Đường Lâm – ngôi làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam

Xét về quy mô kiến trúc, làng cổ Đường Lâm chỉ đứng sau phố cổ Hội An và phố cổ Hà Nội. Đây là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Nằm ở địa phận thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, làng Đường Lâm mang những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc đặc biệt, được coi là ngôi làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam.

Xưa kia, nơi đây gồm 9 làng, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tín ngưỡng được gìn giữ trong suốt hàng ngàn năm.

Trong lịch sử Việt Nam, Đường Lâm nổi tiếng là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, là nơi sinh của vua Phùng Hưng và vua Ngô Quyền, được người đời mệnh danh là “một ấp hai vua”.

Ngày nay, làng cổ Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc trưng cơ bản của một ngôi làng cổ Việt Nam với cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, chùa, miếu, điếm canh, giếng nước, ruộng nước, gò đồi…

Một hình ảnh mang tính biểu tượng về Đường Lâm là cánh cổng xưa của làng Mông Phụ. Cánh cổng có dạng một ngôi nhà hai mái đốc nằm cạnh bến nước, dưới tán lá đa xanh mát.

Công trình kiến trúc nổi bật của làng cổ là đình Mông Phụ. Đình được xây dựng năm 1684, mang những nét điển hình của một ngôi đình cổ truyền thống. Hàng năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng Một đến mùng Mười tháng Giêng Âm lịch với các trò chơi như thu lợn thờ, thi gà thờ,…

Công trình quan trọng khác là chùa Mía (tức Sùng Nghiêm tự), khởi lập năm 1621, là nơi thờ Bà Chúa Mía cùng chư Phật. Chùa còn giữ được nhiều cấu kiện kiến trúc có từ thế kỷ 17 cùng 287 pho tượng mang giá trị mỹ thuật cao.

Về nhà cổ, Đường Lâm còn lưu giữ được gần 1.000 ngôi nhà truyền thống, tập trung nhiều nhất ở các làng Đông Sàng, Mông Phụ và Cam Thịnh. Nhiều ngôi nhà được xây dựng từ thế kỷ 17-19.

Đặc trưng của kiến trúc nhà ở Đường Lâm là sử dụng đá ong – một sản vật của vùng đất Sơn Tây – làm vật liệu xây tường thay cho gạch. Điều này làm không gian kiến trúc của làng cổ mang một sắc thái riêng đầy hấp dẫn.

Một nét độc đáo khác của làng cổ Đường Lâm là hệ thống đường gạch cổ với các đường nhánh tỏa ra từ hai bên trục chính như hình xương cá. Với cấu trúc này, nếu đi từ đình làng sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.

Đặc sản nổi tiếng của Đường Lâm là tương. Tương ở đây có chất lượng không hề thua kém các làng làm tương lâu đời khác ở Bắc Bộ. Ngoài ra làng còn có món kẹo dồi, kẹo lạc, chè lam… ngon nức tiếng xa gần.

Xét về quy mô kiến trúc, làng cổ Đường Lâm chỉ đứng sau phố cổ Hội An và phố cổ Hà Nội. Đây là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 2006)…

Theo KIẾN THỨC

Một chuyện đáng suy ngẫm về nguồn gốc của sự khổ đau

Nỗi buồn khổ của con người đến từ đâu? Là đến từ ngoại cảnh, là người khác gây ra cho mình? Thật ra thống khổ hay hạnh phúc của con người thường đến từ nội tâm, đến từ niềm vui đạt được, nỗi sợ bị mất đi. Nguồn gốc của khổ đau chính là những điều mà một người không muốn buông bỏ.

(Ảnh minh họa: Aaron Andrew Ang, Unsplash)
Chuyện kể rằng ở vùng nọ, có một khách sạn hết sức danh tiếng. Một dạo, ông chủ khách sạn phát hiện ra có một người lang thang ngày nào cũng ngồi bất động ở ghế đá công viên mà nhìn chằm chằm vào khách sạn của mình. Ông cảm thấy rất tò mò.

Đến một hôm, ông chủ khách sạn không thể kìm được, bèn đi đến chỗ người lang thang và hỏi: “Xin lỗi, anh bạn, tôi muốn hỏi anh một chút, tại sao ngày nào anh cũng nhìn chằm chằm vào khách sạn của tôi vậy?”

Người lang thang nói: “Bởi vì cái khách sạn này quá đẹp! Mặc dù tôi chỉ có hai bàn tay trắng và ngủ trên ghế đá, nhưng mỗi ngày tôi đều nhìn nó như vậy, đến tối sẽ mơ thấy mình được ngủ ở trong đó”.

Bất ngờ trước câu trả lời, ông chủ khách sạn liền hào phóng nói: “Anh bạn, đêm nay tôi sẽ cho anh được mãn nguyện, anh có thể ở miễn phí tại phòng tốt nhất của khách sạn trong một tháng”.

Sau một tuần lễ đi du lịch, ông chủ khách sạn trở lại và muốn xem thử tình hình của người lang thang kia như thế nào. Nhưng ông lại ngỡ ngàng khi phát hiện ra người lang thang đã sớm rời khách sạn, trở lại ghế đá công viên ngủ như trước đây.

Ông chủ khách sạn bèn đến hỏi người lang thang: “Rốt cuộc thì đã xảy ra chuyện gì?”

Người lang thang nói: “Lúc trước tôi ngủ trên ghế đá, mơ thấy được ở trong khách sạn, nên thấy rất vui vẻ. Nhưng khi ngủ trong khách sạn, tôi lại thường mơ thấy mình trở lại với chiếc ghế đá cứng nhắc này. Thật là đáng sợ. Cho nên tôi không thể chịu đựng được nữa!”

Kỳ thực nỗi khổ của một người rất nhiều khi không liên quan đến việc họ “có” hay “không có” thứ gì. Nguồn gốc của khổ đau là sự chấp trước, không buông bỏ được của người ta. Cổ nhân giảng rằng: “Con người sở dĩ thống khổ là bởi vì họ truy cầu quá nhiều”.

Đời người không thể việc gì cũng thuận theo lòng mình, nhưng con người lại thường hay lấy đó làm khổ. Người trí tuệ hiểu rõ rằng trong cuộc sống có những ước mơ là xa vời không thành hiện thực, có một số vấn đề vĩnh viễn không có câu trả lời, có một số chuyện luôn luôn không có kết thúc, có một số người mãi mãi không thể trở thành người thân…

Khổ đau thực sự cũng không phải có nguồn gốc ở bên ngoài, không phải bởi người khác đem đến cho mình, mà bởi sự tu dưỡng của bản thân mình chưa đủ, không có khả năng chấp nhận, không có khả năng buông tha cho một chút chấp niệm ấy. Có những việc rất đơn giản nhưng bị người ta làm phức tạp lên, rồi lại cảm thấy thống khổ. Thế gian ấm lạnh đều có, sau khi nếm đủ trăm vị, người ta mới ngộ ra: Mọi việc đều cần coi nhẹ, tuỳ duyên mới có thể yên lòng.

Hơn thế nữa, một người khi lâm vào ranh giới sinh tử mới hiểu được rằng trên thế gian này chẳng có gì là mãi mãi. Người ấy càng hiểu ra rằng hết thảy danh, lợi cũng chỉ như mây gió thoảng qua, hết thảy đều là vô thường.

Con người được Thiên thượng ban cho sinh mệnh, và cũng đồng thời được ban cho hoàn cảnh sống vô thường này. Cũng chỉ có sự an bài của tạo hóa như vậy thì con người mới biết quý trọng cuộc sống, mới có thể cảm ngộ ra rằng nhân sinh bất quá chỉ là quán trọ mà thôi. Cũng chỉ có vậy thì con người mới luôn vô ý hay hữu ý mà không ngừng tự hỏi trong suốt cuộc đời: “Ta là ai? Ta từ đâu tới? Đến thế gian này để làm gì? Chết rồi sẽ đi về đâu?”.

Người xưa có câu: “Triêu văn đạo, tịch khả tử”, sáng sớm nghe đạo, tối chết cũng an lòng. Trong tâm có thấu hiểu, có lĩnh ngộ, có buông bỏ thì mới có thể an yên mà vượt qua. Nhân sinh là vô thường, nhưng Trời đất không vận chuyển một cách tùy ý ngẫu nhiên. Từ xưa đến nay, niềm tin về một quy luật, một dòng năng lượng hài hòa chảy xuyên suốt toàn vũ trụ đã là trọng tâm của nhiều nền văn minh. Đạo gia gọi sự cân bằng ấy là “Đạo”. Đức Phật thể hiện quy luật ấy thông qua lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh.

Con người chỉ có tu luyện, hướng về quy luật vũ trụ mà hòa tan vào, thì mới có thể buông bỏ và vượt thoát khỏi nhân thế gian, thì mới có thể thực sự nhìn thấy được sự bất biến chân thực bên trong lẽ vô thường của Trời đất.

An Hòa biên tập /TrithucVN

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì

Hãy nhớ rằng thời gian, năng lượng và hạnh phúc là những thứ đáng để ưu tiên. Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm những giá trị đẹp đẽ đó.

Nhà triết học Heraclitus từng nói: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông, bởi đó không phải dòng sông ban đầu và người đó cũng không còn như trước”. Con người là những sinh vật liên tục thay đổi. Chúng ta già đi và tự điều chỉnh bản thân. Chúng ta vượt qua và giành chiến thắng.

Tuy nhiên, một số khó khăn có thể khiến chúng ta trở nên mù quáng. Chúng miễn nhiễm với sự tiến bộ. Chúng liên tục biến đổi và phát triển. Bạn cố gắng đánh bại khó khăn, nhưng chúng luôn tìm cách để quay trở lại: một mối quan hệ rạn nứt khác, một ngã rẽ sự nghiệp thứ hai, một cảm giác bất an trong lòng.

Điều này khiến bạn tự hỏi: “Chẳng nhẽ mình không học được gì?”. Đây chính là lý do tại sao chúng ta không nên ngừng tìm kiếm những điều dưới đây

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm bản chất vấn đề

Abraham Wald là một nhà vật lý toán học nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20. Ông được quân Đồng minh tuyển dụng trong Thế chiến II.

Khi ấy, quân Đồng minh đang gửi máy bay ném bom tới chiến trường nước Đức, nhưng phần lớn đều bị bắn hạ. Họ quyết định bọc giáp cho máy bay, nhưng chỉ một lớp mỏng do vấn đề trọng lượng. Vấn đề quan trọng nhất lúc bấy giờ: “Bọc giáp cho phần nào của máy bay?”

Các tướng lĩnh đến gặp Wald để tìm lời giải đáp. Theo tài liệu phân tích, những chiếc máy bay trở về bị bắn nhiều nhất ở phần cánh và thân. Vì vậy, quân Đồng minh muốn bọc giáp ở các vị trí đó.

Tuy nhiên, Wald đã nhận ra đó là tư duy sai lầm. Họ chỉ sử dụng dữ liệu lấy từ những chiếc máy bay trở về, có nghĩa là việc hư hại ở những vị trí trên hoàn toàn không nghiêm trọng. Do đó, họ phải bọc giáp ở những vị trí ít bị bắn nhất, như phần đuôi và động cơ. Bởi lẽ, những chiếc máy bay bị bắn ở đó đều không thể quay trở về.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 1.

Phát hiện này của Wald đã thay đổi hoàn toàn tư duy nghiên cứu quân sự và cứu được hàng ngàn mạng sống. Ông nhận thấy con người có xu hướng xác định và giải quyết sai vấn đề.

Chẳng hạn, khi hôn nhân lục đục hay tình bạn rạn nứt, chúng ta thường đổ lỗi cho đối phương. Chúng ta quên mất hành vi là biểu hiện của vấn đề, chứ không phải bản chất vấn đề. Chúng ta chỉ biết mắng mỏ và nghĩ xấu về nhau.

Chỉ khi ngồi xuống phân tích và xem xét các dữ kiện, con người mới có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề. Như Einstein đã nói: “Nếu có 1 tiếng để cứu thế giới, tôi sẽ dành 59 phút để xác định vấn đề và 1 phút để giải quyết nó”.

Vì thế, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm bản chất của vấn đề.

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm con đường phù hợp cho bản thân

Tôi chẳng thể quên được những đường gân xanh nổi lên trên trán cô ấy. Nó như chực vỡ ra khi  đứng bật dậy, hét lớn: “6 tháng? Anh trả tiền làm thêm giờ cho họ suốt 6 tháng!”.

CFO của chúng tôi đang vô cùng tức giận. Mục tiêu của cô ấy là trưởng dự án Louis – người bình tĩnh giơ cả hai tay lên phân trần. “Tôi đã bảo chị vài lần rằng chúng ta có nhân viên thực địa. Tôi nói với tất cả mọi người trong phòng này. Tại sao giờ chúng ta lại tỏ vẻ ngạc nhiên vậy?”

Công ty đã phải trả nửa triệu USD tiền tăng ca cho các nhân viên thực địa. Còn 10 người chúng tôi thì ngồi trong phòng họp sang chảnh. Nữ CFO tiếp tục la mắng trước khi đùng đùng bỏ ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa sau lưng.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 2.

Louis không thuộc nhóm tôi, nhưng tôi nhớ anh ấy đã nói với CFO về chuyện làm thêm giờ từ vài tháng trước. Cô ấy mới là người đã quên. Giờ đây, cô ấy lại đổ lỗi và chỉ trích các trưởng dự án khác. Đây chỉ là một ngày bình thường trong văn phòng đầy biến động của chúng tôi.

Trong cuộc sống, có những “khoảnh khắc” mà chúng ta biết sẽ phải kết thúc. Đối với tôi, buổi họp hỗn loạn hôm ấy chính là “khoảnh khắc” tôi biết sự nghiệp tài chính của mình sẽ chấm dứt. Đó là một quyết định đầy cảm xúc, đặt dấu chấm hết cho 10 năm học hỏi và nỗ lực của tôi. Đó là giây phút mà mọi sự chắc chắn về tương lai sụp đổ.

Tuy nhiên, cũng giống như mọi cuộc thật tình, đây là một cái kết đã sớm được dự báo. Nhờ nó, tôi nhận ra một tương lai khác mà mình xứng đáng được hưởng.

Bạn không bao giờ chạy trốn khỏi bản thân mình được. Khi mọi chuyện trở nên không ổn có nghĩa là cuộc sống của bạn đã không còn đồng bộ nữa. Con người bạn và thứ bạn đang làm không còn phù hợp với nhau.

Kể từ đó, tôi đặt ra nguyên tắc cho bản thân: không bao giờ tiếp tục một công việc khiến mình khổ sở. Tiền bạc hay vinh quang cũng chẳng thể thay đổi được sự thật ấy.

Tôi sắp sửa bước sang tuổi 40, còn các thành viên trong gia đình cũng ngày một già đi. Sự hữu hạn của cuộc sống chưa bao giờ rõ ràng như vậy. Thật lãng phí nếu cứ dành thời gian cho những điều không khiến mình hạnh phúc.

Vì vậy, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm con đường phù hợp với bản thân. Kể cả khi không tìm ra nó, ít nhất bạn cũng sẽ yên tâm xuôi tay nhắm mắt khi biết rằng mình đã cố gắng hết sức thay vì làm một kẻ hèn nhát.

Dẫu tương lai mờ mịt đến đâu, cũng đừng bao giờ ngừng tìm kiếm 3 điều tuyệt vời này trong cuộc sống: Càng đào sâu, ta sẽ biết mình tồn tại vì điều gì - Ảnh 3.

Đừng bao giờ ngừng tìm kiếm cách tận dụng thời gian hữu hiệu nhất

Trong giờ phút cận kề cái chết, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã nói những lời cuối cùng: “Tôi chán ngấy tất cả rồi”.

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, sự buồn chán phục vụ cho một mục đích quan trọng: đó là cách mà cơ thể khuyên con người nên sử dụng thời gian khôn ngoan hơn. Thứ mà bạn làm bây giờ không còn thích hợp nữa,

Một phần trong tôi chết dần chết mòn khi phải nghe mọi người than vãn về chuyện buồn chán. Suốt nhiều năm liền, cuộc đời chỉ là một trải nghiệm ngột ngạt và dài lê thê trước khi tôi tìm được cách thoát ra. Thật tệ hại khi cứ phải dành thời gian cho sự buồn chán.

Đến một lúc nào đó, từng người trong số chúng ta sẽ nhận ra: thời gian để mình tồn tại trên thế giới này là có hạn. Đừng bao giờ đợi tới lúc muộn màng đó mới tự hỏi mình đang làm gì với cuộc đời.

Hãy đọc một cuốn sách. Trò chuyện với bạn bè. Đi dạo xung quanh. Kể cả khi cảm thấy buồn chán, hãy tận dụng khoảng thời gian đáng quý đó.

Chẳng hạn, trung bình một người đàn ông sẽ cảm thấy chán nản sau 26 phút đi mua sắm cùng vợ. Khi ấy, tôi sẽ cố gắng tỏ ra kiên nhân, tìm một chiếc ghế thoải mái và ngồi xuống đọc sách. Đó là cách mà tôi chiều lòng bạn gái mình. Vì thế, đừng bao giờ ngừng tìm kiếm cách sử dụng thời gian hữu hiệu nhất.

Bài chia sẻ của Sean Kernan – cây bút giàu kinh nghiệm từng viết cho The Huffington Post, Inc, Apple News,… Anh có hơn 4000 bài viết trên các nền tảng khác nhau, thu hút hơn 350 triệu lượt xem của độc giả.

(Theo Medium)

Ngọc Hà / Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

Lenin lần đầu gọi ‘trí thức là phân’ trong thư gửi Gorky

Gorky
Chụp lại hình ảnh,Alexander Bogdanov (trái) chơi cờ với Lenin (phải) khi hai người đến thăm Maxim Gorky ở Capri, Ý năm 1908. Đây là giai đoạn các nhà hoạt động Nga sống lưu vong ở châu Âu

Không phải Mao Trạch Đông mà Lenin mới là nhà cách mạng lần đầu gọi trí thức cũ là ‘cục phân’ trong thư gửi Gorky năm 1919.

Dù câu “Trí thức là cục phân” thường được gán cho lãnh tụ Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông, nhưng cách dùng từ này được Vladimir Lenin viết ra trong văn bản từ trước đó.

Trong lá thư viết hôm 15/09/1919, Lenin bàn luận với nhà văn Maxim Gorky về nhà thơ Vladimir Korolenko và lên án “giới trí thức tư sản”.

Mở đầu thư, Lenin cập nhật cho Gorky một số tin nhân sự và giải thích việc bắt nhóm Đảng Dân chủ Lập hiến:

Aleksei Maksimovich thân mến,

Tôi gặp Tankov, và trước khi ông ấy tới thăm, và trước khi nhận thư của anh, chúng tôi đã quyết định tại Tseka (Trung ương Đảng) bổ nhiệm Kamenev và Bukharin vào phụ trách công tác đánh giá lại các vụ bắt giữ bọn trí thức tư sản thuộc nhóm Kadet (Constitutional Democrat), rồi đã cho thả ra.

Điều quá rõ ràng là có những sai lầm đã phạm phải trong vụ việc.

Nhưng cũng rất rõ ràng rằng việc bắt nhóm này là cần thiết và đúng đắn.

Khi đọc ý kiến thẳng thắn của anh[Gorky phản đối việc bắt giữ], tôi nhớ lại cuộc tranh luận của chúng ta ở London, Capri và câu nói của anh khi đó để lại ấn tượng rất mạnh với tôi.

“Bọn văn nghệ sĩ chúng tôi là những kẻ vô trách nhiệm.”

Lenin tìm cách lý giải vụ bắt ” vài trăm quý ông Kadet và giả Kadet” là để phòng ngừa một âm mưu như vụ ở pháo đài Krasnaia Gorka, và nói đó chẳng phải là “bi kịch gì cả”.

Tiếp theo, Lenin chuyển sang câu chuyện về tác phẩm Chiến tranh, Đất mẹ và Nhân loại của Vladimir Korolenko (1853-1921) ấn hành tháng 8/1917.

Trong thư, Lenin gọi Korolenko, người Gorky coi như đàn anh, là kẻ “giả Kadet, gần như là một tay Menshevik”(phái chống Bolshevik trong Đảng Xã hội Nga).

Nhân đó, Lenin lên án “trí thức tư sản” và nói với Gorky rằng chỉ có “tri thức của công nông” mới là sức mạnh thực sự:

Các lực lượng trí thức của công nhân và nông dân đang vươn lên, ngày càng mạnh hơn trong cuộc chiến đấu lật đổ bọn tư sản, những kẻ đồng phạm của chúng –tức là giai cấp có giáo dục, tay sai của đồng vốn tư bản –những kẻ cứ nghĩ chúng là bộ não của dân tộc. Nhưng trên thực tế, chúng không phải là não, mà là cục phân của dân tộc.

Lenin kết thúc lá thư bằng lời kêu gọi Gorky hãy bỏ ngay quan hệ trí thức tư sản càng sớm càng tốt.

Coi trí thức tư sản là ‘cục phân’ trong hoàn cảnh nào?

Nước Nga sau Cách mạng 1917 rơi vào cảnh hỗn loạn, nội chiến và bị bao vây.

Korolenko
Chụp lại hình ảnh,Vladimir Korolenko sinh ở Zhitomir trong gia đình gốc Ukraine – Ba Lan và qua đời tại quê hương sau thời gian thất vọng nặng nề với hành xử của chính quyền Xô Viết

Tháng 2/1919, Maxim Gorki trong “Lời kêu gọi gửi ra toàn thế giới đã ca ngợi Lenin và cách mạng Nga vốn đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù:

Lãnh đạo chiến dịch chống lại Nga là Woodrow Wilson. Vladimir Lenin đang nắm chắc ngọn đuốc của Cách mạng Nga trong tay và rọi chiếu ánh sáng ra toàn thế giới. Giai cấp vô sản và người lao động trí thức (intellectual workers) cần chọn giữa những kẻ bảo vệ trật tự cũ, những kẻ đại diện cho chính phủ của thiểu số kiểm soát đa số, chế độ cũ không có tương lai, và những người phá đổ tất cả thứ văn hóa đó, những người kiến tạo lý tưởng xã hội mới, và là hiện thân của của ý tưởng hạnh phúc, việc làm tự do, tình huynh đệ của nhân dân với công nhân.”

Tuy thế, cũng từ năm 1919, Gorky và nhiều trí thức Nga ủng hộ cách mạng đã lo ngại trước làn sóng bắt bớ của chính quyền Lenin nhắm vào nhóm cựu Kadet, gồm nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục Nga nổi tiếng.

Đảng Kadet là lượng chính trị trung hữu, ủng hộ tự do cá nhân, bảo vệ thiểu số Do Thái, có mặt trong Viện Duma Nga từ 1906.

Sau Cách mạng 2/1917, Kadet có bốn thành viên vào chính phủ lâm thời, nhưng sau bị chính quyền Bolshevik cho là bất hợp pháp.

Từ năm 1919, chính quyền của Lenin ra lệnh bắt hàng loạt trí thức, nhà khoa hoặc, văn nghệ sĩ Nga, gồm cả những người theo Kadet.

Chính quyền trục xuất những cựu thành viên Kadet và các đảng Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng, Menshevik và Dân tộc chủ nghĩa.

Các đợt trấn áp này bị trí thức từng ủng hộ Cách mạng tháng 10 phản đối.

Vì những người đã bị đuổi sang Phương Tây tiếp tục viết bài, lên tiếng phê phán chế độ ở Nga, Lenin cấm những người ở lại được xuất cảnh.

Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng.

Hè năm 1918, ông bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành.

Cho đến lúc chết năm chưa đến 54 tuổi, trong người Lenin vẫn còn hai viên đạn.

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya
Chụp lại hình ảnh,Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya. Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng vì bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành năm 1918.
Những tâm hồn Nga

Ngày nay, nước Nga đã có cái nhìn khác về di sản bạo lực một thời và những nhân vật nổi bật thời kỳ trước và sau năm 1917.

Sau 1990, việc phục hồi các trí thức Kadet và nhiều nhân vật khoa bảng thời trước cách mạng đã diễn ra.

Trên thực tế, dù bị Lenin phê phán, Korolenko vẫn có uy tín lớn với các nhân vật cộng sản châu Âu.

Rosa Luxemburg, một lãnh tụ cộng sản châu Âu gốc Do Thái, đã viết về Korolenko khi ngồi tù ở Breslau (nay là Wroclaw, Ba Lan) tháng 7/1918, ca ngợi và so sánh hai tài năng của văn học tiếng Nga:

Tác phẩm Thời thơ ấu của Maxim Gorky có thể so sánh ở nhiều góc độ với Lịch sử đương đại của Korolenko. Về mặt nghệ thuật, họ thật khác nhau một trời một vực. Korolenko, như Turgenev mà ông luôn ngưỡng mộ, có tâm hồn mẫn cảm, có bản tính đầy chất thơ, con người của nhiều tâm trạng. Gorky, theo đúng truyền thống Dostoevsky, nhìn đời đầy kịch tính, là người đàn ông của các nguồn năng lượng và hành động rất tập trung…

Là bậc đàn anh của Maxim Gorky, Korolenko, nổi tiếng với nhiều tác phẩm trong đó có Russkoe Bogatstvo, đã rút lui về quê nhà ở Ukraine sau cách mạng 1917 và qua đời năm 1921.

Sau khi Lenin chết, Maxim Gorky (sinh năm 1868) thì trở thành gương mặt của văn học công nông Liên Xô, và được Stalin tôn trọng, đề cao.

Tuy thế, các lá thư ông trao đổi với Stalin và Genrikh Yagoda (bộ trưởng an ninh Liên Xô) được công bố trong thập niên 1990 cho thấy Gorky vào những năm cuối đời cũng dần mất hết ảo tưởng rằng tự do có thể tồn tại trong thể chế Xô Viết và viết nhiều hơn về các chủ đề trước cách mạng 1917.

Qua đời năm 1936, đến 1938 tên tuổi Gorky lại bị lôi ra trong một vụ án với cáo buộc chính nói là Yagoda đã chủ mưu giết ông.

Các sử gia ngày nay cho rằng đó chỉ là vụ việc do Stalin dàn dựng.

Theo BBC

Người Việt, người Nhật

Tìm hiểu về hình ảnh con người Nhật Bản như thế nào?
Cô gái Nhật

Rất nhiều người Việt nam gán cho người Nhật một câu so sánh giữa người Nhật và người Việt mà chính tôi dù quen biết khá nhiều người Nhật chưa bao giờ nghe họ nói: Một người Việt hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt nam hợp lại thua ba người Nhật. Câu nói đó có vẻ như một nhận xét khiêm nhường, nhìn nhận sự thua kém về khả năng làm việc tập thể của người Việt, nhìn nhận khuyết điềm chính của người Việt là thiếu đoàn kết. Tuy vậy trong cách nói vẫn có sự thỏa mãn: “Một người Việt hơn một người Nhật”, vế đầu này có vẻ được nhấn mạnh hơn vế sau.

Nếu quả thực người Nhật nào đã có nói câu đó thì nó cũng chỉ là một câu khẳng định sự hơn hẳn của dân tộc Nhật, nó phải được hiểu là: “Ngay cả nếu một người Việt nam có hơn một người Nhật đi nữa, thì ba người Việt nam hợp lại vẫn thua ba người Nhật”. Nói một cách khác, sự thua kém của dân tộc Việt nam so với dân tộc Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc chữa. Còn một người Việt nam có hơn một người Nhật hay không lại là một vấn đề khác. Tôi tin là không, theo nhưng kinh nghiệm sống.

Lúc còn đi học và ở cư xá đại học Paris, tôi đã có dịp làm quen với nhiều bạn Nhật.

Trước hết họ là những người đáng tin. Họ hứa điều gì, họ làm hết sức để giữ lời hứa, rủi làm không xong họ khiêm tốn và thành thực nhận lỗi, không viện dẫn một lý do nào cả.

Thứ hai là họ thực sự chuyên cần, làm cái gì đều làm đến nơi đến chốn, học cái gì đều cố gắng học cho hiểu thật tường tận, không như người mình chỉ làm cho xong, học tắt, học tủ đẻ thi đậu, bất chấp có thực sự hiểu hay không. Người Nhật hiểu biết một cách chắc chắn, vì họ học đễ lấy kiến thức, nhưng thi có thể thua người Việt vì người Việt học để đi thi lấy bằng. Bằng cấp của người Nhật có thể thấp hơn bằng cấp của người Việt mà sự hiểu biết của họ vẫn hơn. Tôi có được đọc một luận án của một sinh viên Nhật về xã hội Việt nam dưới thời Tự Đức. Anh ta dày công sưu tập tài liệu, suy nghĩ chín chắn và nhận định rất chính xác. ít có một công trình biên khảo nào của người Việt về nước Việt có giá trị như thế, nhưng luận án của anh chỉ là một luận án tiến sĩ đệ tam cấp, nghĩa là một bằng cấp tiến sĩ thấp nhất trong thứ bậc các bằng tiến sĩ, và anh ta ghi rõ như vậy trong luận án. Dầu vậy, luận án của anh ta được đánh giá cao, và được một nhà xuất bản Pháp in, được quần chúng Pháp đọc, trong khi nhiều luận án tiến sĩ quốc gia, cấp tiến sĩ cao nhất, của người Việt về nước Việt không được như vậy.

Người Nhật rất yêu nước, và vì yêu nước họ học hỏi rất kỹ về những khả năng của đất nước họ. Các bạn Nhật của tôi thường nói: Nước Nhật chúng tôi kẹt lắm, đất hẹp, người đông, tài nguyên thiên nhiên không có, con người lại không thông minh, chúng tôi cố gắng làm cũng không thể bằng được các nước khác. Nhờ sự lo âu thường trực đó mà họ đã xây dựng ra cường quốc số một tại châu á, và trên nhiều địa hạt cũng số một trên thế giới. Họ không tự hào là có giang sơn gấm vóc, dân tộc tinh anh.

Nhưng trên thực tế họ rất thông minh. Tôi đã đọc trên tuần báo Newsweek, một bài so sánh hệ số thông minh (I.Q.) của các dân tộc, và thấy người Nhật đứng đầu khá xa. Tuy vậy tôi chưa hề gặp một người Nhật nào tự hào dân tộc họ là thông minh. Thì ra họ vừa thông minh vừa khiêm tốn. Sự khiêm lốn đó tôi đã thấy ngay trong các bạn Nhật của tôi.

Trong cư xá đại học tôi có một cô bạn người Nhật là Ichiko học về hội họa và điêu khắc. Thân nhau rồi, Ichiko rủ tôi về phòng và cho tôi xem các tác phẩm của cô, con mắt mỹ thuật kém cỏi của tôi cũng phải bắt buộc tôi nhìn nhận đó là những tác phẩm rất hay. Tôi rủ một người bạn Pháp mê hội họa và điêu khắc tới xem, ra về anh ta tấm tắc khen hay. Thế nhưng khi tôi bảo Ichiko nên làm triển lãm thì cô dẫy nẩy từ chối, bảo rằng mình còn dở quá. Dầu vậy, Ichiko có lý do để tin mình không dở, cô đã được giải nhất về điêu khắc trong một cuộc triển lãm của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật.

Người Việt nam, nhất là đám sinh viên Việt nam tại Paris chúng tôi, thường hay chê người Nhật là kém về ngôn ngữ. Quả thật họ nói tiếng Pháp rất dở. Ông thày dạy võ của tôi chẳng hạn, sang Pháp đã mười mấy năm mà tiếng Pháp chẳng ra đâu vào đâu cả. Ông nói những tiếng thật tức cười như levez pieds (nhắc chân lên), baissez bras. Nhưng khi tới thăm ông, tôi gặp ông đang đọc một cuốn sách tiếng Nhật, hỏi ra thì được biết thú tiêu khiền chính của ông là đọc sách tiếng Nhật. Nhìn cách bố trí căn phòng có thể thấy ngay là ông chuẩn bị rất chu đáo đẻ tận hưởng thú đọc sách. Ông có cả một cái bàn thấp để ngòi xếp bằng đọc sách, trên bàn là một cái giá sách nghiêng do ông đóng lấy. Cách sắp xếp trong phòng rõ ràng là để có thể đọc sách trong những điều kiện tốt nhất. Các bạn Nhật của tôi đâu nói tiếng Pháp kém cả, nhưng bù lại họ nói rất dề hiểu, bởi vì họ hiểu rõ những gì họ nói và khi không hiểu họ nói rõ ràng không hiểu chỗ nào. Dần dần tôi hiểu rằng họ không nói giỏi tiếng Pháp là vì họ chú trọng học lấy kiến thức và vì họ coi trọng văn hóa của họ. Là một dân tộc lớn, họ cho học tiếng mẹ đẻ là quan trọng hơn cả, họ học hỏi tiếng nước ngoài như một phương tiện đễ hiểu và học hỏi người khác. Người Nhật chác chắn không phải là một dân tộc có biệt tài về hùng biện, nhưng tôi phải thú nhận họ diễn tả rõ ràng và mạch lạc hơn người Việt. Người Việt là một trong những dân tộc dở về truyền thông nhất, điêu này tôi sẽ có dịp đề cập đến.

Nhưng hãy trở lại với người Việt mình. Nếu ngay cả lấy ba người Việt có khả năng hơn ba người Nhật mà kết quả cũng chỉ là để tạo ra một nhóm ba người dở hơn nhóm của ba người Nhật kia thì chắc chắn là người Việt mình không có khả năng làm việc chung. Mà đã không cố khả năng làm việc chung được thì không thể nói là mình hay được bởi vì khả năng quan trọng nhất, khó khăn nhất chính là khả năng làm việc chung. Nó đòi hỏi trước hết sự lương thiện, bơi vì một tập hợp của chung con người chơi gian, chơi xấu, chơi gác nhau không thể kéo dài. Nó cũng đòi hỏi vô số đức tính khác: nhạy cảm, biết lắng nghe, biết truyền đạt ý kiến, có ý kiến hay, đủ bao dung để hiểu cái lý của người khác và nhất là đủ thông minh đễ thấy sự cần thiết của tổ chức và để thích ứng quyền lợi của mình với quyền lợi của tổ chức. Nếu con người chỉ sống và làm việc một mình thôi thì sự hay dở có lẽ không đặt ra, mình làm mình hưởng, mình làm mình biết, làm sao đánh giá được hay, dở? Cái trí thông minh lớn nhất chính là khả năng làm việc chung. Đã không biết làm việc trong khuôn khổ một tổ chức thì không thể nói là mình thông minh.

Trích từ ” Tổ quốc ăn năn ” / Nguyễn gia Kiểng