Chùa Bút Tháp – ngôi chùa cổ đẹp hoàn mỹ của vùng đất Kinh Bắc

Tương truyền vào năm 1876, khi vua Tự Đức qua chùa thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, và ngôi chùa mang tên Bút Tháp từ đó.

Nằm ở thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, chùa Bút Tháp là một trong những ngôi chùa cổ có kiến trúc hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam. Chùa còn được biết đến với các tên gọi khác chùa Nhạn Tháp, Thiếu Lâm Tự, Hoàng Cung Tự.

Theo sách Địa chí Hà Bắc (xuất bản năm 1982), chùa Bút Tháp có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Đến thế kỷ 17, chùa trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644) đến từ Trung Hoa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch, kế nghiệp là Thiền sư Minh Hạnh.

Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời cung thất về chùa Bút Tháp tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà bỏ tiền của, ruộng lộc ra để trùng tu lại. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay được xây dựng từ thời đó.

Trải qua nhiều thế kỷ, chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Quần thể kiến trúc của chùa còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17.

Cũng như nhiều ngôi chùa cổ phía Bắc khác, chùa Bút Tháp được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, với các công trình kiến trúc được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm.

Công trình ngoài cùng là tam quan, có kiến trúc tương đối giản dị. Tiếp đó là gác chuông 2 tầng 8 mái.

Sau gác chuông là 7 tòa nhà nối tiếp nhau: Tiền Đường, Thiên Hương, Thượng điện, Tích Thiện Am, nhà Trung, phủ thờ, hậu đường, tổng chiều dài hơn 100 mét.

Trong các công trình này, ấn tượng nhất là Tích Thiện Am, một tòa nhà ba gian hai chái, chính giữa có hai tầng gác nhô cao với các đầu đao uốn cong.

Kết cấu các công trình của chùa Bút Tháp dùng khung gỗ chịu lực, phần nền bệ, lan can thì dùng đá.

Nghệ thuật trang trí được thể hiện trên hầu hết các chất liệu gỗ, đá và các đồ thờ của chùa, trong đó nghệ thuật điêu khắc đá đạt đến đỉnh cao với các hình ảnh sống động tươi vui, hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét nghệ thuật thiền.

Một tác phẩm điêu khắc đá tiêu biểu của chùa Bút Tháp là cây cầu nối giữa Thượng điện và Tích Thiện. Cầu bắc qua hồ nhỏ trồng sen, súng, dài 4 mét gồm 3 nhịp uốn cong, mặt lát đá xanh.

Hai bên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông, hoa lá, linh vật… rất công phu, tinh xảo, nối liền với các phù điêu đá ở lan can tòa Thượng điện.

Đầu cầu là hai con sư tử đá.

Một công trình bằng đá khác được coi là biểu tượng của chùa Bút Tháp, đó là tháp Báo Nghiêm. Tòa tháp trông như một cây bút gồm 5 tầng với chiều cao 13.05m, tầng đáy rộng với mái hiên nhô ra; bốn tầng trên gần giống nhau, mỗi cạnh rộng 2m.

Tầng tháp dưới cùng có 13 bức chạm đá với đề tài động vật. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc của người thợ Việt Nam xưa.

Tương truyền vào năm 1876, khi vua Tự Đức qua chùa thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, và ngôi chùa mang tên Bút Tháp từ đó.

Các tòa tháp trong khu vườn tháp của chùa.

Các công trình chính của chùa Bút Tháp được bao bọc bởi các dãy hành lang chạy dọc hai bên, mỗi bên gồm 26 gian.

Trong chùa còn lưu giữ được rất nhiều cổ vật, đáng chú ý là một hệ thống tượng tròn rất đặc sắc so với những ngôi chùa cổ khác.

Tượng Phật giáo ở đây có nhiều loại, như tượng các vị Bồ Tát, tượng Hộ Pháp, tượng các vị La Hán… trong đó có những pho rất quý, nổi tiếng cả nước và được giới nghiên cứu xem là khuôn mẫu của tượng Phật giáo Việt Nam.

Nổi bật nhất trong chùa là pho tượng Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt do nghệ nhân Trương Thọ Nam tạo tác và hoàn thành vào năm 1656. Đây là một kiệt tác hàng đầu về nghệ thuật tạc tượng làm nổi bật triết lý nhà Phật, và được công nhận Bảo vật quốc gia từ năm 2012.

Tượng được đặt ở Thượng điện, cao 3.7m, ngang 2.1m, dày 1.15m, cánh tay dài nhất là 200cm, đặt trên tòa sen Rồng đội, biểu cảm thư thái, đôi mắt quảng đại.

Nét đặc sắc của tượng là có đến 42 tay lớn và 958 tay nhỏ, dài ngắn khác nhau. Đặc biệt là mỗi bàn tay lại có một con mắt đen láy, nhịp điệu mỗi cánh tay cũng khác nhau. Cả nghìn tay nghìn mắt nhìn tổng thể như những vòng hào quang tỏa ra.

Một cổ vật quý giá khác của chùa Bút Tháp là tòa Cửu phẩm liên hoa đặt bên trong Tích Thiện Am, một trong ba tòa Cửu phẩm liên hoa cổ xưa còn được gìn giữ ở Việt Nam.

Đây là một tháp quay cao 9 tầng, 8 mặt. 9 tầng là 9 đài sen tượng trưng cho 9 cấp tu hành chánh quả của Phật giáo. 8 mặt là 8 phương của nhà Phật, được chạm những bức phù điêu liên quan đến tích Phật giáo, khuyến thiện trừ ác, hành trang các vị tổ, đại sư.

Mỗi vòng quay của tháp ứng với 3.542.400 câu niệm phật. Dù được làm từ mấy thế kỷ trước, tòa Cửu phẩm vẫn có thể quay được và không hề phát ra tiếng kêu.

Hàng năm, lễ hội chùa Bút Tháp được tổ chức vào ngày 23 – 24 tháng 3 Âm lịch với các hoạt động văn hóa truyền thống thu hút đông đảo người dân trong vùng và du khách thập phương về dự.

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1962. Đến năm 2013, chùa được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam.

Theo Kiến Thức VN

Cuộc tìm lại chính mình đầy đau đớn của David Reimer

Bi kịch bắt đầu vào năm 1965. Cặp vợ chồng Janet và Ron Reimer đưa hai con trai sinh đôi Bruce và Brian đến bệnh viện khám như thường lệ và đồng ý tiến hành tiểu phẫu cắt bao quy đầu cho cậu bé Bruce. Tai nạn trong ca phẫu thuật khiến bộ phận sinh dục của cậu bé bị hỏng, và chuỗi bi kịch bắt đầu từ đó.

Lo ngại rằng chấn thương đó có thể khiến Bruce đau khổ về tinh thần khi trưởng thành, cha mẹ của Bruce Reimer đã tham khảo ý kiến của chuyên gia về các vấn đề giới tính John Money sau khi nhìn thấy ông xuất hiện trên truyền hình. Money sau đó đã đề nghị gia đình Reimer chấp nhận một cuộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính và nuôi dạy cậu bé như con gái. Sự tuyệt vọng đã khiến cha mẹ của Reimer nghe theo lời khuyên điên rồ và đổi tên khai sinh của con trai từ “Bruce” thành “Brenda”.

Reimer dường như khá dễ dàng chấp nhận bản giới bị áp đặt của mình là nữ, và trường hợp này ban đầu được coi là một câu chuyện thành công đối với những nghiên cứu như của Money, người tin rằng giới tính là vấn đề của hành vi được rèn giũa không phải là thứ thuộc về bản chất. Nhưng trên thực tế, Reimer đã phải đấu tranh ngay từ khi còn nhỏ với giới tính của mình. Khi phát hiện ra sự thật về quá trình sinh trưởng, Reimer bắt đầu một cuộc hành trình đầy đau đớn để trở về giới tính sinh học của mình.

Cuộc đời bị định đoạt

David Reimer tên thật là Bruce Reimer, là một trong hai người con đầu lòng của cặp vợ chồng Janet và Ron ở Winnipeg, Canada, vào năm 1965. Cả hai cậu bé sinh đôi đều khỏe mạnh nhưng được chẩn đoán chứng khó tiểu khi được khoảng 8 tháng tuổi do hẹp bao quy đầu.

Tai nạn xảy ra khi các bác sỹ sử dụng kim đốt điện thay vì dao mổ thông thường và làm bỏng bộ phận sinh dục của cậu bé Bruce. Brian, may mắn hơn khi không trải qua cuộc phẫu thuật tương tự. Kỹ thuật tái tạo bộ phận sinh dục thời bấy giờ vẫn là thứ gì đó quá xa lạ, các chuyên gia y tế chẳng còn cách nào khác ngoài việc tiên lượng tình huống xấu nhất. Cậu bé Bruce sẽ mất bộ phận sinh dục và khó có thể trưởng thành như một người đàn ông bình thường.

Tuyệt vọng đã le lói hy vọng khi Janet và Ron vô tình xem được một chương trình về bác sĩ tâm lý John Money, người có nhiều bằng cấp và giải thưởng trong lĩnh vực tâm lý học. Ông đã đưa ra những lý thuyết mới về sự hình thành giới tính và cho rằng “có thể mọi đứa trẻ sinh ra đều là trung tính, quá trình nuôi dưỡng sau đó mới khiến cho giới tính của chúng thay đổi”.

Money được coi là một trong những nhà nghiên cứu về giới tính hàng đầu ở Mỹ. Ông có những nghiên cứu về trải nghiệm của trẻ em liên giới tính (intersex), những người được Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc nhận xác định bằng khái niệm “không phù hợp với các định nghĩa điển hình về cơ thể nam hoặc nữ”. Nói cách khác, đây là những người có xu hướng giới tính và sinh lý khác thường, đặc biệt là về bộ phận sinh dục bên ngoài lẫn cơ quan sinh sản bên trong, làm cho giới tính của họ không rõ ràng.

Mẹ của Reimer đã viết thư cho Money giải thích về tai nạn khủng khiếp mà con trai bà đã phải chịu đựng. Vài tuần sau đó, gia đình Reimer lên đường đến gặp bác sĩ Money tại Bệnh viện Johns Hopkins ở Baltimore, Maryland.

Money tin rằng bản dạng giới của một người là một cấu trúc xã hội và là kết quả của quá trình giáo dục. Vì vậy, theo ông ai đó có thể được “dạy” để có một nhận dạng giới tính khác với giới tính sinh học của họ. Theo Money, trẻ em “không phân biệt giới tính” cho đến khi khoảng 2 tuổi và đưa ra giả thuyết rằng cha mẹ đã có một khoảng thời gian gọi là “ngưỡng giới tính”, thời gian mà họ có thể tác động đến giới tính của con mình về mặt hành vi.

Money đề xuất tiến hành một số cuộc phẫu thuật nhằm xác định lại giới tính của Bruce Reimer, gồm loại bỏ cơ quan sinh dục nam và thay bằng một cơ quan sinh dục nữ giả. Bruce sau đó sẽ được nuôi dạy như một bé gái và không được tiết lộ về danh tính trước đây của mình. Cha mẹ của Reimer đã đồng ý với quy trình này và quá trình bắt đầu ngay trước sinh nhật lần thứ hai của cậu bé vào năm 1967.

Đối với Money, đây là cơ hội hiếm có để ông tiếp tục các nghiên cứu về bản dạng giới, song chính những đề xuất và tham vọng này đã dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc đời David Reimer.

“Cuộc chiến đấu” để trở thành David Reimer

Bruce Reimer bắt đầu cuộc sống với cái tên Brenda Reimer. Ngoài phẫu thuật chuyển đổi giới tính, Reimer còn được bổ sung estrogen để giúp “nữ tính hóa” cơ thể. Gia đình Reimer trở lại văn phòng của Money hàng năm để bác sĩ có thể theo dõi sự phát triển của cả Brian và Brenda.

Money sau đó đã có những nhận định cho rằng “chị gái sinh đôi” của Brian, Brenda, “gọn gàng hơn nhiều” so với người anh em song sinh. Brenda là người cứng đầu hơn và có tính cách nổi trội hơn, và có những nét tính cách mà ông gọi là “tomboy”.

Năm 1975, khi cặp song sinh tròn 9 tuổi, Money xuất bản nghiên cứu của mình trong cuốn sách “Sexual Signatures” (tạm dịch: Những chỉ dấu giới tính), và mô tả trường hợp của Bruce-Brenda là một thành công: “Cô bé vốn đã thích váy hơn quần, thích đeo ruy băng, vòng tay và áo cánh xếp nếp, và thích làm nũng bố. Trong suốt thời thơ ấu, sự bướng bỉnh của cô ấy và nguồn năng lượng thể chất dồi dào mà cô ấy có… khiến cô ấy trở thành một cô gái tomboy, nhưng dù sao cũng là một cô gái”.

Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật. Reimer đã nhớ lại thời thơ ấu của mình với nhiều nỗi đau. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2000, David Reimer nhớ lại: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy thoải mái… Xây pháo đài và tham gia các trò đánh trận giả, hay thậm chí là leo cây mới là những gì tôi thích, nhưng lại không thể chấp nhận được với tư cách là một cô gái”.

Theo tác giả John Colapinto, người đã cộng tác với Reimer trong cuốn sách “As Nature Made Him: The Boy Who Was Raised as A Girl” (tạm dịch: “Tạo hóa: Chàng trai được nuôi dạy như một cô gái), những chuyến thăm văn phòng của Money đã khiến Reimer chịu đựng không ít tổn thương.

Reimer được cho xem những bức ảnh chụp người lớn khỏa thân để “củng cố bản dạng giới của Brenda” và bị Money ép thực hiện thêm nhiều cuộc phẫu thuật để nữ tính hơn. Janet Reimer được cho là cũng nhận thức phần nào về sự khó chịu của con mình. Bà nhớ lại lần đầu tiên Reimer mặc một chiếc váy và nhanh chóng tỏ ra tức giận với việc xé nó ra. Janet chia sẻ trong cuộc phỏng vấn năm 2000: “Nhưng tôi không đủ khả năng để suy ngẫm về chúng bởi khi đó tôi cho rằng mọi chuyện không thể sai”.

Những gì Ron và Janet làm có thể là một hy vọng mù quáng, nhưng với John Money, Bruce-Brenda cuối cùng cũng chỉ giống như một chú chuột bạch thí nghiệm không hơn không kém. Và thí nghiệm tàn nhẫn này nhanh chóng dẫn đến hàng loạt những thảm họa.

Những rắc rối diễn ra ở cả trường học. Reimer bị các bạn cùng lớp bắt nạt, trêu chọc vì “dáng đi nam tính” và tư thế đứng đi tiểu trong nhà vệ sinh nữ. Đến tuổi dậy thì, Brenda gần như hoàn toàn cô độc và không hề có nổi một người bạn. Khuôn mặt cô bé trở nên góc cạnh, nam tính với phần ria mép, lông cơ thể rậm hơn. Không ai muốn làm bạn với một “người rừng” như Brenda. Khi Brenda phàn nàn về cảm giác giống như một cậu bé, cha mẹ và những người lớn khác đều thuyết phục rằng đó chỉ là một giai đoạn tâm sinh lý nhất định.

Trên thực tế, bí mật của Reimer đã phá vỡ gia đình. Cha của Reimer nghiện rượu trong khi mẹ từng không ít lần có ý định tự tử. Anh chị em sinh đôi của Reimer, Brian, sau đó nhiều lần lạm dụng chất kích thích.

Mãi cho đến khi cặp song sinh bước vào tuổi thiếu niên, các bác sĩ khác mới thuyết phục được gia đình Reimer rằng đã đến lúc nói sự thật. Sau khi đón Brenda từ một cuộc hẹn với bác sĩ tâm lý vào năm 1980, Ron Reimer chở cả hai con đến một tiệm kem, nơi ông kể cho chúng nghe toàn bộ câu chuyện. David nhớ lại cảm xúc lúc đó: “Mọi chuyện đột nhiên đều có ý nghĩa… Tôi không phải là một kẻ lập dị. Tôi không điên”.

Một kết thúc không có hậu

Bất chấp những nỗ lực tìm lại danh tính đàn ông của mình, Reimer vẫn vô cùng chán nản. Sau khi phát hiện ra sự thật, Reimer chọn sống như một cậu bé và lấy tên là “David”.

Anh đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật để khôi phục giới tính của mình thành nam giới, như phẫu thuật cắt bỏ bộ ngực đã phát triển sau nhiều năm bổ sung bằng estrogen và gắn dương vật nhân tạo thay cho âm đạo nhân tạo. Daivd cũng uống bổ sung testosterone.

Một điều an ủi trong cuộc đời Reimer là hành trình tìm thấy tình yêu và kết hôn với Jane, một người mẹ trẻ với 3 con riêng. Hai người ở bên nhau suốt 14 năm và đây cũng là giai đoạn David phát triển những sở thích mới như cắm trại, câu cá, sưu tầm đồ cổ và tiền cổ.

Năm 1997, Milton Diamond, một giáo sư tại Trường Đại học Hawaii và nhà tâm thần học Keith Sigmundson – hai trong số các nhà khoa học đã trực tiếp điều trị cho Brenda đã quyết định bóc trần kết quả thảm bại từ thí nghiệm vô đạo đức của bác sĩ John trên tạp chí Archives of Pediatrics and Adolescent Medicine (Tạp chí Nhi khoa và Y học Vị thành niên). Công trình mang tính đột phá này đã đặt nền tảng chống lại việc thực hiện các cuộc phẫu thuật xác định lại giới tính trên trẻ sơ sinh liên giới tính, vốn từng được coi là các “biện pháp khắc phục” cho bản chất sinh học không phù hợp bất kỳ giới tính nào.

Đến năm 2000, David quyết định công bố về cuộc đời mình với công chúng sau nhiều năm sống lặng lẽ ẩn dật tại Winnipeg.

Tuy nhiên những căng thẳng về thể chất và sự thật tàn khốc về cuộc đời của David là một cú sốc mạnh, khiến cho cả hai anh em David và Brian gặp phải những ám ảnh tâm lý nặng nề và sau đó là rơi vào tình trạng trầm cảm. Vào đầu những năm 20 tuổi, David Reimer đã tìm cách tự tử hai lần và vẫn trầm cảm trong nhiều năm sau đó. Năm 2002, người em song sinh Brian Reimer uống thuốc tự kết liễu đời mình.

David đau khổ, dằn vặt tột cùng. Cùng với nỗi buồn vì cuộc hôn nhân với Jane thất bại sau 14 năm, sự đau đớn vì cái chết của em trai và tâm trạng cùng quẫn trong công việc, David đã quyết định tìm đến cái chết vào năm 2004, đặt dấu chấm hết cho cuộc sống bi kịch ở tuổi 38.

Trong khi đó John Money vẫn là Giáo sư danh dự tại Đại học Johns Hopkins và từ chối bình luận về thí nghiệm tồi tệ của mình. Năm 2006, John qua đời sau biến chứng của bệnh Parkinson.

Quá trình chuyển đổi giới tính đầu tiên của David Reimer bắt đầu từ một tai nạn y khoa và một lý thuyết khoa học. Kết quả là ông đã trải qua những cảm giác phiền muộn về giới tính khi bản dạng giới bị ấn định khác với nền tảng sinh học. Trên thực tế những người chuyển giới cũng thường trải qua những phiền muộn về giới tính từ rất sớm. David đã qua đời song câu chuyện của cuộc đời ông đã làm sáng tỏ rất nhiều điều về mối quan hệ giữa giới tính và bản chất sinh học của con người.

Thái Hân (Tổng hợp) / VanngheCA

Kỹ sư CNTT giúp xây dựng văn hóa Doanh nghiệp

  • Võ Ngọc Ánh
  • Gửi bài từ Tacoma, bang Washington, Hoa Kỳ
Người dân tranh giành lộc do nhà sư ném ra tại chùa Hương. Ảnh: Tiến Tuấn/Zing.vn
Chụp lại hình ảnh,Người dân tranh tranh nhau nhận lộc ở chùa Hương

Những năm qua, Việt Nam không ngớt săn tìm để được giao thương, học hỏi kỹ thuật, tiếp thu giáo dục, công nghệ từ các nước Phương Tây, nhưng lại tìm cách khước từ giá trị dân chủ, nhân quyền mà các quốc gia này đưa đến.

Một điều dễ thấy những năm quá, các đối tác kinh tế, công nghệ, giáo dục của Việt Nam đến từ các quốc gia dân chủ lại thường không phải là đồng minh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thèm muốn thị trường, khước từ dân chủ

Các nền dân chủ từ Á, sang Âu, đến Bắc Mỹ là những quốc gia phát triển, sức tiêu thụ lớn. Việt Nam luôn theo đuổi để có được những hiệp định thương mại song hoặc đa phương với các quốc gia này nhằm giao thương hàng hóa thuận tiện hơn, thu lợi nhuận cao, ít rủi ro.

Việc bán được hàng vào thị trường Âu, Mỹ, hay Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc còn mang ý nghĩa như hộ chiếu chất lượng, nâng giá trị của hàng hóa để dễ dàng xâm nhập các thị trường khác, tạo sức cho sản xuất trong nước, nâng tầm vị thế quốc gia.

Tuy nhiên, trong các hiệp định thương mại, các nước phát triển phương Tây luôn đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền. Đây lại là vấn đề chính quyền Việt Nam tìm mọi cách hạn chế, tránh bị ràng buộc để dễ dàng đàn áp trong nước.

Quá trình đàm phán các hiệp định thương mại, vay vốn… lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, quyền lợi người lao động luôn khiến Việt Nam tiêu tốn nhiều năng lượng mặc cả, “cò kè bớt một thêm hai” với các nền dân chủ, hoặc định chế quốc tế.

Điều này dễ dàng nhìn thấy qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đến Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA)…

Nhìn từ Mỹ, tôi thấy rằng trong thời gian đàm phán Việt Nam thường tỏ thái độ nín nhịn chịu đựng với các nhà đấu tranh, nhưng nhanh chóng ra tay bắt họ sau khi hiệp định được ký kết.

Sau khi Hiệp định EVFTA được ký kết không lâu, công an Việt Nam bắt ngay tiến sĩ Phạm Chí Dũng và các thành viên của Hội Nhà báo Độc Lập.

Ông Phạm Chí Dũng không ít lần kêu gọi Liên minh châu Âu gây sức ép với Việt Nam về nhân quyền trước khi ký kết EVFTA.

Hay hồi tháng 10 năm ngoái, ngay sau khi kết thúc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, chính quyền Việt Nam đã bắt giữ nhà hoạt động Phạm Đoan Trang.

Việt Nam xem ra không mấy tôn trọng những điều đã cam kết. Chính quyền giải thích cho việc bắt bớ, đàn áp tự do dân sự công dân với cáo buộc, người bị bắt vi phạm luật pháp được đặt ra để triệt tiêu các tiếng nói khác.

Quan niệm về dân chủ, nhân quyền của Việt Nam với thế giới tiến bộ còn khác biệt khá lớn. Bởi theo những cam kết quốc tế của Việt Nam về lĩnh vực này, thì người hoạt động dân chủ ôn hòa không thể bị buộc tội vi phạm luật pháp.

Mặt khác, theo chỉ trích của nhiều người đã sống ở hải ngoại, chính quyền Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay thường biến tù nhân trong các vụ án liên quan dân chủ, nhân quyền thành món hàng, như ‘tài nguyên nhân quyền’ để mặc cả với các nền dân chủ.

Ta dễ điều này qua việc buộc Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… ra nước ngoài. Sự ‘tự sướng’ về “nhân đạo” của chính quyền không che đậy được bản chất thực sự là trục xuất, đày biệt xứ những người con của tổ quốc.

Bởi sau khi ra đi, họ khó thể trở về quê hương, chừng nào Đảng Cộng Sản còn độc quyền lãnh đạo, hoặc nhận thức về dân chủ, nhân quyền của hệ thống thật sự thay đổi.

Dân chủ là ‘không phù hợp’?

Trái ngược với độ mở nền kinh tế được đánh giá hàng đầu thế giới, chính trị, xã hội, truyền thông, giáo dục trong nước vẫn do một đảng cộng sản độc quyền chi phối.

Protesters in Yangon
Chụp lại hình ảnh,Trong số người biểu tình phản đối cuộc đảo chính tháng 2/2021 ở Myanmar có nhiều thanh thiếu niên

Lời giải thích rằng, xã hội Việt Nam không thích hợp với kiểu dân chủ, nhân quyền của các nước Tây phương theo tôi thật ra thiếu thuyết phục.

Chính quyền hiện nay cố chứng minh rằng hệ thống nhiều đảng phái sau cách mạng tháng 8/1945 chỉ đưa đến thất bại. Hay chính quyền dân chủ của miền Nam sau 1954 dẫn đến đấu đá, tranh giành giữa các đảng, rước giặc vào nhà. Các dẫn chứng này để đi đến kết luận Việt Nam không thích hợp với đa đảng, đa nguyên rất gượng ép và đã thuộc về lịch sử.

Việt Nam nay coi hành động thực tiễn của dân chủ, nhân quyền là mất chủ quyền, đe dọa quốc gia. Việc tăng sức mạnh cho ngành công an, tòa án, nhà tù… cùng rất đông dư luận viên thực ra đang cô lập Việt Nam trong tiến trình dân chủ của nhân loại.

Các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã thành rồng là nhờ mở ra về dân chủ, nhân quyền, yếu tố then chốt vượt lên một ngưỡng khác, cho quốc gia phát triển hài hòa, bền vững, kích thích sáng tạo.

Các “con rồng” kinh tế châu Á trong quá khứ có nhiều điểm tương đồng văn hóa lớn với Việt Nam vốn được xem “Đông Á đồng văn”. Chẳng lẽ quốc gia đồng văn xây dựng được dân chủ trên các nguyên tắc chung của nhân loại, Việt Nam lại tự gạt ra trong lời giải thích, “không thích hợp”?

Những gì diễn ra trên thực tế cho thấy chính quyền của Đảng Cộng sản VN nhìn các nước dân chủ Tây phương một cách thực dụng, như chỗ mua bán, chưa sẵn sàng làm đồng minh chính trị như nhiều quốc gia dân chủ ở Đông Á.

Không thấy thế hệ X, Y, Z cho dân chủ

Trên thế giới từ mùa xuân Ả Rập, đến phong trào bảo vệ dân chủ phản đối sự can thiệp thô bạo của Bắc Kinh ở Hồng Kông. Đòi dân chủ hơn ở giới trẻ Thái Lan. Bảo vệ nền dân chủ non trẻ ở Myanmar vừa bị quân đội tiếm đoạt. Điểm chung của các phong trào này do những người trẻ lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt.

Đáng buồn tôi không nhìn thấy những phong trào đấu tranh đòi dân chủ như thế ở Việt Nam, đặc biệt sự dấn thân ở các bạn trẻ.

Trái ngược các phong trào đấu tranh đòi dân chủ trên thế giới, nhiều nhà hoạt động dân chủ trụ cột, có ảnh hưởng ở Việt Nam hiện nay phần đông lớn tuổi.

Trong quá khứ chúng ta từng có thế hệ người đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp. Họ đã thắng. Thế hệ viết thư bằng máu để được nhập ngũ đánh Mỹ. Họ tiếp tục thắng. Hàng triệu người dân bên trong vĩ tuyến 17 đứng lên bảo vệ nền dân chủ non trẻ. Thế hệ sinh viên tại miền Nam xuống đường trước năm 1975 để yêu cầu người Mỹ rút quân, thống nhất Bắc – Nam.

Trường học ở Hà Nội - ảnh từ tháng 5/2020
Chụp lại hình ảnh,Học sinh Việt Nam – hình chỉ có tính minh họa. Giáo dục Việt Nam nhấn mạnh phương thức ‘lắng nghe lời giảng’

Cái gene hào hùng đó của người Việt dường như chỉ xuất hiện trong quá khứ. Từ thế hệ sinh ra, lớn lên trong chiến tranh, đến các thế hệ X, Y, Z ở Việt Nam hiện nay đều có chung một mẫu số. Họ quan tâm đến tiền, địa vị, hưởng thụ trong những điều được đảng Cộng Sản cho phép, thờ ơ với dân chủ, nhân quyền.

Phải chăng người dân đã bị chính quyền ‘tẩy não’ thành công, người Việt không cần dân chủ?

Số ít có quan tâm đến dân chủ, nhân quyền bị các mối quan hệ của cuộc sống, nỗi sợ về an toàn, buộc họ phải tự kiểm soát để sống trong sự bức bí.

Ngọn lửa từ các nhà hoạt động trong nước hiện nay không đủ sức đốt lên đám cháy trong chất liệu xã hội trơ cứng, không thể hiện nhu cầu đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.

Xã hội Việt Nam đang cho thấy khó tạo ra được Cách mạng Nhung, hay Hoa Hồng. Số đông người dân thay vì dành cảm tình, bảo vệ cho những người đấu tranh, nhà hoạt động thì họ là nghi ngờ, xa lánh, dè bỉu.

Sự thành công của đảng Cộng Sản Việt Nam hướng người dân quan tâm đến tiền và biết sợ dân chủ.

Thế nhưng, buồn thay, Đảng càng thành công thì sự thất bại đối với sự dân chủ, nhân quyền của quốc gia càng lớn.

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của ông Võ Ngọc Ánh, sinh sống tại thành phố Tacoma, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

BBC

Có phải xã hội Việt Nam đang chỉ tiền hơn là nhân quyền và dân chủ?

  • Võ Ngọc Ánh
  • Gửi bài từ Tacoma, bang Washington, Hoa Kỳ
Người dân tranh giành lộc do nhà sư ném ra tại chùa Hương. Ảnh: Tiến Tuấn/Zing.vn
Chụp lại hình ảnh,Người dân tranh tranh nhau nhận lộc ở chùa Hương

Những năm qua, Việt Nam không ngớt săn tìm để được giao thương, học hỏi kỹ thuật, tiếp thu giáo dục, công nghệ từ các nước Phương Tây, nhưng lại tìm cách khước từ giá trị dân chủ, nhân quyền mà các quốc gia này đưa đến.

Một điều dễ thấy những năm quá, các đối tác kinh tế, công nghệ, giáo dục của Việt Nam đến từ các quốc gia dân chủ lại thường không phải là đồng minh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thèm muốn thị trường, khước từ dân chủ

Các nền dân chủ từ Á, sang Âu, đến Bắc Mỹ là những quốc gia phát triển, sức tiêu thụ lớn. Việt Nam luôn theo đuổi để có được những hiệp định thương mại song hoặc đa phương với các quốc gia này nhằm giao thương hàng hóa thuận tiện hơn, thu lợi nhuận cao, ít rủi ro.

Việc bán được hàng vào thị trường Âu, Mỹ, hay Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc còn mang ý nghĩa như hộ chiếu chất lượng, nâng giá trị của hàng hóa để dễ dàng xâm nhập các thị trường khác, tạo sức cho sản xuất trong nước, nâng tầm vị thế quốc gia.

Tuy nhiên, trong các hiệp định thương mại, các nước phát triển phương Tây luôn đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền. Đây lại là vấn đề chính quyền Việt Nam tìm mọi cách hạn chế, tránh bị ràng buộc để dễ dàng đàn áp trong nước.

Quá trình đàm phán các hiệp định thương mại, vay vốn… lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, quyền lợi người lao động luôn khiến Việt Nam tiêu tốn nhiều năng lượng mặc cả, “cò kè bớt một thêm hai” với các nền dân chủ, hoặc định chế quốc tế.

Điều này dễ dàng nhìn thấy qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đến Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA)…

Nhìn từ Mỹ, tôi thấy rằng trong thời gian đàm phán Việt Nam thường tỏ thái độ nín nhịn chịu đựng với các nhà đấu tranh, nhưng nhanh chóng ra tay bắt họ sau khi hiệp định được ký kết.

Sau khi Hiệp định EVFTA được ký kết không lâu, công an Việt Nam bắt ngay tiến sĩ Phạm Chí Dũng và các thành viên của Hội Nhà báo Độc Lập.

Ông Phạm Chí Dũng không ít lần kêu gọi Liên minh châu Âu gây sức ép với Việt Nam về nhân quyền trước khi ký kết EVFTA.

Hay hồi tháng 10 năm ngoái, ngay sau khi kết thúc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, chính quyền Việt Nam đã bắt giữ nhà hoạt động Phạm Đoan Trang.

Việt Nam xem ra không mấy tôn trọng những điều đã cam kết. Chính quyền giải thích cho việc bắt bớ, đàn áp tự do dân sự công dân với cáo buộc, người bị bắt vi phạm luật pháp được đặt ra để triệt tiêu các tiếng nói khác.

Quan niệm về dân chủ, nhân quyền của Việt Nam với thế giới tiến bộ còn khác biệt khá lớn. Bởi theo những cam kết quốc tế của Việt Nam về lĩnh vực này, thì người hoạt động dân chủ ôn hòa không thể bị buộc tội vi phạm luật pháp.

Mặt khác, theo chỉ trích của nhiều người đã sống ở hải ngoại, chính quyền Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay thường biến tù nhân trong các vụ án liên quan dân chủ, nhân quyền thành món hàng, như ‘tài nguyên nhân quyền’ để mặc cả với các nền dân chủ.

Ta dễ điều này qua việc buộc Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… ra nước ngoài. Sự ‘tự sướng’ về “nhân đạo” của chính quyền không che đậy được bản chất thực sự là trục xuất, đày biệt xứ những người con của tổ quốc.

Bởi sau khi ra đi, họ khó thể trở về quê hương, chừng nào Đảng Cộng Sản còn độc quyền lãnh đạo, hoặc nhận thức về dân chủ, nhân quyền của hệ thống thật sự thay đổi.

Dân chủ là ‘không phù hợp’?

Trái ngược với độ mở nền kinh tế được đánh giá hàng đầu thế giới, chính trị, xã hội, truyền thông, giáo dục trong nước vẫn do một đảng cộng sản độc quyền chi phối.

Protesters in Yangon
Chụp lại hình ảnh,Trong số người biểu tình phản đối cuộc đảo chính tháng 2/2021 ở Myanmar có nhiều thanh thiếu niên

Lời giải thích rằng, xã hội Việt Nam không thích hợp với kiểu dân chủ, nhân quyền của các nước Tây phương theo tôi thật ra thiếu thuyết phục.

Chính quyền hiện nay cố chứng minh rằng hệ thống nhiều đảng phái sau cách mạng tháng 8/1945 chỉ đưa đến thất bại. Hay chính quyền dân chủ của miền Nam sau 1954 dẫn đến đấu đá, tranh giành giữa các đảng, rước giặc vào nhà. Các dẫn chứng này để đi đến kết luận Việt Nam không thích hợp với đa đảng, đa nguyên rất gượng ép và đã thuộc về lịch sử.

Việt Nam nay coi hành động thực tiễn của dân chủ, nhân quyền là mất chủ quyền, đe dọa quốc gia. Việc tăng sức mạnh cho ngành công an, tòa án, nhà tù… cùng rất đông dư luận viên thực ra đang cô lập Việt Nam trong tiến trình dân chủ của nhân loại.

Các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã thành rồng là nhờ mở ra về dân chủ, nhân quyền, yếu tố then chốt vượt lên một ngưỡng khác, cho quốc gia phát triển hài hòa, bền vững, kích thích sáng tạo.

Các “con rồng” kinh tế châu Á trong quá khứ có nhiều điểm tương đồng văn hóa lớn với Việt Nam vốn được xem “Đông Á đồng văn”. Chẳng lẽ quốc gia đồng văn xây dựng được dân chủ trên các nguyên tắc chung của nhân loại, Việt Nam lại tự gạt ra trong lời giải thích, “không thích hợp”?

Những gì diễn ra trên thực tế cho thấy chính quyền của Đảng Cộng sản VN nhìn các nước dân chủ Tây phương một cách thực dụng, như chỗ mua bán, chưa sẵn sàng làm đồng minh chính trị như nhiều quốc gia dân chủ ở Đông Á.

Không thấy thế hệ X, Y, Z cho dân chủ

Trên thế giới từ mùa xuân Ả Rập, đến phong trào bảo vệ dân chủ phản đối sự can thiệp thô bạo của Bắc Kinh ở Hồng Kông. Đòi dân chủ hơn ở giới trẻ Thái Lan. Bảo vệ nền dân chủ non trẻ ở Myanmar vừa bị quân đội tiếm đoạt. Điểm chung của các phong trào này do những người trẻ lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt.

Đáng buồn tôi không nhìn thấy những phong trào đấu tranh đòi dân chủ như thế ở Việt Nam, đặc biệt sự dấn thân ở các bạn trẻ.

Trái ngược các phong trào đấu tranh đòi dân chủ trên thế giới, nhiều nhà hoạt động dân chủ trụ cột, có ảnh hưởng ở Việt Nam hiện nay phần đông lớn tuổi.

Trong quá khứ chúng ta từng có thế hệ người đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp. Họ đã thắng. Thế hệ viết thư bằng máu để được nhập ngũ đánh Mỹ. Họ tiếp tục thắng. Hàng triệu người dân bên trong vĩ tuyến 17 đứng lên bảo vệ nền dân chủ non trẻ. Thế hệ sinh viên tại miền Nam xuống đường trước năm 1975 để yêu cầu người Mỹ rút quân, thống nhất Bắc – Nam.

Trường học ở Hà Nội - ảnh từ tháng 5/2020
Chụp lại hình ảnh,Học sinh Việt Nam – hình chỉ có tính minh họa. Giáo dục Việt Nam nhấn mạnh phương thức ‘lắng nghe lời giảng’

Cái gene hào hùng đó của người Việt dường như chỉ xuất hiện trong quá khứ. Từ thế hệ sinh ra, lớn lên trong chiến tranh, đến các thế hệ X, Y, Z ở Việt Nam hiện nay đều có chung một mẫu số. Họ quan tâm đến tiền, địa vị, hưởng thụ trong những điều được đảng Cộng Sản cho phép, thờ ơ với dân chủ, nhân quyền.

Phải chăng người dân đã bị chính quyền ‘tẩy não’ thành công, người Việt không cần dân chủ?

Số ít có quan tâm đến dân chủ, nhân quyền bị các mối quan hệ của cuộc sống, nỗi sợ về an toàn, buộc họ phải tự kiểm soát để sống trong sự bức bí.

Ngọn lửa từ các nhà hoạt động trong nước hiện nay không đủ sức đốt lên đám cháy trong chất liệu xã hội trơ cứng, không thể hiện nhu cầu đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.

Xã hội Việt Nam đang cho thấy khó tạo ra được Cách mạng Nhung, hay Hoa Hồng. Số đông người dân thay vì dành cảm tình, bảo vệ cho những người đấu tranh, nhà hoạt động thì họ là nghi ngờ, xa lánh, dè bỉu.

Sự thành công của đảng Cộng Sản Việt Nam hướng người dân quan tâm đến tiền và biết sợ dân chủ.

Thế nhưng, buồn thay, Đảng càng thành công thì sự thất bại đối với sự dân chủ, nhân quyền của quốc gia càng lớn.

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của ông Võ Ngọc Ánh, sinh sống tại thành phố Tacoma, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

BBC

Đông Nam Á trong mắt Trung Quốc: Miến Điện, eo biển Malacca và Biển Đông

Biểu tình chống đảo chính quân sự tại Miến Điện tại Shan state, gần biên giới Miến - Trung, 8 tháng Hai, 2021. (Photo by STR / AFP)
Biểu tình chống đảo chính quân sự tại Miến Điện tại Shan state, gần biên giới Miến – Trung, 8 tháng Hai, 2021. (Photo by STR / AFP)

Có những góc nhìn cho rằng Trung Quốc là bên thua cuộc trong cuộc đảo chính tại Miến Điện. Lập luận này dựa trên những tuyên bố ngoại giao của Trung Quốc, tuyên bố của những học giả Trung Quốc và những cảm xúc chống đối và nghi kỵ Trung Quốc trong xã hội dân sự Miến Điện và thậm chí trong cả một số lãnh đạo quân đội.

Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ lợi ích địa chính trị, giới quân sự Miến Điện hiện đã bước vào tình thế cần Trung Quốc. Cuộc đảo chính và việc đàn áp đẫm máu người biểu tình hiện nay có thể thay đổi bàn cờ địa chính trị ở châu Á, đem lại lợi thế to lớn cho Trung Quốc.

Hiện nay thế giới ngạc nhiên quan sát sự can thiệp của Trung Quốc vào Miến Điện. Trung Quốc phủ nhận nhưng không dấu giếm các chuyến bay đến Miến Điện với tần suất cao khi quân đội Miến Điện thảm sát người dân phản đối cuộc đảo chính vào đầu tháng Hai. Tại sao Trung Quốc chọn Miến Điện? Sự kiện ở Miến Điện gần đây có quan hệ gì với những điểm nóng châu Á khác mà Trung Quốc đang quan tâm?

Tại sao Quân đội Miến Điện đảo chính?

Cuộc tấn công âm thầm của đảng NLD và Aung San Suu Kyi vào quân đội Miến

Một báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc tháng 9 năm 2019 chỉ ra quân đội Miến Điện nắm giữ những quyền lợi kinh tế cốt lõi của đất nước, từ phân phối thẻ SIM, xây dựng, đến sản xuất bia, thuốc lá, từ khai thác khoáng sản, đá quý, nhà máy xay xát đến ngành du lịch và xuất nhập khẩu. Các học giả Úc Michele Ford, Michael Gillan và Htwe Htwe Thein gọi hệ thống kinh tế mà giới quân sự Miến Điện kiểm soát là “chủ nghĩa tư bản thân hữu quân sự” (military crony capitalism).

Nắm quyền từ 2015, Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (National League for Democracy – NLD) của bà Suu Kyi đã cố gắng tấn công vào lợi ích kinh tế của quân đội. Năm 2019, họ đã tước Cục Hành chính Tổng hợp (General Administration Department) khỏi tay quân đội. Cục này trước đây thuộc quyền quản lý của Bộ Nội vụ (Ministry of home affairs) do quân đội kiểm soát, có chức năng quản lý, bổ nhiệm quan chức toàn quốc. Từ tháng 12 năm 2018, NLD đưa Cục này về Bộ Văn phòng Chính phủ Liên bang (Ministry of the Office of the Union Government), do mình kiểm soát.

Ngoài ra, NLD còn thay đổi nhiều điều khoản trong Luật Khai thác đá quý Miến Điện (Myanmar Gemstones Law), tấn công trực diện vào ngành kinh doanh béo bở do quân đội kiểm soát.

Theo “Sáng kiến ​Minh bạch các Ngành công nghiệp khai thác” (Extractive Industries Transparency Initiative), khoảng 60-80% đá quý được khai thác ở Myanmar bị buôn lậu, không thông qua hệ thống chính thức. Năm 2015, Global Witness, một tổ chức phi chính phủ quốc tế, công bố báo cáo “Ngọc thạch – “bí mật quốc gia lớn nhất của Miến Điện” (Jade: Myanmar’s “Big State Secret”), ước tính kim ngạch buôn bán bất hợp pháp ngọc bích hàng năm ở nước này là 31 tỷ USD.

Cuộc điều tra kéo dài 12 tháng này cho thấy ngành công nghiệp khai thác ngọc bích lớn hơn nhiều so với hình dung trước đây, trị giá lên tới 31 tỷ đô la Mỹ chỉ trong năm 2014. Con số này tương đương với gần một nửa GDP của cả nước Miến Điện, nhưng hầu như không có khoản tiền nào đến tay người dân bình thường hoặc kho bạc nhà nước. Thay vào đó, ngành kinh doanh này bị kiểm soát bí mật bởi mạng lưới chóp bu quân đội, các trùm ma túy và các công ty thân hữu gắn liền với những ngày đen tối nhất của chế độ quân phiệt.

Đá quý buôn lậu của Miến Điện chủ yếu được bán sang Trung Quốc.

Nỗ lực đầu tiên để chấn chỉnh ngành khai thác đá quý của chính quyền của đảng NLD là trì hoãn gia hạn giấy phép khai thác đá quý từ 2016 đến 2018. Ngoài ra, năm 2016, NLD đề xuất sửa đổi Luật Khai thác đá quý Miến Điện và được Quốc hội do đảng này chiếm đa số thông qua năm 2019. (Xem “The Myanmar Gemstone Law” 2019)

Luật mới tăng thuế đối với các công ty khai thác đá quý, chủ yếu cho quân đội kiểm soát (Chương 9). Bên cạnh đó, luật này tăng quyền lực cho Bộ Bảo tồn Tài nguyên và Môi trường Quốc gia (Ministry of National Resources and Environmental Conservation – MNREC), theo đó Bộ này có thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác, kinh doanh đá quý (Chương 10, 11, 12, 13).

Đặc biệt, Luật mới trao quyền cho MNREC thành lập Ủy ban Giám sát Đá quý Trung ương (Central Gemstone Supervisory Committee), bao gồm các chuyên gia, kỹ thuật viên đá quý và đại diện của Hiệp hội Doanh nhân Đá quý và Trang sức Myanmar (Myanmar Gems and Jewellery Entrepreneurs Association). Ủy ban này có chức năng tư vấn cho chính phủ xây dựng chính sách khai thác và kinh doanh đá quý.

Cục Thuế nội địa (Internal Revenue Department) trực thuộc Bộ Tài chính dưới thời chế độ quân phiệt không thu thuế từ khai thác và kinh doanh đá quý. Năm 2019, Quốc hội do NLD chiếm đa số đã thông qua Luật thuế Liên bang Myanmar (the Union Tax Law 2019), yêu cầu tất cả thuế thu được từ đá quý trực tiếp chuyển đến Cục Thuế nội địa này để quản lý một cách tập trung và thống nhất.

Có thể nói, trong 5 năm cầm quyền từ 2015 đến 2020, đảng NLD đã tiến hành xây dựng các công cụ pháp lý và chính trị để có thể trong tương lai điều chỉnh những bất cập trong nền kinh tế Miến Điện, đặc biệt là ngành khai thác kinh doanh đá quý vốn bị quân đội lũng đoạn nhiều thập niên.

Những động thái này của NDL, trong tương lai, có thể đe dọa sự thống trị của các tướng lĩnh quân đội trong ngành kinh doanh đá quý ở Miến Điện. Các quyền lợi kinh tế của giới tướng lĩnh quân đội được bảo đảm bởi thế thượng phong về mặt chính trị của họ. Về chính trị, họ chuyển hóa thành chính quyền dân sự năm 2011 nhưng nội các chủ yếu do tướng lĩnh quân đội chuyển sang (nội các “dân sự” có 33 bộ trưởng thì 28 thành viên là cựu quan chức quân đội). Hiến pháp 2008 quy định quân đội mặc định có 25% số ghế không cần bầu cử trong Quốc hội liên bang (Assembly of the Union), giúp họ có thể ngăn cản mọi khả năng cải cách hiến pháp.

Tuy nhiên, cuộc bầu cử 2015 đã làm cho đảng NLD chiếm đa số và đủ khả năng tự xây dựng nội các. Các tướng vị tướng quân đội chuyển sang nội các dân sự từ 2011 đến 2015 đã bị loại khỏi chính phủ. Quân đội chỉ còn nắm lực lượng vũ trang (ba bộ Quân đội, Cảnh sát và Biên phòng). Tuy NLD không thể cải cách hiến pháp, họ đã cải cách nhiều bộ luật liên quan đến quản lý kinh tế quốc gia, trực tiếp đe dọa nguồn lợi bất hợp pháp của giới quân sự.

Kết quả cuộc bầu cử 2020 tiếp tục duy trì tình thế 2015 – 2020, đặt quân đội vào khả năng mất thế thượng phong về mặt chính trị trong tương lai, từ đó, mất khả năng kiểm soát các nguồn lực kinh tế.

NLD và Aung San Suu Kyi ngăn chặn Trung Quốc

Hoàn Cầu thời báo, một tờ báo trực thuộc Tân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không che giấu cái nhìn của Trung Quốc về bà Suu Kyi, coi cuộc đảo chính là “một sự điều chỉnh cấu trúc quyền lực bị rối loạn về mặt chức năng của đất nước”. (“an adjustment to the country’s dysfunctional power structure”)

Theo số liệu của Ngân Hàng Thế giới, đến cuối năm 2019, Miến Điện chỉ còn nợ Trung Quốc 3.34 tỉ đô la, giảm 26% so với cuối năm 2015, trước khi NLD cầm quyền. Trong cùng khoảng thời gian này, nợ của Lào tăng vọt 72%, nợ của Campuchia tăng 34%.

Việc giảm nợ Trung Quốc giữa lúc đang cần tiền đầu tư cho kinh tế phải chăng là biểu hiện của thái độ “thoát Trung” trong thực chất của chính quyền Aung San Suu Kyi?

Chính quyền Suu Kyi có lý do để không thích vay nợ của Trung Quốc.

Nhật Bản đã xóa nợ 6 tỷ USD cho Miến Điện năm 2012 và 2013 mà không kèm theo điều kiện nào. Sau đó, Nhật tiếp tục cho những khoản vay hợp lý để phát triển kinh tế, xã hội, viện trợ không hoàn lại để đào tạo nhân lực cho Miến Điện.

Ngược lại, Trung Quốc đề nghị cho vay 7,5 tỷ USD để xây dựng cảng Kyaukpyu, chủ yếu để phục vụ lợi ích của chính bản thân Trung Quốc còn Miến Điện chỉ nhận được những lợi ích nhỏ và một món nợ không có nguồn thu để trả. Mặc dù Suu Kyi đang cần sự ủng hộ của Trung Quốc sau khi phương Tây tẩy chay bà vì vấn đề người Rohingya, bà đã gọi “món quà nợ” 7,5 tỷ USD của Trung Quốc là “điên rồ và lố bịch” (“crazy” and “absurd”) và yêu cầu giảm quy mô dự án và món nợ xuống còn 1,2 tỷ USD.

Có thể nói chính quyền Suu Kyi đã ngăn chặn để Miến Điện không rơi vào bẫy nợ và phải nhượng hải cảng cho Trung Quốc như Sri Lanka.

Đó có phải là “cấu trúc quyền lực bị rối loạn về mặt chức năng” trong cách nhìn của “Hoàn Cầu thời báo”? Trung Quốc không những không thể đưa Miến Điện vào bẫy nợ 7,5 tỷ USD mà số nợ của Miến Điện còn bị giảm xuống gần một phần ba kể từ khi bà Suu Kyi cầm quyền.

Sự trợ giúp của Trung Quốc cho giới quân sự Miến Điện

Diễn biến của cuộc bầu cử cuối năm 2020 và đảo chính ở Miến Điện đầu tháng 2 năm 2021 cho thấy cuộc đảo chính ở Miến Điện đã được lập kế hoạch ít nhất từ khi có kết quả bầu cử và được Trung Quốc hỗ trợ. Quân đảo chính cũng cân nhắc kỹ lưỡng từng thời điểm hành động.

Cuộc bầu cử quốc hội ở Miến Điện diễn ra ngày 8 tháng 11 năm 2020. Ngày 10 tháng 11, bà Aung San Suu Kyi và đảng National League for Democracy (NLD) tuyên bố chiếm đa số ghế trong quốc hội để tự thành lập chính phủ.

Tuy nhiên, quân đảo chính không “tố cáo gian lận bầu cử” ngay lập tức. Quân đội Miến Điện chờ đợi hai tháng sau, cuối tháng 12 năm 2020, tuyên bố bầu cử có gian lận một cách hệ thống. Có thể họ đã cân nhắc đến các mối quan hệ với Hoa Kỳ. Cuối tháng 12 năm 2020 là thời điểm các nỗ lực bằng con đường kiện tụng để lật ngược kết quả bầu cử ở Hoa Kỳ của cựu tổng thống Trump đã ngã ngũ. Biden chắc chắn nhậm chức vào ngày 20 tháng 1 năm 2021, tuy nhiên ông sẽ phải tập trung xử lý hàng loạt khó khăn trong nội bộ nước Mỹ.

Hai tuần sau khi quân đội Miến Điện tuyên bố có gian lận bầu cử, tháng 1 năm 2021, Ngoại trưởng Trung Quốc Wang Yi thăm Miến Điện, đã gặp riêng rẽ bà Suu Kyi (ngày 11) và Tổng tư lệnh quân đội Min Aung Hlaing (ngày 12).

Đến 26 tháng 1 năm 2021, quân đội Miến Điện cảnh cáo có thể làm đảo chính. Một tuần sau, họ đảo chính. Họ không thể làm sớm hơn, nhưng cũng không thể chậm hơn, vì nếu đảo chính khi chính quyền mới ở Mỹ đã ổn định được chính trị nội bộ, cuộc đảo chính có thể bị phản ứng mạnh mẽ.

Sau khi người dân Miến Điện biểu tình phản đối chính quyền quân sự, Trung Quốc đã trợ giúp Miến Điện. Các nhà hoạt động Miến Điện biểu tình phản đối trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Yangon, tố cáo các chuyến bay của Trung Quốc đến nước này với tần suất lớn để hỗ trợ quân đảo chính. Trung Quốc chỉ đơn giản trả lời rằng đó là những chuyến bay chở hải sản. Họ cũng chặn nghị quyết của Liên Hiệp Quốc lên án cuộc đảo chính, từ chối tham gia các cuộc thảo luận quốc tế để giải quyết vấn đề Miến Điện. Xinhua, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, gọi cuộc đảo chính này là “cải tổ nội các” và thừa nhận chính phủ mới.

Việc quân đội Miến Điện thẳng tay bắn giết người biểu tình trên đường phố cho thấy họ đã chủ động đóng lại cánh cửa thương lượng và hòa giải với NLD. Lựa chọn này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận tách khỏi phương Tây và Nhật Bản, dựa vào Trung Quốc để giữ quyền lực.

Cho đến đầu tháng Ba, hơn một tháng sau cuộc đảo chính, phản ứng của Hoa Kỳ và phương Tây đối với cuộc đảo chính và các cuộc giết người biểu tình trên phố ở Miến Điện nói chung là yếu ớt bởi lẽ họ không có nhiều công cụ để gây sức ép lên giới quân sự nước này. Các quan chức ngoại giao của họ phát biểu phản đối. Họ tuyên bố trừng phạt kinh tế. Họ đưa vấn đề Miến Điện lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc, nơi chắc chắn Trung Quốc và Nga bác bỏ. Đó là những biện pháp trừng phạt mà giới quân đội Miến Điện đã có kinh nghiệm đối phó, như Tổng tư lệnh quân đội Miến nói thẳng với một quan chức UN, “chúng tôi đã quen thuộc với các lệnh trừng phạt và chúng tôi đã sống sót sau các lệnh trừng phạt đó trong quá khứ (…) chúng tôi phải học cách đi tiếp chỉ với một vài người bạn.

Vị trí chiến lược của Miến Điện trong bản đồ địa chính trị mới của Trung Quốc

Trong “Chiến tranh lạnh” giữa hai khối cộng sản và tư bản, Việt Nam có vị trí chiến lược về mặt địa chính trị đối với Trung Quốc. Việt Nam vừa là cánh cửa cho Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á, vừa là hàng rào phòng thủ phía nam của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ủng hộ Đảng Lao động Việt Nam (tức “Đảng Cộng sản Việt Nam”) tối đa về mặt vật chất trong chiến tranh Việt Nam. Ngày nay, phải chăng Miến Điện thay thế vị trí này của Việt Nam trong bản đồ địa chính trị Trung Quốc?

Từ 2013, Trung Quốc triển khai đại chiến lược “Một vành đai, một con đường” để thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa theo hướng tạo ra một hệ thống mới, cạnh tranh với hệ thống phương Tây dẫn đầu từ sau thế chiến thứ hai. Đại chiến lược này xây dựng “Vành đai kinh tế phân bố dọc theo con đường tơ lụa” (“Silk Road Economic Belt”) và “Con đường Tơ lụa trên biển” (“Maritime Silk Road”). Ấn Độ Dương chiếm vị trí trung tâm trên “Con đường Tơ lụa trên biển” này. Do đó, Miến Điện đã trở nên đặc biệt quan trọng về mặt địa chính trị với Trung Quốc.

Xét về địa chính trị, Miến Điện là con đường nối trực tiếp Trung Quốc với Ấn Độ Dương, một điểm Trung Quốc cần giữ trong chiến lược “One Belt One Road”. Kiểm soát được Miến Điện, Trung Quốc không cần đi qua yết hầu Malacca, nơi Hoa Kỳ có thể dễ dàng khóa chặt.

Trung Quốc đã đầu tư đập thủy điện Myitsone ở Miến Điện, một số đường cao tốc nối Miến Điện với Côn Minh và Thành Đô, một tuyến đường sắt mới, xuyên qua vùng biên giới để nối Trung Quốc với Miến Điện, một đường ống dẫn dầu chạy từ cảng Kyaukpyu đến Trung Quốc.

Giới quan sát đã để ý đến động thái của Trung Quốc tại Kyaukpyu từ lâu. Trung Quốc có thể làm cho Kyaukpyu từ một địa điểm ít người quan tâm trở thành một vị trí chiến lược về mặt quân sự và kinh tế đối với họ.

Trung Quốc có thể dùng cảng Kyaukpyu và đường ống dẫn dầu từ vị trí này đến Côn Minh để hóa giải yết hầu Malacca Straits hay không?

Đường ống dẫn dầu hiện hữu từ Kyaukpyu đến Côn Minh, Trung Quốc. Tuyến đường sắt từ Kyaukpyu đến Côn Minh dự kiến cũng đi song song với đường ống dẫn dầu. Ảnh: Google. Minh họa và chú thích của tác giả.
Đường ống dẫn dầu hiện hữu từ Kyaukpyu đến Côn Minh, Trung Quốc. Tuyến đường sắt từ Kyaukpyu đến Côn Minh dự kiến cũng đi song song với đường ống dẫn dầu. Ảnh: Google. Minh họa và chú thích của tác giả.

Trung Quốc nhập khẩu 505.68 triệu tấn dầu thô năm 2019. Khoảng 80% dầu Trung Quốc nhập khẩu đi qua eo biển Malacca, tương đương khoảng 400 triệu tấn. Hệ thống đường ống dẫn dầu nối cảng Kyaukpyu đến Côn Minh hiện có khả năng vận chuyển 12 triệu tấn dầu thô và đang hoạt động hết công suất. Như vậy, đường ống dẫn dầu nối từ cảng Kyaukpyu ở Miến Điện đến Côn Minh chỉ vận chuyển được khoảng 2,5% lượng dầu thô Trung Quốc nhập khẩu từ Trung Đông và Châu Phi năm 2019, do đó nó vẫn chưa thể hóa giải được yết hầu Malacca.

Vai trò của Malacca vẫn chưa thể nhanh chóng mất đi trong tương lai gần nhưng Trung Quốc đang nỗ lực hết sức mình để giảm sự lệ thuộc vào nó. Năm 2017 Trung Quốc có kế hoạch xây dựng đường ống dẫn dầu thứ hai từ Miến Điện. Ngoài ra, các dự án đường sắt và đường cao tốc phục vụ vận chuyển hàng hóa nói chung và dầu thô nói riêng từ cảng Kyaukpyu vào Trung Quốc cũng đang được nghiên cứu triển khai.

Nếu Trung Quốc muốn giảm sự lệ thuộc vị trí yết hầu Malacca, mở con đường mới kết nối với Ấn Độ Dương, Miến Điện là một vị trí Trung Quốc không thể mất.

Trung Quốc đã kiểm soát được cảng Gwadar của Pakistan. Nhưng khoảng cách từ cảng Gwadar đến Tân Cương (Xinjiang), Trung Quốc, dài gấp đôi khoảng cách từ Kyaukpyu đến Côn Minh. Mặt khác, con đường đi từ cảng Gwadar đến Tân Cương đi qua vùng núi non hiểm trở và khu vực Kashmir tranh chấp với Ấn Độ. Ngoài ra, con đường này cũng gần các điểm nóng ở Afghanistan. Việc xây dựng đường ống dẫn dầu, đường cao tốc và đường sắt kết nối Gwadar và Tân Cương sẽ rất tốn kém vì quá xa, hiểm trở và có nhiều rủi ro chính trị. So với Gwadar của Pakistan, cảng Kyaukpyu của Miến Điện có những lợi thế đáng kể. Khoảng cách từ Kyaukpyu đến Côn Minh chỉ bằng một nửa khoảng cách từ Gwadar đến Tân Cương. Côn Minh lại là một trung tâm đô thị ở phía Tây Trung Quốc, phát triển vượt trội so với Tân Cương. Miến Điện đã có con đường Burma Road kết nối Yangon với Côn Minh được Anh và Trung Quốc xây dựng từ thế chiến thứ hai để thay thế cho tuyến đường biển nối khu vực miền Tây Trung Quốc với vùng đồng bằng ven biển Guangzhou bị Nhật Bản khóa lại sau khi đánh chiếm Nam Ninh.

Khoảng cách từ cảng Gwadar của Pakistan đến Tân Cương [Xinjiang] và khoảng cách từ Kyaukpyu của Miến Điện đến Côn Minh [Kunming]. Ảnh: Google Map. Chú thích và minh họa của tác giả.
Khoảng cách từ cảng Gwadar của Pakistan đến Tân Cương [Xinjiang] và khoảng cách từ Kyaukpyu của Miến Điện đến Côn Minh [Kunming]. Ảnh: Google Map. Chú thích và minh họa của tác giả.

Cảng Kyaukpyu thuộc bang Rakhine, nơi xảy ra cuộc diệt chủng người Rohingya. Cuộc khủng hoảng này đã đẩy cả quân đội Miến Điện và Suu Kyi lại gần Trung Quốc từ ba năm trước. Kiểm soát an ninh ở bang Rakhine không phải là việc khó khăn đối với Trung Quốc và quân đội Miến Điện.

Miến Điện, Biển Đông và Ấn Độ Dương

Các cuộc sắp xếp thế trận quân sự xung quanh eo biển Malacca càng làm cho Trung Quốc có lý do để kiểm soát Miến Điện.

Trung Quốc đã kiểm soát phía đông eo biển Malacca trên Biển Đông. Trung Quốc đã xây dựng hai thực thể địa lý nửa nổi nửa chìm là Subi Reef và Fiery Cross Reef thành hai căn cứ quân sự, án ngữ tuyến đường biển từ Malacca lên vùng Đông Bắc Á.

Ngoài ra, Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trên các thực thể địa lý khác trên Biển Đông như Cuarteron Reef, Gaven Reef, Hughes Reef, Johnson Reef, Mischief Reef, Antelope Reef. Những căn cứ này kiểm soát khu vực trung tâm và phía đông quần đảo Trường Sa và tuyến đường biển đi từ Australia vào Biển Đông. Trong trường hợp yết hầu Malacca Strait bị khóa, tàu thuyền sẽ phải đi vòng qua quần đảo Indonesia rồi vòng vào Biển Đông và đi qua các căn cứ này của Trung Quốc.

Nhiều nước lớn đã thực hiện những bước đi có tính chiến lược để phản ứng lại các bước leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông. Ấn Độ đã thành lập lực lượng quân sự nhỏ tại chuỗi đảo Andaman và Nicobar (“Andaman and Nicobar Command”) năm 2001 nằm ngay cửa phía tây của Malacca Strait, trên Ấn Độ Dương. Khi Trung Quốc bắt đầu mở rộng sự hiện diện ra các vùng biển xa, Bộ Tứ Mỹ, Nhật, Úc, Ấn đã phát triển các căn cứ quân sự tại đây. Như vậy họ có thể khóa yết hầu Malacca khi nào họ muốn.

Eo biển Malacca là một điểm yết hầu kết nối Ấn Độ Dương và Biển Đông. Căn cứ quân sự của Ấn Độ nằm trên chuỗi đảo Andaman và Nicobar ở cửa phía đông của eo biển. Ở cửa phía Tây, trên Biển Đông, Trung Quốc đã xây các căn cứ quân sự khổng lồ trên các đảo nhân tạo ở đá Xu Bi và đá Chữ Thập. Ảnh Google Map, chú thích và minh hoa của tác giả.
Eo biển Malacca là một điểm yết hầu kết nối Ấn Độ Dương và Biển Đông. Căn cứ quân sự của Ấn Độ nằm trên chuỗi đảo Andaman và Nicobar ở cửa phía đông của eo biển. Ở cửa phía Tây, trên Biển Đông, Trung Quốc đã xây các căn cứ quân sự khổng lồ trên các đảo nhân tạo ở đá Xu Bi và đá Chữ Thập. Ảnh Google Map, chú thích và minh hoa của tác giả.

Tình thế này tại Malacca Strait làm cho Trung Quốc cần phải tìm con đường khác đi ra Ấn Độ Dương, kết nối với khu vực dầu mỏ ở Trung Đông và Châu Phi. Có thể nói Trung Quốc đã chọn Miến Điện. Trong những năm sắp tới, Trung Quốc sẽ đầu tư mạnh mẽ hơn vào Miến Điện đồng thời kiểm soát chính trị nước này để phát triển nơi này thành cánh cửa kết nối với Ấn Độ Dương.

Trung Quốc can thiệp vào biên giới Miến Điện

Cuộc đảo chính tháng Hai năm 2021 buộc giới quan sát nhìn lại việc Trung Quốc can thiệp Miến Điện lâu nay ở vùng biên giới thông qua các nhóm cộng sản từ thời chiến tranh lạnh và các nhóm thổ phỉ vùng miền núi.

Trung Quốc đã viện trợ cho các đảng cộng sản ở Đông Nam Á từ thập niên 1950s, gồm ở Miến Điện, Việt Nam, Philippines, Cambodia… Mặc dù cùng được Trung Quốc hỗ trợ, các đảng cộng sản này có số phận khác nhau.

Đảng Cộng sản Việt Nam, do nằm ở vị trí địa chiến lược quan trọng với Trung Quốc trong chiến tranh lạnh, đã được Mao viện trợ vũ khí và nhu yếu phẩm quy mô lớn và liên tục từ 1950, lần lượt giành quyền kiểm soát một nửa nước từ 1954 và toàn bộ đất nước từ 1975. Đảng Cộng sản Philippines có vai trò mờ nhạt đối với khối cộng sản chủ nghĩa trong chiến tranh lạnh, không được viện trợ quy mô lớn để giành chính quyền, từ lâu đã thoái hóa thành thổ phỉ, hiện ẩn náu trong khu vực rừng núi. Đảng Cộng sản Khmer chìm đắm trong “chủ nghĩa dân tộc chống Việt Nam”, bị đồng chí Việt Nam tiêu diệt năm 1979 sau 4 năm cầm quyền. Riêng ở Miến Điện, lịch sử các nhóm cộng sản phức tạp hơn.

Ở Miến Điện, năm 1962, tướng Ne Win đảo chính, cướp chính quyền vào tháng Hai, thành lập Đảng Chương trình Xã hội Chủ nghĩa Miến Điện (Burma Socialist Programme Party – BSPP) vào tháng Bảy, tiến hành xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Chương trình Xã hội Chủ nghĩa Miến Điện nắm quyền đến 1988, tổ chức nền kinh tế kế hoạch tập trung với hạt nhân là quân đội.

Trung Quốc của Mao đã trợ giúp cho nhiều nhóm cộng sản khác nhau ở Miến Điện như Communist Party of Burma (1948-1989), Red Flag Communist Party (1948-1978), Shan State Communist Party (1956-1958), Communist Party of Arakan (1962-1986). Ngoại trừ Shan State Communist Party vốn tách ra từ Communist Party of Burma năm 1956 và đầu hàng chính phủ vào năm 1958, các nhóm cộng sản khác đều ở khu vực rừng núi và chống lại người đồng chí xã hội chủ nghĩa BSPP ở trung ương. Trong số đó, Communist Party of Burma (CPB) có ảnh hưởng mạnh nhất. CPB trước đây chủ yếu là người Hán di cư từ Trung Quốc đến Miến Điện sau khi Mãn Thanh lật đổ triều Minh. Từ 1989, họ chuyển hóa thành “Quân đội Liên minh Dân chủ Quốc gia Myanmar” (“Myanmar National Democratic Alliance Army” – MNDAA), một tổ chức thổ phỉ chống đối chính quyền trung ương Miến Điện, hoạt động ở vùng miền núi Kokang, giáp ranh biên giới Trung Quốc.

Theo Wikileaks, từ 1975, cơ quan U.S. Drug Enforcement Agency (DEA) của Mỹ đã liệt lãnh tụ của Đảng này, Peng Jiasheng, một người Miến gốc Hán, vào danh sách một trong những đầu sỏ buôn lậu (major trafficker). Năm 2009, chính phủ Miến Điện tấn công và kiểm soát hoàn toàn Kokang, Peng Jiasheng rời khỏi Miến Điện và ẩn náu ở Trung Quốc.

Năm 2015, khi đảng NLD của bà San Suu Kyi nắm quyền, Peng Jiasheng đột nhiên quay trở lại Kokang, thổi bùng xung đột quân sự với chính phủ trung ương Miến Điện. Tướng Miến Điện Myat Htun Oo cáo buộc “lính đánh thuê Trung Quốc” đã tham gia hàng ngũ của MNDAA. Tờ báo “Global New Light of Myanmar” do chính phủ Miến Điện tài trợ đưa tin là MNDAA sử dụng vũ khí do Trung Quốc sản xuất. Cả chính phủ Trung Quốc và Peng Jiasheng đều phủ nhận sự can dự của Trung Quốc.

Chiến sự ở Kokang giữa MNDAA và chính phủ Yangon kéo dài đến 2017. Năm 2017, Peng Jiasheng và MNDAA quyên góp được nửa triệu dollars từ “tư nhân” và “doanh nghiệp” Trung Quốc, thông qua một tài khoản ngân hàng tại Agricultural Bank of China. Khi việc này được công khai, Agricultural Bank of China đã tạm ngưng tài khoản này. Tuy nhiên, việc một tổ chức thổ phỉ và buôn lậu như MNDAA “quyên góp” được số tiền lớn từ “tư nhân” và “doanh nghiệp” Trung Quốc thông qua một ngân hàng quốc doanh của nước này đã cho phép các nhà quan sát Miến Điện đặt ra giả thuyết về sự can thiệp của Bắc Kinh vào nước này.

Vị trí của cảng Kyaukpyu và khu vực Kokang của Miến Điện, tiếp giáp Yunnan [Vân Nam] của Trung Quốc.
Vị trí của cảng Kyaukpyu và khu vực Kokang của Miến Điện, tiếp giáp Yunnan [Vân Nam] của Trung Quốc.

Quá trình Trung Quốc thao túng các nhóm cộng sản ở Miến Điện trước đây, bao gồm “Communist Party of Burma” mà ngày nay là MNDAA, cho thấy Trung Quốc đã chủ động tạo ra bất ổn chính trị nội bộ bên trong Miến Điện để dễ dàng thực hiện chiến thuật “hỗn thủy mạc ngư” (khuấy bùn cho nước bị đục, rồi thừa cơ bắt cá) và đẩy chính phủ Yangon, dù đó là phe quân đội hay phe NLD, vào tình thế cần họ hơn.

Mặc dù mâu thuẫn nhau trong chính sách kinh tế, đảng NLD và quân đội Miến Điện không mâu thuẫn nhau trong chính sách đối với người Rohingya. Năm 2017, quân đội Miến Điện đẩy mạnh bạo lực nhắm vào người Rohingya ở bang Rakhine trên bờ biển Ấn Độ Dương. Bà Suu Kyi đứng về phe quân đội, bị phương Tây phê phán. Trung Quốc cũng đã ngăn chặn Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết lên án cuộc thảm sát.

Như vậy, Trung Quốc đã cố gắng chơi tất cả các quân cờ đối địch nhau trên chiến trường chính trị và quân sự của Miến Điện, để có thể đi những nước cờ phù hợp với từng tình huống sao cho không trật khỏi đường ray dẫn đến mục tiêu. Đây cũng là chính sách Trung Quốc thực hiện ở Cambodia hơn nửa thế kỷ nay.

Tương lai của Miến Điện?

Quá trình toàn cầu hóa đang dần dần bước vào tình thế hình thành hai hệ thống song song, một do Mỹ xây dựng và dẫn đầu từ sau thế chiến thứ hai và một do Trung Quốc đang tái cấu trúc lại. Con đường chính trị đúng của Miến Điện là không trở thành chiến trường cho hai hệ thống cạnh tranh lẫn nhau bằng vũ lực.

Miến Điện cần phải dân chủ hóa, tôn trọng các lực lượng chính trị đối lập, chấm dứt thảm sát người Rohingya và hỗ trợ họ khôi phục cuộc sống hòa bình, hòa giải với lực lượng vũ trang của các dân tộc thiểu số nổi loạn, như nhóm “Karen National Union” (KNU) của tộc người Karen ở vùng Kawthoolei giáp với Thái Lan, và ngăn chặn không để cho hình thành những nhóm vũ trang mới.

Con đường này của Miến Điện là không phải bất khả thi nhưng có nhiều trở ngại nội tại. Có một số vấn đề giới quan sát sẽ phải tiếp tục theo dõi về Miến Điện:

Một là, quân đội Miến Điện hiện nay có thể chấp nhận rút lui khỏi chính trường, trở thành quân đội chuyên nghiệp, như thường thấy ở các nước văn minh hay không? Trong điều kiện nào họ sẽ chấp nhận bước vào hệ thống dân chủ, dù đương nhiên vẫn giữ mối quan hệ hữu hảo với Trung Quốc? Các nước phương Tây có thể giúp Miến Điện tạo ra các điều kiện này hay không?

Hai là, Mỹ và phương Tây đã tẩy chay Aung San Suu Kyi và NLD vì cuộc thảm sát người Rohingya từ năm 2017. Trong điều kiện nào thì họ quay trở lại giúp đỡ “lực lượng dân chủ” bị đảo chính này?

Ba là, nếu các lợi ích kinh tế không được phân chia “công bằng” trong giới chóp bu quân đội, và cuộc phản kháng của người dân tiếp tục dâng cao, tạo ra sức ép khiến họ phải thay đổi chính sách bạo lực hiện nay, liệu có thể xuất hiện những rạn nứt trong lãnh đạo quân đội Miến Điện dẫn đến sự trở lại chính sách năm 2011 hay không?

Xem xét nước cờ Miến Điện của Trung Quốc trong một bàn cờ rộng hơn

“Binh thư yếu lược” là cuốn sách quân sự cổ xưa nhất của Việt Nam, trước tác của Trần Hưng Đạo, người lãnh đạo Việt Nam ba lần đánh bại quân Mông Cổ vào thế kỷ 13. Cuốn sách mặc dù đã bị hủ Nho đời sau thêm thắt, sửa chữa đến mức trở nên tầm thường, nhưng may mắn vẫn còn sót lại một vài ý tưởng có thể coi là tinh hoa về mặt tư duy chiến lược, có thể phán đoán là được lưu lại từ bản gốc. Một trong những ý tưởng ấy là “Đánh chỗ cứng, chỗ mềm hóa cứng. Đánh chỗ mềm, chỗ cứng hóa mềm”.

Có thể hiểu “chỗ cứng” là mục tiêu chính, cuối cùng, chủ yếu, khó giải quyết, còn “chỗ mềm” là những mục tiêu phụ, thứ yếu, dễ thành công, có liên quan đến “chỗ cứng”. Lời dạy này nhấn mạnh đến tính chất chiến lược của “quy trình thực thi” một chiến dịch để đạt được mục đích cuối cùng. Nếu ngay lập tức tấn công trực diện vào mục tiêu chính, không những khó có thể giành mục tiêu này mà còn làm cho các mục tiêu phụ trở nên khó khăn (“chỗ mềm hóa cứng”). Ngược lại, nếu trước tiên tấn công vào các mục tiêu mềm, tính cấu trúc của đối phương có thể bị phá vỡ (“chỗ cứng hóa mềm”) để từ đó xem xét đánh tiếp. Lời dạy này có thể soi sáng cho chúng ta về chiến lược của Trung Quốc.

Ở Miến Điện, đảng NLD và bà Aung San Suu Kyi tuy nắm chính quyền nhưng không nắm được quân đội và cảnh sát, và cũng chưa kịp xây dựng lực lượng vũ trang riêng để tự vệ. Đối đầu với cả nhóm lợi ích trong quân đội Miến Điện và đại chiến lược “Một vành đai – một con đường” của Trung Quốc khi mới nắm chính quyền chưa lâu, họ đã trở thành “chỗ mềm” trên bàn cờ địa chính trị của Trung Quốc.

Trận đánh nhỏ của Trung Quốc ở Miến Điện vừa qua ngoài mục tiêu kiểm soát chắc chắn một vị trí quan trọng trên Ấn Độ Dương, còn có mục đích thăm dò khả năng đáp trả của Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu. Mục tiêu cuối cùng không dừng lại ở Miến Điện. Nếu các nước dân chủ phản ứng yếu ớt và không có thực chất, Trung Quốc sẽ đánh dứt điểm ở mục tiêu mình thực sự mong muốn. Hẳn nhiên các nhà quan sát chính trị Châu Á đang theo dõi xem “chỗ cứng” thực sự mà Trung Quốc mong muốn là chỗ nào.

Kênh đào Kra

Trung Quốc từng có kế hoạch xây dựng kênh đào Kra ở Thái Lan để thay thế cho Malacca Strait. Tuy nhiên, các căn cứ quân sự của Ấn Độ trên chuỗi đảo Andaman và Nicobar cũng có thể khóa được cả eo biển Malacca và kênh đào Kra. Kênh đào Kra do đó sẽ không còn nhiều giá trị với Trung Quốc về mặt địa chính trị dù có thể có lợi ích kinh tế.

Nhật Bản

Từ khi Miến Điện tiến hành cải cách chính trị và mở cửa với thế giới, cả Nhật Bản và Trung Quốc đều cạnh tranh lẫn nhau đầu tư vào nước này. Bên cạnh việc xóa nợ cho Miến Điện, Nhật Bản đã đầu tư sân bay quốc tế, nhà máy điện và cải tạo hệ thống đường sắt hiện hữu ở nước này. Cuộc đảo chính và đàn áp đẫm máu người biểu tình sau đảo chính ở Miến Điện chắc chắn sẽ đẩy Nhật Bản ra khỏi nước này. Nhật Bản có thể phải chấp nhận tổn thất từ những đầu tư trước đây.

Biển Đông

Hiện Trung Quốc có hai mục tiêu lớn là Đài Loan và một số đảo lớn trên Biển Đông. Trong hai mục tiêu này, Đài Loan là chỗ khó giải quyết nhất. Các đảo lớn trên Biển Đông có thể là một lựa chọn thích hợp cho Trung Quốc trong tương lai gần.

Việc kiểm soát Biển Đông vẫn tiếp tục quan trọng đối với Trung Quốc. Subi Reef và Fiery Cross Reef trên Biển Đông là những căn cứ quân sự Trung Quốc gần Malacca nhất. Chúng cần thiết cho Trung Quốc khi xảy ra xung đột ở Malacca.

Chúng tôi hiện không đủ thông tin để có thể suy nghĩ sâu và rộng hơn về “chỗ cứng” thực sự mà Trung Quốc mong muốn. Vấn đề này cần phải được tiếp tục theo dõi và phân tích kỹ lưỡng hơn trong tương lai khi xuất hiện những chuyển động mới.

Bài viết của Nguyễn Lương Hải Khôi / VOA

(*) Về tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi là thư ký tòa soạn của tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ (US Vietnam Review) thuộc Đại học Oregon. Các bài viết báo chí của ông tập trung vào các chủ đề: Xung đột trên Biển Đông, kinh tế chính trị Việt Nam đương đại và lịch sử tinh thần cộng hòa ở Việt Nam. Một số bài viết và bài dịch tiếng Việt của ông được đăng tải ở đây https://usvietnam.uoregon.edu/author/khoin/, một số bài tiếng Anh được đăng ở đây: https://usvietnam.uoregon.edu/en/author/khoin/ .