Quán cà phê trưng bày hàng nghìn đồ cổ tái hiện Sài Gòn xưa

Trong quán có nhiều món đồ quý tốn nhiều tiền bạc, năm tháng để sưu tập như chiếc xe máy của anh trai Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Hơn hai tháng nay, quán cà phê theo phong cách Sài Gòn xưa ở đường Nguyễn Cơ Thạch (quận 2, TP HCM) thu hút nhiều khách đến. Quán có diện tích hơn 300 m2, nằm ở căn nhà phố thuộc khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Không gian nhuộm màu sắc hoài cổ khi phần lớn đồ vật trong quán đều từng một thời quen thuộc với người Sài Gòn. Đó là những bộ bàn ghế gỗ, sàn nhà gạch bông, biển quảng cáo…

Vốn đam mê đồ cổ, anh Huỳnh Minh Hiệp (áo trắng) dành hàng chục năm sưu tập những món đồ mà người dân Sài Gòn xưa thường sử dụng. Để mở quán cà phê, anh mang ra gần 2.000 món đồ cổ từ thập niên 1930 đến 1970.

“Tôi mất cả tháng để bày biện đồ đạc, trang trí các bức tường, vẽ tranh… sao cho mọi góc đều mang cái hồn của Sài Gòn hoa lệ”, chủ quán cho biết.

Có những chiếc bàn được thiết kế từ bộ khung của máy may của hãng Singer, nổi tiếng khắp miền Nam một thời. “Từ nhỏ tôi ở với ông bà nội, họ làm nghề may quần áo nên những vật dụng này là một phần tuổi thơ của tôi được tái hiện trong quán”, anh Hiệp chia sẻ.

Khu vực pha chế bày biện nhiều món đồ bình dân như tủ đựng thuốc lá, gạt tàn, lon nhôm… Theo chủ quán những đồ này dù đơn giản nhưng rất khó sưu tập.

Một không gian khác tái hiện quầy giải khát vỉa hè Sài Gòn với chiếc xe đẩy, những chai nước ngọt, máy bào đá…

Cách bài trí đồ đạc trong phòng khách ngày xưa với điện thoại bàn, đài cassette, đèn dầu, bình rượu… được tái hiện lại trong quán.

Dàn máy nghe nhạc Akai phổ biến những năm 1970 vẫn còn hoạt động tốt. “Âm thanh rè rè, ngầu đục phát ra từ chiếc máy to sụ có sức mê hoặc khó lý giải. Ở trong quán, tôi hay mở những bản tình ca cũ nổi tiếng. Cảm giác nghe trên máy Akai có chút liêu trai và chân thực do không qua xử lý”, anh Hiệp chia sẻ.

Những bức poster quảng cáo phim, tờ nhạc, tờ rơi quảng cáo… góp phần tái hiện được nhịp sống của đô thị Sài Gòn xưa.

Rải rác trong quán, người chủ cho trưng bày vài chiếc xe môtô phổ biến trên đường phố Sài thành cách đây cả nửa thế kỷ. Độc đáo nhất là chiếc xe gắn máy thương Motobecane Pony sản xuất năm 1936, vẫn còn nguyên giấy đăng ký.

“Xe này là món quà của vị khâm sứ người Pháp tặng cho linh mục Ngô Đình Thục, anh trai Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Tôi đã phải mất nhiều thời gian, tiền bạc mới có thể mua lại được cổ vật này”, chủ quán nói.

Trước cửa quán trưng bày chiếc xích lô máy hãng Peugeot của Pháp chế tạo, xuất hiện tại miền Nam những năm 1940. Đến thập niên 1960, xe này được sản xuất ngay trong nước nhưng động cơ vẫn là của hãng Peugeot. Đây là thời kỳ vàng son cuả giới xích lô máy Sài Gòn.

Quán còn có cả món cà phê chấm quẩy, đồ uống rất quen thuộc với người Sài Gòn cách đây mấy chục năm.

“Tôi làm trong khu đô thị Thủ Thiêm nên cũng hay ghé đây uống cà phê, ăn trưa. Thành phố có nhiều quán cà phê dạng hoài niệm nhưng tôi ưng nơi này nhất vì không gian rộng và đa dạng đồ cổ. Chủ quán thường mặc áo bà ba, giới thiệu nhiệt tình về từng món đồ, kỷ vật, cách bài trí… giúp tôi có thêm vốn hiểu biết về Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông”, anh Thành Tài (30 tuổi, quận 2) chia sẻ.

Quỳnh Trần/ VNExpress

Áng văn chương đỉnh cao của Mỹ

Trong hành trình tìm kiếm những cuốn tiểu thuyết trác tuyệt của văn học Mỹ, “Cuộc phiêu lưu của Augie March”, tác phẩm thứ ba của Saul Bellow hẳn sẽ được xướng tên.

Mở đầu tác phẩm, Saul Bellow viết: “Tôi là dân Mỹ, quê Chicago-Chicago” đã thêm một lần khẳng định cuốn sách là một ứng viên nặng kí cho biểu tượng của sự tái sinh lý tưởng tự do của giấc mơ Mỹ.

Nhung cuoc phieu luu cua Augie March anh 1
Sách Cuộc phiêu lưu của Augie March do Nguyễn Vân Hà dịch, NXB Hội Nhà văn và Tao Đàn phát hành. Ảnh: Hạnh Nguyễn.

Chuyến du hành tìm kiếm lẽ sống

Martin Amis (tác giả của Tiền – Thư tuyệt mệnh), một trong những người bị ảnh hưởng bởi Saul Bellow đã tuyên bố: “Quên Những cuộc phiêu lưu Huckleberry Finn, quên Gatsby vĩ đại hay cả Bắt trẻ đồng xanh đi, Cuộc phiêu lưu của Augie March mới đích thực là áng văn chương đỉnh cao của xứ cờ hoa. Không cần phải tìm kiếm đâu xa nữa”.

Saul Bellow tỏa sáng rực rỡ cùng thời với J.D. Salinger (tác giả Bắt trẻ đồng xanh), Kurt Vonnegut (tác giả Lò sát sinh số 5) cùng một vài nhà văn khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây cũng là lúc bùng nổ rực rỡ tiểu thuyết vĩ đại của Mỹ thời hậu chiến.

Augie March mở màn vào những năm 1920 tại Chicago, trong thời kì Đại suy thoái. March là một người anh hùng du đãng, một picaro (kiểu tiểu thuyết mô tả cuộc phiêu lưu của một ‘anh hùng’ ngông cuồng nhưng hấp dẫn) điển hình. Anh được xem như Odyssey của thời hiện đại, sống với một bà mẹ mang phong cách Machiavellian, một con người tính toán và bài Do Thái cực đoan, cùng ông anh Simon, một thanh niên tài ba mà March luôn bị xếp sau.

Bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ, March dấn thân vào chuyến du hành tìm kiếm lẽ sống của đời mình dưới các ống cống bẩn thỉu đến những khu ổ chuột, từ Chicago đến thời hậu chiến, March không ngừng đi khắp thế giới để kiếm tìm điều mà anh hy vọng sẽ trở thành “một số phận tốt đẹp hơn”.

Cuốn tiểu thuyết vốn không có một cốt truyện rạch ròi, gần giống với hình thức bildungsroman, kể về quá trình trưởng thành của một chàng trai trẻ. Những người xung quanh March luôn hướng anh vào con đường ổn định và mô phạm, thế nhưng đối với anh chàng, đấy là một hệ thống cứng nhắc và áp đặt, càng thúc đẩy anh chàng nổi loạn.

Ngay từ thuở nhỏ, March đã thích một cuộc sống lưu manh, giao du với những đứa trẻ trộm cắp hơn là đi học. Đời sống sóng gió của một tên tội phạm hấp dẫn March và sẽ trở đi trở lại trong suốt cuộc đời anh sau này. Những biến cố nối tiếp nhau như sóng triều dâng, dữ dội đổ lên đầu March nhưng không thể khuất phục anh.

March kể cho chúng ta nghe rất nhiều chuyện về những con người anh chàng gặp trong chuyến đi, nhưng chẳng hề quan tâm đến những gì họ kể, mà điểm tên như một nhân tố trong cuộc sống của anh. Anh ta không xa cách, cũng không gần gũi, có chút tự cao tự đại coi mình là cái rốn của vũ trụ.

Tính cách này đôi khi khiến anh chàng gặp rắc rối với những người khác, điển hình như tam giác tình yêu tréo ngoe giữa March và chị em Thea. Tuy nhiên, bản chất March vẫn đáng mặt đàn ông, dù cho đôi lúc anh chàng làm vài chuyện tồi tệ.

Anh đi hết hành trình này đến hành trình khác không phải để trốn tránh, mà vì anh chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại và muốn vươn tới một điều lớn lao hơn.

Do vậy, Cuộc phiêu lưu của Augie March không mang tính giễu nhại hay châm biếm như hai cuốn tiểu thuyết trước đây của Bellow, mà chỉ làm nổi bật những mâu thuẫn vốn luôn tiềm ẩn của giấc mơ Mỹ.

Tất cả Chicago như được gói gọn trong cuốn sách đồng thời sau mỗi chuyến đi, March thấy gắn bó với một nước Mỹ mới lạ mà trước đây chưa từng được miêu tả, kể cả trong truyện viễn tưởng.

Nhung cuoc phieu luu cua Augie March anh 2
Nhà văn Saul Bellow (1915-2005) từng đoạt nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có giải Nobel Văn học. Ảnh: Vanityfair.
Đậm chất giang hồ và những phân tích tinh tế về văn hóa

Saul Bellow xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình Dangling Man vào năm 1944, tiếp theo là The Victim (1947), hai tác phẩm hư cấu phản ánh thân phận ngoài rìa xã hội của người Do Thái – Canada sống tại Mỹ của ông, nhưng đều không thành công. Mãi đến khi viết cuốn sách Cuộc phiêu lưu của Augie March, Bellow mới tìm được tiếng nói riêng cho nhân vật của mình.

Thế giới bao hàm trong Cuộc phiêu lưu của Augie March quá sống động và đa dạng, ngay cả bản thân của March cũng xử sự bốc đồng, hiếu thắng, đến nỗi độc giả không thể đặt cuốn sách xuống, mà tập trung theo dõi nhất cử nhất động của March.

Điều này đã mang đến không khí mới mẻ và đặc biệt mà hai cuốn trước của ông không làm được. Sau đó Bellow nhớ lại: “Tôi đã bùng nổ như vòi phun cứu hỏa trong một mùa hè hầm hập”. Cuốn sách được chấp bút tại Paris, khi tác giả nhìn thấy cảnh tượng nước tràn xuống đường phố Paris như khơi nguồn cho dòng thác văn xuôi tuôn trào sau câu mở đầu đã trở thành kinh điển: “Tôi là dân Mỹ, quê Chicago-Chicago, cái chốn ảm đạm ấy, và tôi hành xử như vẫn tự răn mình, một cách bản năng, và lưu danh theo cách của riêng mình’.

Cuộc phiêu lưu của Augie March hẳn là tác phẩm mang phong cách phóng khoáng tự do nhất của Bellow. Thứ ngôn ngữ nhịp điệu khác biệt hẳn so với những sáng tác sau này của ông. Người ta không thể không trầm trồ thán phục trước lối diễn đạt triền miên, mang đậm nét ngông cuồng kiêu ngạo của Bellow, mà hẳn ông đã ít nhiều nghĩ đến Cervantes khi nhào nặn một Augie March điển hình.

Cuốn sách đưa tên tuổi của Saul Bellow lên một tầm cao mới, một phần trở thành lí do mà ông được trao giải Nobel Văn học năm 1976 cùng vô vàn giải thưởng danh giá khác như: Giải thưởng Quốc gia Mỹ năm 1954, Giải thưởng Di sản Do Thái năm 1968, Giải Kế thừa nền dân chủ Mỹ năm 1976.

Viện Hàn lâm Thụy Điển đã đánh giá sự nghiệp của Bellow bằng những từ ngữ vô cùng hoa mỹ: “Văn chương Bellow biểu thị sự pha trộn giữa những tiểu thuyết đậm chất giang hồ và những phân tích tinh tế về văn hóa, về những chuyến phiêu lưu thú vị, vừa táo bạo vừa bi phẫn, đan xen những đối thoại đầy triết lý nhân sinh, thấu hiểu từ ngoại cảnh cho tới nội tâm nhân vật”.

Hanhj Nguyễn / Sách hay / Zing

4 thói quen xấu đẩy nhanh cơn nhồi máu não, đáng tiếc rất nhiều người mắc, làm tốt 3 điều thì mạch máu não sẽ biết ơn bạn

Nhồi máu não xảy ra từ từ do nhiều thói quen xấu trong cuộc sống gây ra. Trong đó, điển hình phải kể đến 4 thói quen xấu như sau.

Gần đây, chúng ta được nghe nhắc tới rất nhiều về bệnh nhồi máu não . Nhồi máu não là căn bệnh gây nguy hiểm nghiêm trọng đến tính mạng và sức khỏe của con người. Bệnh có tốc độ khởi phát nhanh chóng và tác hại vô cùng nguy hiểm, một cơn nhồi máu não xuất hiện bất ngờ cũng có thể giết chết người trong vòng vài phút.

Tháng 7/2020, bệnh viện Huamei thuộc Đại học Khoa học Trung Quốc (Bệnh viện thứ hai Ninh Ba) tiếp nhận một nam thanh niên tên là Tiểu Vương, ngoài 30 tuổi. Đường huyết của anh ta vượt quá tiêu chuẩn nhưng anh ta không hề hay biết. Anh ta đột ngột bị nhồi máu não khi còn khá trẻ.

Vào một buổi sáng, Tiểu Vương tỉnh dậy nhưng cảm thấy chóng mặt, chỉ lảo đảo đi được vài bước. Cho rằng do đói bụng mà vậy, anh liền uống 1 lon Coca và tiếp tục nằm vật ra giường. Tuy nhiên, tình trạng chóng mặt không những không hết mà Tiểu Vương còn thấy mắt bị mờ đi khi nhìn điện thoại và nhìn mọi thứ. Lúc này, gia đình đưa Tiểu Vương đến bệnh viện kiểm tra, kết quả chụp MRI vùng đầu cho thấy anh bị nhồi máu não.

4 thói quen xấu đẩy nhanh cơn nhồi máu não, đáng tiếc rất nhiều người mắc, làm tốt 3 điều thì mạch máu não sẽ biết ơn bạn - Ảnh 1.

Phim cộng hưởng từ của bệnh nhân, vòng tròn đỏ là vị trí nhồi máu thân não.

4 thói quen xấu gây nhồi máu não

Có nhiều yếu tố gây ra nhồi máu não, trong đó tuổi già và thói quen sinh hoạt không lành mạnh là 2 yếu tố then chốt nhất.

Nhiều người nghĩ nhồi máu não xảy ra đột ngột nhưng thực tế không phải vậy. Nhồi máu não xảy ra từ từ do nhiều thói quen xấu trong cuộc sống gây ra. Trong đó, điển hình phải kể đến 4 thói quen xấu gây nhồi máu não như sau:

– Ngủ không đều

– Thường xuyên ăn đồ chiên rán

– Tâm trạng tồi tệ kéo dài

– Hút thuốc và uống rượu

Nhồi máu não rất nguy hại cho con người, sẽ làm giảm trí nhớ của con người, trường hợp nặng có thể liệt nửa người, có nguy cơ tử vong cao hơn. Để bảo vệ sức khỏe của tim mạch và mạch máu não, chúng ta phải sửa những thói quen xấu này ngay từ khi còn trẻ. Điều này có thể làm cho mạch máu trở nên khỏe mạnh hơn và ngay cả khi đến tuổi trung niên và cao tuổi thì bạn vẫn có được trí não minh mẫn.

4 thói quen xấu đẩy nhanh cơn nhồi máu não, đáng tiếc rất nhiều người mắc, làm tốt 3 điều thì mạch máu não sẽ biết ơn bạn - Ảnh 2.

1. Ngủ không đều

Ngủ không đều hay chất lượng giấc ngủ không tốt, bao gồm cả ngủ không đủ là mối quan tâm của nhiều chuyên gia y tế.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giấc ngủ không đều có thể làm tăng nhanh nguy cơ nhồi máu não. Ví dụ như thói quen thức khuya, ngủ muộn, dậy muộn có thể gây ra tình trạng thiếu oxy lên não, tình trạng não thiếu oxy này lâu ngày sẽ đẩy nhanh quá trình teo não. Các mạch máu bị tắc nghẽn lâu ngày sẽ càng tăng nguy cơ nhồi máu não.

2. Thường xuyên ăn đồ chiên rán

Thực phẩm chiên rán chứa nhiều chất béo và carbohydrate, hỗn hợp đường và dầu. Ăn nhiều nhóm thực phẩm này sẽ khuyến khích mọi người tiết ra nhiều dopamine và mọi người cảm thấy vui vẻ hơn

Nhưng chúng ta cũng không được quên rằng thường xuyên ăn đồ chiên rán nhiều dầu mỡ có thể làm tăng lipid máu. Tăng lipid máu lại là nguyên nhân gây xơ vữa động mạch não và làm tổn thương thành mạch máu.

Tính đàn hồi của mạch máu giảm sẽ khiến lòng mạch bị hẹp lại khiến máu lưu thông quá chậm, não bị thiếu oxy, người bệnh dễ bị nhồi máu não đột ngột, có thể liệt nửa người, thậm chí tử vong trong trường hợp nặng.

3. Tâm trạng tồi tệ kéo dài

Một số người thường có tâm trạng tồi tệ trong một thời gian dài và cảm thấy trầm cảm hoặc lo lắng mỗi ngày.

Tâm trạng không tốt kéo dài sẽ khiến quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra bất thường, khiến cơ thể tiết ra nhiều adrenaline. Adrenaline sẽ trực tiếp làm tăng huyết áp của người bệnh, làm tăng nhịp tim, làm mạch máu não co bóp bất thường nên dễ gây nhồi máu não.

4. Hút thuốc và uống rượu

Hút thuốc và uống rượu là một thói quen rất phổ biến trong cuộc sống. Đây không phải là thói quen vô hại nhưng không phải ai cũng từ bỏ được. Mặc dù vậy, chúng ta cũng cần biết rằng, hút thuốc lá và uống rượu hoàn toàn có thể dẫn đến nhồi máu não.

Chất nicotin trong thuốc lá và etanol trong rượu có thể kích thích hệ thần kinh trung ương, làm tổn thương tế bào não và giảm trí nhớ. Đặc biệt đối với những người trung niên và cao tuổi, hút thuốc và uống rượu bia quá nhiều sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu não rất nhiều.

4 thói quen xấu đẩy nhanh cơn nhồi máu não, đáng tiếc rất nhiều người mắc, làm tốt 3 điều thì mạch máu não sẽ biết ơn bạn - Ảnh 3.
Làm tốt 3 điều đề phòng nhồi máu não

Ngay từ bây giờ, hãy loại bỏ những thói quen xấu này để phòng ngừa nhồi máu não đột ngột. Bên cạnh đó, để giữ gìn sức khỏe của mạch máu, hãy làm tốt 3 điểm sau đây:

1. Chế độ ăn nhạt, ít béo

Chế độ ăn nhiều dầu và chất béo là một trong những tác nhân giết chết mạch máu. Vì vậy, để bảo vệ các mạch máu, bạn cần xây dựng một chế độ ăn nhạt. Cố gắng giảm dầu và muối nhiều nhất có thể, ăn nhiều rau xanh và cố gắng không ăn đồ chiên rán và đồ ăn nhẹ chứa nhiều đường.

2. Ngủ đủ giấc

Giấc ngủ đều đặn nghe có vẻ đơn giản nhưng lại rất khó thực hiện. Đối mặt với đủ loại cám dỗ bây giờ, bạn rất khó đi vào giấc ngủ trước 10 giờ đêm. Nhưng vì sức khỏe của mình, hãy đặt điện thoại xuống lúc 10 giờ tối, nhắm mắt lại và cố gắng chìm vào giấc ngủ. Xây dựng một lịch trình ngủ đều đặn theo thời gian như vậy tức là bạn đang bảo vệ sức khỏe của mình rồi.

3. Kiểm soát cân nặng

Trên lâm sàng, bệnh nhân nhồi máu não thường có trọng lượng cơ thể cao hơn. Các bác sĩ đề nghị muốn bảo vệ mạch máu thì trước hết phải kiểm soát trọng lượng cơ thể trong giới hạn bình thường. Bạn có thể tham khảo tiêu chuẩn cân nặng hợp lý của quốc tế để kiểm soát cân nặng của mình trong phạm vi hợp lý.

Để tránh bị nhồi máu não, mọi người phải có ý thức phòng bệnh cá nhân tốt.

Theo T.L

Pháp luật và Bạn đọc

6 điều khiến người thông minh khổ sở trong cuộc sống

Các nhà tâm lý nêu và lý giải 6 lý do khiến người thông mình thường cảm thấy buồn và thất vọng.

6 điều khiến người thông minh khổ sở trong cuộc sống

1. Suy nghĩ quá nhiều: Phần lớn người thông minh có xu hướng suy nghĩ quá nhiều. Họ luôn phân tích mọi suy nghĩ, ý kiến, hành động của bản thân và người khác. Thậm chí, họ để tâm đến mọi thứ xảy ra xung quanh mình. Theo phân tích của nhà tâm lý học Susan Nolen-Hoeksema, 50-75% người thông minh ở độ tuổi trưởng thành có thói quen suy nghĩ quá mức. Điều này ảnh hưởng đến năng suất làm việc, khả năng sáng tạo, chất lượng giấc ngủ và thói quen ăn uống của con người. Ngoài ra, nó cũng khiến nhiều người căng thẳng và thường xuyên lo lắng.

2. Tiêu chuẩn quá cao: Người thông minh biết mình muốn gì và nên làm gì. Vì thế, họ không hài lòng với những điều thấp hơn tiêu chuẩn cá nhân. Hay nói cách khác, họ không hài lòng với những thành tựu và mối quan hệ đạt được trước đó. Đó là lý do người thông minh luôn làm việc chăm chỉ và không ngừng hướng đến những tiêu chuẩn, mục tiêu mới. Mặt trái của điều này là khi đối diện với những vấn đề trái với mong muốn, họ sẽ cảm thấy thấy vọng và không ngừng trách bản thân.

3. Mong đợi quá nhiều: Những người thông minh có thể làm tốt ở nhiều lĩnh vực, điều đó khiến họ mong đợi bản thân làm được những điều lớn lao hơn. Khi kỳ vọng quá nhiều vào bản thân, cuộc sống, con người dễ bị ám ảnh bởi những điều trong tương lai, dẫn đến suy nghĩ quá mức, thất vọng, chán nản. Nói cách khác, những người thông minh thường tự làm khổ mình bằng cách mong đợi và đặt mục tiêu quá lớn. Ngược lại, những người không có định hướng, mục tiêu thường cảm thấy hài lòng với bản thân và cuộc sống.

4. Quá nghiêm khắc với bản thân: Những người IQ cao luôn cố gắng để đạt được mục tiêu trong cuộc sống. Nhưng khi đã hoàn thành, họ vẫn cảm thấy bản thân chưa chưa đủ cố gắng. Họ thường nghĩ và đổ lỗi cho bản thân khi đã phạm phải những sai lầm trong quá khứ. Khi quá khắt khe với chính mình, người thông minh có xu hướng cảm thấy tội lỗi, thất vọng. Điều này có thể “đầu độc” niềm vui, hạnh phúc của mỗi người.

5. Khó được người khác thấu hiểu: Con người đều mong muốn được hiểu và chấp nhận, kể cả những người thông minh. Họ luôn mong tìm được những người bạn chung chí hướng, cùng lý tưởng. Tuy nhiên, phần lớn người thông minh khó tìm được những người có hiểu hiểu và sẵn sàng kết nối với họ. Đôi khi, cách diễn đạt và bày tỏ của họ khiến người khác hiểu lầm, dẫn đến những tình huống khó xử.

6. Dễ gặp các vấn đề tâm lý: Trong một nghiên cứu được công bố trên Intelligence Magazine, nhà nghiên cứu Ruth Karpinski tại Đại học Pitzer (Mỹ) đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với những người thông minh thuộc top 2% cao nhất của tổ chức Mensa. Kết quả cho thấy hơn 26% người từng được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lưỡng cực, 20% khác từng mắc chứng rối loạn lo âu. Để lý giải điều này, nhóm nghiên cứu đã vận dụng thuyết siêu trí tuệ/siêu cơ thể. Qua đó, họ nhận thấy các vấn đề tâm lý có liên quan đến việc suy nghĩ quá mức. “Điều này có nghĩ chỉ số IQ cao cũng là nguy cơ tiềm ẩn đối với các vấn đề về tâm lý, cảm xúc”, bà Harpinski nói.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Một dân tộc tinh anh?

Tải hình ảnh đẹp nhất miễn phí hot nhất trên Facebook: Những bức ảnh phong  cảnh đẹp nhất thế giới
Cảnh đẹp vịnh Hạ Long

Trong cuốn sách Việt nam Sử Lược quen thuộc với mọi người, Trần Trọng Kim viết về người Việt nam như sau:

“Về đằng trí tục và tính tình thì người Việt nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.

Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.”

Trần Trọng Kim, xuất thân là một giáo viên, được gởi đi học và tốt nghiệp Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) tại Pháp. Trường Thuộc Địa Pháp vào đầu thế kỷ này là một trường có trình độ trung học, có mục đích khai mở nền văn minh Pháp nói riêng và phương Tây nói chung cho những trí thức Việt nam dầu tiên để họ về nước phục vụ cho chính quyền thuộc địa. Năm 1911, ông Hồ Chí Minh, lúc đó làm bồi tàu và mới tới Pháp, cũng có làm đơn với lời lẽ thống thiết viện cớ có cha đậu tiến sĩ Hán học để xin vào trường này, nhưng bị từ chối.

Tuy vốn liếng khoa bảng không có bao nhiêu (nhưng vào thời đó trình độ của Trường Thuộc Địa cũng đã là cao lắm rồi), nhưng ông Trần Trọng Kim đã dày công học hỏi và nhờ trí tuệ xuất sắc ông trở thành một học giả lớn. Ngoài kiến thức uyên bác, Trân Trọng Kim còn là một người liêm khiết, lương thiện. Ông có uy tín rất lớn trong thời đại của ông. Năm 1945, khi nhật đảo chánh pháp, trả độc lập trên nguyên tắc cho Việt nam, ông Trần Trọng Kim, lúc đó đã về hưu, được vua Bảo Đại mời ra làm thủ tướng theo ý của người Nhật. Sự kiện ông được chỉ định làm thủ tướng là một ngạc nhiên cho rất nhiều người. Phần đông giới theo dõi thời cuộc lúc đó chờ đợi ông Ngô Đình Diệm, một cựu thượng thư, có uy tín, có tham vọng chính trị và nhất là đã giao dịch với Nhật từ lâu. Ông Diệm đã tham gia từ 1941 tổ chức Việt nam Phục Quốc Hội của hoàng thân Cường Để do Nhật đỡ đầu. Người ngạc nhiên nhất chính là ông Ngô Đình Diệm. Thực ra ngay từ khi đỗ bộ vào Việt nam, Nhật cũng đã có ý định dùng Trần Trọng Kim như một lá bài thay thế cho Ngô Đình Diệm, có lẽ vì họ nghĩ Ngô Đình Diệm là một chính khách sắc bén hơn và có thể đòi hỏi họ nhiều hơn là Trần Trọng Kim. Tuy vậy ông Trần Trọng Kim cũng đã dần dần đòi hỏi được nơi người Nhật tất cả những nhượng bộ cần thiết. Nếu người Nhật coi Trần Trọng Kim là người không đáng lo ngại thì người Pháp sau này lại lo ngại Trần Trọng Kim và làm áp lực để Bảo Đại chọn Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng năm 1948 thay vì Trần Trọng Kim. Sau đó Trần Trọng Kim qua Phnom Penh sống với người con gái, ông mất vài năm sau đó, khi vừa trở về Việt nam.

Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đời chính trị của ông trong thiên hồi ký ngắn Một cơn gió bụi. Có lẽ những ai có ý định viết hồi ký đều nên đọc cuốn sách nhỏ này trước đã. Đó thực sự là một cuốn hồi ký. Nó được viết một cách thực thà, lương thiện, rành mạch, điều ít thấy trong các cuốn hồi ký khác. Hồi ký là một loại sách đặc biệt. Nó có tác dụng chính, và có thể nói là duy nhất, là ghi chép các sự kiện đễ làm chứng cho một giai đoạn. Đòi hỏi duy nhất của nó là phải trung thực, phải có giá trị của một tài liệu. Người Việt nam, nhất là các tướng tá quân đội miền Nam cũ, hay dùng hồi ký đề bóp méo sự thật, tán dương hay chạy tội cho mình, bôi nhọ người khác. Những hồi ký như vậy không thể dùng làm tài liệu.

Trần Trọng Kim được mọi người kính trọng, người ta kính trọng kiến thức của ông và người ta còn kính trọng hơn nơi ông nhân cách của một trí thức chân chính. Nếu không phải Trần Trọng Kim mà một người khác viết ra những dòng trên, thì chắc chắn sẽ bị cả một loạt bài đả kích và mạt sát thậm tệ vì đã dám coi thường người Việt Nhưng vì là do Trần Trọng Kim viết ra nên không ai cãi lại, và hầu hết nhìn nhận là đúng. Tôi cũng có đọc trong nhiều cuốn sách cũ của các học giả Pháp một nhận định tương tự như vậy về người Việt, không biết có một sự tham khảo nào không. Điều chắc chắn là Trần Trọng Kim chỉ viết những điều ông tin là đúng.

Nói chung, Trần Trọng Kim nhận định người Việt nam có cấu tạo cơ thể tốt có trí óc tương đối tốt, siêng năng, hiếu học, biết trọng đạo đức, nhưng tâm lý thì rất dở. Ông không nói người Việt Nam nói chung có yêu nước hay không, đó cũng là một điều lạ trong cuốn sách sử.

Tôi đã đề cập phần trước tới nước Hòa Lan như là một kỳ quan của thế giới. Quan sát kỹ người Hòa Lan, thành thực tôi không thấy họ thông minh hơn người Việt, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Họ cũng không chăm chỉ hơn người Việt nam, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Vậy mà họ đã tạo nên được quốc gia đáng phục nhất thế giới. Tôi làm việc với người Pháp và cũng đi tới một nhận định tương tự. Riêng người Anh thì phải nói tuy họ có nét độc đáo riêng, nhưng trí tuệ của họ cũng chỉ xấp xỉ như người Hòa Lan và người Pháp, ngoài ra họ lười biếng hơn hẳn người Việt nam.

Vậy mà tại sao các quốc gia đó giàu mạnh đến thế, trong khi nước ta nghèo nàn lạc hậu và tang tóc đến thế.

Khi một máy vi tính hoạt động dở thì chỉ có hai giải thích: một là cái hardware (phần vật liệu hay phần cứng) của nó dở, hai là cái software (phần trí liệu hay phần mềm) của nó dở. Chất liệu, nghĩa là cấu tạo cơ thẻ và trí óc của người Việt nam tốt. Vậy thì phải chăng cái software, nghĩa là cái văn hóa và tâm lý, của người Việt nam tồi dở? Tôi tin như thế. Một người bạn tôi sau hơn một thập niên làm cố vấn cho các chính phủ châu Phi đã chỉ rút ra được một kết luận rõ nét: các nước đó không vươn lên được vì trở ngại văn hóa và tâm lý.

Đọc những bài đóng góp gần đây của các tác giả Việt nam về vấn đề phát triển đất nước, phần đông có giá trị, nhiều bài rất xuất sắc tôi ít thấy đề cập đến yếu tố tâm lý (hay văn hóa cũng thế vì tâm lý và văn hóa rất gần nhau), trong khi đó tất cả các nhà bác học có thẩm quyền ở tam vóc thế giới về vấn đề phát triển đều coi yếu tố tâm lý là ye~u tố cốt lõi. Nhiều tác giả còn gọi phát triển là một cấu trúc tâm lý (structure mentale).

Tâm lý của một dân tộc, nhiều người thích dùng cụm từ hồn tính dân tộc, một phần do điều kiện thiên nhiên tạo thành, nhưng một phần lớn là do các giá trị đã được nhìn nhận từ lâu đời và đã tạo ra một nếp sống. Các giá trị ấy hình thành có khi do sự khám phá trong cuộc sống của dân tộc, có khi được du nhập và hấp thụ, được kiểm chứng và xét lại theo kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử vì thế đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành tâm lý dân tộc. Lịch sử là trí nhớ tập thể của dân tộc, một nguồn tài liệu và gợi ý. Lịch sử cũng là tấm gương đề một dân tộc nhận diện được mình, hiểu mình, biết mình nên làm gì và có thể làm gì. Muốn như thế, lịch sử phải chính xác và cũng phải được phân tích và khai thác một cách sáng suốt và khách quan.

Nhưng một mặt lịch sử của ta không chính xác, và, mặt khác, chúng ta rút ra từ lịch sử những kết luận và những bài học sai lầm.

Trích trong cuốn ” Tổ quốc ăn năn ” của Nguyễn gia Kiểng

Có gì bên trong ngôi nhà “đổ xiêu” chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ?

Có gì bên trong ngôi nhà "đổ xiêu" chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ?
Ngôi nhà nhìn từ bên ngoài trông khá lạnh lẽo, tuy nhiên, bước vào bên trong, cả một thế giới hoàn toàn khá lạ hiện ra trước mắt
Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 1.

Căn nhà này cách hồ Chascomús ở ARGENTINA vài dặm, có diện tích khá nhỏ, chỉ 30m2.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 2.

Điều đặc biệt của ngôi nhà này là có mái dốc, trông khi một khối hộp bị đổ nghiêng.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 3.

Với thiết kế độc đáo, được quây quanh bởi những tấm thép, căn nhà này nhìn từ bên ngoài vào là một sự kín đáo hoàn toàn.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 5.

Tuy nhiên, khi đi vào bên trong thì là cả một thế giới hoàn toàn khác.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 6.

Khi những tấm kim loại được lật mở, cả khung cảnh, cả thế giới của cây cối, trời đất được mở tung.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 7.
Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 8.

Lớp phủ bên ngoài của thép góp phần tạo nên sự lạnh lẽo bên ngoài,…

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 9.

…mọi thứ được biến đổi hoàn toàn ở bên trong, nơi gỗ là vật liệu chính mang lại cảm giác ấm áp và ấm cúng cho không gian.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 10.

Về tính bền vững, thép là lớp áo bảo vệ tốt cũng như các nhiệt tốt cho ngôi nhà.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 12.

Độ dốc của mái nhà chính là nơi để có thể tận dụng thu nước mưa vào trng một bể kín, dùng để tưới cho vườn, vườn rau.

Có gì bên trong ngôi nhà đổ xiêu chỉ 30m2 vừa được lên báo Mỹ? - Ảnh 13.

Nước để sử dụng trong sinh hoạt lấy từ giếng nước. Hệ thống thoát nước thải được xử lý bằng bể sinh học và hệ thống sưởi bằng lò sưởi.

Pha Lê / Shoha

Một xã ở Việt Nam, nông dân chôn “vàng ròng” dưới đất, ra ngõ là gặp tỷ phú

Một xã ở Việt Nam, nông dân chôn "vàng ròng" dưới đất, ra ngõ là gặp tỷ phú

Một người dân Tiên Du cầm trên tay khúc sưa đỏ

Trong làng, có đến hơn 1 nửa hộ dân chôn “vàng ròng” dưới đất. Những gia đình xây nhà 1 – 2 tỷ hay mua xe hơi sang trọng cũng là đều là tiền lấy ra từ loại “vàng ròng” này.

Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía đông bắc của tỉnh Phú Thọ. Phía Bắc của Phù Ninh giáp huyện Đoan Hùng; phía nam giáp thành phố Việt Trì và huyện Lâm Thao; phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyện Thanh Ba; phía đông có tuyến sông Lô bao bọc là ranh giới với huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Xã Tiên Du là 1 trong 17 đơn vị hành chính của huyện Phù Ninh.

Đã từ lâu, nhiều người biết đến Tiên Du là thủ phủ cây sưa đỏ. Đây là xã có nhiều gia đình trồng sưa đỏ, là nơi phát tích ra cây sưa đỏ. Loại cây này được mệnh danh là loại cây bán đắt hơn vàng ròng, có giá trị kinh tế cao, giúp không ít gia đình trong xã thoát nghèo, trở lên giàu có nhanh chóng.

Cây sưa đỏ hay còn được gọi là cây huỳnh đàn, cây trắc thối, cây huê. Tại nhiều địa phương, do cách phát âm khác nhau cũng như là bị đọc lệch đi, cây huỳnh đàn còn có thể biết đến với cái tên Huỳnh Đường, Hoàng Đàn, Quỳnh Đàn… Tại Việt Nam, cây Huỳnh Đàn được tìm thấy rải rác ở một số vùng như: Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Nam, cao nguyên Gia Lai, Kon Tum…

Căn cứ vào màu hoa và màu lõi gỗ, người ta chia sưa thành 2 loại là loài sưa chính là sưa trắng và sưa đỏ. Sưa trắng (còn gọi là thàn mát) cho hoa trắng muốt, tỏa hương thơm mát, quả to và đốt không có mùi. Sưa đỏ thân sần sùi hơn sưa trắng, quả kết thành từng chùm và đốt lên có mùi thối nên sưa đỏ còn được gọi là sưa trắc thối.

Một xã ở Việt Nam, nông dân chôn vàng ròng dưới đất, ra ngõ là gặp tỷ phú - Ảnh 1.

Một vườn sưa đỏ của người dan Tuyên Quang. Ảnh: Dân tộc và phát triển.

Cây sưa đỏ thuộc cây gỗ nhóm IA – nhóm gỗ cực kỳ hiếm. Đây cũng là loại gỗ được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam và Danh mục Động thực vật rừng nguy cấp quý hiếm.

Gỗ sưa có khả năng phát ra năng lượng, mùi thơm. Đặc biệt nếu để càng lâu, gỗ càng có mùi thơm, vân gỗ đẹp, sáng bóng. Thời xưa, gỗ huỳnh đàn dùng để chạm trổ, đóng ngai vàng, chỗ ngồi, tủ, giường… cho các bậc vua chúa.

Do chất gỗ mềm mại, ít co rút, cong vênh, lõi to, cứng, màu nâu đỏ, nâu thẫm hay nâu đen, thớ mịn, không sợ mối mọt nên hiện nay, loại gỗ này thường được dùng làm đồ gỗ, đồ mỹ nghệ và vòng tay gỗ, đồ thờ cúng cho độ bền, tính thẩm mỹ và tuổi thọ sản phẩm cao.

Bên cạnh đó, trong gỗ sưa có lượng dầu lớn, có hương thơm dễ chịu. Mùi hương này giúp người sử dụng cảm thấy thoải mái, an thân, giúp giấc ngủ ngon và sâu hơn nên việc chiết suất lấy tinh dầu trong gỗ sưa cũng khá phổ biến.

Ngoài các công dụng phố biến trên, trong y học, sưa dùng để làm thuốc giảm đau, cầm máu, nhuận khí, chống huyết áp, giúp hoạt huyết… Còn với đời sống tâm linh, nhiều người mua các sản phẩm làm từ gỗ sưa để thờ cúng cũng như để trừ tà, đem lại may mắn.

Đây là loại gỗ có mức giá đắt đỏ nhất trong số các loại gỗ hiện nay. Tùy thuộc vào tuổi thọ mà mức giá thu mua khác nhau, dao động từ 5 – 15 triệu đồng/kg. Hiện nay, giá cây sưa đỏ 10 tuổi với đường kính từ 20 – 40cm có giá từ 10 triệu đồng/kg.

Một xã ở Việt Nam, nông dân chôn vàng ròng dưới đất, ra ngõ là gặp tỷ phú - Ảnh 2.

Trên địa bàn toàn xã Tiên Du có đến quá nửa số hộ trồng cây gỗ sưa đỏ. Nhà ít có 20 cây, nhà nhiều trồng lên đến 200 – 300 cây sưa đỏ. Cả thảy, có đến hơn 30.000 cây gỗ sưa đỏ, với tuổi đời trung bình hơn 10 năm đang được người dân tại đây trồng. Ngoài bán gỗ sưa, người dân ở đây còn ươm giống sưa đỏ bán cho những vùng xung quanh.

Tại Tiên Du, có nhiều hộ gia đình giàu lên nhanh chóng nhờ trồng câu sưa đỏ. Trong số đó, phải kể đến gia đình ông Nguyễn Kim Ngọc ở khu 2.

Nhà ông Ngọc là một trong những hộ đầu tiên trồng cây sưa đỏ ở địa phương. Có hơn 20 năm kinh nghiệm trồng sưa đỏ, chia sẻ trên báo Phú Thọ, ông Ngọc cho biết, “cây sưa đỏ vẫn là giống gỗ quý bán theo cân thì khó có loại cây nào theo kịp.

Nếu chỉ trồng như một loại cây lâm nghiệp trong vườn nhà để lấy gỗ thì hiệu quả kinh tế vẫn cao hơn trồng cây keo, bạch đàn”. Ông Ngọc ước tính, thu nhập hàng năm mà sưa đem lại cho gia đình lên đến hàng trăm triệu đồng.

Chia sẻ trên Dân Việt, ông Nguyễn Trung Sơn – người có vườn sưa thuộc top đầu của Tiên Du cho hay, hiện gia đình ông đang sở hữu hơn 200 cây sưa đỏ tuổi đời trên 15 năm. Ai cũng bảo nhà ông chôn “kho báu” ở ngoài vườn. Giờ thỉnh thoảng chỉ việc “đào” lên 1 ít mà tiêu pha, mua sắm mỗi khi cần.

“Chuyện người làng xây nhà 1 – 2 tỷ đồng là điều bình thường, chưa kể mấy chục chiếc xe hơi sang trọng có trong làng cũng đều mua từ tiền bán gỗ sưa đỏ. Hiện nay, người dân xã Tiên Du không khai thác gỗ sưa đỏ ồ ạt mà chỉ bán tỉa thôi. Cây gỗ sưa càng để lâu năm càng già lõi, giá trị càng cao”, ông Sơn hào hứng nói.

Ông Lê Xuân Kết, Chủ tịch UBND xã Tiên Du, huyện Phù Ninh (tỉnh Phú Thọ) cho hay, sưa đỏ là loại cây thoát nghèo cho dân Tiên Du. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của xã chỉ còn 2,1%, thu nhập bình quân trên đầu người đạt 41,5 triệu đồng/người/năm.

Pha Lê / Shoha

“Mặt Thật của ai?”

Trích trong ” Tổ quốc ăn năn “Của Nguyễn gia Kiễng

Ông Bùi Tín sinh ra trong một gia đình Nho Giáo truyền thống. Thân sinh ông là Bùi Bằng Đoàn, làm thượng thư (bộ trưởng) trong triều đình Huế. Cách mạng tháng 8 bùng ra lúc cậu Bùi Đường ấm, sau này đổi tên là Bùi Tín, mới vừa 19 tuổi. Ông Bùi Bằng Đoàn, nổi tiếng thanh liêm và học giỏi, trở thành chủ tịch quốc hội đầu tiên của chế độ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa, một chức vụ hữu danh vô thực. Ông Bùi Bằng Đoàn chỉ ở đó để đem lại cho chính phủ Hồ Chí Minh một bộ mặt tri thức và đoàn kết dân tộc. Ông Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền Việt Minh vì sợ hơn là vì nhiệt tình. Ông Phạm Quỳnh, thủ tướng Nam Triều, đã bị giết, như nhiều quan chức triều đình Huế khác.

Nhưng nếu ông Bùi Bằng Đoàn chỉ theo Việt Minh vì sợ thì cậu ấm Bùi Tín lại theo vì lý tưởng. Cậu hăng say theo cách mạng mùa thu, đi bộ đội, tham dự nhiều trận đánh, từng bị thương và sau cùng được sử dụng ngay trong sở trưởng của cậu, nghề viết báo. Bùi Tín trở thành đại tá phó tổng biên tập tờ Nhân Dân, cơ quan trung ương của đảng cộng sản Việt nam. Chức vụ này rất lớn, bởi vì tuyên truyền là công tác trọng yếu hàng đầu của chính quyền cộng sản. Tờ Nhân Dân quan trọng hơn nhiều so với một bộ, nó được tổ chức như một chính phủ trong một chính phủ, với tất cả các ban tương ứng với các bộ: ban quốc phòng, ban quốc tế, ban nông nghiệp, ban công nghiệp, ban văn hóa, xã hội, v. v… Vị thế của Bùi Tín cao hơn một thứ trưởng, vai trò của ông đặc biệt quan trọng. Bùi Tín là thành viên của phái đoàn cộng sản trong hội nghị bốn bên tại Tân Sơn Nhất. Do một sự tình cờ Bùi Tín cũng là người đại diện cho phe cộng sản nhận sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh sáng ngày 30-4- 1975.

Nhưng năm 1990, trong một chuyến công du sang Pháp Bùi Tín lấy quyết định xin tị nạn chính trị. Từ đó Bùi Tín đã viết rất nhiều bài báo, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, tố giác chế độ cộng sản và vận động cho dân chủ đa nguyên. Bùi Tín cũng viết một số sách thuật lại những gì mà ông đã thấy trong một cương vị đặc biệt thuận lợi để quan sát chế độ cộng sản từ bên trong.

Trong cuốn Mặt Thật, cuốn sách gây sôi nổi nhất của ông, Bùi Tín mô tả chiến dịch cải cách ruộng đất được chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1955, trong đó hàng ngàn, hàng vạn người bị giết oan.

Bùi Tín kể:

Các cố vấn Trung Quốc ngồi ưỡn bụng ra, để chân lên bàn uống rượu Mao Dài, vừa “nhổ nước bọt ồn ào”, vừa dạy dỗ các học trò dễ bảo Trường Chinh (tổng bí thư đảng cộng sản), Hoàng Quốc Việt (ủy viên bộ chính trị, sau đó là chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc), v. v. về cải cách điền địa. Họ ra lệnh giết bà Nguyễn Thị Năm, người đã từng ủng hộ Việt Minh từ năm 1937, đã từng che chở và nuôi dưỡng chính các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và có con đang làm chính ủy trung đoàn. Ông Hồ Chí Minh được tin la lên là không thể giết một phụ nữ, một ân nhân cách mạng, một người mẹ của một anh hùng quân đội. Nhưng các cố vấn Trung Quốc bảo là đã quá trễ, mọi việc đã chuẩn bị xong. Ông Hồ Chí Minh im mồm, và bà Năm bị bắn.

Phong cách của ông Hồ Chí Minh là thế. Còn các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt thì không biết phải gọi là hạng người gì.

Ông Phạm Văn Đồng thấy các bộ trưởng, thứ trưởng của mình bị vu oan, bị thanh trừng, bị bỏ tù, không dám lên tiếng bênh vực Sau khi nghỉ hưu dù đã ngoài tám mươi tuổi, ông còn cố bám lấy hư vị “cố vấn” để giữ lợi lộc.

Ông Lê Đức Thọ là một con người nham hiểm, dùng đủ mọi thủ đoạn nhơ bẩn và độc ác để triệt hạ các đồng chí cũ của ông.

Ông Lê Duẩn là một thứ ếch ngồi đáy giếng, vừa thiển cận, vừa lỗ mãng, vừa tự cao tự đại.

Các ông tướng Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, v.v… đều thiếu văn hóa, nông cạn và cực đoan Riêng ông Nguyễn Chí Thanh thì còn hèn nhát, lúc bị mật thám Pháp bắt đã khai nhiều bí mật gây thiệt hại nặng cho đảng rồi đổ tội cho người đồng chí cùng bị bắt với mình là Đặng Xuân Thiều làm ông này bị trù dập hơn ba mươi năm cho đến lúc về hưu.

Còn ông Đỗ Mười? Ông là thợ sửa khóa, nhận thức chính trị sơ sài và lại mắc bệnh tâm thần, ban đêm leo lên cây bàng ngồi ngất ngư.

Ngòi bút Bùi Tín mô tả các lãnh tụ cộng sản một cách tàn nhẫn. Tàn nhẫn vì Bùi Tín chỉ kể lại mà không phê phán. Tay nghề bốn mươi năm cầm bút của Bùi Tín là ở chỗ đó. Mặt Thật là một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử thành công về diễn đạt và có giá trị văn học. Một cuốn sách cần đọc. Tôn Thất Thiện trong một lá thư cho tôi nói rằng đọc xong ông phải kinh phục (kinh không có dấu sắc) tác giả.

Nhưng nếu như vậy thì phải đặt ra một số câu hỏi.

Tại sao những con người như vậy lại có thể khuất phục được cả một dân tộc? Tại sao hàng ngàn, hàng vạn trí thức lỗi lạc đã phục tùng họ một cách ngoan ngoãn, và còn hết lời tâng bốc họ, làm biết bao nhiêu người khác tưởng họ là những thần tượng và chạy theo họ? Chính Bùi Tín, tác giả cuốn Mặt Thật, trong bao nhiêu năm làm “đại tá – nhà văn – nhà báo” cũng đã tô son điểm phấn một cách đắc lực cho cái chế độ mà ngày nay ông muốn lột trần bộ mặt thật. Không lẽ trong cả mấy chục năm trường những trí thức xuất sắc như thế lại không nhận ra thực chất tồi tệ của những người lãnh đạo cộng sản? Tại sao họ đã tự lừa dối lương tâm mình và đóng góp lường gạt cả một dân tộc?

Người trí thức cộng sản không thể trả lời được những câu hỏi gay gắt đó, nhưng họ có thể hỏi ngược lại những người chất vấn họ những câu hỏi không kém nhức nhối. Bởi vì đa số – dù không phải là tất cả – những trí thức không cộng sản cũng đã phục tùng những công cụ chẳng ra gì của ngoại bang. Những trí thức quốc gia cũng đã đem hết tâm huyết hô hào biết bao nhiêu thanh niên bỏ mình cho một lý tưởng dân chủ không hề làm bận tâm ông Diệm, ông Nhu, hay cho một “chính nghĩa quốc gia” không hề có trong đầu óc các ông Big Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều trí thức khác đã tự đặt mình ra ngoài lề lịch sử, tự cắt bỏ khỏi số phận đất nước, đào nhiệm và cầu an.

Cuối cùng đất nước như ngày hôm nay, sau tất cả những gì đã xảy ra. Vai trò của người trí thức Việt nam – cộng sản và không cộng sản – thật là bẽ bàng. Công bình mà nói cũng có những trí thức Việt nam không làm tay sai cho một bè lũ hay một chế độ gian trá nào mà vẫn phấn đấu, vẫn cố hiện diện trong cuộc vận hành của lịch sử. Nhưng họ đã thất bại. Trí thức Việt nam đã thất bại hoàn toàn.

Đỗ lỗi cho nhau, luận tội nhau chỉ là để xem ai tồi hơn ai, có ích lợi gì? Hơn nữa, lên án và kết tội nhau còn sai vì nói chung trí thức Việt nam lương thiện, yêu nước và cũng đã hy sinh nhiều. Có một cái gì đó vượt khỏi lô-gích bình thường mà ta cần nhận diện để đừng buộc tội lẫn nhau một cách bất công và vô ích. Có lẽ chúng ta phải tìm giải thích cho sự phá sản này trong lý lịch và trong gia phả của người trí thức Việt nam chúng ta.

Trí thức Việt nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ phụ-tử vẫn còn rất thắm thiết. Kẻ sĩ vẫn còn là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt nam. Ngày nay người ta vẫn còn tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta vẫn còn khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ.

Nhưng kẻ sĩ là gì nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân?

Chúng ta vẫn còn là kẻ sĩ, và vì thế vẫn còn mang cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn đề là như thế. Người ta có thể hấp thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và một tâm tính đã được nhào nặn qua nhiều thế hệ, đã ăn rễ vào con người và đã biến thành một bản năng, là một điều khó gấp nhiều lần. Hãy thử lấy một thí dụ về trọng lượng của tập quán. Tại sao người Nhật lại lái xe bên tay trái? Họ có bị người Anh đô hộ bao giờ đâu? Lý do chỉ giản dị là các hiệp sĩ Nhật quen đi bên trái các hành lang để có thể nhanh chóng rút gươm bằng tay mặt!

Nho Giáo không tạo ra kẻ sĩ để làm một con người tự do, dễ chịu trách nhiệm trước xã hội và để lãnh đạo xã hội mà chỉ tạo ra kẻ sĩ để làm dụng cụ cho một guồng máy và làm thủ hạ cho các vua chúa. Trong suốt dòng lịch sử, kẻ sĩ Trung Hoa và Việt nam đều chỉ biết sống với số phận tôi tớ. Sĩ là một nghề, nghề đi học và nghề làm quan. Trước sau là nghề quì. Quì trước mặt thày để học với ước vọng “thành đạt” để được quì trước các vua chúa. Nếu quì là thái độ của kẻ sĩ thì chờ đợi là triết lý của kẻ sĩ. Thời gian trưởng thành của kẻ si được gọi là thời “chưa gặp” (lúc vị ngộ hối tàng nói bong tất), gặp một chủ để thờ. Kẻ sĩ không khởi xướng ra một sự nghiệp nào mà chỉ chờ đợi để được làm bày tôi cho một minh chủ nên hậu quả tất nhiên là kẻ sĩ phải chấp nhận luật chơi sẵn có của kẻ đã làm nên sự nghiệp, đem trí tuệ của mình minh họa cho ý của chủ. Và luật chơi của chủ rất khắc nghiệt. Các vua chúa muốn dùng họ thì dùng, muốn cách chức đuổi đi, muốn căng nọc ra đánh, muốn thiến họ như thiến heo thiến gà, muốn giết họ thì giết, muốn giết cả nhà họ cũng được, kẻ sĩ cam chịu hết. Thân phận kẻ sĩ chẳng có gì vinh, đó chỉ là thân phận của một tôi tớ, một dụng cụ thuộc quyền sử dụng và vứt bỏ tuỳ tiện của các vua chúa. Cái bản chất dụng cụ và tôi tớ ấy ngay cả những kẻ sĩ lỗi lạc nhất cũng không trút bỏ được. Điều kinh ngạc là trong hàng chục thế kỷ kẻ sĩ đã có thể chấp nhận một khuôn mẫu đầy đọa và hạ nhục mình như thế, để rồi cuối cùng sự phục tùng vô điều kiện trở thành một bản năng và một giá trị.

Khổng Minh tài ba như thế mà gặp thời nhiễu nhương cũng chỉ biết ngồi trong lều cỏ để chờ một minh chúa.

Nguyễn Trãi là một kẻ sĩ siêu việt cả về văn lẫn võ, lại có cả chí khí hơn người, Lê Lợi là một phú nông cục mịch. Tại sao lại “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”? Tấn thảm kịch còn lớn hơn ở chỗ Lê Lợi không có đủ trí tuệ để viết ra câu đó, chính Nguyễn Trãi đã sáng tác ra câu đó.

Cao Bá Quát là một kẻ sĩ ưu việt và ngang ngược, dám nổi loạn chống lại nhà Nguyễn. Nhưng Cao Bá Quát không lãnh dạo cuộc nổi dậy mà chỉ phò Lê Duy Cự. Giả thử cuộc nổi dậy thành công thì cũng chỉ để đưa đến kết quả “Lê Duy Cự vi quân, Cao Bá Quát vi thần”. Ngay cả khi kẻ sĩ chống lại một ông chủ thì cũng chỉ để hy vọng được phò một ông chủ khác, họ không sinh ra để làm chủ.

Cao Bá Quát thất bại, bị chặt đầu và tru di tam tộc. Nguyễn Trãi thành công, để cũng chỉ được cái vinh dự quì gối trước Lê Lợi, rồi cũng bị chặt đầu và tru di tam tộc.

Trong lịch sử Trung Hoa, những kẻ làm nên nghiệp đế vương, dù là Lưu Bang, Hạng Võ, Lý Thế Dân, Triệu Khuông Dận, Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyễn Chương đều không phải là kẻ sĩ. Họ là hào phú, là các tay anh chị, hay vốn thuộc dòng dõi bá vương. (Tào Tháo là một ngoại lệ, nhưng Tào Tháo bị kẻ sĩ chối bỏ và lên án là gian thần).

Trong lịch sử Việt nam, những kẻ giành được ngôi vua, dù là Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Lê Lợi, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh đều là quí tộc, võ tướng hay các tay anh chị chứ không phải là kẻ sĩ. (Hồ Quí Ly là một ngoại lệ, nhưng Hồ Quí Ly hành động như vậy vì tự coi mình là người Hoa hơn là người Việt nên coi thường nề nếp Việt nam; chiếm được ngôi vua, Hồ Quí Ly đã lập tức đổi tên nước là Đại Ngu theo tên cố quốc của mình).

Một thực tế thê thảm như vậy chứng tỏ khuôn mẫu Khổng Nho đã tha hóa kẻ sĩ tới mức nào. Một thực tế bi thảm khác là tất cả những tiến bộ về tư tưởng của Trung Hoa đã chỉ có trước khi Khổng Giáo được đưa lên hàng một quốc giáo. Hơn hai ngàn năm ngự trị của khuôn mẫu Khổng Giáo đã làm tê liệt hẳn óc sáng tạo. Các hậu quả vẫn còn thấy được: nhiều nước châu á, nhờ không chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một cách quá nặng nề, ngày nay đã rất phát triển, những người châu Á vẫn hầu như vắng mặt trong các giải Nobel, họ vẫn thua xa người phương Tây về óc sáng tạo trong mọi địa hạt.

Trong xã hội Khổng Nho, kẻ sĩ không hội nhập vào xã hội. Lúc hàn vi kẻ sĩ sống qua ngày, đợi cơ hội làm quan. Lúc được làm quan kẻ sĩ trở thành nhưng tay sai không điều kiện cho các vua chúa để thống trị quần chúng. Kẻ sĩ được vua chúa xếp hàng đầu trên nông, công, thương, nhưng thực ra kẻ sĩ bị loại khỏi xã hội. Một điều rất đáng chú ý là trong xã hội ta ngày xưa kẻ sĩ hoàn toàn vắng mặt trong các chức quyền địa phương xuất phát từ dân gian như chánh tổng và lý trưởng, những chức vụ đã có thể là những bàn đạp để tiến lên quyền lực quốc gia. Kẻ sĩ không có hậu thuẫn quần chúng vì sống ngoài lề xã hội. Kẻ sĩ cũng không có tài sản vì không biết và cũng không muốn kinh doanh buôn bán, không những thế kẻ sĩ còn được giáo dục và nhồi nặn để khinh thường và thù ghét hoạt động kinh doanh, buôn bán. Phi thương bất phú, kẻ sĩ không có độc lập về kinh tế cho nên cũng không có thể có tự chủ về chính trị. Tại sao lại “Nguyễn Trãi vi thần”? Bởi vì không muốn “vi thần” cũng không được. Nguyễn Trãi không có thủ túc và cũng không có tài sản để phất cờ khởi nghĩa. Kẻ sĩ trong khuôn mẫu Khổng Nho là mẫu người lệ thuộc vào vua chúa và cuối cùng chịu ơn vua chúa. Quyền lực quốc gia chỉ truyền tay giữa một bên là các vua chúa và một bên là đám anh hùng áo vải, không người không chịu ơn vua chúa và do đó dám thách thức vua chúa.

Tình trạng vong thân kéo dài từ đời này sang đời khác đã khiến kẻ sĩ mất hẳn lòng tự tin. Tuy bề ngoài có khi kẻ sĩ huênh hoang “có giang sơn thì sĩ đã có tên, từ Chu Hán vốn sĩ này là quí” (Nguyễn Công Trứ), nhưng trong thâm tâm kẻ sĩ không tin ở mình và cũng không tin ở cả giai cấp sĩ của mình; do đó kẻ sĩ không những không dám có ý định dựng nghiệp mà còn không sẵn sàng giúp một kẻ sĩ khác dựng nghiệp. Kẻ sĩ phải làm bầy tôi, nếu từ chối số phận tôi tớ và dám mơ ước làm vua, kẻ sĩ đã vi phạm đạo lý của giai cấp mình và bị lên án là gian thần, thoán nghịch, phản tặc. Nguyễn Hữu Chỉnh coi thường vua Lê chúa Trịnh bất lực và muốn nắm quyền thì đã sao, mà người ta lên án ông là gian hùng và hả hê khi ông bị bốn ngựa xé xác? Có sử gia nào đủ khách quan để nhận định rằng chính hành động vào Nam liên kết với Tây Sơn của Chỉnh đã mở đầu cho tiến trình thống nhất đất nước?

Luân lý Nho Giáo bắt người có học không được làm chủ mà chỉ được làm tôi cho một ông chủ nào đó, và tệ hơn nữa phải làm tôi suốt đời cho một chủ bởi vì “tôi trung không thờ hai chúa”. Kẻ sĩ trong quan niệm Nho Giáo là một kẻ nô lệ chứ không phải là một con người tự do. Do bản năng và địa vị xã hội, kẻ sĩ không dám và không thể, và do đó khiếp phục những kẻ dám và có thể. Bài Bình Ngô Đại Cáo hùng tráng vì Nguyễn Trãi viết cho Lê Lợi chứ không viết cho mình, vì lúc viết Nguyễn Trải đã tự đặt mình vào địa vị của Lê Lợi, tưởng tượng mình là vua (“Trẫm đây, núi Lam Sơn dấy nghĩa…, một mảnh nhung y dựng nên nghiệp lớn…”).

Tôi nói nhiều về kẻ sĩ như vậy bởi vì cái tâm lý kẻ sĩ vẫn còn hiện diện rất mạnh trong tiềm thức của chúng ta.

Di sản nặng nề nhất là triết lý ở ẩn, tránh hiểm nguy và chờ thời. Tâm lý này ngự trị trong đầu óc hầu hết mọi trí thức Việt nam. Nó cũng ngự trị ngay cả trong đầu óc những người có ý chí nhất dám hoạt động chính trị. ở các vị này nó thể hiện qua lối làm chính trị nhân sĩ. Nhưng người trí thức tự cho là mình có một giá trị nào đó – có khi chỉ là do một sự tự đánh giá mình rất chủ quan – thường không chịu tham gia tạo dựng ra một lực lượng chính trị nào và cũng không lên tiếng bênh vực một lập trường nào, ngay cả khi họ thấy là đúng. Họ chỉ muốn là những nhân sĩ đứng ngoài các tổ chức và các cuộc tranh cãi gay go để vừa khỏi tốn công sức vừa khỏi bị cháy. Họ tin rằng một khi họ đã là nhân sĩ thì dù ai nắm được chính quyền cũng vẫn cần họ. Đó là một tính toán mà họ cho là sáng suốt và quả thực là một chọn lựa sáng suốt khi người ta chỉ có tham vọng làm công cụ. Chính cái thái độ nhân sĩ này, hậu thân của tâm lý kẻ sĩ ngày xưa đã khiến các tổ chức đối lập dân chủ hiện nay không được hưởng ứng và không mạnh lên được trong một giai đoạn đầy thử thách như giai đoạn chúng ta đang sống.

Một di sản khác là sự thiếu quyết tâm. Trí thức Việt nam có nhiều người không thiếu ý kiến nhưng cái quán tính “không dám và không thể” thừa hưởng từ tâm lý kẻ sĩ do hàng ngàn năm uốn nắn này vẫn còn quá manh khiến họ do dự bất quyết, sẵn sàng thỏa hiệp và nhượng bộ trước những giải pháp thô bạo trái ngược với nguyện ước của mình, rồi sau cùng đánh mất chính mình. Nhiều trí thức còn thực sự ngưỡng mộ những tay anh chị bởi vì họ ngưỡng mộ cái liều, cái bạo mà họ không có được. Họ bị hớp hồn trước những người có bản năng mạnh và dám làm, bởi vì đó là một phần của chính họ mà họ đã mất đi và vẫn tiếc.

Mẫu người kẻ sĩ không phải chỉ còn tồn tại mà còn đang có cơ được hồi sinh. Các chế độ độc tài tại châu Á, trong đó có Trung Quốc và Việt nam, đang dụng tâm thiết lập một thứ Khổng Giáo Mới làm chỗ dựa cho các chế độ độc tài ngày nay, như Khổng Giáo Cũ đã từng làm nền tảng cho các chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa. Một âm mưu tha hóa trí thức mới đang xuất hiện. Và lần này kẻ sĩ có một cái tên gọi mới: chuyên viên. Ngay trong lúc này đang có nhiều trí thức Việt nam chủ trương hãy thôi làm chính trị, tạm chấp nhận chế độ này, hợp tác với nó trên các mặt chuyên môn. Họ hy vọng sẽ dần dần dân chủ hóa được chế độ. Nhưng nếu kẻ sĩ ngày trước trong hơn hai ngàn năm không thay đổi được chế độ quân chủ thì trí thức chuyên viên ngày nay dù có bản lĩnh hơn và có bối cảnh thuận lợi hơn cũng không thể thay đổi được chế độ độc tài này trong một hai thể hệ, nếu họ chỉ là những chuyên viên.

Hãy coi chừng lịch sử lập lại. Tại sao chủ nghĩa cộng sản bị phủ nhận tại Tây Âu, nơi đã khai sinh ra nó, mà lại thành công tại Trung Hoa, Việt nam và Triều Tiên? Tại sao, ngoại trừ hòn đảo Cuba nhỏ bé, chế độ cộng sản chỉ tồn tại được trên ba nước này? Lý do chính là vì chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện hồi đầu thế kỷ này như là một thứ Khổng Giáo Mới. Có gì khác giữa Khổng Giáo và chủ nghĩa Mác Lênin? Cũng đặt nền tảng trên bạo lực, cũng độc tài toàn trị, cũng giáo điều, cũng độc tôn, cũng “nhân trị” nghĩa là cai trị một cách tùy tiện bất chấp luật pháp, cũng bưng bít, cũng cấm đoán tư tưởng, cũng bài xích các tôn giáo, cũng triệt hạ kinh doanh, cùng đề cao sự nghèo khó để cai trị bằng sự nghèo khổ. Cả hai đều là những hệ thống nửa tôn giáo, nửa chính trị. Cả hai đều đưa đến bế tắc và cả hai đều có cùng một biện hộ sau khi đã thất bại: không phải lý thuyết sai mà là áp dụng sai. Chỉ cần lấy Marx và Anghen đạt vào địa vị của Khổng Tử và Mạnh Tử, lấy các cuốn Tư Bản LuậnLênin Toàn Tập thay cho Tứ Thư và Ngũ Kinh, lấy Trung ương Đảng thay cho Triều Đình, đem các đảng viên thay cho đám quân tử là đâu lại vào đó. Khổng Giáo đã dọn đường cho các chế độ cộng sản. Chỉ có điểm mới là chủ nghĩa cộng sản tâng bốc quần chúng vô sản mà Khổng Giáo mạt sát, dù chỉ là một sự tâng bốc giả dối. Nếu trước đây Khổng Giáo đã dọn đường cho các chế độ cộng sản thì ngày nay những tồn đọng của tư tưởng Khổng Giáo đang giúp các chế độ này kéo dài.

Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?

Triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993) nói trong hồi ký rằng cả Triều Tiên và Việt Nam đều là nạn nhân của các đế quốc như Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc.

đào tẩu, Bắc Hàn, Hàn Quốc
Chụp lại hình ảnh,Biên giới Nam và Bắc Hàn là vết cắt ngang bán đảo Triều Tiên từ 1953

Cuối hồi ký ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’ do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê biên soạn ghi lại các tâm sự của ông Trần Đức Thảo sau khi ông trở lại Pháp đầu thập niên 1990.

Nhân sự kiện Hội nghị thượng đỉnh liên Triều diễn ra chỉ vài ngày trước kỷ niệm 30/04, BBC Tiếng Việt trích đăng một số đoạn ghi lại lời ông Trần Đức Thảo:

Từ Marx đến Lenin và Liên Xô, ai là nạn nhân?

“Nay chúng ta phải sáng suốt mà phân tích, mà suy nghĩ về hoàn cảnh và các yếu tố chia cắt; chia rẽ này, để thấy rõ chúng ta chỉ là những nạn nhân, đau đớn của những kẻ có trách nhiệm làm lịch sử. Có thể nói họ đã làm hỏng lịch sử. Họ đây chính là lãnh đạo.

Xét riêng về cái ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, do Lenin tuỳ tiện khai triển tư tưởng Marx, chẳng qua đó cũng chỉ là phương cách để duy trì, để tham lam nắm lại toàn bộ di sản đế quốc do thời Sa hoàng để lại, để lại giam hãm các dân tộc chư hầu của thời Sa hoàng vào trong một gông cùm kiểu mới, với cái tên đẹp hơn: “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em”.

Bây giờ thì mọi người đều thấy cái khối Liên Xô ấy, thực chất là một đế quốc đỏ, nó kìm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó…”

Trung Quốc và các dân tộc châu Á

“Chính Liên Xô cũng đã từng đụng độ với một đế quốc đỏ khác là Trung Quốc, chỉ vì quyền lợi quốc gia hẹp hòi, để bảnh trướng đế quốc.

Và Bắc Kinh cũng đối xử với Tây Tạng, với Triều Tiên, với cả ta, theo tâm thức bành trưởng đế quốc như thế, cũng dưới chiêu bài “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em”, giữa hai “láng giềng hữu hảo, môi hở răng lạnh”!

Thực tế là đã hơn một lần, Liên Xô và Trung Quốc đụng độ nhau bằng quân sự…”

“Tôi còn nhớ rõ hồi đấu thập niên 60, nhân dịp được tham gia phái đoàn sang thăm Bắc Kinh, nên đã được nghe Mao Chủ tịch cam kết “năm trăm triệu dân Hoa Nam sẽ là hậu phương lớn để giúp các đồng chí tới khi chiến thắng”.

Mọi người mừng rỡ vỗ tay. Riêng tôi khi nghe lời cam kết ấy mà cảm thấy rợn tóc gáy. Bởi tôi không bao giờ quên chỉ vài tháng sau khi chiếm được quyền hành ở Bắc Kinh, Mao đã vội vã xua quân qua chiếm Tây Tạng. Chọn Mao làm đồng chí, làm đồng minh thì tôi lo lắm…”

Quê Từ Sơn, Bắc Ninh, sinh năm 1917, ông Trần Đức Thảo sang Pháp du học năm 1936, và đỗ vào trường École Normale Supérieure (Paris) ba năm sau.

Trần Đức Thảo nổi tiếng qua cuộc tranh luận triết học với Jean-Paul Sartre khi còn trẻ ở Paris.

Năm 1952, ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Nhưng theo cuối hồi ký, ông không được trọng dụng, thậm chí bị nghi ngờ, theo dõi, giám sát.

“Tôi đã bị gạt ra bên lề sinh hoạt chính trị ngay từ đầu. Chỉ mới viết hai bài báo đề cập khái quát tới dân chủ thôi, mà đã bị chúng nó xúm vào đấu tố tưởng đã mất mạng. Thế nên mọi suy tư, trải nghiệm là phải giấu kỹ trong đầu.

Mà những gì tôi làm trong đầu, đều toàn là những nghiên cứu dựa trên thực tại thật là sống động, thật là độc lập về mặt triết học thực nghiệm, để hướng về tương lai.

Đây là một công trình nghiên cứu rất cơ bản, rất thực tế. Nếu nói về ảnh hưởng thì có lẽ tôi cũng đã đóng góp được phần nào khi gián tiếp chỉ ra cho chung quanh thấy một số sai trái rất nghiêm trọng, cho họ hiểu là nếu, không chịu thay đổi hẳn tư duy, thấy đổi toàn diện chính sách thì cả nước sẽ không thoát ra được tình trạng bế tắc tư tưởng, hỗn loạn xã hội, phải sống túng thiếu, đói khổ triền miên.

Nhất là từ sau ngày 30 tháng tư 1975. Cái mốc thời gian ấy đã dánh dấu lúc toàn khối xã hội chủ nghĩa, vốn đã rệu rã, đã khánh kiệt, nay đang bắt đầu bước dần tới nguy cơ tan rã.”

Trần Đức Thảo nêu ra suy nghĩ rằng khối Đông Âu bắt đầu rạn nứt sau ngày 30/04/1975 ở Việt Nam:

“Bởi sau ngày 30 tháng tư, 1975 đó, Liên Xô và cả khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa không còn cái chiêu bài chính đáng để bắt dân chúng phải tiếp tục hi sinh, thắt lưng buộc bụng nhằm chi viện cho các công cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Mỹ nữa.

Sinh hoạt tại Đại học Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn
Chụp lại hình ảnh,Sinh hoạt tại Đại học Berkeley ‘Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn’ năm 1980. Việt Nam luôn sống với ước mơ thống nhất đất nước về lãnh thổ và lòng người.

Dân chúng bắt đầu bạo dạn và cương quyết xuống đường đòi tự do và bánh mì. Tình trạng khủng hoảng tư tưởng trầm trọng này bắt đầu đưa tới hỗn loạn ở Đông Âu, Hồng quân đãi phải trực tiếp nhảy vào can thiệp băng vũ lực, dẫn tới lúc bức tường Bá Linh sụp đổ, đưa tới kết thúc các cuộc cách mạng theo tư tưởng Mác-Lê…

Chính những sự hỗn loạn ấy đã làm cho khối Liên Xô suy sụp ngay từ bên trong. Không phải ngẫu nhiên mà Đặng Tiểu Bình đã dứt khoát ngả sang phía tư bản.

Ngay cả ở nước ta, nếu không sớm cố vận động, cố chấp nhận mọi điều kiện điều đình, để Mỹ bỏ cấm vận, thì ta cũng sẽ rơi vào hỗn loạn và cùng lắm thì cũng sẽ vẫn cố định trong tình trạng trì trệ, đói khổ, bế tắc xã hội như ở Bắc Triều Tiên hay Cuba thôi.”

Không chỉ đánh giá các vấn đề quốc tế, Trần Đức Thảo còn nói vì sao ông từ Paris về Việt Bắc chịu cực khổ, quyết định mà đến lúc chết ông không hối hận:

“…Về quê hương để hiểu rõ thực tại, không được nhìn thẳng vào sự thật, không sống trong sự thật của cuộc cách mạng đầy mâu thuẫn, đầy sai lầm ấy, thì làm sao nhận hiểu ra những sai lầm cơ bản của chính tôi.

Bức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989
Chụp lại hình ảnh,Bức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989

Và cả khi phải ra đi như lần này [sang lại Pháp năm 1991]. Nếu không chấp nhận ra đi, thì tôi không thể đạt tới trình độ tu duy để đạt tới thành quả về mặt triết học như hiện nay.

Những trải nghiệm xuyên qua kiểm nghiệm phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ kháng chiến và xây dựng cách mạng ở quê nhà đã tạo cơ hội cho tôi dầu dần thấy rõ sai trái bắt đầu từ học thuyết, từ ý thức.

Sự bế tắc của cách mạng và của chính tôi là do ý thức giải phóng con người.”

Vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, ông Trần Đức Thảo nói đến các bàn tay đại cường chia cắt nhiều quốc gia, dân tộc và gây khổ đau dài lâu cho họ:

“Sự chia cắt tàn nhẫn này là một thứ tập tục áp đặt có tính quốc tế, đã có từ lâu trong lịch sử. Chỉ tính từ sau Đệ nhị Thế chiến, thì đã có sự chia cắt vô cùng tàn nhẫn các vùng lãnh thổ, như ở Cận Đông, nó đã gây ra thảm họa Israel-Palestine, như ở vùng Balkan, ở các vùng biên giới giữa Balan và Đức, giữa Balan và Nga, rồi là sự phân chia lãnh thổ của Đông và Tây Đức, sự phân chia đã cấu tạo rất gượng ép các phần lãnh thổ của nước Nam Tư, rồi sự cắt lãnh thổ thành hai ở Triều Tiên, rồi tới quyết định chia cắt lãnh thổ nước ta cũng vậy…

Tất cả những chia cắt trắng trợn ấy, đều có hậu quả lâu dài, cả trăm năm sau nó vẫn còn tác hại, dù nói chỉ là tạm thời! Đấy là những dàn xếp tàn nhẫn, do chủ mưu, mặc cả, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng giữa các nước lớn với nhau, để áp đặt, bất chấp nguyện vọng của các dân tộc trong các vùng, tại các nước bị chia cắt.

Các nước lớn đã chơi trò dựng lên những ý thức, những lý tưởng, những tâm lý phân biệt hệ chính trị, phân biệt biên giới địa lý, đi duy trì sự chia rẽ trong đầu thằng dân nhược tiểu một cách lâu dài, để phe này kiên trì cầm súng bắn giết phe kia, để nuôi dưỡng chiến tranh cục bộ.

Bức tường tâm lý có ảnh hưởng sâu rộng và mạnh mẽ nhất chính là bức tường ý thức hệ. Bức tường này đã chia hai thế giới: một bên là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên tắc mác-xít đấu tranh giai cấp làm động lực, bên kia là ý thức tư sản, tư bản, lấy lý tưởng tự do dân chủ làm động lực.

Hình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn Điếm
Chụp lại hình ảnh,Hình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn Điếm: lãnh đạo Nam và Bắc Hàn nói về ‘một dân tộc’ và lên kế hoạch chấm dứt ‘mọi hoạt động thù địch’

Tất cả các lãnh thổ bị chia cắt, các dân tộc bị chia rẽ đều do các nước lớn vũ trang, bằng cả tinh thần lẫn vật chất, để trở thành những ngòi nổ của các cuộc chiến tranh cục bộ, thường là rất đẫm máu.”

Thế mà lãnh đạo mỗi phe, của mỗi phần lãnh thổ bị chia cắt ấy, cử khoe tài, khoe trí, cam kết sẽ “đưa dân tộc, đất nước tới chiến thẳng!” Đau đớn và mỉa mai nhất là trong lúc các nước nhỏ diễn trò anh em bắn giết nhau, thì lãnh đạo các nước lớn vui vẻ thăm viếng nhau, mở yến tiệc khoản đãi nhau, để tìm cách thông cảm nhau, tránh trực tiếp đụng độ nhau.

Đồng thời họ tiếp tục tuôn vũ khí vào các nước nhỏ để nuôi chiến tranh. Là một nhà triết học như tôi, thì phải tìm hiểu để biết nhìn sâu và xa hơn qua những cuộc chiến tranh cục bộ, huynh đệ như thế. Vì sau khi đã chiến thắng, thì còn lại biết bao đau thương mà người dân, ở cả hai bên chiến tuyến, phải gánh chịu.”

Xuất thân là một nhà Marxist, ông Trần Đức Thảo đã đi đến chỗ bác bỏ chủ thuyết cách mạng không tưởng:

“Đấy là một mô hình cách mạng không tưởng, không nền tảng duy vật sử quan!… Không tưởng vì cả tin vào sự đam mê cuồng tín, cả tin vào khả năng giải phóng bằng bạo lực của hận thù.

Cho tới khi bị coi như là một kẻ phản động, bị nghi là “kẻ do địch cài vào hàng ngũ cách mạng” thì từ đó tôi mới nhận ra sự bế tắc ấy là do ý thức, do thái độ cảnh giác, do chính sách thù hận mù quáng của quyền lực chuyên chính.

Sự chuyên chính ấy đã đóng kín mọi chân trời, đã không ngừng đẩy những con người chân thật, không chấp nhận dối trá, sang phía thù địch. Và từ đó tôi nhận ra đấy là những sai lầm tai hại, bế tắc của chính tôi.

Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp
Chụp lại hình ảnh,Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp

Nhờ được chứng kiến, được sống sát cánh với những con người đau khổ không có ai, không có gì bảo vệ, như đã thấy trong cuồng phong cải cách ruộng đất…

Từ đó, tôi bắt đầu nhận thức rằng giá trị một ý thức hệ không thể so sánh với mạng sống của con người, nhất là đối với con người bị oan ức, con người bị trù dập, bị bóc lột, hoàn toàn bất lực, vô phương tự vệ.

Một ý thức hệ, dù thế nào thì nó chỉ có giá trị của một dụng cụ. Một dụng cụ làm sao nó có thể so sánh với giá trị của một mạng sống? Nhất là một mạng sống trong oan ức, đau khổ? Vì vậy mà tôi thấy là không thể hi sinh con người cho bất cứ một thứ ý thức hệ nào.

Trước nỗi đau của con người tuyệt vọng vì ý thức hệ, thì chính cái ý thức hệ ấy cũng cần phải được rà xét lại, để cải đổi hoặc để đào thải.

Nhờ sự tỉnh thức như vậy, mà bây giờ tôi đã tìm thấy được con đường đưa tới gần chân lý.

Chính những sai lầm cơ bản về tư duy đã đưa tới những hành động gây đau khổ cho con người, đã dẫn tới sự sụp đổ của ý thức hệ, rồi là của khối xã hội chủ nghĩa…”

Ông Trần Đức Thảo qua đời tại Pháp năm 1993. Trong bài tưởng niệm ‘Tran Duc Thao, 76, Vietnamese Thinker’, trang New York Times nhắc lại cuộc tranh luận nổi tiếng của ông với triết gia hàng đầu của Pháp và châu Âu, Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh. Các báo Pháp và Mỹ năm 1993 đều nói ông bị cấm dạy học và xuất bản ở Việt Nam cho đến năm 1987. Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp.

Theo BBC

Làm việc thông minh để thành công

“Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh” trình bày phương pháp giúp người đọc sử dụng năng lượng bản thân một cách khôn ngoan để có thể đẩy nhanh tiến độ trong công việc.

Cuốn sách hướng dẫn những bước hành động đơn giản, thực tế để người đọc có thể ứng dụng trong việc thiết lập kế hoạch phù hợp nhịp độ sinh học của bản thân. Mỗi người đều có 96 khối năng lượng mỗi ngày để làm những gì chúng ta muốn.

Tác giả Tony Schwartz đã phân tích những kiến thức nghiên cứu về não bộ nhằm giúp người đọc quản trị trí não, cảm xúc và thói quen trong sinh hoạt.

Cụ thể, Tony đã giới thiệu đến người đọc định luật Parkinson. Theo ông, đây là định luật mà chúng ta đều trải qua. “Nếu bạn đợi đến phút cuối mới bắt đầu làm việc, sẽ chỉ mất một vài phút để hoàn thành”.

Cần tìm khoảng thời gian mà bạn năng suất nhất để làm những việc cần thiết đó thay vì dàn trải trong nhiều ngày mà không thu được hiệu quả.

Dung lam viec cham chi hay lam viec thong minh anh 1javascript:”<!DOCTYPE html><html><body style=’background:transparent’></body></html>”
Sách Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh. Nguồn: Thanhhabooks.

Tác giả lấy ví dụ rằng trong công việc, mỗi người đều từng vật lộn trong suốt một tháng để thực hiện một dự án, và rồi thật kỳ diệu, ta hoàn tất dự án đó chỉ trong tuần cuối cùng.

Định luật này cung cấp một đòn bẩy tuyệt vời để làm việc năng suất hơn: Áp dụng những “deadline” ngắn hơn cho một công việc nào đó, hay sắp xếp một cuộc gặp mặt sớm hơn.

Từ đó, Tony Schwartz khẳng định rằng chìa khoá để đạt được kết quả tốt không phải làm việc chăm chỉ, mà ở cách thức làm việc. Những người biết sắp xếp giờ giấc, sự ưu tiên công việc sẽ thu được kết quả tốt.

Tác giả chỉ ra rằng chúng ta đã làm việc nhiều giờ ở công ty. Chúng ta đem công việc về nhà, luôn sẵn sàng cho công việc, giải quyết mọi thứ được giao. Chúng ta làm việc đó một cách tốt nhất trong khả năng của mình. Nhưng cho dù chúng ta có làm việc rất nhiều giờ, hiệu suất cũng không được cải thiện.

Những người làm việc thông minh thường chỉ tập trung thời gian của họ vào một vài ưu tiên và luôn nghĩ làm thế nào để mọi việc diễn ra suôn sẻ.

Những cách thức để tăng cường khả năng làm việc thông minh cũng được tác giả hướng dẫn qua từng chương sách như: Rèn luyện sức khỏe thể chất, du lịch, gặp gỡ bạn bè.

Theo ông, việc kết hợp giữa ngủ đủ giấc và vận động thể chất sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt. Đi du lịch và gặp gỡ người khác sẽ giúp nguồn năng lượng của mỗi người được tái tạo, từ đó, giải tỏa những căng thẳng, uể oải khi làm việc, giúp tăng hiệu suất.

Cuốn sách Đừng làm việc chăm chỉ, hãy làm việc thông minh của Tony Schwartz có tính ứng dụng cao. Kiến thức được trình bày trong sách sẽ giúp bạn tập trung triệt để vào những công việc cần ưu tiên trong cuộc sống, để tiến tới thành công.

Sách do Công ty Cổ phần Sách BIZBooks phát hành.

Thủy Thủy / Sách hay / Zing