Nụ cười trên những nẻo đường quê hương

Tập sách ảnh “Cười” là kết quả của hơn 10 năm tác nghiệp trên mọi nẻo đường đất nước của nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong.

Sach anh Cuoi anh 1
Với 108 tác phẩm được lựa chọn từ hơn nghìn file ảnh để đưa vào tập sách Cười, điều đầu tiên, Trần Thế Phong muốn chia sẻ đến mọi người là nụ cười không chỉ giúp chúng ta thêm hạnh phúc, xóa đi những khác biệt để người với người gần nhau hơn. Nó còn tạo ra niềm cảm hứng và nguồn năng lượng tích cực mỗi ngày.
Sach anh Cuoi anh 2
Trong hơn 10 năm tác nghiệp trên khắp những nẻo đường quê hương đất Việt, Trần Thế Phong ghi lại những nụ cười hồn nhiên, lạc quan, ngây thơ của mọi lứa tuổi, từ các em nhỏ đến các cụ già.
Sach anh Cuoi anh 3
Trong Cười, bạn đọc có thể nhận ra một số người nổi tiếng và nụ cười của họ được đặt cạnh tất cả nhân vật đời thường khác, không có khoảng cách. Với nhiếp ảnh gia Thế Phong, nụ cười cũng như hạnh phúc, mọi người dù giàu hay nghèo, có quyền được sở hữu, tự tạo niềm vui riêng cho bản thân. Trong ảnh là nghệ sĩ harmonica, quái kiệt Tòng Sơn (92 tuổi) luôn lạc quan yêu đời với nụ cười hiền hòa (chụp tại TP.HCM năm 2021).
Sach anh Cuoi anh 4
Niềm vui với nụ hôn hạnh phúc của vận động viên khuyết tật bơi lội, chú rể Nguyễn Hồng Lợi và nhà thiết kế, cô dâu Phan Thị Trường Nghĩa (chụp tại TP.HCM năm 2020).
Sach anh Cuoi anh 5
Nụ cười vui sướng của người phụ nữ mưu sinh tại Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 6
Nụ cười hồn nhiên của bé gái dân tộc Mông ở Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 7
Chia sẻ về những bức ảnh, Trần Thế Phong cho biết: “Tôi không phân biệt nụ cười của ai đẹp hơn, không đặt lên hay hạ xuống theo địa vị. Nụ cười đơn giản nhất là khi lòng sướng vui, tâm bình an, lòng nhẹ bẫng”. Trong ảnh là những nụ cười ngây thơ, hồn nhiên của những em nhỏ tại vùng nắng gió Ninh Thuận.
Sach anh Cuoi anh 8
Ảnh niềm vui trong giờ học của hai bé trai tại lớp học vùng cao Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 9
Niềm vui với bữa ăn giản đơn cho một ngày mới.
Sach anh Cuoi anh 10
Hai em bé hồn nhiên vui chơi cùng chiếc xe thô sơ (chụp tại Phan Rang, năm 2013).
Sach anh Cuoi anh 11
Những nụ cười thân thiện, hiếu khách của người Việt (chụp tại TP.HCM năm 2011).
Sach anh Cuoi anh 12
Chia sẻ lý do xuất bản tập sách ảnh Cười và tổ chức một triển lãm ảnh cùng tên tại Đường sách TP.HCM, Trần Thế Phong cho biết: “Tôi muốn gửi đến công chúng những hình ảnh về người Việt Nam luôn vui vẻ, lạc quan. Cười để yêu cuộc sống, cười là món ăn tinh thần, cười để vượt qua những khó khăn như hiện nay. Với Việt Nam, cười còn là niềm tự hào khi chúng ta đã cùng nhau phòng chống hiệu quả, vượt qua đại dịch một cách thần kỳ”.

Minh Châu & Quỳnh My / Zing

GS Hà Văn Tấn để lại di sản ‘nền tảng và kinh điển’

Di sản của Giáo sư Hà Văn Tấn là vô cùng to lớn

Giáo sư sử học Hà Văn Tấn (1937-2019) đã để lại một di sản không chỉ to lớn mà còn mang tính chất ‘nền tảng, kinh điển’ trong các lĩnh vực chuyên môn mà ông từng cống hiến, một Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam mới đây nói với BBC News Tiếng Việt.

“Sự nghiệp của Giáo sư Hà Văn Tấn để lại rất nhiều công trình nghiên cứu đã trở thành kinh điển, làm nền tảng cho hiểu biết về khoa học đối với lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ tiền sử và sơ sử,” hôm 29/11, Giáo sư Vũ Minh Giang, người đồng thời từng là Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) nói về người thầy vừa qua đời của mình.

“Hầu hết những công trình nghiên cứu về thời kỳ này đều trên cơ sở nghiên cứu của Giáo sư Tấn, cái di sản này rất là quan trọng. Hay là trong lịch sử trung đại Việt Nam, cuộc kháng chiến chống đế chế Mông – Nguyên, tôi thấy cũng chưa có công trình nào vượt qua.

“Vừa rồi viết bộ sách vẫn quen gọi là quốc sử, tôi là chủ biên hai tập, trong đó có tập về thời Trần, khi viết về cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, tất nhiên có nhiều tài liệu mới bổ sung, nhưng vẫn trên cơ sở cuốn sách kháng chiến chống Nguyên – Mông mà Giáo sư Tấn đã viết từ cách đây mấy chục năm rồi.

“Nhưng tôi nghĩ cái mà Giáo sư Tấn muốn thế hệ sau tiếp tục, mà cái này tôi thấy là chúng tôi vẫn đang làm được, tức là nghiên cứu lịch sử Việt Nam phải gắn với lịch sử thế giới và khuyên cả những người nghiên cứu lịch sử thế giới cũng phải luôn luôn tham chiếu với lịch sử Việt Nam.

“Bởi vì có một thời kỳ rất dài nghiên cứu lịch sử thế giới và Việt Nam không gắn với nhau. Việc dạy lịch sử thế giới là cứ dạy lịch sử thế giới, thế còn (dạy sử) Việt Nam cứ đi theo các tuyến của Lịch sử Việt Nam.

“Nhưng mà từ lâu Giáo sư Hà Văn Tấn đã nói là muốn hiểu lịch sử sâu sắc, thì luôn luôn phải hiểu cái tọa độ khu vực và thế giới, mà Giáo sư hay nói là cái ‘context’ cái bối cảnh chung là thế nào, thì phải có được cái hiểu sâu sắc đó.”

Cũng từ Hà Nội, hôm 07/12, nhà nghiên cứu sử học và lý luận lịch sử Lê Văn Sinh, nguyên giảng viên Khoa Lịch sử, ĐHKHXH và Nhân văn tại Hà Nội, chia sẻ với BBC những gì ông mới viết khi suy ngẫm và hồi niệm về người thầy của mình:

“Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn bị một cơn đột quỵ nặng ngày 18/4/2001, khi mà sức làm việc của Ông còn tràn đầy năng lực sáng tạo. Đó là một tổn thất to lớn không thể bù đắp đối với nền học thuật nước nhà, trên con đường nhận thức sự biến đổi văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Giáo sư Hà Văn Tấn (trái) và Giáo sư Trần Quốc Vượng
Chụp lại hình ảnh,Giáo sư Hà Văn Tấn (trái) và Giáo sư Trần Quốc Vượng kiểm tra niên đại ngôi đình cổ nhất Việt Nam vào năm 2001 (hình tư liệu trên FB của Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên)

“Gần hai mươi năm trên giường bệnh, Ông đã không khuất phục số phận đen đủi giáng vào mình, vẫn chiến đấu kiên cường trên con đường truy tìm sự thật lịch sử, bản sắc văn hóa, đặc điểm tư tưởng, tôn giáo của các sắc dân sinh tụ trên đất Việt Nam. Đọc lời mở đầu ông viết cho cuốn sách Chữ Trên Đá Chữ Trên Đồng, xuất bản năm 2002 và Sự Sinh Thành Việt Nam xuất bản năm 2017, khiến ta kinh ngạc về sự uyên bác, thông tuệ của Ông.

“Hai mươi tuổi trở thành giảng viên đại học, hai hai tuổi khảo cứu, chú giải Dư Địa Chí, ba mươi tuổi viết Chống Nguyên Mông. Ông để lại cho hậu thế gần 300 công trình khảo cứu về các nền văn hóa xưa, về văn minh Sông Hồng, về lịch sử cổ trung đại Việt Nam, về lịch sử tư tưởng Việt, về triết học Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam, về lý luận sử học… Ở lĩnh vực nào, Ông cũng để lại dấu ấn của một trí tuệ trác việt. Ông nhất định là tài năng kiệt xuất, là nguyên khí hiếm hoi mà quốc gia có được.”

‘Nhà bách khoa thư và danh sư

Không chỉ gọi Giáo sư Hà Văn Tấn là một nhà khoa học ‘lỗi lạc’, nhà nghiên cứu Lê Văn Sinh cho rằng Giáo sư Tấn còn là một ‘danh sư’ và là ‘một nhà bách khoa thư’ với ‘bộ óc kiệt xuất’ của Việt Nam.

“Không chỉ lỗi lạc trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Thầy Hà Văn Tấn còn là bậc danh sư được các đồng nghiệp và học trò kính trọng, nể phục. Các bài giảng của Ông về bất kỳ lĩnh vực nào cũng mang lại một lượng thông tin mới mẻ, phong phú và hệ thống. Và hơn thế, chúng truyền cảm hứng say mê khám phá cho học trò.

“Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Thầy giảng hàng loạt chuyên đề – phương pháp luận sử học, sử liệu học, văn bản học, các trường phái triết học lịch sử phương tây, lịch sử sử học, triết học Ấn Độ – cho cán bộ trẻ khoa sử. Nhóm thành viên bộ môn Phương pháp luận Sử học gồm các anh Phạm Xuân Hằng, Trần Kim Đỉnh, Hoàng Hồng và tôi được khai tâm như thế. Thầy là cha đẻ ngành lý luận sử học hiện đại của đất nước.

“Năm 1988, trong bài điếu tiễn biệt Giáo sư Đào Duy Anh, Hà Văn Tấn ví thầy mình như một tòa lâu đài tri thức mà ông chỉ có thể soi vào đó qua một ô cửa. Có thể Ông khiêm cung giữ vững đạo thầy trò. Phải rất lâu nữa, đất nước mới xuất hiện những bộ óc kiệt xuất như các ông Đào Duy Anh – Hà Văn Tấn.

“Xin vĩnh biệt Thầy Hà Văn Tấn, một nhân cách lớn, một nhà bác học lớn, và có thể nhà bách khoa thư cuối cùng của Việt Nam.”

Nhà sử học, Giáo sư Hà Văn Tấn còn được biết đến là người có vai trò và đóng góp to lớn đa lĩnh vực khoa học, trong đó có đóng góp cho ngành khảo cổ học đương đại ở Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội trong dịp này giới thiệu trên trang mạng của mình một bài viết từ trước, vinh danh ông của tác giả Đỗ Lai Thúy, bài viết có đoạn:

Một bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn
Chụp lại hình ảnh,Một bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn đăng trên Tạp chí Tổ Quốc, thuộc Đảng Xã hội Việt Nam nhiều thập niên trước, từ cuối thế kỷ trước (tư liệu từ FB của PGS. TS. Trần Kim Đỉnh)

“Khảo cổ học đòi hỏi một hiểu biết rộng và những tri thức liên ngành. Bởi vậy, ngành đầu tiên mà Hà Văn Tấn phải lấn sang là Nhân học hình thể (Anthropologie Physique), đặc biệt là nghiên cứu về sọ. Ông đã đọc sách và tìm gặp GS. Đỗ Xuân Hợp (chuyên gia số 1, người ngay từ trước 1945 đã cùng với Huart viết nhiều sách về nhân học hình thể người Việt). Rồi toán học thống kê cũng vậy.

“Khi đọc các tài liệu cổ học và nhân học nước ngoài thường gặp những công thức thống kê khó hiểu, cáu tiết Hà Văn Tấn bỏ thời giờ học lại lý thuyết xác suất và thống kê, tham khảo các sách viết về phương pháp thống kê áp dụng trong sinh học, y học và sử học. Cũng như vậy với khảo cổ học Đông Nam Á tiền sử. Bởi, muốn nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam, không thể không hiểu biết khảo cổ học vùng Nam Trung Hoa và Đông Nam Á. Hà Văn Tấn phải đọc rất nhiều sách, tạp chí tiếng Anh, tiếng Pháp để cập nhật được tình hình sôi động của khảo cổ học khu vực này. Rồi những dịp sang Pháp, ông đều ngồi lỳ trong các thư viện, nhất là thư viện Bảo tàng Con người ở Paris để thu thập tài liệu về văn hóa và nhân chủng Đông Nam Á.

“Còn về tình hình khảo cổ học nam Trung Quốc, thì phần lớn Hà Văn Tấn phải đọc tư liệu của Hồng Kông, Đài Loan, bởi tài liệu của lục địa thì do thời tiết chính trị nên lúc có lúc không. Hà Văn Tấn thấy rằng trên thế giới có nhiều trường phái khảo cổ học, nên ông muốn tìm hiểu các nhà nghiên cứu thuộc các trường phái đó đã xây dựng lý thuyết của mình dựa trên những điểm xuất phát nào. Dĩ nhiên, có khác nhau mà cũng có giống nhau, nhưng quan trọng hơn là ông nhận thức được rằng trong khoa học không phải vấn đề nào cũng có thể quy về ý thức hệ.

“Có một điều đáng lưu ý là, mỗi khi khám phá và chinh phục được mảnh đất mới nào là Hà Văn Tấn để lại dấu ấn của mình trên mảnh đất ấy. Về nhân học hình thể, ông viết “Vấn đề người Indonesien và loại hình Indonesien trong thời đại nguyên thủy Việt Nam” được các nhà nhân chủng học nổi tiếng thời đó của Liên Xô là M.G.Lêvin và N.N. Cheboksarov đánh giá cao.

“Về toán học thống kê, có Ứng dụng thống kê toán học trong khảo cổ học, thậm chí còn có khóa trình giảng dạy Toán thống kê trong khảo cổ học cho sinh viên. Ở nhiều lĩnh vực khác cũng thế, Hà Văn Tấn không bao giờ học để học, mà học để ra sản phẩm dưới dạng này hoặc dạng khác. Từ đó, ông rút ra hai kinh nghiệm quý giá cho các nhà khoa học sau ông là “muốn học có kết quả môn nào thì phải biết gắn những điều đã học với nghiên cứu giảng dạy” và “say mê không đủ, phải bền gan, và có chút ít liều mạng, liều mạng một cách nghiêm túc!”.

‘Kiêu và học giả thuần thành

Không chỉ đề cập di sản khoa học, vai trò và đóng góp học thuật của Giáo sư Hà Văn Tấn, bài viết trên trang mạng của Đại học Quốc gia Hà Nội bởi tác giả Đỗ Lai Thúy cũng đưa ra bình luận về nhân cách, phong cách của học giả này.

“Nếu người ta chú ý đến cái bụi của Trần Quốc Vượng, cái nghiêm túc của Phan Huy Lê, thì ở Hà Văn Tấn người ta chú ý đến cái kiêu. Có lẽ, trong các xã hội thang bậc của chúng ta từ trước nay, tự kiêu là cái tính được người ta vừa yêu vừa ghét.

“Nhưng với Hà Văn Tấn thì hẳn người ta dễ cảm thông hơn. Trước hết vì ông giỏi và thắng thắn bộc lộ cái giỏi đó. Sau nữa, thái độ tự kiêu của ông là để đối lập, để vạch mặt cái kiểu tự kiêu giả để che dấu cái dốt thật.

Tứ trụ sử học
Chụp lại hình ảnh,”Tứ trụ” sử học từ trái qua: GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn, GS. Phan Huy Lê và GS. Đinh Xuân Lâm – tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Đào Duy Anh, năm 2004 (ảnh tư liệu của PGS.TS. Trần Kim Đỉnh)

“Cuối cùng, trong nhiều trường hợp tự kiêu trùng với tự trọng. Hiểu được giá trị của bản thân và kiên quyết gìn giữ nó cho bằng được. Hà Văn Tấn là thế đó!”

Còn trên trang Facebook cá nhân, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, nhà nghiên cứu từ Viện Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, cũng trong dịp này chia sẻ cảm tưởng về Giáo sư Hà Văn Tấn, không lâu sau tang lễ của cố học giả:

“Tứ Trụ: Lâm – Lê – Tấn – Vượng. Đó là bốn ông Thầy của Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

“Ai đặt ra danh ngữ Tứ trụ và từ bao giờ? Đến tận mùa hè năm 1997, chính ông Phan Huy Lê cũng thừa nhận: “Cho đến nay, tôi vẫn không biết rõ tự đâu và từ bao giờ, ra đời câu nói ‘Lâm – Lê – Tấn – Vượng, Tứ trụ đại thần’. Dĩ nhiên là từ sinh viên khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi qua các thế hệ sinh viên tốt nghiệp công tác ở khắp nơi lưu truyền lan rộng ra cả nước”.

“Trong 4 ông: Ông Lâm là một ông giáo làm sử. Mực thước và êm đềm! Ông Vượng là một nghệ sĩ. Ông làm sử như một nghệ sĩ. Hay ông là một nghệ sĩ làm sử? Ông Lê là một chính khách. Ông làm sử như một chính khách. Hay ông là một chính khách làm sử?

“Ông Tấn là một học giả thuần thành. Không bị chính trị chi phối. Không bị thiên kiến. Không cảm xúc chính trị. Không bị thời tiết chính trị làm xổ mũi.

“Vì là sử gia thực thụ, nên ông Tấn ham học hỏi nhất, biết nhiều nhất. Cái gì cũng làm đến cùng kỳ lý, vừa sâu rộng, vừa chắc chắn. Và đương nhiên Ông có phông rộng và chắc nhất. Văn phong của Ông Tấn rất khuôn thước, đĩnh đạc, chắc chắn; rất sang trọng và đầy quyền uy.

“Ông Tấn ít xuất hiện trên truyền thông, và chỉ lên tiếng khi có vấn đề liên quan đến chuyên môn.

“So trong 3 đám tang các ông Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn thì đám tang ông Tấn là vắng hơn cả. Đám tang ông Vượng, người ta đến viếng là vì con người quảng giao và nghệ sĩ của ông.

“Đến viếng ông Lê là vì chính bản thân người đến viếng, phần lớn là quan chức (kể cả các học trò của ông). Và vì thế báo chí đưa bài và tin rất dày và chi tiết. Đến viếng ông Tấn chỉ có giới học thuật nhỏ bé. Họ lặng lẽ đến tiễn biệt Ông vì biết ơn ông và hiểu sự nghiệp vĩ đại của ông. Ông là một nhà bác học thực sự!,” Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện chia sẻ quan điểm riêng của ông trên trang mạng cá nhân.

  • Quốc Phương / BBC News Tiếng Việt

Giai thoại để đời về thói ‘ngông’ của Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Công Trứ là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam, nổi tiếng là vị quan thanh liêm, tài trí hơn người nhưng có lối sống tự do và vô cùng ngang tàng, ngạo nghễ.

Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh ngày 1/11 năm Mậu Tuất (1788) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Theo một số tài liệu, ông sinh ở Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Sống trong cảnh nghèo khổ nhưng ngay từ bé, cậu bé Củng đã nuôi ý tưởng làm nên nghiệp lớn với tuyên bố: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”.

Năm 1819, Nguyễn Công Trứ thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, bấy giờ đã 41 tuổi. Ông là người văn võ song toàn, làm tới chức Uy Viễn Tướng công Binh bộ Thượng thư nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, hạ tới ba bốn cấp.

Thông minh từ nhỏ

Theo một số giai thoại, ngay từ khi lọt lòng mẹ, Củng đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không chịu mở mắt hay khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác dù người nhà đem hết nồi đồng, mâm thau khua gõ liên hồi. Đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời, lắc đầu thì cậu mới cất tiếng khóc đầu tiên oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở nhỏ, cậu bé Củng học rất giỏi, thông minh lại tinh nghịch, lém lỉnh, nổi tiếng “thần đồng”. Tài cao trí sắc, đọc rộng nhớ nhiều, những câu đối đáp lỗi lạc của cậu bé Củng gây cho mọi người nỗi kinh ngạc và thú vị.

Khoảng 10 tuổi, Củng theo cha trở về Hà Tĩnh quê nội. Trong làng có ông Đồ Trung tốt bụng, đứng ra mời thầy đồ về nuôi trong nhà để trẻ con của làng tới học, trong đám học trò đó có Củng.

Một hôm, khi cả lớp đang ngồi học, ông chủ nhà chợt nổi hứng đi vào và xin thầy cho phép ra vế đối. Được thầy đồng ý, ông Đồ Trung nói: “Ta có câu đối này, trò nào đối hay và nhanh sẽ được thưởng một quan tiền”.

Rồi ông ta chỉ về phía cây đại đứng ngoài vườn, đọc vế đối: “Ngoài vườn cây đại nở hoa đại”.

Các học trò ngồi nhìn nhau, mặc dù rất thèm quan tiền nhưng không ai tìm được vế đối lại. Thấy cả lớp im lặng, thầy học lên tiếng giục, chỉ có cậu bé Củng ra vẻ ngập ngừng khó nói. Thầy hỏi: “Trò Củng, sao không đối đi?”. Củng khép nép thưa: “Thưa, con sợ bị quở phạt ạ”.

Ông chủ nhà khuyến khích ra vẻ rộng lượng: “Trò cứ đối, nếu hay thì ta sẽ thưởng cho, còn nếu có điều gì sơ suất thì ta và thầy cũng không bắt lỗi trò đâu”. Được lời, Củng nghiêm chỉnh đứng dậy đọc: “Trong buồng ông Trung ấp bà Trung” ạ.

Vế đối rất chuẩn, “trong” đối với “ngoài”, “Đại” đối với “Trung”, và “nở” thì đối với “ấp” khiến ông Đồ Trung đỏ mặt im lặng. Thầy trò cả lớp được một trận cười nghiêng ngả và tất nhiên Củng được nhận một quan tiền.

Lúc còn trẻ, Nguyễn Công Trứ là người rất tinh nghịch, thường hay lảng vảng vào các miếu long thần, thổ địa ở làng để chơi đùa, vẽ bậy. Có lần lại bê cả xôi, chuối, rượu, thịt ở bệ thờ về đánh chén, khiến thủ từ cứ nghi hoặc mà chẳng dám kêu ca.

Một buổi tối, Nguyễn Công Trứ lẻn vào miếu lấy rượu, thịt xuống nhắm say khướt, rồi lại nâng chén ghé mãi vào miệng long thần. Thấy pho tượng cứ ngồi yên không nhúc nhích, ông tức mình vật ngửa tượng ra đổ rượu vào mồm, đánh cho mấy bạt tai rồi mới đi về.

Sáng mai tỉnh dậy, không biết là ông hối hận hay nghĩ thế nào mà lại làm bài thơ rồi đem ra dán ở miếu để tạ long thần: “Hôm qua trời tối tới chơi đây / Ðánh phải long thần mấy cẳng tay / Khi tỉnh thời nào ai có dám / Say!”

Bấy giờ ông từ mới vỡ lẽ, nhưng thấy anh học trò có lời thơ sắc sảo, hài hước, cũng bật cười, chỉ răn đe qua loa chứ không đem ra bắt vạ.

Một lần khác, gần làng Uy Viễn của Nguyễn Công Trứ có một ngôi chùa, vị sư trụ trì ở đây là người tài cao học rộng nhưng rất kiêu ngạo, hiếu thắng. Ông này thường tự cho mình là nhất thiên hạ, xem thường cả Nho Củng vốn từ lâu đã nổi tiếng thần đồng khắp vùng. Biết vậy, ông cũng hiếu thắng tìm dịp gặp thử tài cao thấp.

Nhân một hôm rảnh học từ tỉnh thành về thăm nhà, Nho Củng bèn tìm tới chùa nọ chơi. Đến nơi, thấy ngoài sân trong điện không có ai, Củng lại đang khát nên đi thẳng vào bếp chùa để tìm nước uống, thì gặp sư trụ trì đang lúi húi bên bếp. Quay lại nhìn người lạ, vị sư buông ra một câu không mấy hiếu khách: “Khách khứa kể chi ông núc bếp”.

Cậu Củng nhìn quanh, thấy một cái vại (đồ bằng sành dùng để muối cà hay d­ưa) ở góc bếp, liền ứng khẩu đối lại: “Trai chay mà có vại cà sư”.

Câu này thực ra được nói lên rất vô tình, nhưng vị sư kia lại cho rằng Nho Củng thâm ý châm biếm mình có tư­ tình với bà vãi, nên chắp tay nhìn lên tượng Phật đọc một câu như thanh minh cho sự đứng đắn của mình: “Xin chứng minh cho, Nam mô A Di Đà Phật”.

Nho Củng chỉ vào cái kiềng trên bếp và cất tiếng đối lại: “Có giám sát đó, Đông Trù Tư­ mệnh Táo quân”.

Đông trù Tư ­mệnh Táo quân là thần coi bếp, cầm giữ bản mệnh của gia chủ. Bên mời “Phật”, bên nhờ “thần” ra minh chứng, quả thực là hay, lại “Đông” đối với “Nam”, “Quân” đối với “Phật” thì thật là tài.

Đến đây, vị sư vừa tức vừa hoảng, không ngờ gặp phải đối thủ trẻ tuổi mà cao cường đến vậy, liền hạ một chiêu cuối cùng, vừa vỗ ngực ta đây vừa hăm doạ đối thủ: “Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục”.

Nho Củng cũng đáp ngay: “Hay tám vạn tư­ mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người”. Vị sư đành nín thinh, chấp nhận thua cuộc, từ đó không dám cao ngạo nữa.

Lại có người kể, chuyện chưa dừng ở đấy. Nho Củng đắc thắng ra về, nhưng vừa bước đến giữa sân thì hai con chó nhà chùa xổ ra cắn. May có chú tiểu ngăn mãi mới được. Nho Củng dừng lại nhìn quanh chùa rồi ngâm hai câu như một lời nhắn gửi: “Bụt cũng hiền lành, sư cũng khá / Còn hai con chó chửa từ bi”.

Cao ngạo cả khi về già

Gần 30 năm tận tâm lăn lộn chốn quan trường, Nguyễn Công Trứ mấy lần dâng sớ xin nghỉ hưu nhưng vua vẫn không cho. Khi đã qua tuổi thất thập, ông lại lần nữa dâng sớ lên vua Tự Đức vừa lên ngôi và lần này thì được phê duyệt về nghỉ với chức quan Phủ doãn Thừa Thiên.

Ngày “nhận sổ hưu” với 170 quan tiền, Nguyễn Công Trứ liền rầm rộ tổ chức một bữa tiệc chia tay bạn bè, đồng liêu trên dưới. Gia nhân tấp nập mượn nhà, mua sắm lễ vật, cơm rượu đề huề và thật nhiều chó, những 40 con chó đủ loại sắc thể.

Các quan khách kéo đến rất đông, ngửi mùi cầy chế biến thơm lừng, chỗ này chỗ kia dậy tiếng trầm trồ to nhỏ: “Ôi, thịt chó, chó, nhiều quá”. Dường như chỉ chờ có vậy, cụ Thượng hưu đứng dậy vuốt râu dõng dạc và chỉ quanh khắp lượt nói: “Dạ thưa, đúng như vậy đấy ạ. Đúng là trên dưới, trong ngoài, lớn bé, tất cả đều là chó hết cả ạ”.

Về hưu nhưng cụ Thượng Trứ không ở lại làng Uy Viễn, mà vào ở một cạnh ngôi chùa trên núi Cảm Sơn, thuộc xã Đại Nại gần tỉnh Hà Tĩnh bây giờ và thường cưỡi bò vàng đạc ngựa đi chơi đây đó.

Người đời truyền tụng, để diễu và răn dạy những kẻ hay đàm tiếu những chuyện thị phi ganh ghét, cụ viết thơ lên chiếc mo cau rồi buộc sau đít bò. Nhiều người còn nhớ hai câu “Miệng thế khó đem b­ưng nó lại / Lòng mình chưa dễ bóc ai coi”.

Thiên hạ thấy vậy lại đua nhau bàn tán, kẻ bảo cụ chán đời, người bảo cụ ngạo thế. Cụ chỉ ngất ngưởng cười, nghêu ngao thơ, bất tận chơi mà chẳng bận lòng.­

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Tôn chỉ và sự hành động của Cộng Sản đảng

Trích trong cuốn ” Một cơn gió bụi – Trần Trọng Kim

Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ, là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa, cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của Các Mác và Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là được sung sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời. Còn về đường tín ngưỡng, thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác, Lê Nin, Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ.

Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tả đạo. Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì là người phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm. Vì vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế, là một chi cộng sản phản đối Sử Ta Lin, chủ Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế.

Vậy những tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín và chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm cho mình được mọi điều thắng lợi, sá chi những điều phúc họa thiện ác.

Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng. Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết. Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin là người mờ tối, là người mê muội. Vì có tư tưởng như thế, cho nên cha con, anh em, bè bạn không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của cộng sản và phục tòng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là người giỏi, người tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để thành lập xã hội mới. Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cương giới nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. Vì vậy cho nên bất kỳ nước nào đã theo cộng sản là phải phục tùng mệnh lệnh bên Nga, còn nước nào tuy theo chế độ cộng sản, nhưng còn muốn giữ tư tưởng quốc gia như nước Nam Phu Lạp Tư (Yougoslavie) bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài hội nghị của các nước cộng sản.

Cái phương thuật của đảng cộng sản bên Nga không khéo chỗ ở ấy, tuy nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế đô độc tài áp chế đời xưa, nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn thời xưa, và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một danh hiệu khác, để tự mình thống trị hết thiên hạ. Thành ra các nước đã theo cộng sản đều phải là những nước phụ thuộc nước Nga, cũng như bên Tàu ngày xưa các nước chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử. Thì ra trong thế gian này chẳng có gì là mới lạ. So chế độ cộng sản ở nước Nga ngày nay có khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàủ Có khác là ở những phương tiện theo khoa học và những mánh khóe hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá như thế, và cũng dùng những quyền mưu quỉ quyệt để thống trị hết cả các nước.

Ðảng cộng sản đã có cái tổ chức rất đúng khoa học, đảng viên lại giữ kỷ luật rất nghiêm, rất chịu khó làm việc và có tín lực rất mạnh. Ai theo đảng là đắm đuối vào chủ nghĩa của đảng, có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh được tuẫn tử vì đảng. Về sự hành động thì đảng cộng sản chuyên dùng những thủ đoạn quỉ quyệt, nên tuy có thắng lợi mà những người trí thức ít người theo. Cũng vì vậy mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà, trẻ con và những người lao động là hạng người dễ khuyến dụ, dễ lừa dối.

Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì?

Cứ như ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.

Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì giải phóng ở đâủ Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v…v… thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.

Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: “Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế”. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ: “Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà?” Họ trả lời: “Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc”. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâủ

Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu “nói như Vẹm”. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt V M, đọc nhanh mà thành ra.

Chính phủ Việt Minh đối với ông Bảo Ðại rất là đơn bạc, nhưng bề ngoài vẫn làm ra bộ thân thiện. Họ để ông ở nhà của viên đốc lý Hà Nội ở trước, song đồ đạc không có; chỗ nằm ngủ, đến cái mùng ông cũng phải đi mượn. Cơm nước thì họ cử một người hào phú trù liệu cho ông. Song mỗi khi ông đến chỗ dân chúng, nhân dân rất hoan nghinh và các phái viên ngoại quốc như Tàu và Mỹ rất kính trọng và thường chú ý đến ông.

Việt Minh thấy dân chúng kính mến ông Bảo Ðại và người ngoại quốc để ý đến ông, họ bèn đem ông vào ở Sầm Sơn trong Thanh Hóa, rồi sau lại đem ông lên Phủ Thọ Xuân, thành ra ông mắc phải bệnh nóng lạnh ngã nước, sang Hương Cảng chữa mãi không khỏi. Sau cuộc tổng tuyển cử vào quảng tháng giêng năm 1946, Việt Minh mới để ông trở về Hà Nội. Khi Việt Minh lập xong chính phủ do quốc hội chuẩn y rồi, họ thấy dân chúng và người ngoại quốc có nhiều cảm tình đối với ông Bảo Ðại và lại biết quân Pháp sắp vào Bắc Trung Bộ, họ sợ để ông ở Hà Nội có xảy ra sự biến gì chăng, mới bày ra cách lập một phái đoàn sang Trùng Khánh tỏ tình thân thiện với nước Tàu.

Cứ như ý riêng của tôi, thì việc ấy ông Hồ Chí Minh có thể mưu với những tướng Tàu là bọn Lư Hán và Tiêu Văn, nói rằng chủ tịch Tưởng Giới Thạch có điện mời ông Bảo Ðại sang Trung Hoa chơi. Vì lúc ấy bọn tướng Tàu đã lấy tiền của ông Hồ, nên bảo gì chẳng được. Hãy xem như sau khi ông Hồ đã ký hiệp ước với Pháp, ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần bỏ sang Tàu, tướng Tiêu Văn cứ chạy theo cụ Nguyễn để cố mời cụ trở về Hà Nội làm việc, thì biết dù sao đi nữa, việc lập một phái đoàn để đưa ông Bảo Ðại sang Tàu có tính cách vội vàng và bí mật lắm. Phái đoàn ấy để ông Bảo Ðại đứng đầu, có mấy người Việt Minh và mấy người Quốc dân đảng đi theo. Hôm tôi đến thăm ông lần đầu, ông nói qua việc ấy tôi nghe. Tôi cũng khuyên ông đi ra ngoài, vì ở trong nước có nhiều sự nguy hiểm cho ông. Song tôi tưởng còn lâu mới đi, nào ngờ cách bốn hôm sau tôi đến thì ông đã đi hôm trước rồi. Sang đến Trùng Khánh, chủ tịch Tưởng Giới Thạch có tiếp ông tử tế. Song mấy người Việt Minh và Quốc dân đảng bỏ ông ở bên ấy không để tiền nong gì cho ông, ông phải vay mà tiêu. Còn hoàng hậu và mấy người con, ông Hồ có hứa rồi sẽ cho sang sau, nhưng rồi cũng không cho sang. Lúc ấy chính phủ Trung Hoa đang dọn về Nam Kinh, có mời ông về đấy, nhưng ông từ chối rồi về ở Hương Cảng.

Sau chính phủ Việt Minh gửi thư sang bảo ông cứ ở bên Tàu đừng về nữa. Xem thế cũng rõ cái ý chính phủ Việt Minh là muốn đưa ông Bảo Ðại ra ngoài để họ dễ làm việc và khỏi lo ngại về việc có thể xảy ra được. Ðó là mưu sự của người, nhưng biết đâu lại không phải là ý trời xui khiến ra như thế, để ông ra khỏi chỗ nguy hiểm ở trong nước.

TheoVinadia.org

Đường Lâm – ngôi làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam

Xét về quy mô kiến trúc, làng cổ Đường Lâm chỉ đứng sau phố cổ Hội An và phố cổ Hà Nội. Đây là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Nằm ở địa phận thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, làng Đường Lâm mang những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc đặc biệt, được coi là ngôi làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam.

Xưa kia, nơi đây gồm 9 làng, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tín ngưỡng được gìn giữ trong suốt hàng ngàn năm.

Trong lịch sử Việt Nam, Đường Lâm nổi tiếng là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, là nơi sinh của vua Phùng Hưng và vua Ngô Quyền, được người đời mệnh danh là “một ấp hai vua”.

Ngày nay, làng cổ Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc trưng cơ bản của một ngôi làng cổ Việt Nam với cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, chùa, miếu, điếm canh, giếng nước, ruộng nước, gò đồi…

Một hình ảnh mang tính biểu tượng về Đường Lâm là cánh cổng xưa của làng Mông Phụ. Cánh cổng có dạng một ngôi nhà hai mái đốc nằm cạnh bến nước, dưới tán lá đa xanh mát.

Công trình kiến trúc nổi bật của làng cổ là đình Mông Phụ. Đình được xây dựng năm 1684, mang những nét điển hình của một ngôi đình cổ truyền thống. Hàng năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng Một đến mùng Mười tháng Giêng Âm lịch với các trò chơi như thu lợn thờ, thi gà thờ,…

Công trình quan trọng khác là chùa Mía (tức Sùng Nghiêm tự), khởi lập năm 1621, là nơi thờ Bà Chúa Mía cùng chư Phật. Chùa còn giữ được nhiều cấu kiện kiến trúc có từ thế kỷ 17 cùng 287 pho tượng mang giá trị mỹ thuật cao.

Về nhà cổ, Đường Lâm còn lưu giữ được gần 1.000 ngôi nhà truyền thống, tập trung nhiều nhất ở các làng Đông Sàng, Mông Phụ và Cam Thịnh. Nhiều ngôi nhà được xây dựng từ thế kỷ 17-19.

Đặc trưng của kiến trúc nhà ở Đường Lâm là sử dụng đá ong – một sản vật của vùng đất Sơn Tây – làm vật liệu xây tường thay cho gạch. Điều này làm không gian kiến trúc của làng cổ mang một sắc thái riêng đầy hấp dẫn.

Một nét độc đáo khác của làng cổ Đường Lâm là hệ thống đường gạch cổ với các đường nhánh tỏa ra từ hai bên trục chính như hình xương cá. Với cấu trúc này, nếu đi từ đình làng sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.

Đặc sản nổi tiếng của Đường Lâm là tương. Tương ở đây có chất lượng không hề thua kém các làng làm tương lâu đời khác ở Bắc Bộ. Ngoài ra làng còn có món kẹo dồi, kẹo lạc, chè lam… ngon nức tiếng xa gần.

Xét về quy mô kiến trúc, làng cổ Đường Lâm chỉ đứng sau phố cổ Hội An và phố cổ Hà Nội. Đây là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 2006)…

Theo KIẾN THỨC

Một chuyện đáng suy ngẫm về nguồn gốc của sự khổ đau

Nỗi buồn khổ của con người đến từ đâu? Là đến từ ngoại cảnh, là người khác gây ra cho mình? Thật ra thống khổ hay hạnh phúc của con người thường đến từ nội tâm, đến từ niềm vui đạt được, nỗi sợ bị mất đi. Nguồn gốc của khổ đau chính là những điều mà một người không muốn buông bỏ.

(Ảnh minh họa: Aaron Andrew Ang, Unsplash)
Chuyện kể rằng ở vùng nọ, có một khách sạn hết sức danh tiếng. Một dạo, ông chủ khách sạn phát hiện ra có một người lang thang ngày nào cũng ngồi bất động ở ghế đá công viên mà nhìn chằm chằm vào khách sạn của mình. Ông cảm thấy rất tò mò.

Đến một hôm, ông chủ khách sạn không thể kìm được, bèn đi đến chỗ người lang thang và hỏi: “Xin lỗi, anh bạn, tôi muốn hỏi anh một chút, tại sao ngày nào anh cũng nhìn chằm chằm vào khách sạn của tôi vậy?”

Người lang thang nói: “Bởi vì cái khách sạn này quá đẹp! Mặc dù tôi chỉ có hai bàn tay trắng và ngủ trên ghế đá, nhưng mỗi ngày tôi đều nhìn nó như vậy, đến tối sẽ mơ thấy mình được ngủ ở trong đó”.

Bất ngờ trước câu trả lời, ông chủ khách sạn liền hào phóng nói: “Anh bạn, đêm nay tôi sẽ cho anh được mãn nguyện, anh có thể ở miễn phí tại phòng tốt nhất của khách sạn trong một tháng”.

Sau một tuần lễ đi du lịch, ông chủ khách sạn trở lại và muốn xem thử tình hình của người lang thang kia như thế nào. Nhưng ông lại ngỡ ngàng khi phát hiện ra người lang thang đã sớm rời khách sạn, trở lại ghế đá công viên ngủ như trước đây.

Ông chủ khách sạn bèn đến hỏi người lang thang: “Rốt cuộc thì đã xảy ra chuyện gì?”

Người lang thang nói: “Lúc trước tôi ngủ trên ghế đá, mơ thấy được ở trong khách sạn, nên thấy rất vui vẻ. Nhưng khi ngủ trong khách sạn, tôi lại thường mơ thấy mình trở lại với chiếc ghế đá cứng nhắc này. Thật là đáng sợ. Cho nên tôi không thể chịu đựng được nữa!”

Kỳ thực nỗi khổ của một người rất nhiều khi không liên quan đến việc họ “có” hay “không có” thứ gì. Nguồn gốc của khổ đau là sự chấp trước, không buông bỏ được của người ta. Cổ nhân giảng rằng: “Con người sở dĩ thống khổ là bởi vì họ truy cầu quá nhiều”.

Đời người không thể việc gì cũng thuận theo lòng mình, nhưng con người lại thường hay lấy đó làm khổ. Người trí tuệ hiểu rõ rằng trong cuộc sống có những ước mơ là xa vời không thành hiện thực, có một số vấn đề vĩnh viễn không có câu trả lời, có một số chuyện luôn luôn không có kết thúc, có một số người mãi mãi không thể trở thành người thân…

Khổ đau thực sự cũng không phải có nguồn gốc ở bên ngoài, không phải bởi người khác đem đến cho mình, mà bởi sự tu dưỡng của bản thân mình chưa đủ, không có khả năng chấp nhận, không có khả năng buông tha cho một chút chấp niệm ấy. Có những việc rất đơn giản nhưng bị người ta làm phức tạp lên, rồi lại cảm thấy thống khổ. Thế gian ấm lạnh đều có, sau khi nếm đủ trăm vị, người ta mới ngộ ra: Mọi việc đều cần coi nhẹ, tuỳ duyên mới có thể yên lòng.

Hơn thế nữa, một người khi lâm vào ranh giới sinh tử mới hiểu được rằng trên thế gian này chẳng có gì là mãi mãi. Người ấy càng hiểu ra rằng hết thảy danh, lợi cũng chỉ như mây gió thoảng qua, hết thảy đều là vô thường.

Con người được Thiên thượng ban cho sinh mệnh, và cũng đồng thời được ban cho hoàn cảnh sống vô thường này. Cũng chỉ có sự an bài của tạo hóa như vậy thì con người mới biết quý trọng cuộc sống, mới có thể cảm ngộ ra rằng nhân sinh bất quá chỉ là quán trọ mà thôi. Cũng chỉ có vậy thì con người mới luôn vô ý hay hữu ý mà không ngừng tự hỏi trong suốt cuộc đời: “Ta là ai? Ta từ đâu tới? Đến thế gian này để làm gì? Chết rồi sẽ đi về đâu?”.

Người xưa có câu: “Triêu văn đạo, tịch khả tử”, sáng sớm nghe đạo, tối chết cũng an lòng. Trong tâm có thấu hiểu, có lĩnh ngộ, có buông bỏ thì mới có thể an yên mà vượt qua. Nhân sinh là vô thường, nhưng Trời đất không vận chuyển một cách tùy ý ngẫu nhiên. Từ xưa đến nay, niềm tin về một quy luật, một dòng năng lượng hài hòa chảy xuyên suốt toàn vũ trụ đã là trọng tâm của nhiều nền văn minh. Đạo gia gọi sự cân bằng ấy là “Đạo”. Đức Phật thể hiện quy luật ấy thông qua lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh.

Con người chỉ có tu luyện, hướng về quy luật vũ trụ mà hòa tan vào, thì mới có thể buông bỏ và vượt thoát khỏi nhân thế gian, thì mới có thể thực sự nhìn thấy được sự bất biến chân thực bên trong lẽ vô thường của Trời đất.

An Hòa biên tập /TrithucVN

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì

Hãy nhớ rằng thời gian, năng lượng và hạnh phúc là những thứ đáng để ưu tiên. Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm những giá trị đẹp đẽ đó.

Nhà triết học Heraclitus từng nói: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông, bởi đó không phải dòng sông ban đầu và người đó cũng không còn như trước”. Con người là những sinh vật liên tục thay đổi. Chúng ta già đi và tự điều chỉnh bản thân. Chúng ta vượt qua và giành chiến thắng.

Tuy nhiên, một số khó khăn có thể khiến chúng ta trở nên mù quáng. Chúng miễn nhiễm với sự tiến bộ. Chúng liên tục biến đổi và phát triển. Bạn cố gắng đánh bại khó khăn, nhưng chúng luôn tìm cách để quay trở lại: một mối quan hệ rạn nứt khác, một ngã rẽ sự nghiệp thứ hai, một cảm giác bất an trong lòng.

Điều này khiến bạn tự hỏi: “Chẳng nhẽ mình không học được gì?”. Đây chính là lý do tại sao chúng ta không nên ngừng tìm kiếm những điều dưới đây

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm bản chất vấn đề

Abraham Wald là một nhà vật lý toán học nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20. Ông được quân Đồng minh tuyển dụng trong Thế chiến II.

Khi ấy, quân Đồng minh đang gửi máy bay ném bom tới chiến trường nước Đức, nhưng phần lớn đều bị bắn hạ. Họ quyết định bọc giáp cho máy bay, nhưng chỉ một lớp mỏng do vấn đề trọng lượng. Vấn đề quan trọng nhất lúc bấy giờ: “Bọc giáp cho phần nào của máy bay?”

Các tướng lĩnh đến gặp Wald để tìm lời giải đáp. Theo tài liệu phân tích, những chiếc máy bay trở về bị bắn nhiều nhất ở phần cánh và thân. Vì vậy, quân Đồng minh muốn bọc giáp ở các vị trí đó.

Tuy nhiên, Wald đã nhận ra đó là tư duy sai lầm. Họ chỉ sử dụng dữ liệu lấy từ những chiếc máy bay trở về, có nghĩa là việc hư hại ở những vị trí trên hoàn toàn không nghiêm trọng. Do đó, họ phải bọc giáp ở những vị trí ít bị bắn nhất, như phần đuôi và động cơ. Bởi lẽ, những chiếc máy bay bị bắn ở đó đều không thể quay trở về.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 1.

Phát hiện này của Wald đã thay đổi hoàn toàn tư duy nghiên cứu quân sự và cứu được hàng ngàn mạng sống. Ông nhận thấy con người có xu hướng xác định và giải quyết sai vấn đề.

Chẳng hạn, khi hôn nhân lục đục hay tình bạn rạn nứt, chúng ta thường đổ lỗi cho đối phương. Chúng ta quên mất hành vi là biểu hiện của vấn đề, chứ không phải bản chất vấn đề. Chúng ta chỉ biết mắng mỏ và nghĩ xấu về nhau.

Chỉ khi ngồi xuống phân tích và xem xét các dữ kiện, con người mới có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề. Như Einstein đã nói: “Nếu có 1 tiếng để cứu thế giới, tôi sẽ dành 59 phút để xác định vấn đề và 1 phút để giải quyết nó”.

Vì thế, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm bản chất của vấn đề.

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm con đường phù hợp cho bản thân

Tôi chẳng thể quên được những đường gân xanh nổi lên trên trán cô ấy. Nó như chực vỡ ra khi  đứng bật dậy, hét lớn: “6 tháng? Anh trả tiền làm thêm giờ cho họ suốt 6 tháng!”.

CFO của chúng tôi đang vô cùng tức giận. Mục tiêu của cô ấy là trưởng dự án Louis – người bình tĩnh giơ cả hai tay lên phân trần. “Tôi đã bảo chị vài lần rằng chúng ta có nhân viên thực địa. Tôi nói với tất cả mọi người trong phòng này. Tại sao giờ chúng ta lại tỏ vẻ ngạc nhiên vậy?”

Công ty đã phải trả nửa triệu USD tiền tăng ca cho các nhân viên thực địa. Còn 10 người chúng tôi thì ngồi trong phòng họp sang chảnh. Nữ CFO tiếp tục la mắng trước khi đùng đùng bỏ ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa sau lưng.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 2.

Louis không thuộc nhóm tôi, nhưng tôi nhớ anh ấy đã nói với CFO về chuyện làm thêm giờ từ vài tháng trước. Cô ấy mới là người đã quên. Giờ đây, cô ấy lại đổ lỗi và chỉ trích các trưởng dự án khác. Đây chỉ là một ngày bình thường trong văn phòng đầy biến động của chúng tôi.

Trong cuộc sống, có những “khoảnh khắc” mà chúng ta biết sẽ phải kết thúc. Đối với tôi, buổi họp hỗn loạn hôm ấy chính là “khoảnh khắc” tôi biết sự nghiệp tài chính của mình sẽ chấm dứt. Đó là một quyết định đầy cảm xúc, đặt dấu chấm hết cho 10 năm học hỏi và nỗ lực của tôi. Đó là giây phút mà mọi sự chắc chắn về tương lai sụp đổ.

Tuy nhiên, cũng giống như mọi cuộc thật tình, đây là một cái kết đã sớm được dự báo. Nhờ nó, tôi nhận ra một tương lai khác mà mình xứng đáng được hưởng.

Bạn không bao giờ chạy trốn khỏi bản thân mình được. Khi mọi chuyện trở nên không ổn có nghĩa là cuộc sống của bạn đã không còn đồng bộ nữa. Con người bạn và thứ bạn đang làm không còn phù hợp với nhau.

Kể từ đó, tôi đặt ra nguyên tắc cho bản thân: không bao giờ tiếp tục một công việc khiến mình khổ sở. Tiền bạc hay vinh quang cũng chẳng thể thay đổi được sự thật ấy.

Tôi sắp sửa bước sang tuổi 40, còn các thành viên trong gia đình cũng ngày một già đi. Sự hữu hạn của cuộc sống chưa bao giờ rõ ràng như vậy. Thật lãng phí nếu cứ dành thời gian cho những điều không khiến mình hạnh phúc.

Vì vậy, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm con đường phù hợp với bản thân. Kể cả khi không tìm ra nó, ít nhất bạn cũng sẽ yên tâm xuôi tay nhắm mắt khi biết rằng mình đã cố gắng hết sức thay vì làm một kẻ hèn nhát.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 3.

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm cách tận dụng thời gian hữu hiệu nhất

Trong giờ phút cận kề cái chết, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã nói những lời cuối cùng: “Tôi chán ngấy tất cả rồi”.

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, sự buồn chán phục vụ cho một mục đích quan trọng: đó là cách mà cơ thể khuyên con người nên sử dụng thời gian khôn ngoan hơn. Thứ mà bạn làm bây giờ không còn thích hợp nữa,

Một phần trong tôi chết dần chết mòn khi phải nghe mọi người than vãn về chuyện buồn chán. Suốt nhiều năm liền, cuộc đời chỉ là một trải nghiệm ngột ngạt và dài lê thê trước khi tôi tìm được cách thoát ra. Thật tệ hại khi cứ phải dành thời gian cho sự buồn chán.

Đến một lúc nào đó, từng người trong số chúng ta sẽ nhận ra: thời gian để mình tồn tại trên thế giới này là có hạn. Đừng bao giờ đợi tới lúc muộn màng đó mới tự hỏi mình đang làm gì với cuộc đời.

Hãy đọc một cuốn sách. Trò chuyện với bạn bè. Đi dạo xung quanh. Kể cả khi cảm thấy buồn chán, hãy tận dụng khoảng thời gian đáng quý đó.

Chẳng hạn, trung bình một người đàn ông sẽ cảm thấy chán nản sau 26 phút đi mua sắm cùng vợ. Khi ấy, tôi sẽ cố gắng tỏ ra kiên nhân, tìm một chiếc ghế thoải mái và ngồi xuống đọc sách. Đó là cách mà tôi chiều lòng bạn gái mình. Vì thế, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm cách sử dụng thời gian hữu hiệu nhất.

Bài chia sẻ của Sean Kernan – cây bút giàu kinh nghiệm từng viết cho The Huffington Post, Inc, Apple News,… Anh có hơn 4000 bài viết trên các nền tảng khác nhau, thu hút hơn 350 triệu lượt xem của độc giả.

(Theo Medium)

Ngọc Hà / Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Lenin lần đầu gọi ‘trí thức là phân’ trong thư gửi Gorky

Gorky
Chụp lại hình ảnh,Alexander Bogdanov (trái) chơi cờ với Lenin (phải) khi hai người đến thăm Maxim Gorky ở Capri, Ý năm 1908. Đây là giai đoạn các nhà hoạt động Nga sống lưu vong ở châu Âu

Không phải Mao Trạch Đông mà Lenin mới là nhà cách mạng lần đầu gọi trí thức cũ là ‘cục phân’ trong thư gửi Gorky năm 1919.

Dù câu “Trí thức là cục phân” thường được gán cho lãnh tụ Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông, nhưng cách dùng từ này được Vladimir Lenin viết ra trong văn bản từ trước đó.

Trong lá thư viết hôm 15/09/1919, Lenin bàn luận với nhà văn Maxim Gorky về nhà thơ Vladimir Korolenko và lên án “giới trí thức tư sản”.

Mở đầu thư, Lenin cập nhật cho Gorky một số tin nhân sự và giải thích việc bắt nhóm Đảng Dân chủ Lập hiến:

Aleksei Maksimovich thân mến,

Tôi gặp Tankov, và trước khi ông ấy tới thăm, và trước khi nhận thư của anh, chúng tôi đã quyết định tại Tseka (Trung ương Đảng) bổ nhiệm Kamenev và Bukharin vào phụ trách công tác đánh giá lại các vụ bắt giữ bọn trí thức tư sản thuộc nhóm Kadet (Constitutional Democrat), rồi đã cho thả ra.

Điều quá rõ ràng là có những sai lầm đã phạm phải trong vụ việc.

Nhưng cũng rất rõ ràng rằng việc bắt nhóm này là cần thiết và đúng đắn.

Khi đọc ý kiến thẳng thắn của anh[Gorky phản đối việc bắt giữ], tôi nhớ lại cuộc tranh luận của chúng ta ở London, Capri và câu nói của anh khi đó để lại ấn tượng rất mạnh với tôi.

“Bọn văn nghệ sĩ chúng tôi là những kẻ vô trách nhiệm.”

Lenin tìm cách lý giải vụ bắt ” vài trăm quý ông Kadet và giả Kadet” là để phòng ngừa một âm mưu như vụ ở pháo đài Krasnaia Gorka, và nói đó chẳng phải là “bi kịch gì cả”.

Tiếp theo, Lenin chuyển sang câu chuyện về tác phẩm Chiến tranh, Đất mẹ và Nhân loại của Vladimir Korolenko (1853-1921) ấn hành tháng 8/1917.

Trong thư, Lenin gọi Korolenko, người Gorky coi như đàn anh, là kẻ “giả Kadet, gần như là một tay Menshevik”(phái chống Bolshevik trong Đảng Xã hội Nga).

Nhân đó, Lenin lên án “trí thức tư sản” và nói với Gorky rằng chỉ có “tri thức của công nông” mới là sức mạnh thực sự:

Các lực lượng trí thức của công nhân và nông dân đang vươn lên, ngày càng mạnh hơn trong cuộc chiến đấu lật đổ bọn tư sản, những kẻ đồng phạm của chúng –tức là giai cấp có giáo dục, tay sai của đồng vốn tư bản –những kẻ cứ nghĩ chúng là bộ não của dân tộc. Nhưng trên thực tế, chúng không phải là não, mà là cục phân của dân tộc.

Lenin kết thúc lá thư bằng lời kêu gọi Gorky hãy bỏ ngay quan hệ trí thức tư sản càng sớm càng tốt.

Coi trí thức tư sản là ‘cục phân’ trong hoàn cảnh nào?

Nước Nga sau Cách mạng 1917 rơi vào cảnh hỗn loạn, nội chiến và bị bao vây.

Korolenko
Chụp lại hình ảnh,Vladimir Korolenko sinh ở Zhitomir trong gia đình gốc Ukraine – Ba Lan và qua đời tại quê hương sau thời gian thất vọng nặng nề với hành xử của chính quyền Xô Viết

Tháng 2/1919, Maxim Gorki trong “Lời kêu gọi gửi ra toàn thế giới đã ca ngợi Lenin và cách mạng Nga vốn đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù:

Lãnh đạo chiến dịch chống lại Nga là Woodrow Wilson. Vladimir Lenin đang nắm chắc ngọn đuốc của Cách mạng Nga trong tay và rọi chiếu ánh sáng ra toàn thế giới. Giai cấp vô sản và người lao động trí thức (intellectual workers) cần chọn giữa những kẻ bảo vệ trật tự cũ, những kẻ đại diện cho chính phủ của thiểu số kiểm soát đa số, chế độ cũ không có tương lai, và những người phá đổ tất cả thứ văn hóa đó, những người kiến tạo lý tưởng xã hội mới, và là hiện thân của của ý tưởng hạnh phúc, việc làm tự do, tình huynh đệ của nhân dân với công nhân.”

Tuy thế, cũng từ năm 1919, Gorky và nhiều trí thức Nga ủng hộ cách mạng đã lo ngại trước làn sóng bắt bớ của chính quyền Lenin nhắm vào nhóm cựu Kadet, gồm nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục Nga nổi tiếng.

Đảng Kadet là lượng chính trị trung hữu, ủng hộ tự do cá nhân, bảo vệ thiểu số Do Thái, có mặt trong Viện Duma Nga từ 1906.

Sau Cách mạng 2/1917, Kadet có bốn thành viên vào chính phủ lâm thời, nhưng sau bị chính quyền Bolshevik cho là bất hợp pháp.

Từ năm 1919, chính quyền của Lenin ra lệnh bắt hàng loạt trí thức, nhà khoa hoặc, văn nghệ sĩ Nga, gồm cả những người theo Kadet.

Chính quyền trục xuất những cựu thành viên Kadet và các đảng Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng, Menshevik và Dân tộc chủ nghĩa.

Các đợt trấn áp này bị trí thức từng ủng hộ Cách mạng tháng 10 phản đối.

Vì những người đã bị đuổi sang Phương Tây tiếp tục viết bài, lên tiếng phê phán chế độ ở Nga, Lenin cấm những người ở lại được xuất cảnh.

Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng.

Hè năm 1918, ông bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành.

Cho đến lúc chết năm chưa đến 54 tuổi, trong người Lenin vẫn còn hai viên đạn.

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya
Chụp lại hình ảnh,Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya. Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng vì bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành năm 1918.
Những tâm hồn Nga

Ngày nay, nước Nga đã có cái nhìn khác về di sản bạo lực một thời và những nhân vật nổi bật thời kỳ trước và sau năm 1917.

Sau 1990, việc phục hồi các trí thức Kadet và nhiều nhân vật khoa bảng thời trước cách mạng đã diễn ra.

Trên thực tế, dù bị Lenin phê phán, Korolenko vẫn có uy tín lớn với các nhân vật cộng sản châu Âu.

Rosa Luxemburg, một lãnh tụ cộng sản châu Âu gốc Do Thái, đã viết về Korolenko khi ngồi tù ở Breslau (nay là Wroclaw, Ba Lan) tháng 7/1918, ca ngợi và so sánh hai tài năng của văn học tiếng Nga:

Tác phẩm Thời thơ ấu của Maxim Gorky có thể so sánh ở nhiều góc độ với Lịch sử đương đại của Korolenko. Về mặt nghệ thuật, họ thật khác nhau một trời một vực. Korolenko, như Turgenev mà ông luôn ngưỡng mộ, có tâm hồn mẫn cảm, có bản tính đầy chất thơ, con người của nhiều tâm trạng. Gorky, theo đúng truyền thống Dostoevsky, nhìn đời đầy kịch tính, là người đàn ông của các nguồn năng lượng và hành động rất tập trung…

Là bậc đàn anh của Maxim Gorky, Korolenko, nổi tiếng với nhiều tác phẩm trong đó có Russkoe Bogatstvo, đã rút lui về quê nhà ở Ukraine sau cách mạng 1917 và qua đời năm 1921.

Sau khi Lenin chết, Maxim Gorky (sinh năm 1868) thì trở thành gương mặt của văn học công nông Liên Xô, và được Stalin tôn trọng, đề cao.

Tuy thế, các lá thư ông trao đổi với Stalin và Genrikh Yagoda (bộ trưởng an ninh Liên Xô) được công bố trong thập niên 1990 cho thấy Gorky vào những năm cuối đời cũng dần mất hết ảo tưởng rằng tự do có thể tồn tại trong thể chế Xô Viết và viết nhiều hơn về các chủ đề trước cách mạng 1917.

Qua đời năm 1936, đến 1938 tên tuổi Gorky lại bị lôi ra trong một vụ án với cáo buộc chính nói là Yagoda đã chủ mưu giết ông.

Các sử gia ngày nay cho rằng đó chỉ là vụ việc do Stalin dàn dựng.

Theo BBC

Người Việt, người Nhật

Tìm hiểu về hình ảnh con người Nhật Bản như thế nào?
Cô gái Nhật

Rất nhiều người Việt nam gán cho người Nhật một câu so sánh giữa người Nhật và người Việt mà chính tôi dù quen biết khá nhiều người Nhật chưa bao giờ nghe họ nói: Một người Việt hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt nam hợp lại thua ba người Nhật. Câu nói đó có vẻ như một nhận xét khiêm nhường, nhìn nhận sự thua kém về khả năng làm việc tập thể của người Việt, nhìn nhận khuyết điềm chính của người Việt là thiếu đoàn kết. Tuy vậy trong cách nói vẫn có sự thỏa mãn: “Một người Việt hơn một người Nhật”, vế đầu này có vẻ được nhấn mạnh hơn vế sau.

Nếu quả thực người Nhật nào đã có nói câu đó thì nó cũng chỉ là một câu khẳng định sự hơn hẳn của dân tộc Nhật, nó phải được hiểu là: “Ngay cả nếu một người Việt nam có hơn một người Nhật đi nữa, thì ba người Việt nam hợp lại vẫn thua ba người Nhật”. Nói một cách khác, sự thua kém của dân tộc Việt nam so với dân tộc Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc chữa. Còn một người Việt nam có hơn một người Nhật hay không lại là một vấn đề khác. Tôi tin là không, theo nhưng kinh nghiệm sống.

Lúc còn đi học và ở cư xá đại học Paris, tôi đã có dịp làm quen với nhiều bạn Nhật.

Trước hết họ là những người đáng tin. Họ hứa điều gì, họ làm hết sức để giữ lời hứa, rủi làm không xong họ khiêm tốn và thành thực nhận lỗi, không viện dẫn một lý do nào cả.

Thứ hai là họ thực sự chuyên cần, làm cái gì đều làm đến nơi đến chốn, học cái gì đều cố gắng học cho hiểu thật tường tận, không như người mình chỉ làm cho xong, học tắt, học tủ đẻ thi đậu, bất chấp có thực sự hiểu hay không. Người Nhật hiểu biết một cách chắc chắn, vì họ học đễ lấy kiến thức, nhưng thi có thể thua người Việt vì người Việt học để đi thi lấy bằng. Bằng cấp của người Nhật có thể thấp hơn bằng cấp của người Việt mà sự hiểu biết của họ vẫn hơn. Tôi có được đọc một luận án của một sinh viên Nhật về xã hội Việt nam dưới thời Tự Đức. Anh ta dày công sưu tập tài liệu, suy nghĩ chín chắn và nhận định rất chính xác. ít có một công trình biên khảo nào của người Việt về nước Việt có giá trị như thế, nhưng luận án của anh chỉ là một luận án tiến sĩ đệ tam cấp, nghĩa là một bằng cấp tiến sĩ thấp nhất trong thứ bậc các bằng tiến sĩ, và anh ta ghi rõ như vậy trong luận án. Dầu vậy, luận án của anh ta được đánh giá cao, và được một nhà xuất bản Pháp in, được quần chúng Pháp đọc, trong khi nhiều luận án tiến sĩ quốc gia, cấp tiến sĩ cao nhất, của người Việt về nước Việt không được như vậy.

Người Nhật rất yêu nước, và vì yêu nước họ học hỏi rất kỹ về những khả năng của đất nước họ. Các bạn Nhật của tôi thường nói: Nước Nhật chúng tôi kẹt lắm, đất hẹp, người đông, tài nguyên thiên nhiên không có, con người lại không thông minh, chúng tôi cố gắng làm cũng không thể bằng được các nước khác. Nhờ sự lo âu thường trực đó mà họ đã xây dựng ra cường quốc số một tại châu á, và trên nhiều địa hạt cũng số một trên thế giới. Họ không tự hào là có giang sơn gấm vóc, dân tộc tinh anh.

Nhưng trên thực tế họ rất thông minh. Tôi đã đọc trên tuần báo Newsweek, một bài so sánh hệ số thông minh (I.Q.) của các dân tộc, và thấy người Nhật đứng đầu khá xa. Tuy vậy tôi chưa hề gặp một người Nhật nào tự hào dân tộc họ là thông minh. Thì ra họ vừa thông minh vừa khiêm tốn. Sự khiêm lốn đó tôi đã thấy ngay trong các bạn Nhật của tôi.

Trong cư xá đại học tôi có một cô bạn người Nhật là Ichiko học về hội họa và điêu khắc. Thân nhau rồi, Ichiko rủ tôi về phòng và cho tôi xem các tác phẩm của cô, con mắt mỹ thuật kém cỏi của tôi cũng phải bắt buộc tôi nhìn nhận đó là những tác phẩm rất hay. Tôi rủ một người bạn Pháp mê hội họa và điêu khắc tới xem, ra về anh ta tấm tắc khen hay. Thế nhưng khi tôi bảo Ichiko nên làm triển lãm thì cô dẫy nẩy từ chối, bảo rằng mình còn dở quá. Dầu vậy, Ichiko có lý do để tin mình không dở, cô đã được giải nhất về điêu khắc trong một cuộc triển lãm của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật.

Người Việt nam, nhất là đám sinh viên Việt nam tại Paris chúng tôi, thường hay chê người Nhật là kém về ngôn ngữ. Quả thật họ nói tiếng Pháp rất dở. Ông thày dạy võ của tôi chẳng hạn, sang Pháp đã mười mấy năm mà tiếng Pháp chẳng ra đâu vào đâu cả. Ông nói những tiếng thật tức cười như levez pieds (nhắc chân lên), baissez bras. Nhưng khi tới thăm ông, tôi gặp ông đang đọc một cuốn sách tiếng Nhật, hỏi ra thì được biết thú tiêu khiền chính của ông là đọc sách tiếng Nhật. Nhìn cách bố trí căn phòng có thể thấy ngay là ông chuẩn bị rất chu đáo đẻ tận hưởng thú đọc sách. Ông có cả một cái bàn thấp để ngòi xếp bằng đọc sách, trên bàn là một cái giá sách nghiêng do ông đóng lấy. Cách sắp xếp trong phòng rõ ràng là để có thể đọc sách trong những điều kiện tốt nhất. Các bạn Nhật của tôi đâu nói tiếng Pháp kém cả, nhưng bù lại họ nói rất dề hiểu, bởi vì họ hiểu rõ những gì họ nói và khi không hiểu họ nói rõ ràng không hiểu chỗ nào. Dần dần tôi hiểu rằng họ không nói giỏi tiếng Pháp là vì họ chú trọng học lấy kiến thức và vì họ coi trọng văn hóa của họ. Là một dân tộc lớn, họ cho học tiếng mẹ đẻ là quan trọng hơn cả, họ học hỏi tiếng nước ngoài như một phương tiện đễ hiểu và học hỏi người khác. Người Nhật chác chắn không phải là một dân tộc có biệt tài về hùng biện, nhưng tôi phải thú nhận họ diễn tả rõ ràng và mạch lạc hơn người Việt. Người Việt là một trong những dân tộc dở về truyền thông nhất, điêu này tôi sẽ có dịp đề cập đến.

Nhưng hãy trở lại với người Việt mình. Nếu ngay cả lấy ba người Việt có khả năng hơn ba người Nhật mà kết quả cũng chỉ là để tạo ra một nhóm ba người dở hơn nhóm của ba người Nhật kia thì chắc chắn là người Việt mình không có khả năng làm việc chung. Mà đã không cố khả năng làm việc chung được thì không thể nói là mình hay được bởi vì khả năng quan trọng nhất, khó khăn nhất chính là khả năng làm việc chung. Nó đòi hỏi trước hết sự lương thiện, bơi vì một tập hợp của chung con người chơi gian, chơi xấu, chơi gác nhau không thể kéo dài. Nó cũng đòi hỏi vô số đức tính khác: nhạy cảm, biết lắng nghe, biết truyền đạt ý kiến, có ý kiến hay, đủ bao dung để hiểu cái lý của người khác và nhất là đủ thông minh đễ thấy sự cần thiết của tổ chức và để thích ứng quyền lợi của mình với quyền lợi của tổ chức. Nếu con người chỉ sống và làm việc một mình thôi thì sự hay dở có lẽ không đặt ra, mình làm mình hưởng, mình làm mình biết, làm sao đánh giá được hay, dở? Cái trí thông minh lớn nhất chính là khả năng làm việc chung. Đã không biết làm việc trong khuôn khổ một tổ chức thì không thể nói là mình thông minh.

Trích từ ” Tổ quốc ăn năn ” / Nguyễn gia Kiểng

Nghề cào don trên sông Trà Khúc

QUẢNG NGÃI

Sông Trà Khúc với những vệt bùn cát trải dài trong quá tình cào don như một bức tranh nghệ thuật khi được nhìn từ trên cao.6

Sáng sớm, có hơn 10 ghe tập trung để cào don tại đoạn cuối sông Trà Khúc. Người dân làng Cổ Lũy – Vĩnh Thọ Bắc, xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa đã coi đây là nghề truyền thống để mưu sinh từ bao đời nay.

Bộ ảnh “Nghề cào don” được thực hiện bởi nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn, là người Quảng Ngãi hiện sống tại TP HCM. Chia sẻ về quê hương mình, anh cho biết ngoài núi Thiên Ấn, không thể không nhắc đến sông Trà Khúc, dài khoảng 140 km. Con sông mang đến cho người dân nhiều sản vật ngon như don, cá bống, cá thài bai…

Anh Tuấn chia sẻ, người dân cào don phải ngâm mình, lội nước trong 4 – 6 tiếng. Nhiều người khi đang hành nghề giẫm phải chai và có khi bị chuột rút chân.

Trên địa bàn xã Nghĩa Phú có gần 100 hộ dân sống bằng nghề này. Họ “ăn sông ngủ nước” cùng don, mang theo cơm và ra đồng khi bình minh ló dạng. Trung bình mỗi ngày, một người cào trên dưới 20 kg don, bán cho thương lái và phần còn lại mang về chế biến các món ăn cho gia đình.

Người dân Cổ Lũy cào don chủ yếu từ tháng 2-9, nhưng nhu cầu khách mua ngày càng nhiều nên họ khai thác đến tận dịp Tết Nguyên đán để bán.

Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m và thùng cào dài một mét. Cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre và tay còn lại tỳ thắt lưng lấy thế đi giật lùi.

Những năm gần đây, người dân trăn trở vì don ngày một ít dần. Họ mong cho môi trường sông nước trong lành để don tiếp tục sinh sản, để giữ món ngon lâu đời xứ Quảng.

Don là loài nhuyễn thể, vỏ có hai mảnh hình dẹt và dài chỉ khoảng 1 cm, bên trong thịt có màu trắng đục và tua xung quanh. Chúng cùng họ hến nhưng có ruột dài và thịt thơm ngon hơn. Don có màu vàng do sống và ăn sâu trong lớp cát.

Để chế biến don phải chà vỏ, rửa sạch, ngâm cho nhả hết cát, rồi luộc cho đến khi chúng há miệng. Để riêng phần nước luộc và con, dùng đũa khuấy đều cho phần thịt rớt ra khỏi vỏ. Don có thể làm nhiều món ngon như canh, cháo, xào khô.

Dòng Trà Khúc nuôi sống biết bao thế hệ người dân mưu sinh bằng nghề sông nước, đặc biệt là cào don. Nghề này nếu ai học nhanh thì từ 5 ngày đến một tuần, người chậm có khi đến 2 tháng.

Những vệt bùn cát kéo dài trên hạ lưu sông do cào don giao hòa với màu nước xanh như bức tranh đời sống khi nhìn từ trên cao.

Người dân cào don gần cây cầu Cổ Lũy, khi đang hoàn thành những hạng mục cuối cùng. Cầu hiện đã hoàn thành, thông xe ngày 20/10/2020, với chiều dài gần 1.880 m, được thiết kế bằng bê tông cốt thép dự ứng lực.

Huỳnh Phương / VNExpress