Làm việc thông minh để thành công

“Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh” trình bày phương pháp giúp người đọc sử dụng năng lượng bản thân một cách khôn ngoan để có thể đẩy nhanh tiến độ trong công việc.

Cuốn sách hướng dẫn những bước hành động đơn giản, thực tế để người đọc có thể ứng dụng trong việc thiết lập kế hoạch phù hợp nhịp độ sinh học của bản thân. Mỗi người đều có 96 khối năng lượng mỗi ngày để làm những gì chúng ta muốn.

Tác giả Tony Schwartz đã phân tích những kiến thức nghiên cứu về não bộ nhằm giúp người đọc quản trị trí não, cảm xúc và thói quen trong sinh hoạt.

Cụ thể, Tony đã giới thiệu đến người đọc định luật Parkinson. Theo ông, đây là định luật mà chúng ta đều trải qua. “Nếu bạn đợi đến phút cuối mới bắt đầu làm việc, sẽ chỉ mất một vài phút để hoàn thành”.

Cần tìm khoảng thời gian mà bạn năng suất nhất để làm những việc cần thiết đó thay vì dàn trải trong nhiều ngày mà không thu được hiệu quả.

Dung lam viec cham chi hay lam viec thong minh anh 1javascript:”<!DOCTYPE html><html><body style=’background:transparent’></body></html>”
Sách Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh. Nguồn: Thanhhabooks.

Tác giả lấy ví dụ rằng trong công việc, mỗi người đều từng vật lộn trong suốt một tháng để thực hiện một dự án, và rồi thật kỳ diệu, ta hoàn tất dự án đó chỉ trong tuần cuối cùng.

Định luật này cung cấp một đòn bẩy tuyệt vời để làm việc năng suất hơn: Áp dụng những “deadline” ngắn hơn cho một công việc nào đó, hay sắp xếp một cuộc gặp mặt sớm hơn.

Từ đó, Tony Schwartz khẳng định rằng chìa khoá để đạt được kết quả tốt không phải làm việc chăm chỉ, mà ở cách thức làm việc. Những người biết sắp xếp giờ giấc, sự ưu tiên công việc sẽ thu được kết quả tốt.

Tác giả chỉ ra rằng chúng ta đã làm việc nhiều giờ ở công ty. Chúng ta đem công việc về nhà, luôn sẵn sàng cho công việc, giải quyết mọi thứ được giao. Chúng ta làm việc đó một cách tốt nhất trong khả năng của mình. Nhưng cho dù chúng ta có làm việc rất nhiều giờ, hiệu suất cũng không được cải thiện.

Những người làm việc thông minh thường chỉ tập trung thời gian của họ vào một vài ưu tiên và luôn nghĩ làm thế nào để mọi việc diễn ra suôn sẻ.

Những cách thức để tăng cường khả năng làm việc thông minh cũng được tác giả hướng dẫn qua từng chương sách như: Rèn luyện sức khỏe thể chất, du lịch, gặp gỡ bạn bè.

Theo ông, việc kết hợp giữa ngủ đủ giấc và vận động thể chất sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt. Đi du lịch và gặp gỡ người khác sẽ giúp nguồn năng lượng của mỗi người được tái tạo, từ đó, giải tỏa những căng thẳng, uể oải khi làm việc, giúp tăng hiệu suất.

Cuốn sách Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh của Tony Schwartz có tính ứng dụng cao. Kiến thức được trình bày trong sách sẽ giúp bạn tập trung triệt để vào những công việc cần ưu tiên trong cuộc sống, để tiến tới thành công.

Sách do Công ty Cổ phần Sách BIZBooks phát hành.

Thủy Thủy / Sách hay / Zing

Nụ cười trên những nẻo đường quê hương

Tập sách ảnh “Cười” là kết quả của hơn 10 năm tác nghiệp trên mọi nẻo đường đất nước của nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong.

Sach anh Cuoi anh 1
Với 108 tác phẩm được lựa chọn từ hơn nghìn file ảnh để đưa vào tập sách Cười, điều đầu tiên, Trần Thế Phong muốn chia sẻ đến mọi người là nụ cười không chỉ giúp chúng ta thêm hạnh phúc, xóa đi những khác biệt để người với người gần nhau hơn. Nó còn tạo ra niềm cảm hứng và nguồn năng lượng tích cực mỗi ngày.
Sach anh Cuoi anh 2
Trong hơn 10 năm tác nghiệp trên khắp những nẻo đường quê hương đất Việt, Trần Thế Phong ghi lại những nụ cười hồn nhiên, lạc quan, ngây thơ của mọi lứa tuổi, từ các em nhỏ đến các cụ già.
Sach anh Cuoi anh 3
Trong Cười, bạn đọc có thể nhận ra một số người nổi tiếng và nụ cười của họ được đặt cạnh tất cả nhân vật đời thường khác, không có khoảng cách. Với nhiếp ảnh gia Thế Phong, nụ cười cũng như hạnh phúc, mọi người dù giàu hay nghèo, có quyền được sở hữu, tự tạo niềm vui riêng cho bản thân. Trong ảnh là nghệ sĩ harmonica, quái kiệt Tòng Sơn (92 tuổi) luôn lạc quan yêu đời với nụ cười hiền hòa (chụp tại TP.HCM năm 2021).
Sach anh Cuoi anh 4
Niềm vui với nụ hôn hạnh phúc của vận động viên khuyết tật bơi lội, chú rể Nguyễn Hồng Lợi và nhà thiết kế, cô dâu Phan Thị Trường Nghĩa (chụp tại TP.HCM năm 2020).
Sach anh Cuoi anh 5
Nụ cười vui sướng của người phụ nữ mưu sinh tại Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 6
Nụ cười hồn nhiên của bé gái dân tộc Mông ở Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 7
Chia sẻ về những bức ảnh, Trần Thế Phong cho biết: “Tôi không phân biệt nụ cười của ai đẹp hơn, không đặt lên hay hạ xuống theo địa vị. Nụ cười đơn giản nhất là khi lòng sướng vui, tâm bình an, lòng nhẹ bẫng”. Trong ảnh là những nụ cười ngây thơ, hồn nhiên của những em nhỏ tại vùng nắng gió Ninh Thuận.
Sach anh Cuoi anh 8
Ảnh niềm vui trong giờ học của hai bé trai tại lớp học vùng cao Hà Giang.
Sach anh Cuoi anh 9
Niềm vui với bữa ăn giản đơn cho một ngày mới.
Sach anh Cuoi anh 10
Hai em bé hồn nhiên vui chơi cùng chiếc xe thô sơ (chụp tại Phan Rang, năm 2013).
Sach anh Cuoi anh 11
Những nụ cười thân thiện, hiếu khách của người Việt (chụp tại TP.HCM năm 2011).
Sach anh Cuoi anh 12
Chia sẻ lý do xuất bản tập sách ảnh Cười và tổ chức một triển lãm ảnh cùng tên tại Đường sách TP.HCM, Trần Thế Phong cho biết: “Tôi muốn gửi đến công chúng những hình ảnh về người Việt Nam luôn vui vẻ, lạc quan. Cười để yêu cuộc sống, cười là món ăn tinh thần, cười để vượt qua những khó khăn như hiện nay. Với Việt Nam, cười còn là niềm tự hào khi chúng ta đã cùng nhau phòng chống hiệu quả, vượt qua đại dịch một cách thần kỳ”.

Minh Châu & Quỳnh My / Zing

GS Hà Văn Tấn để lại di sản ‘nền tảng và kinh điển’

Di sản của Giáo sư Hà Văn Tấn là vô cùng to lớn

Giáo sư sử học Hà Văn Tấn (1937-2019) đã để lại một di sản không chỉ to lớn mà còn mang tính chất ‘nền tảng, kinh điển’ trong các lĩnh vực chuyên môn mà ông từng cống hiến, một Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam mới đây nói với BBC News Tiếng Việt.

“Sự nghiệp của Giáo sư Hà Văn Tấn để lại rất nhiều công trình nghiên cứu đã trở thành kinh điển, làm nền tảng cho hiểu biết về khoa học đối với lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ tiền sử và sơ sử,” hôm 29/11, Giáo sư Vũ Minh Giang, người đồng thời từng là Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) nói về người thầy vừa qua đời của mình.

“Hầu hết những công trình nghiên cứu về thời kỳ này đều trên cơ sở nghiên cứu của Giáo sư Tấn, cái di sản này rất là quan trọng. Hay là trong lịch sử trung đại Việt Nam, cuộc kháng chiến chống đế chế Mông – Nguyên, tôi thấy cũng chưa có công trình nào vượt qua.

“Vừa rồi viết bộ sách vẫn quen gọi là quốc sử, tôi là chủ biên hai tập, trong đó có tập về thời Trần, khi viết về cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, tất nhiên có nhiều tài liệu mới bổ sung, nhưng vẫn trên cơ sở cuốn sách kháng chiến chống Nguyên – Mông mà Giáo sư Tấn đã viết từ cách đây mấy chục năm rồi.

“Nhưng tôi nghĩ cái mà Giáo sư Tấn muốn thế hệ sau tiếp tục, mà cái này tôi thấy là chúng tôi vẫn đang làm được, tức là nghiên cứu lịch sử Việt Nam phải gắn với lịch sử thế giới và khuyên cả những người nghiên cứu lịch sử thế giới cũng phải luôn luôn tham chiếu với lịch sử Việt Nam.

“Bởi vì có một thời kỳ rất dài nghiên cứu lịch sử thế giới và Việt Nam không gắn với nhau. Việc dạy lịch sử thế giới là cứ dạy lịch sử thế giới, thế còn (dạy sử) Việt Nam cứ đi theo các tuyến của Lịch sử Việt Nam.

“Nhưng mà từ lâu Giáo sư Hà Văn Tấn đã nói là muốn hiểu lịch sử sâu sắc, thì luôn luôn phải hiểu cái tọa độ khu vực và thế giới, mà Giáo sư hay nói là cái ‘context’ cái bối cảnh chung là thế nào, thì phải có được cái hiểu sâu sắc đó.”

Cũng từ Hà Nội, hôm 07/12, nhà nghiên cứu sử học và lý luận lịch sử Lê Văn Sinh, nguyên giảng viên Khoa Lịch sử, ĐHKHXH và Nhân văn tại Hà Nội, chia sẻ với BBC những gì ông mới viết khi suy ngẫm và hồi niệm về người thầy của mình:

“Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn bị một cơn đột quỵ nặng ngày 18/4/2001, khi mà sức làm việc của Ông còn tràn đầy năng lực sáng tạo. Đó là một tổn thất to lớn không thể bù đắp đối với nền học thuật nước nhà, trên con đường nhận thức sự biến đổi văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Giáo sư Hà Văn Tấn (trái) và Giáo sư Trần Quốc Vượng
Chụp lại hình ảnh,Giáo sư Hà Văn Tấn (trái) và Giáo sư Trần Quốc Vượng kiểm tra niên đại ngôi đình cổ nhất Việt Nam vào năm 2001 (hình tư liệu trên FB của Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên)

“Gần hai mươi năm trên giường bệnh, Ông đã không khuất phục số phận đen đủi giáng vào mình, vẫn chiến đấu kiên cường trên con đường truy tìm sự thật lịch sử, bản sắc văn hóa, đặc điểm tư tưởng, tôn giáo của các sắc dân sinh tụ trên đất Việt Nam. Đọc lời mở đầu ông viết cho cuốn sách Chữ Trên Đá Chữ Trên Đồng, xuất bản năm 2002 và Sự Sinh Thành Việt Nam xuất bản năm 2017, khiến ta kinh ngạc về sự uyên bác, thông tuệ của Ông.

“Hai mươi tuổi trở thành giảng viên đại học, hai hai tuổi khảo cứu, chú giải Dư Địa Chí, ba mươi tuổi viết Chống Nguyên Mông. Ông để lại cho hậu thế gần 300 công trình khảo cứu về các nền văn hóa xưa, về văn minh Sông Hồng, về lịch sử cổ trung đại Việt Nam, về lịch sử tư tưởng Việt, về triết học Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam, về lý luận sử học… Ở lĩnh vực nào, Ông cũng để lại dấu ấn của một trí tuệ trác việt. Ông nhất định là tài năng kiệt xuất, là nguyên khí hiếm hoi mà quốc gia có được.”

‘Nhà bách khoa thư và danh sư

Không chỉ gọi Giáo sư Hà Văn Tấn là một nhà khoa học ‘lỗi lạc’, nhà nghiên cứu Lê Văn Sinh cho rằng Giáo sư Tấn còn là một ‘danh sư’ và là ‘một nhà bách khoa thư’ với ‘bộ óc kiệt xuất’ của Việt Nam.

“Không chỉ lỗi lạc trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Thầy Hà Văn Tấn còn là bậc danh sư được các đồng nghiệp và học trò kính trọng, nể phục. Các bài giảng của Ông về bất kỳ lĩnh vực nào cũng mang lại một lượng thông tin mới mẻ, phong phú và hệ thống. Và hơn thế, chúng truyền cảm hứng say mê khám phá cho học trò.

“Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Thầy giảng hàng loạt chuyên đề – phương pháp luận sử học, sử liệu học, văn bản học, các trường phái triết học lịch sử phương tây, lịch sử sử học, triết học Ấn Độ – cho cán bộ trẻ khoa sử. Nhóm thành viên bộ môn Phương pháp luận Sử học gồm các anh Phạm Xuân Hằng, Trần Kim Đỉnh, Hoàng Hồng và tôi được khai tâm như thế. Thầy là cha đẻ ngành lý luận sử học hiện đại của đất nước.

“Năm 1988, trong bài điếu tiễn biệt Giáo sư Đào Duy Anh, Hà Văn Tấn ví thầy mình như một tòa lâu đài tri thức mà ông chỉ có thể soi vào đó qua một ô cửa. Có thể Ông khiêm cung giữ vững đạo thầy trò. Phải rất lâu nữa, đất nước mới xuất hiện những bộ óc kiệt xuất như các ông Đào Duy Anh – Hà Văn Tấn.

“Xin vĩnh biệt Thầy Hà Văn Tấn, một nhân cách lớn, một nhà bác học lớn, và có thể nhà bách khoa thư cuối cùng của Việt Nam.”

Nhà sử học, Giáo sư Hà Văn Tấn còn được biết đến là người có vai trò và đóng góp to lớn đa lĩnh vực khoa học, trong đó có đóng góp cho ngành khảo cổ học đương đại ở Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội trong dịp này giới thiệu trên trang mạng của mình một bài viết từ trước, vinh danh ông của tác giả Đỗ Lai Thúy, bài viết có đoạn:

Một bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn
Chụp lại hình ảnh,Một bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn đăng trên Tạp chí Tổ Quốc, thuộc Đảng Xã hội Việt Nam nhiều thập niên trước, từ cuối thế kỷ trước (tư liệu từ FB của PGS. TS. Trần Kim Đỉnh)

“Khảo cổ học đòi hỏi một hiểu biết rộng và những tri thức liên ngành. Bởi vậy, ngành đầu tiên mà Hà Văn Tấn phải lấn sang là Nhân học hình thể (Anthropologie Physique), đặc biệt là nghiên cứu về sọ. Ông đã đọc sách và tìm gặp GS. Đỗ Xuân Hợp (chuyên gia số 1, người ngay từ trước 1945 đã cùng với Huart viết nhiều sách về nhân học hình thể người Việt). Rồi toán học thống kê cũng vậy.

“Khi đọc các tài liệu cổ học và nhân học nước ngoài thường gặp những công thức thống kê khó hiểu, cáu tiết Hà Văn Tấn bỏ thời giờ học lại lý thuyết xác suất và thống kê, tham khảo các sách viết về phương pháp thống kê áp dụng trong sinh học, y học và sử học. Cũng như vậy với khảo cổ học Đông Nam Á tiền sử. Bởi, muốn nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam, không thể không hiểu biết khảo cổ học vùng Nam Trung Hoa và Đông Nam Á. Hà Văn Tấn phải đọc rất nhiều sách, tạp chí tiếng Anh, tiếng Pháp để cập nhật được tình hình sôi động của khảo cổ học khu vực này. Rồi những dịp sang Pháp, ông đều ngồi lỳ trong các thư viện, nhất là thư viện Bảo tàng Con người ở Paris để thu thập tài liệu về văn hóa và nhân chủng Đông Nam Á.

“Còn về tình hình khảo cổ học nam Trung Quốc, thì phần lớn Hà Văn Tấn phải đọc tư liệu của Hồng Kông, Đài Loan, bởi tài liệu của lục địa thì do thời tiết chính trị nên lúc có lúc không. Hà Văn Tấn thấy rằng trên thế giới có nhiều trường phái khảo cổ học, nên ông muốn tìm hiểu các nhà nghiên cứu thuộc các trường phái đó đã xây dựng lý thuyết của mình dựa trên những điểm xuất phát nào. Dĩ nhiên, có khác nhau mà cũng có giống nhau, nhưng quan trọng hơn là ông nhận thức được rằng trong khoa học không phải vấn đề nào cũng có thể quy về ý thức hệ.

“Có một điều đáng lưu ý là, mỗi khi khám phá và chinh phục được mảnh đất mới nào là Hà Văn Tấn để lại dấu ấn của mình trên mảnh đất ấy. Về nhân học hình thể, ông viết “Vấn đề người Indonesien và loại hình Indonesien trong thời đại nguyên thủy Việt Nam” được các nhà nhân chủng học nổi tiếng thời đó của Liên Xô là M.G.Lêvin và N.N. Cheboksarov đánh giá cao.

“Về toán học thống kê, có Ứng dụng thống kê toán học trong khảo cổ học, thậm chí còn có khóa trình giảng dạy Toán thống kê trong khảo cổ học cho sinh viên. Ở nhiều lĩnh vực khác cũng thế, Hà Văn Tấn không bao giờ học để học, mà học để ra sản phẩm dưới dạng này hoặc dạng khác. Từ đó, ông rút ra hai kinh nghiệm quý giá cho các nhà khoa học sau ông là “muốn học có kết quả môn nào thì phải biết gắn những điều đã học với nghiên cứu giảng dạy” và “say mê không đủ, phải bền gan, và có chút ít liều mạng, liều mạng một cách nghiêm túc!”.

‘Kiêu và học giả thuần thành

Không chỉ đề cập di sản khoa học, vai trò và đóng góp học thuật của Giáo sư Hà Văn Tấn, bài viết trên trang mạng của Đại học Quốc gia Hà Nội bởi tác giả Đỗ Lai Thúy cũng đưa ra bình luận về nhân cách, phong cách của học giả này.

“Nếu người ta chú ý đến cái bụi của Trần Quốc Vượng, cái nghiêm túc của Phan Huy Lê, thì ở Hà Văn Tấn người ta chú ý đến cái kiêu. Có lẽ, trong các xã hội thang bậc của chúng ta từ trước nay, tự kiêu là cái tính được người ta vừa yêu vừa ghét.

“Nhưng với Hà Văn Tấn thì hẳn người ta dễ cảm thông hơn. Trước hết vì ông giỏi và thắng thắn bộc lộ cái giỏi đó. Sau nữa, thái độ tự kiêu của ông là để đối lập, để vạch mặt cái kiểu tự kiêu giả để che dấu cái dốt thật.

Tứ trụ sử học
Chụp lại hình ảnh,”Tứ trụ” sử học từ trái qua: GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn, GS. Phan Huy Lê và GS. Đinh Xuân Lâm – tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Đào Duy Anh, năm 2004 (ảnh tư liệu của PGS.TS. Trần Kim Đỉnh)

“Cuối cùng, trong nhiều trường hợp tự kiêu trùng với tự trọng. Hiểu được giá trị của bản thân và kiên quyết gìn giữ nó cho bằng được. Hà Văn Tấn là thế đó!”

Còn trên trang Facebook cá nhân, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, nhà nghiên cứu từ Viện Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, cũng trong dịp này chia sẻ cảm tưởng về Giáo sư Hà Văn Tấn, không lâu sau tang lễ của cố học giả:

“Tứ Trụ: Lâm – Lê – Tấn – Vượng. Đó là bốn ông Thầy của Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

“Ai đặt ra danh ngữ Tứ trụ và từ bao giờ? Đến tận mùa hè năm 1997, chính ông Phan Huy Lê cũng thừa nhận: “Cho đến nay, tôi vẫn không biết rõ tự đâu và từ bao giờ, ra đời câu nói ‘Lâm – Lê – Tấn – Vượng, Tứ trụ đại thần’. Dĩ nhiên là từ sinh viên khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi qua các thế hệ sinh viên tốt nghiệp công tác ở khắp nơi lưu truyền lan rộng ra cả nước”.

“Trong 4 ông: Ông Lâm là một ông giáo làm sử. Mực thước và êm đềm! Ông Vượng là một nghệ sĩ. Ông làm sử như một nghệ sĩ. Hay ông là một nghệ sĩ làm sử? Ông Lê là một chính khách. Ông làm sử như một chính khách. Hay ông là một chính khách làm sử?

“Ông Tấn là một học giả thuần thành. Không bị chính trị chi phối. Không bị thiên kiến. Không cảm xúc chính trị. Không bị thời tiết chính trị làm xổ mũi.

“Vì là sử gia thực thụ, nên ông Tấn ham học hỏi nhất, biết nhiều nhất. Cái gì cũng làm đến cùng kỳ lý, vừa sâu rộng, vừa chắc chắn. Và đương nhiên Ông có phông rộng và chắc nhất. Văn phong của Ông Tấn rất khuôn thước, đĩnh đạc, chắc chắn; rất sang trọng và đầy quyền uy.

“Ông Tấn ít xuất hiện trên truyền thông, và chỉ lên tiếng khi có vấn đề liên quan đến chuyên môn.

“So trong 3 đám tang các ông Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn thì đám tang ông Tấn là vắng hơn cả. Đám tang ông Vượng, người ta đến viếng là vì con người quảng giao và nghệ sĩ của ông.

“Đến viếng ông Lê là vì chính bản thân người đến viếng, phần lớn là quan chức (kể cả các học trò của ông). Và vì thế báo chí đưa bài và tin rất dày và chi tiết. Đến viếng ông Tấn chỉ có giới học thuật nhỏ bé. Họ lặng lẽ đến tiễn biệt Ông vì biết ơn ông và hiểu sự nghiệp vĩ đại của ông. Ông là một nhà bác học thực sự!,” Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện chia sẻ quan điểm riêng của ông trên trang mạng cá nhân.

  • Quốc Phương / BBC News Tiếng Việt

Giai thoại để đời về thói ‘ngông’ của Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Công Trứ là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam, nổi tiếng là vị quan thanh liêm, tài trí hơn người nhưng có lối sống tự do và vô cùng ngang tàng, ngạo nghễ.

Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh ngày 1/11 năm Mậu Tuất (1788) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Theo một số tài liệu, ông sinh ở Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Sống trong cảnh nghèo khổ nhưng ngay từ bé, cậu bé Củng đã nuôi ý tưởng làm nên nghiệp lớn với tuyên bố: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”.

Năm 1819, Nguyễn Công Trứ thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, bấy giờ đã 41 tuổi. Ông là người văn võ song toàn, làm tới chức Uy Viễn Tướng công Binh bộ Thượng thư nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, hạ tới ba bốn cấp.

Thông minh từ nhỏ

Theo một số giai thoại, ngay từ khi lọt lòng mẹ, Củng đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không chịu mở mắt hay khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác dù người nhà đem hết nồi đồng, mâm thau khua gõ liên hồi. Đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời, lắc đầu thì cậu mới cất tiếng khóc đầu tiên oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở nhỏ, cậu bé Củng học rất giỏi, thông minh lại tinh nghịch, lém lỉnh, nổi tiếng “thần đồng”. Tài cao trí sắc, đọc rộng nhớ nhiều, những câu đối đáp lỗi lạc của cậu bé Củng gây cho mọi người nỗi kinh ngạc và thú vị.

Khoảng 10 tuổi, Củng theo cha trở về Hà Tĩnh quê nội. Trong làng có ông Đồ Trung tốt bụng, đứng ra mời thầy đồ về nuôi trong nhà để trẻ con của làng tới học, trong đám học trò đó có Củng.

Một hôm, khi cả lớp đang ngồi học, ông chủ nhà chợt nổi hứng đi vào và xin thầy cho phép ra vế đối. Được thầy đồng ý, ông Đồ Trung nói: “Ta có câu đối này, trò nào đối hay và nhanh sẽ được thưởng một quan tiền”.

Rồi ông ta chỉ về phía cây đại đứng ngoài vườn, đọc vế đối: “Ngoài vườn cây đại nở hoa đại”.

Các học trò ngồi nhìn nhau, mặc dù rất thèm quan tiền nhưng không ai tìm được vế đối lại. Thấy cả lớp im lặng, thầy học lên tiếng giục, chỉ có cậu bé Củng ra vẻ ngập ngừng khó nói. Thầy hỏi: “Trò Củng, sao không đối đi?”. Củng khép nép thưa: “Thưa, con sợ bị quở phạt ạ”.

Ông chủ nhà khuyến khích ra vẻ rộng lượng: “Trò cứ đối, nếu hay thì ta sẽ thưởng cho, còn nếu có điều gì sơ suất thì ta và thầy cũng không bắt lỗi trò đâu”. Được lời, Củng nghiêm chỉnh đứng dậy đọc: “Trong buồng ông Trung ấp bà Trung” ạ.

Vế đối rất chuẩn, “trong” đối với “ngoài”, “Đại” đối với “Trung”, và “nở” thì đối với “ấp” khiến ông Đồ Trung đỏ mặt im lặng. Thầy trò cả lớp được một trận cười nghiêng ngả và tất nhiên Củng được nhận một quan tiền.

Lúc còn trẻ, Nguyễn Công Trứ là người rất tinh nghịch, thường hay lảng vảng vào các miếu long thần, thổ địa ở làng để chơi đùa, vẽ bậy. Có lần lại bê cả xôi, chuối, rượu, thịt ở bệ thờ về đánh chén, khiến thủ từ cứ nghi hoặc mà chẳng dám kêu ca.

Một buổi tối, Nguyễn Công Trứ lẻn vào miếu lấy rượu, thịt xuống nhắm say khướt, rồi lại nâng chén ghé mãi vào miệng long thần. Thấy pho tượng cứ ngồi yên không nhúc nhích, ông tức mình vật ngửa tượng ra đổ rượu vào mồm, đánh cho mấy bạt tai rồi mới đi về.

Sáng mai tỉnh dậy, không biết là ông hối hận hay nghĩ thế nào mà lại làm bài thơ rồi đem ra dán ở miếu để tạ long thần: “Hôm qua trời tối tới chơi đây / Ðánh phải long thần mấy cẳng tay / Khi tỉnh thời nào ai có dám / Say!”

Bấy giờ ông từ mới vỡ lẽ, nhưng thấy anh học trò có lời thơ sắc sảo, hài hước, cũng bật cười, chỉ răn đe qua loa chứ không đem ra bắt vạ.

Một lần khác, gần làng Uy Viễn của Nguyễn Công Trứ có một ngôi chùa, vị sư trụ trì ở đây là người tài cao học rộng nhưng rất kiêu ngạo, hiếu thắng. Ông này thường tự cho mình là nhất thiên hạ, xem thường cả Nho Củng vốn từ lâu đã nổi tiếng thần đồng khắp vùng. Biết vậy, ông cũng hiếu thắng tìm dịp gặp thử tài cao thấp.

Nhân một hôm rảnh học từ tỉnh thành về thăm nhà, Nho Củng bèn tìm tới chùa nọ chơi. Đến nơi, thấy ngoài sân trong điện không có ai, Củng lại đang khát nên đi thẳng vào bếp chùa để tìm nước uống, thì gặp sư trụ trì đang lúi húi bên bếp. Quay lại nhìn người lạ, vị sư buông ra một câu không mấy hiếu khách: “Khách khứa kể chi ông núc bếp”.

Cậu Củng nhìn quanh, thấy một cái vại (đồ bằng sành dùng để muối cà hay d­ưa) ở góc bếp, liền ứng khẩu đối lại: “Trai chay mà có vại cà sư”.

Câu này thực ra được nói lên rất vô tình, nhưng vị sư kia lại cho rằng Nho Củng thâm ý châm biếm mình có tư­ tình với bà vãi, nên chắp tay nhìn lên tượng Phật đọc một câu như thanh minh cho sự đứng đắn của mình: “Xin chứng minh cho, Nam mô A Di Đà Phật”.

Nho Củng chỉ vào cái kiềng trên bếp và cất tiếng đối lại: “Có giám sát đó, Đông Trù Tư­ mệnh Táo quân”.

Đông trù Tư ­mệnh Táo quân là thần coi bếp, cầm giữ bản mệnh của gia chủ. Bên mời “Phật”, bên nhờ “thần” ra minh chứng, quả thực là hay, lại “Đông” đối với “Nam”, “Quân” đối với “Phật” thì thật là tài.

Đến đây, vị sư vừa tức vừa hoảng, không ngờ gặp phải đối thủ trẻ tuổi mà cao cường đến vậy, liền hạ một chiêu cuối cùng, vừa vỗ ngực ta đây vừa hăm doạ đối thủ: “Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục”.

Nho Củng cũng đáp ngay: “Hay tám vạn tư­ mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người”. Vị sư đành nín thinh, chấp nhận thua cuộc, từ đó không dám cao ngạo nữa.

Lại có người kể, chuyện chưa dừng ở đấy. Nho Củng đắc thắng ra về, nhưng vừa bước đến giữa sân thì hai con chó nhà chùa xổ ra cắn. May có chú tiểu ngăn mãi mới được. Nho Củng dừng lại nhìn quanh chùa rồi ngâm hai câu như một lời nhắn gửi: “Bụt cũng hiền lành, sư cũng khá / Còn hai con chó chửa từ bi”.

Cao ngạo cả khi về già

Gần 30 năm tận tâm lăn lộn chốn quan trường, Nguyễn Công Trứ mấy lần dâng sớ xin nghỉ hưu nhưng vua vẫn không cho. Khi đã qua tuổi thất thập, ông lại lần nữa dâng sớ lên vua Tự Đức vừa lên ngôi và lần này thì được phê duyệt về nghỉ với chức quan Phủ doãn Thừa Thiên.

Ngày “nhận sổ hưu” với 170 quan tiền, Nguyễn Công Trứ liền rầm rộ tổ chức một bữa tiệc chia tay bạn bè, đồng liêu trên dưới. Gia nhân tấp nập mượn nhà, mua sắm lễ vật, cơm rượu đề huề và thật nhiều chó, những 40 con chó đủ loại sắc thể.

Các quan khách kéo đến rất đông, ngửi mùi cầy chế biến thơm lừng, chỗ này chỗ kia dậy tiếng trầm trồ to nhỏ: “Ôi, thịt chó, chó, nhiều quá”. Dường như chỉ chờ có vậy, cụ Thượng hưu đứng dậy vuốt râu dõng dạc và chỉ quanh khắp lượt nói: “Dạ thưa, đúng như vậy đấy ạ. Đúng là trên dưới, trong ngoài, lớn bé, tất cả đều là chó hết cả ạ”.

Về hưu nhưng cụ Thượng Trứ không ở lại làng Uy Viễn, mà vào ở một cạnh ngôi chùa trên núi Cảm Sơn, thuộc xã Đại Nại gần tỉnh Hà Tĩnh bây giờ và thường cưỡi bò vàng đạc ngựa đi chơi đây đó.

Người đời truyền tụng, để diễu và răn dạy những kẻ hay đàm tiếu những chuyện thị phi ganh ghét, cụ viết thơ lên chiếc mo cau rồi buộc sau đít bò. Nhiều người còn nhớ hai câu “Miệng thế khó đem b­ưng nó lại / Lòng mình chưa dễ bóc ai coi”.

Thiên hạ thấy vậy lại đua nhau bàn tán, kẻ bảo cụ chán đời, người bảo cụ ngạo thế. Cụ chỉ ngất ngưởng cười, nghêu ngao thơ, bất tận chơi mà chẳng bận lòng.­

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Tôn chỉ và sự hành động của Cộng Sản đảng

Trích trong cuốn ” Một cơn gió bụi – Trần Trọng Kim

Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ, là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa, cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của Các Mác và Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là được sung sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời. Còn về đường tín ngưỡng, thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác, Lê Nin, Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ.

Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tả đạo. Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì là người phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm. Vì vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế, là một chi cộng sản phản đối Sử Ta Lin, chủ Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế.

Vậy những tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín và chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm cho mình được mọi điều thắng lợi, sá chi những điều phúc họa thiện ác.

Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng. Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết. Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin là người mờ tối, là người mê muội. Vì có tư tưởng như thế, cho nên cha con, anh em, bè bạn không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của cộng sản và phục tòng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là người giỏi, người tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để thành lập xã hội mới. Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cương giới nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. Vì vậy cho nên bất kỳ nước nào đã theo cộng sản là phải phục tùng mệnh lệnh bên Nga, còn nước nào tuy theo chế độ cộng sản, nhưng còn muốn giữ tư tưởng quốc gia như nước Nam Phu Lạp Tư (Yougoslavie) bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài hội nghị của các nước cộng sản.

Cái phương thuật của đảng cộng sản bên Nga không khéo chỗ ở ấy, tuy nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế đô độc tài áp chế đời xưa, nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn thời xưa, và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một danh hiệu khác, để tự mình thống trị hết thiên hạ. Thành ra các nước đã theo cộng sản đều phải là những nước phụ thuộc nước Nga, cũng như bên Tàu ngày xưa các nước chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử. Thì ra trong thế gian này chẳng có gì là mới lạ. So chế độ cộng sản ở nước Nga ngày nay có khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàủ Có khác là ở những phương tiện theo khoa học và những mánh khóe hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá như thế, và cũng dùng những quyền mưu quỉ quyệt để thống trị hết cả các nước.

Ðảng cộng sản đã có cái tổ chức rất đúng khoa học, đảng viên lại giữ kỷ luật rất nghiêm, rất chịu khó làm việc và có tín lực rất mạnh. Ai theo đảng là đắm đuối vào chủ nghĩa của đảng, có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh được tuẫn tử vì đảng. Về sự hành động thì đảng cộng sản chuyên dùng những thủ đoạn quỉ quyệt, nên tuy có thắng lợi mà những người trí thức ít người theo. Cũng vì vậy mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà, trẻ con và những người lao động là hạng người dễ khuyến dụ, dễ lừa dối.

Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì?

Cứ như ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.

Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì giải phóng ở đâủ Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v…v… thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.

Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: “Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế”. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ: “Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà?” Họ trả lời: “Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc”. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâủ

Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu “nói như Vẹm”. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt V M, đọc nhanh mà thành ra.

Chính phủ Việt Minh đối với ông Bảo Ðại rất là đơn bạc, nhưng bề ngoài vẫn làm ra bộ thân thiện. Họ để ông ở nhà của viên đốc lý Hà Nội ở trước, song đồ đạc không có; chỗ nằm ngủ, đến cái mùng ông cũng phải đi mượn. Cơm nước thì họ cử một người hào phú trù liệu cho ông. Song mỗi khi ông đến chỗ dân chúng, nhân dân rất hoan nghinh và các phái viên ngoại quốc như Tàu và Mỹ rất kính trọng và thường chú ý đến ông.

Việt Minh thấy dân chúng kính mến ông Bảo Ðại và người ngoại quốc để ý đến ông, họ bèn đem ông vào ở Sầm Sơn trong Thanh Hóa, rồi sau lại đem ông lên Phủ Thọ Xuân, thành ra ông mắc phải bệnh nóng lạnh ngã nước, sang Hương Cảng chữa mãi không khỏi. Sau cuộc tổng tuyển cử vào quảng tháng giêng năm 1946, Việt Minh mới để ông trở về Hà Nội. Khi Việt Minh lập xong chính phủ do quốc hội chuẩn y rồi, họ thấy dân chúng và người ngoại quốc có nhiều cảm tình đối với ông Bảo Ðại và lại biết quân Pháp sắp vào Bắc Trung Bộ, họ sợ để ông ở Hà Nội có xảy ra sự biến gì chăng, mới bày ra cách lập một phái đoàn sang Trùng Khánh tỏ tình thân thiện với nước Tàu.

Cứ như ý riêng của tôi, thì việc ấy ông Hồ Chí Minh có thể mưu với những tướng Tàu là bọn Lư Hán và Tiêu Văn, nói rằng chủ tịch Tưởng Giới Thạch có điện mời ông Bảo Ðại sang Trung Hoa chơi. Vì lúc ấy bọn tướng Tàu đã lấy tiền của ông Hồ, nên bảo gì chẳng được. Hãy xem như sau khi ông Hồ đã ký hiệp ước với Pháp, ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần bỏ sang Tàu, tướng Tiêu Văn cứ chạy theo cụ Nguyễn để cố mời cụ trở về Hà Nội làm việc, thì biết dù sao đi nữa, việc lập một phái đoàn để đưa ông Bảo Ðại sang Tàu có tính cách vội vàng và bí mật lắm. Phái đoàn ấy để ông Bảo Ðại đứng đầu, có mấy người Việt Minh và mấy người Quốc dân đảng đi theo. Hôm tôi đến thăm ông lần đầu, ông nói qua việc ấy tôi nghe. Tôi cũng khuyên ông đi ra ngoài, vì ở trong nước có nhiều sự nguy hiểm cho ông. Song tôi tưởng còn lâu mới đi, nào ngờ cách bốn hôm sau tôi đến thì ông đã đi hôm trước rồi. Sang đến Trùng Khánh, chủ tịch Tưởng Giới Thạch có tiếp ông tử tế. Song mấy người Việt Minh và Quốc dân đảng bỏ ông ở bên ấy không để tiền nong gì cho ông, ông phải vay mà tiêu. Còn hoàng hậu và mấy người con, ông Hồ có hứa rồi sẽ cho sang sau, nhưng rồi cũng không cho sang. Lúc ấy chính phủ Trung Hoa đang dọn về Nam Kinh, có mời ông về đấy, nhưng ông từ chối rồi về ở Hương Cảng.

Sau chính phủ Việt Minh gửi thư sang bảo ông cứ ở bên Tàu đừng về nữa. Xem thế cũng rõ cái ý chính phủ Việt Minh là muốn đưa ông Bảo Ðại ra ngoài để họ dễ làm việc và khỏi lo ngại về việc có thể xảy ra được. Ðó là mưu sự của người, nhưng biết đâu lại không phải là ý trời xui khiến ra như thế, để ông ra khỏi chỗ nguy hiểm ở trong nước.

TheoVinadia.org