trong khi trên thế giới, văn hóa thể thao đều là hoạt động kinh tế, còn nếu không chỉ là sự giải trí của từng cá nhân tự lo”.

Theo TỪ NỮ TRIỆU VƯƠNG / VIETNAMNET

Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam

Hoàng văn Chí 1913-1988

Một việc phi thường mà không một sử gia nào có thể giải thích một cách thoả đáng – mặc dầu đã nghiên cứu rất nhiều – là: tại sao, sau hàng ngàn năm đô hộ, dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hoá, và Việt Nam vẫn còn là một quốc gia biệt lập.

Joseph Buttinger (The Smaller Dragon)

Việt Nam là một phần đất của Á châu. Vị trí địa lý của Việt Nam đối với lục địa Á châu quyết định một phần lớn tiền đồ cũng như sứ mạng mà lịch sử đã giao phó cho dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm nay.

Chúng ta hãy so sánh Âu châu. Âu châu là một đơn vị địa lý duy nhất, không núi cao, sông không rộng nên trong nội địa Âu châu văn hoá thường được trao đổi và các nòi giống thường được pha trộn một cách tương đối dễ dàng. Địa lý Á châu có một điểm trái ngược với Âu châu. Lục địa Á châu bị dãy núi Hi-ma-lay-a, và tiếp theo là dãy Trường Sơn phân chia thành hai đơn vị địa lý văn hoá riêng biệt. Đơn vị phía Bắc thuộc ảnh hưởng Trung Quốc, đơn vị phía Nam chịu ảnh hưởng Ấn Độ.

Việc phân chia địa lý này có rất nhiều ảnh hưởng. Trong khi một vài tư tưởng và đạo lý có thể truyền bá từ Nam lên Bắc và một vài bộ lạc có thể từ từ di chuyển từ Bắc xuống Nam, qua dẫy Hi-ma-lay-a, dãy núi này vẫn là một “Vạn lý trường thành” chặn đứng không cho bên nào tấn công quân sự bên nào. Chính nhờ vậy mà Ấn Độ và các quốc gia khác thuộc Nam Á đã duy trì được nền văn hoá, tổ chức xã hội và chính trị riêng của họ, không bị văn hoá Hán tộc xâm nhập và không hề bị binh mã của “Thiên triều” quấy nhiễu. Ngay cho tới ngày nay, dãy trường thành này vẫn đóng một vai trò tối quan trọng. Nếu một ngày kia Ấn Độ và Trung cộng có thể thoả thuận công nhận giới tuyến Mac Mahon là biên giới thiên nhiên giữa hai nước, và nếu Hoa Kỳ đủ sức bảo vệ Việt Nam Cộng hoà và duy trì một nền trung lập chân chính ở Lào thì dãy Hi-ma-lay-a-Trường Sơn, chạy dài từ Kashmir ở phía Tây đến Việt Nam ở phía Đông, sẽ là bức bình phong đứng giữa hai khối: khối Cộng sản và khối Không cộng sản trên lục địa Á châu. Chỉ vị kỵ binh của Hán, Nguyên, và Thanh triều không hề vượt qua dãy núi này, vì không vượt nổi, nên nhiều chính khách ở Nam và Đông Nam Á đã nhẹ dạ tin tưởng ở cái mà họ mệnh danh là “tình hữu nghị cổ truyền với Trung Quốc”. Khi họ đề ra thuyết trung lập và sống chung hoà bình, họ đã trông cậy quá nhiều vào dãy núi này coi như một cái mốc che chở cho xứ sở của họ.

Nhưng những biến cố gần đây đã chứng tỏ rằng bức trường thành thiên tạo này không còn hiệu nghiệm như xưa, không chặn nổi sự xâm nhập và cả những cuộc tấn công quân sự của cộng sản. Về phía Tây thì Ấn Độ hiện đương lo phòng thủ biên thuỳ Ấn-Hoa, còn về phía Đông, Hoa Kỳ đương ra sức bảo vệ Việt Nam Cộng hoà và Thái Lan khỏi bị rơi vào tay cộng sản. Nhưng so sánh thì các nước ở phía Đông bị đe doạ nhiều hơn các nước ở phía Tây, vì dãy Trường Sơn phân cách Lào và Việt không cao và hiểm trở bằng dãy Hi-ma-lay-a phân cách Ấn Độ và Tây Tạng. Hơn nữa, Bắc Kinh nối liền với Hà Nội bằng một đường xe lửa, mà trái lại, đường bộ từ Bắc Kinh đến Lhasa, thủ đô Tây Tạng, thì khó khăn, hiểm trở. Vì vậy nên hiện nay cũng như từ ngàn xưa, Trung Quốc vẫn coi Việt Nam là con đường thuận tiện nhất cho mọi cuộc Nam tiến.

Nhìn vào bản đồ hai nước (trang 16), chúng ta có thể ví Trung Quốc với một cái loa phễu khổng lồ, mà Việt Nam là cái cuống phễu vừa hẹp vừa dài. Hình ảnh cái phễu khổng lồ trên đây có thể giải thích một phần lớn đặc điểm của nền bang giao Hoa-Việt, nếu chúng ta hình dung Trung Hoa như một chất lỏng chứa đựng trong loa phễu, và suốt trong lịch sử lúc nào cũng muốn chảy dọc theo cái cuống phễu để tràn xuống những miền đồng bằng phì nhiêu thuộc Đông Nam Á. Lịch sử đã giao phó cho Việt Nam nằm ở đầu cuống phễu, một trách nhiệm nặng nề: ngăn chặn không cho quân lực Trung Hoa tràn qua để xuống tới các đồng bằng kể trên. Dân tộc Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ ấy, và đã đánh bật trở lại tất cả các cuộc chinh phạt liên tiếp của các triều đại, Hán, Nguyên, Minh, Thanh, đặc biệt nhất là các đoàn kỵ binh hùng hậu của Hốt Tất Liệt mà từ Đông sang Tây không một quốc gia nào kháng cự nổi. Hoàn thành được nhiệm vụ lịch sử kể trên, dân tộc Việt Nam không những đã bảo toàn được nền tự chủ của mình, mà còn giữ cho tất cả các dân tộc khác ở Đông Nam Á khỏi bị Hán hoá.

Theo Hán sử thì ngày xưa, ở phía Nam sông Dương Tử có một trăm bộ lạc, gọi là Bách Việt. Các bộ lạc này đều bị Hán hoá hoàn toàn, bắt đầu từ cuộc chinh phạt của Tần Thuỷ Hoàng, thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch. Theo nhiều học giả chuyên về nhân chủng và phong tục học thì phần lớn các bộ lạc này thuộc chủng tộc Inđônêsia. Dân tộc Việt Nam cũng thuộc về khối này. Theo một truyền thuyết – một truyền thuyết đã trở thành định kiến – nhiều người Việt Nam hiện còn tin rằng tổ tiên của họ ngày xưa cũng là một trong các bộ lạc Bách Việt, nhưng đã may mắn thoát khỏi nạn Hán hoá mà tất cả các bộ lạc khác phải chịu.

Về truyền thuyết này, có một câu chuyện khá lý thú đáng được ghi lại. Sau cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911), và sau khi nhường chức Tổng thống cho Viên Thế Khải. Ông Tôn Văn sang viếng thăm Nhật Bản, với tư cách là đảng trưởng Quốc dân Đảng Trung Hoa, và được ông Khuyển Dương Nghị, đảng trưởng Quốc dân Đảng Nhật, thết tiệc khoản đãi. Giữa bữa tiệc, lừa khi ông Tôn Văn bất ý, ông Khuyển Dưỡng Nghị đột nhiên hỏi: “Tôi được biết tiên sinh đã có dịp qua Hà Nội, xin tiên sinh cho biết tôn ý về dân tộc Việt Nam?” Bị hỏi một cách bất thình lình, ông Tôn Văn đáp: “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ lại bị người Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai”. Được dịp, ông Khuyển Dưỡng Nghị nói tiếp: “Về điểm này tôi xin phép không đồng ý với tiên sinh. Ngày nay họ thua người Pháp, vì họ thiếu khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử thì trong số Bách Việt chỉ có họ là thoát khỏi, không bị Hán hoá. Tôi tin rằng một dân tộc đã biết tự bảo vệ một cách bền bỉ như vậy thì thể nào sớm muộn cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”. Ông Tôn Văn đỏ mặt không trả lời vì biết mình đã nói hớ. Ông hiểu ý ông Khuyển Dưỡng Nghị muốn châm chọc, cho rằng ông là người Quảng Đông, tổ tiên cũng là “Việt” nhưng kém xa dân tộc Việt Nam vì đã bị đồng hoá hoàn toàn, không còn chút gì là “Việt” nữa. Sau buổi tiệc, ông Khuyển Dưỡng Nghị gọi dây nói mời mấy học sinh Việt Nam tị nạn ở Nhật đến kể chuyện cho nghe tỏ ý hớn hở đã thắng nhà chính khách Trung Hoa trong cuộc đối thoại. Trong số những người được ông Khuyển Dưỡng Nghị mời đến và thuật lại câu chuyện có cụ Lê Dư. Chính cụ Lê Dư đã kể lại câu chuyện này cho tác giả.

Trong hơn hai ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã giữ một vai trò y hệt dân Sparte ở ải Thermopile. Công nghiệp của dân tộc Việt Nam đối với các lân bang ở Đông Nam Á chưa được các sử gia công nhận một cách đầy đủ. Có một điểm cần nêu lên là những Hoa kiều hiện nay đang sống đông đảo ở Singapore, Malaysia và Inđônêsia đều tới định cư ở những nơi này bằng đường biển, và mới gần đây. Họ được di cư tới các xứ này một cách dễ dàng vì các chính quyền thực dân Anh, Pháp, Hà Lan thấy họ cần cù và khéo hơn dân bản xứ.

Trở lại hình ảnh cái phễu khổng lồ, chúng ta có thể hình dung dân tộc Việt Nam như một cái nút bông ngăn chặn quân lực Trung Hoa không cho tràn qua, nhưng vẫn để văn hoá Trung Quốc, ví như nước trong, thấm dần qua cái cuống phễu. Dân tộc Việt Nam thấm nhuần nền văn hoá phong phú này và sử dụng nó như một lợi khí để tự bảo vệ, và đồng thời Nam tiến chinh phục Chiêm Thành. Nước này bị xâm chiếm theo kiểu tằm ăn lá dâu và biến khỏi lịch sử năm 1697. Sau khi đã tiến đến miền cực nam của bán đảo Đông Dương, dân tộc Việt Nam bắt đầu vòng quanh dãy núi Trường Sơn để tiến vào nội địa Cam-bốt, nhưng muộn quá, vì người Pháp đã tấn công và chặn lại bắt đầu từ năm 1858. Mặc dầu là nạn nhân của đế quốc Trung Hoa, người Việt đã có tinh thần đế quốc không kém ai, và dân Cam-bốt thực sự đã chịu ơn người Pháp cứu họ khỏi bị Việt hoá, mãnh liệt không kém Hán hoá.

Về ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, có hai điểm đáng được nêu lên một cách khách quan: đấy là thái độ của thượng lưu trí thức Việt Nam đối với Trung Hoa và nền văn hoá Hán tộc.

Nói chung thì người Việt vẫn coi người Tầu là kẻ thù lịch sử (mười lăm cuộc xâm chiếm trong hai ngàn năm, và một ngàn năm Bắc thuộc), nhưng mỗi khi có nội biến hay ngoại xâm, thường có nhiều người vội vã chạy sang Trung Quốc để khẩn cầu ngoại viện; và mỗi lần như vậy là một lần đại binh mã Trung Quốc kéo sang và ngang nhiên chiếm đóng cho tới khi bị đánh bật ra khỏi.

Gần đây, ông Hồ Chí Minh có nhận viện trợ của ông Mao, nhưng, để bào chữa thái độ của ông, ông nói: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc bao giờ cũng coi nhau như anh em. Chỉ có phong kiến Trung Quốc là kẻ thù của cả hai”, lý luận của ông Hồ rất thông, nhưng giới trí thức kháng chiến thường không chấp nhận. Họ phê bình là nguỵ biện.

Một điểm thứ hai đáng được nêu lên là từ ngàn xưa sĩ phu Việt Nam thường ngưỡng mộ văn hoá Trung Quốc một cách quá mức. Ngay trong thời kỳ tự chủ, các nho sĩ Việt Nam thường học thuộc lòng từng câu, từng chữ, trong các kinh, các sách của các vị “thánh hiền” Trung Quốc mà không hề suy luận, phê phán. Họ sùng bái văn học Trung Quốc đến nỗi họ gọi “chữ Nho” – chữ của người Tầu – là “chữ ta”, mà chính tiếng Việt, họ lại gọi là “tiếng nôm”. Vì quá lệ thuộc vào nền văn hoá Trung Quốc nên ngay trong thời đại tự chủ, Việt Nam vẫn là một chư hầu văn hoá của nước láng giếng phương Bắc. Cũng vì vậy mà số phận Việt Nam bị gắn liền vào số phận Trung Quốc. Cả hai đều bị phá sản trước sự tấn công của các học thuyết Tây phương và Mác-xít.

Để sáng tỏ thêm vấn đề, chúng ta có thể đối chiếu Việt Nam với Nhật Bản. Trước kia cả hai đều là đệ tử của nền văn hoá Trung Quốc, nhưng dù vậy, thái độ của mỗi nước đối với Trung Hoa có khác. Trong khi các sĩ phu Việt Nam coi trọng văn học Trung Quốc như chính của nước mình thì người Nhật, vì là dân đảo quốc, vẫn coi Trung Quốc là ngoại bang và triết học Trung Quốc là một thứ hàng nhập cảng. Vì vậy mà người Nhật duy trì được tinh thần phê phán, có thể lựa chọn và hấp thụ một số học thuyết cũng xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng bị Trung Quốc coi là tà thuyết và bác bỏ. Trong số những học thuyết này có học thuyết Lương tri của Vương Dương Minh (1472-1528) mà các triết gia cận đại coi là một giải thích Khổng giáo hướng theo thực tế.

Học thuyết này được truyền sang Nhật vào thế kỷ thứ 17. Chính vì đã hấp thụ được học thuyết Lương tri mà nho sĩ Nhật giữ được một phần nào sáng suốt, không đến nỗi quá hủ lậu như giới Tống nho Trung Quốc và Việt Nam, và do đó, họ dễ dàng công nhận giá trị của kỹ thuật Tây phương. Nhờ sự phản ứng kịp thời của sĩ phu Nhật Bản mà các lãnh chúa Nhật phải thay đổi chính sách, giao thương với Tây phương và thực hiện cuộc cách mạng Minh Trị (1876) tiến đến công cuộc canh tân toàn bộ đời sống.

Cũng nên nhắc lại là cũng vào thời kỳ này, học thuyết Lương tri đã có cơ truyền sang Việt Nam nhưng không thành. Hồi đó một môn đệ của Vương Dương Minh là Chu Chi Dư hiệu là Thuần Thuỷ, trốn khỏi Trung Quốc sau khi Trung Quốc bị Mãn Thanh chiếm đóng, và sang tị nạn ở Hội An. Chúa Hiền biết ông là người hay chữ nên thường mời ông vào cung đàm đạo về văn chương chữ nghĩa. Đấy là một dịp rất tốt cho nhà triết học Trung Hoa truyền bá học thuyết của mình, nhưng điều rất không may là chúa Hiền không đủ học vấn đề nhận định những sai lầm của học thuyết Chu Hy và công nhận những điểm hay của học thuyết Lương tri, và trong khi đó thì các triều thần, thấy chúa coi trọng ông Chu, cũng tìm cách làm thân, nhưng chỉ hỏi ông về lý số. Sau khi trú ngụ trên đất Việt Nam trong mười năm mà không truyền bá được tư tưởng của mình, Chu tiên sinh bèn nghe lời một lái buôn Nhật, lên thuyền của họ di cư sang Nhật. Ông là một trong những người đã có công truyền bá học thuyết Vương Dương Minh trên đất Nhật.

Chỉ vì tôn sùng văn hoá Hán tộc một cách quá đáng mà mãi cho tới khi mất nước hàng chục năm rồi, các nho gia Việt Nam mới nhận thấy Tây phương cũng có một nền văn hoá không kém và đáng được noi theo. Cho đến cuối thế kỷ thứ 19, họ nhất định không chịu quan sát thế giới bên ngoài và không bận tâm đến những phát minh khoa học và kỹ thuật của Tây phương. Trong khi dân tộc Phù tang hối hả canh tân đảo quốc của họ thì vua Tự Đức vẫn điềm nhiên xướng hoạ với mấy vị đại thần. Tám bản “điều trần” của Nguyễn Trường Tộ (1853-1871) lần lượt bị bác bỏ, mà trong khi ấy thì Pháp chiếm Hội An (1858), Nam Việt (1862-1867), Hà Nội (1873-1882) và hoàn thành cuộc đô hộ năm 1884.

Nhìn lại lịch trình tiến hoá của dân tộc Việt Nam chúng ta phải công nhận với sử gia Trần Trọng Kim là sở dĩ Việt Nam giành lại được quyền tự chủ và xây dựng được một cơ cấu xã hội, chính trị, có nền tảng vững chắc, là nhờ ở sự hấp thụ và tiêm nhiễm văn hoá Hán tộc, mà bộ phận chính là Khổng giáo với tinh thần duy lý. Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhận định thêm rằng Việt Nam chỉ thực sự phú cường dưới triều đại Lý, Trần, là thời kỳ mà Phật giáo được coi là quốc giáo; và trái lại, Việt Nam bắt đầu suy nhược từ cuối Trần, sau khi Khổng giáo đã chiếm địa vị độc tôn, đánh bật Phật giáo ra ngoài vòng chính trị. Theo thiển ý của tác giả thì có hai nguyên nhân chính. Một là từ Tống trở đi, học phái Chu Hy được coi là học phái chính thống đã đưa Khổng giáo vào một khuôn khổ chật hẹp, hủ lậu và hai là chế độ thi cử dành cho Khổng giáo không đủ sức hấp dẫn để huy động quảng đại quần chúng tham gia kháng chiến. Vì vậy nên những vị anh hùng cứu quốc từ Lê Lợi đến Nguyễn Huệ, đều không phải là những người xuất thân ở cửa Khổng sân Trình. Nói về lịch sử hiện đại thì mất nước với Pháp vào cuối thế kỷ trước, và đất nước tan tành trong hoàn cảnh hiện nay cũng chung một nguyên nhân: Tinh thần nô lệ đối với “Trung Hoa vĩ đại”. Về điểm này sử gia Trần Trọng Kim đã phê bình như sau:

“… Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã là của Tầu là hay, là tốt hơn cả: từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tầu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tầu là giỏi, không bắt chước được là dở”.

Những sự việc trình bày sau đây sẽ chứng minh hậu quả tai hại của tinh thần hướng ngoại kể trên.

Trích trong ”Từ thực dân đến cộng sản – Hoàng Văn Chí ” / Vinadia .org