Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới
Trong đó có cây Bonsai 800 năm tuổi của nghệ nhân Kunio Kobayashi – chủ nhân Bảo tàng Bonsai Shunkaen ở Tokyo, Nhật Bản.

(# 1) Cây bonsai 800 năm tuổi ở Shunkaen, của Kunio Kobayashi

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 1.

Cây Bonsai này đặc biệt nổi tiếng với tuổi đời rất cao (hơn 800 năm tuổi), đồng thời cũng là một trong những cây bonsai đắt nhất thế giới!

Chủ nhân của nó, bậc thầy Kunio Kobayashi, là một trong những nghệ nhân Bonsai nổi tiếng nhất thế giới và đã 4 lần giành được giải thưởng Thủ tướng Nhật Bản danh giá.

Vườn ươm của ông, Bảo tàng Bonsai ShunkaEn, nằm ở Tokyo (thủ đô của Nhật Bản) đã mở cửa cho khách tham quan. 

“Bonsai đã “dạy” tôi nhiều điều. Vẻ đẹp hội tụ từ khí trời của bốn mùa cùng sự uy nghi và thế tuyệt mỹ của bonsai không chỉ khiến tôi mê mẩn mà còn tạo động lực sống trong cuộc đời thực.” – Người nghệ nhân dành hơn 40 năm gắn bó với Bonsai – Kunio Kobayashi – chia sẻ.

(# 2) Goshin – “Vệ thần”, của John Y. Naka

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 2.

Goshin – “Vệ thần” là một Bonsai được tạo ra bởi nghệ nhân John Y. Naka. Đây là khu rừng trồng 11 cây Foemina Junipers, cây sớm nhất mà nghệ nhân John Y. Naka bắt đầu chăm sóc thành bonsai là vào năm 1948.

Người nghệ nhân này đã tặng Goshin cho National Bonsai Foundation vào năm 1984, để trưng bày tại Vườn ươm Quốc gia Mỹ. Hiện, cây bonsai vẫn ở đó.

(# 3) Cây cảnh nhỏ – một cây Shohin của Morten Albek

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 3.

Một Rockspray Cotoneaster (loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng) tuyệt đẹp. Đây là bức ảnh được chụp vào mùa Xuân. Cây ra hoa vào mùa hè và có những quả mọng nhỏ màu đỏ vào mùa đông.

Cây chỉ cao 10cm và được trồng trên một tảng đá nhỏ. Chậu được thực hiện bởi John Pitt, một thợ gốm nổi tiếng. Trên hình cây có khoảng 20 năm tuổi và đã được đào tạo trong khoảng một thập kỷ.

(*) Shohin là cây Bonsai nhỏ.

(# 4) Pinus Silvestris, của Stefano Frisoni

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 4.

Đây là hình ảnh quen thuộc nhiều người vẫn hình dung khi nhắc đến bonsai. Loại bonsai này được xem là truyền thống với những tán lá rất dày đặc, tựa như những áng mây trên trời.

(# 5) Cây Phong cảnh Penjing của Yee-sun Wu

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 5.

Chậu cảnh tuyệt đẹp này thuộc về bộ sưu tập của Man Lung ở Hồng Kông. Những cây mận Trung Quốc (Sageretia Theezans) cùng hình ảnh mái chùa, động vật… tất cả cùng nhau tạo nên một khung cảnh rất chân thực, đầy sức sống.

(# 6) Bonsai có hoa, của Wolfgang Putz

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 6.

Cây này là loài Đỗ quyên chỉ cao 14cm. Ảnh được chụp vào cuối mùa xuân / đầu mùa hè, thời điểm cây đỗ quyên nở hoa (ngắn ngủi nhưng rất sinh động!) Cây được trồng trong chậu Nhật

(# 7) Cây mưa Brazil, của Budi Sulistyo

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 7.

Có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, cây Mưa Brazil được coi là một trong những cây nhiệt đới đẹp nhất thế giới và cũng là một trong những loại bBonsai phổ biến nhất.

(# 8) Tạo kiểu bonsai, bởi Morten Albek

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 8.

Tạo kiểu bonsai thường bao gồm một cây bonsai trung tâm, một cuộn giấy viết chữ nghệ thuật và một cây bonsai khác để tạo điểm nhấn. Những vật thể này cùng nhau tạo nên một hình ảnh bonsai đầy nghệ thuật. Chúng thường được dùng trong các dịp trưng bày lớn.

(# 9) Bonsai nổi tiếng – Cây phong Nhật Bản (Acer palmatum), của Walter Pall

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 9.

Một trong những cây Bonsai nổi tiếng nhất thuộc bộ sưu tập của một nghệ nhân Bonsai châu Âu (Walter Pall), cây này rất đẹp và chân thực. Cây phong rất lớn và trên trăm năm tuổi. Một kiệt tác không còn nghi ngờ gì nữa, được tạo kiểu bởi một nghệ sĩ đầy cảm hứng!

(# 10) Bậc thầy Bonsai Kimura

Top 10 cây Bonsai đẹp nhất thế giới - Ảnh 10.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là bonsai của nghệ nhân bậc thầy Masahiko Kimura. Bộ sưu tập cây Bonsai đa dạng của ông rất nổi tiếng thế giới.

Bắt đầu từ năm 15 tuổi, Kimura là người học việc để làm chủ Hamano ở làng Bonsai Omiya. Để biết thêm những tác phẩm hấp dẫn và đôi khi độc đáo của anh ấy, hãy ghé thăm khu vườn bonsai của ông.

Bài viết sử dụng nguồn/ảnh: Bonsaiempire

Hồi ký nhớ một tình xuân

Cho đến bây giờ, mỗi lần ngọn gió heo may rung cành lá và làm mất lòng kẻ đang bước qua ngưỡng cửa của chiều hôm xế bóng, là mỗi lần tôi nhớ đến thuở hoa niên tràn nhựa sống.

Nhất là khi mùa xuân đến, vạn vật như hớn hở vui cười và người người rộn rịp rước thêm một tuổi nữa giữa tiếng pháo đì đùng, thì mớ tro tàn kỷ niệm năm xưa lại âm ỉ gợi lên đóm lửa nhớ nhung trong lòng tôi.

Năm xưa, cũng một mùa xuân như mùa xuân này, tôi là một cầu thủ thích giang hồ và đã dừng chân bến Đà Giang. Nhưng chưa bao giờ tôi phải nếm mùi cay đắng và tái tê như mùa Xuân năm ấy: 1945.

Cách đây đúng mười ba lần mai nở, một đêm rét mướt và gió thổi bời bời, tôi là một lữ hành cô đơn bước xuống sân ga Đô thành ướt át. Nhưng lòng tôi vẫn vui như một ngày nắng ráo, và hăm hở tiến vào thành.

Tôi không cần lo nghĩ, dẫu lúc ấy trong túi tôi còn có 5 hào, chỉ đủ uống một tách cà phê đen đậm pha thêm cốc “rum” để sưởi ấm. Vì các bạn đêm giao thừa năm cũ có gió từ ngoài khơi lộng vào để trợ lực cho cái rét mướt trên một thành phố vùng bể áp đảo tôi mà khóc thay tôi chỉ mặc một bộ quần áo thể thao, bộ “short” cổ điển của anh chàng thể thao gia.

Nhưng tôi bất chấp, bầu máu nóng và sức lực của một lực sĩ vừa mới “ra lò”… trường Cao đẳng thể dục còn nóng hôi hổi cũng đủ chịu đựng lắm rồi. Tôi đút hai tay vào túi quần, chân nện mạnh trên đường khuya, mồm huýt sáo một điệu quân hành, bụng nghĩ: Rồi sẽ được ngủ một giấc say sưa lo gì?

Hoi ky nho mot tinh xuan anh 1
Tác giả lạc lõng giữa không khí đón giao thừa nơi xứ lạ. Ảnh: Lichngaytot.

Qua một căn phố, tôi thấy một ông đạo mạo trong bộ quốc phục đang trịnh trọng khấn vái trước một bàn đầy hương dâng trà quả, khói hương nghi ngút. À, cúng giao thừa đây mà. Đợi cho ông làm cái việc cúng vái xong là tôi bước đến trước mặt, lễ phép thưa:

– Thưa ông, nhờ ông chỉ giúp cho hướng nào có khách sạn cho thuê?

Ông nhìn tôi từ trên xuống dưới như dò xét để “đánh giá” và có lẽ dấu vết phong trần còn đượm nét trên sắc diện cũng như bộ quần áo “thể thao” của tôi có vẻ… tố cáo hạng người tôi không được… đứng đắn lắm, nên ông đáp cộc lốc:

– Ai đùa với anh mà giờ nầy anh đến đây để hỏi lần thần? Không biết…

Nói xong ông ta quay lưng vô nhà. Tôi hơi tủi bởi mình là khách từ xa đến, thế mà chưa chi đã được nếm ngay hương vị chua chát. Tuy vậy, con nhà thể thao vốn rộng lượng và thừa can đảm nên mặc dầu bị đối đãi lạnh nhạt, tôi cũng sẵn sàng tha thứ cử chỉ của ông nọ và cứ nhắm trung tâm thành phố đi bừa.

Càng đi sâu vào thành phố, tôi càng nhìn thấy quang cảnh rộn rịp của cuộc đón giao thừa. Đó đây nhà nhà sáng choang đèn nến, khói hương ngào ngạt, đì đùng tiếng pháo: Người ta xúng xính trong những bộ y phục ngự hàn nói cười vui vẻ chung quanh một bàn ăn thịnh soạn, rượu đầy chai.

Vui vẻ và ấm cúng quá.

Riêng tôi, thân cô lữ lầm lũi đi dưới cơn mưa, chẳng biết lát nữa đây sẽ được “Rũ áo phong sương trên gác trọ” nào?”. Tôi đập cửa những lữ quán rải rác trong thành phố, song đâu đâu cũng chỉ nghe trả lời giống nhau:

– Hết phòng rồi!

Không lẽ đi dầm dưới mưa cho đến sáng ư? Tôi nhớ trên dòng sông Hương có những con đò xinh xắn cho khách mướn. Ở đây có dòng sông Đà, ừ, thì không lẽ chẳng có một chiếc đò bềnh bồng nào để tôi tạm đỡ một đêm nay?

Tôi lần theo đường mé sông để thăm hỏi thì may thay, đây rồi, một bà lão ngồi ở đầu thuyền đã trả lời tôi:

– Thầy muốn thuê? Được, hai đồng từ đây đến sáng mai.

Tôi nhảy xuống đò, không cần nghĩ đến chuyện có tiền hay không, chuyện ấy không quan trọng bằng một giấc ngủ say sưa đã. Bà lão nghe tôi nói giọng Sài Gòn và quần áo ướt sũng, bà tỏ ra ái ngại, bảo bằng giọng Huế dịu hiền:

– Thầy người ở mô? Sài Gòn hỉ? Ra đây bao chừ, răng quần áo ướt rứa? Thầy không mang hành lý à?

– Dạ, tôi từ Sài Gòn vừa đến theo chuyến tàu suốt. Hành lý bị người ta trộm cả, đâu từ trong Diêu Trì lận.

– Tội nghiệp chưa? Cơm nước gì chưa, chưa ăn thì tôi vừa cúng đó, đầy bánh tét, xôi, chè, mời thầy tạm đỡ cho no đi đã rồi hẵng ngủ.

Đáng kính mến thay bà chủ đò. Bà mang cho tôi những thức ăn và cả rượu “công xi” đựng trong chai… xá xị:

– Có cả rượu, uống vài ly cho ấm bụng, thầy.

Tôi không đợi mời hai tiếng, ăn ngay và chỉ trong một loáng là “tiêu thụ” hết một đòn bánh tét, một đĩa xôi và hai chén chè đậu ván. Chai rượu cũng không còn đến một giọt.

No rồi, tôi ngả lưng xuống ván thuyền.

Cơ khổ, bà chủ đò cũng nghèo lắm nên chiếc đò bà đã cũ rồi, mái lá lủng lỗ lấm tấm, nằm ngửa mặt lên nhìn thấy cả mảnh trời lốm đốm sao. Gió từng cơn thổi lùa vào khoang thuyền chỉ che có mỗi tấm liếp còi cọc phía trước.

Hoi ky nho mot tinh xuan anh 2
Giao thừa của tác giả được no bụng với tấm lòng bà lão lái đò. Ảnh: PLO.


Thuyền ngăn đôi hai gian. Bà lão chun vào khoang trong sau khi dọn dẹp chén bát xong, và bà vứt ra cho tôi một chiếc bao, bảo rằng:

– Thầy đắp đỡ kẻo lạnh. Trong này hai bà cháu tui chỉ có cái mền.

Tôi cảm ơn bà. Sóng vỗ lách tách vào mạn thuyền và chiếc thuyền nhẹ nhấp nhô trên từng lượn sóng con ngoài biển lùa vào, làm cho tôi có cảm tưởng như đang nằm trên chiếc nôi mà bàn tay chị vú lắc lắc để dỗ em…

Tám giờ sáng hôm sau tôi mới bừng mắt dậy thì ánh nắng đã le lói rọi vào khoang. Và tôi cũng thấy trên mình có thêm một chiếc mền cũ màu đỏ có nhiều miếng vá đắp lên từ bao giờ.

Bà lão nhìn tôi. Bên cạnh bà, một đứa bé gái tóc mới chấm vai cũng nhìn tôi. Bà nói:

– Tôi thức dậy trước và sợ thầy lạnh nên đắp thêm cho thầy chiếc mền đó.

Quý hóa thay, tấm lòng vị tha của bà lão, tuy nghèo nhưng đầy lòng nhân đạo. Tôi có cảm tưởng như đó là bà mẹ già của tôi đang săn sóc cho đứa con lãng tử mới trở về sum họp dưới mái thuyền. Nhưng tôi cũng vừa chợt nhớ ra, chao ôi! Tiền đâu trả cho bà lão đây?

Hai đồng, tuy ít thật, nhưng trong túi tôi, không có đến một trinh con.

Tôi nghĩ ngay đến ông V… “bạn thân” tôi vốn là nhân viên cao cấp trong sở Quan thuế, đang là thủ lãnh thể thao Đà Nẵng và chính ông đã mời tôi ra đây đầu quân dưới màu cờ hội bóng tỉnh nầy.

Vậy thì, chỉ cần lên phố tìm ông V… là có tiền.

Nhưng tôi phải nghĩ cách lên bến ổn thỏa, vì không lý hôm nay là ngày đầu năm, chưa gì tôi gieo ngờ vực cho một người đang hy vọng vào món tiền thuê đò? Tôi nói:

– Thưa bà, tôi không có tiền lẻ, bà cho cháu theo tôi lên bến đổi tiền, cháu sẽ cầm xuống cho bà được chớ?

Bà lão lắc đầu, bảo tôi rằng: “Trưa này, thầy về đây ăn cơm nghèo ngày mùng Một nghe. Tôi chờ.”

Lên đến bến là tôi nhảy phóc lên chiếc xe tay, bảo anh phu xe đưa tôi đến nhà ông V… Đến nơi, người nhà cho biết ông đã hướng dẫn đội bóng sang Lào rồi. Chết chưa? Tôi lúng túng chẳng biết làm thế nào.

Nhưng may quá, tôi nhớ khi gặp nhau ở Phan Thiết, ông V… có cho biết ông có ông bố vợ, ông P… cũng là một nhân viên cao cấp sở Quan thuế. Tôi bảo anh phu xe chạy đến đó, và lần này tôi khỏi thất vọng. Gặp tôi, ông P… biết tôi ngay:

– Anh Hồng đó hả? Rể tôi có dặn trước khi sang Lào, lúc anh đến đây thì tôi sẽ thay mặt hắn tiếp rước anh. Vì không đợi được anh nên rể tôi đã cùng các cầu thủ đi sang Thakhek cho kịp ngày rồi.

Tôi hỏi mượn ông P… một món tiền, là được chấp thuận ngay. Ông đưa cho tôi hai trăm bạc và nhờ số tiền ấy tôi về trả một món tiền hậu cho bà lão, đi mua tạm một bộ quần áo dạ cũ để mặc ấm và… ăn chơi trong ba ngày xuân với những người không quen nơi thành phố lạ […]

Cho đến bây giờ, cứ mỗi mùa xuân đến là mỗi lần tôi nhớ chuỗi ngày sống ở Đà thành. Và trong khói hương của ngày Tết, tôi không quên những người bạn cũ cùng chung sức nêu cao ngọn cờ hội bóng Đà giang.

Nhưng bây giờ, các bạn cũ ấy còn lạc lõng phương nào, hay đang nhấp chén tửu mừng xuân giữa cảnh đoàn tụ gia đình, xa cách tôi qua bao nhiêu sông núi? Nhất là tôi nhớ lại mối cảm tình của bà lão trên chiếc đò.

Hoa mai đã nở mười ba lần rồi. Sóng nước sông Hàn vỗ bến trải qua mười ba xuân đời, mà lòng bà, tình bạn, còn rõ ràng quá trong ký ức của tôi.

Phạm Hồng (Báo Khỏe xuân Mậu Tuất 1958)

QUA 6 THẾ KỶ, BÀI VĂN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

Hoàng Quốc Hải                                    

Trạng nguyên Nguyễn Trực ( 1417- 1474 ) nổi tiếng tài năng, đức độ và khiêm nhường. Trong sự nghiệp của  ông, chính sử nói cũng lắm, mà dã sử nói cũng nhiều, đủ biết ông được đời yêu trọng.              

Nghe nói đương thời Nguyễn Trực hay thơ, giỏi văn, trứ tác khá nhiều, vậy mà ngày nay ta chỉ còn được thấy trọn vẹn bài Sách vấn nổi tiếng trong cuộc thi đình khoa Nhâm tuất ( 1442 ) của ông. Thật ra chỉ xét riêng bài Văn sách này cũng đủ biết tài năng và nhân cách của ông.

Nguyễn Trực thuộc dòng dõi khoa bảng, ông sinh ra và lớn lên ở thôn Dĩnh Tú xã Cấn Hữu huyện Quốc Oai, nhưng nguyên quán ở làng Bối Khê xã Tam Hưng huyện Thanh Oai thuộc trấn Sơn Nam Thượng.

Gia phả dòng họ Nguyến Trực ghi được 21 đời cho biết cụ nội Nguyễn Trực là Nguyễn Tử Hữu làm Hàn lâm viện thị giảng, Thiêm tri hình viện sự triều Trần. Ông nội là Nguyên Bính đỗ tiến sĩ, làm Nho học huấn đạo phủ Ứng Thiên. Cha Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung đỗ tiến sĩ, làm quốc tử giám giáo thụ. Em trai Nguyễn Trực là Nguyễn Chân làm quốc tử giám tòng sự. Hai người con trai của ông cũng đỗ đạt; đúng là khoa bảng truyền gia, văn hiến truyền gia.                   

Nguyễn Trực tư chất thông minh, từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Năm 17 tuổi đỗ khoa thi hương, năm 25 tuổi thi đình khoa năm Nhâm tuất ( 1442 ), Nguyễn Trực đỗ đầu với danh hiệu Trạng nguyên.

Sách vấn hoặc Văn sách là bài trả lời trực tiếp của thí sinh với những câu hỏi do đích thân nhà vua ra, và cũng đích thân nhà vua chấm. Thường những câu hỏi vua ra, nhằm thăm dò đường lối trị nước của vua chỗ nào được, chỗ nào còn khiếm khuyết. Hoặc tham khảo ý kiến các thí sinh về kế sách làm cho dân giàu, nước mạnh. Hoặc khuyến khích thí sinh hiến kế về một chủ trương nào đó của nhà vua. V.v… Thông qua Sách vấn, nhà vua muốn tìm ra bậc chân tài để phò vua, giúp nước. Tuy nhiên, tìm là một việc, dùng lại là một việc khác. Đôi khi, chính quyền vào thời suy mạt, bọn quyền gian lộng hành, chúng xúi giục vua tìm ra người tài để diệt bỏ.

Trong bài Đình đối này, vua Lê Thái tông hỏi thẳng vào việc tìm người hiền tài và cả việc dùng người. Nhà vua băn khoăn:’’ Đức Thái tổ Cao hoàng đế ta giành được thiên hạ, nhiều lần hạ chiếu cầu hiền mà không một người nào ứng tuyển, còn bọn Hãn, Xảo ngầm chứa gian tâm. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay gắng lòng tìm cách trị nước thế mà hiệu quả của việc được người còn mênh mang mờ mịt, bọn Ngân, Sát thì gian ác chứa chất, sao quân tử khó được, tiểu nhân khó biết thế?

Chư tử ! Các ngươi hãy giốc hết tấm lòng của mình để ứng đối. Trẫm sẽ đích thân xem xét’’.

Thật ra, việc vua Lê Thái tổ xuống chiếu cầu hiền mà không một hiền tài nào ra ứng tuyển, là bởi ngay lúc đó triều đình đang rối nát, bọn quyền gian thao túng việc triều chính, công thần bị hãm hại. Những  người như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo sau khi đánh đuổi hết quân xâm lược nhà Minh, giang sơn thu về một mối, bình công thì Trần Nguyên  Hãn chỉ đứng sau vua; còn Phạm Văn Xảo đứng sau Trần Nguyên Hãn. Vậy là đệ nhất, đệ nhị công thần đều bị giết sau khi cuộc kháng chiến thành công mới chỉ ba năm.

Gương sờ sờ trước mắt, còn người tài nào dám liều mạng ứng chiếu. Thử hỏi, đương thời còn ai tài cán, công lao hơn hai người này. Vậy mà họ còn bị giết. Kẻ sĩ họa có bị mê lú mới ra ứng tuyển. Người tài không ra giúp nước lỗi bởi nhà vua hẹp lượng, chớ đâu phải lỗi ở người tài.         

Việc Lê Lợi giết các bậc khai quốc công thần, theo Lê Qúy Đôn viết trong Đại Việt thông sử thì ngay sau đó nhà vua đã hối hận, thương hai người bị oan, hạ lệnh cho những kẻ tố cáo hai ông từ nay về sau không được tố cáo ai nữa.                    

Việc nhà vua xử lý bọn xúc xiểm vua giết hại công thần, bằng hình phạt, không cho chúng được tố cáo thêm nữa. Mục đích là để xoa dịu dư luận bất bình về cách hành xử của ngài thôi, chứ thực trong lòng ngài ưng làm việc đó, chỉ chờ cơ hội có kẻ nào hô hoán là ngài ra tay không cần điều tra, xét xử.           

Vả lại lúc xảy ra các vụ việc đó, Lê Thái tông còn nhỏ tuổi chưa hiểu được những uẩn khúc của vụ án oan này, nên nhà vua mới hỏi: ‘’ Đức Thái tổ Cao hoàng đế ta giành được thiên hạ xuống chiếu cầu hiền mà không một người ứng tuyển… Sao quân tử khó được, tiểu nhân khó biết thế ?”

Nguyễn Trãi là chủ khảo khoa thi năm Nhâm tuất, đã chấm cho Nguyễn Trực đỗ cao, sau vào thi Đình đối, bài Văn sách của Nguyễn Trực quá xuất sắc, vua cho đỗ Trạng nguyên. Nhưng chỉ vài tháng sau, vụ án vườn Lệ Chi xảy ra, vua Lê Thái tông chết, Nguyễn Thị Lộ bị nhục hình, Nguyễn Trãi bị tru di.       

Sau đó, vua Lê Nhân tông chấp chính, mãi tới năm 1451 mới giải oan cho Trần Nguyên Hãn bằng cách cho phục lại các chức tước và phong cho ông làm “ Phúc thần “. Còn Phạm Văn Xảo ngoài phục chức còn được trả lại các điền sản đã bị tịch thu.

Khi làm bài Đình đối, chắc Nguyễn Trực chưa biết đằng sau các vụ án oan. Càng không thể ngờ vụ vườn Lệ Chi lại sắp xảy ra. Vì thế Nguyễn Trực trả lời thắng vào sự việc, nói điều trung thực mà kẻ sĩ quân tử không bao giờ né tránh. “…Thần cho rằng: Bọn Ngân, Sát đã gián cách nhà vua, ngăn trở quan trên, che lấp người hiền, hãm hại người tài, chúng lấy bọn phụ theo mình làm hiền lương, lấy bọn xảo mép làm tài nghệ, mua quan chức, làm án tội, hối lộ ngang nhiên, chúng đẩy Cẩm Hổ ra phương xa, bãi chức quan của Thiên Tước, những việc như vậy đâu phải vì nước tiến cử người hiền, lấy người phò vua ? Thế quân tử do đó khó tìm, tiểu nhân do đó khó biết…’’ 

Một khi người giữ mệnh nước đa nghi, cái tâm không chính, người hiền lương trung thực bị gạt bỏ, vua chỉ tin theo bọn bất tài ton hót biết dò đón ý vua, thì nhất định thế nước sẽ đi vào trì bế , rối nát. Sau khi kháng chiến  thành công, các bà vợ của Lê Lợi câu kết với một số quyền thần lập bè cánh, vu cáo hãm hại lẫn nhau, nhằm đưa con mình vào ngôi Thái tử để được chọn lập. Lúc này Lê Lợi đã già yếu, lại sợ các bậc công thần tài cao, đức trọng, sẽ lấy mất ngôi nước của con mình, thêm vào đó là sự xúc xiểm của lũ gian thần, nên nhà vua giết hại công thần một cách tàn bạo. Chẳng những công thần, mà hoàng thái tử Tư Tề đã từng theo cha tụ nghĩa ở Lam Sơn, đánh giặc tới ngày toàn thắng, cuối cùng cũng bị phế truất, bị đuổi làm dân, chết tức tưởi, mồ mả vẫn còn hoang hoải trên cánh đồng quê thuộc huyện Hoài Đức, nay là ngoại thành Hà Nội.             

Sa vào bi kịch đó, đúng như Nguyễn Trực nói là do lũ gian thần đã ‘’ gián cách nhà vua, ngăn trở quan trên, che lấp người hiền, hãm hại người tài…’’     

Bọn cơ hội luôn tìm cách ngăn trở người tài không cùng phe cánh để họ không thể xuất hiện. Mặt khác chúng tìm cách nói xấu, vu cáo, thậm chí hãm hại. Đặc biệt với người tài đức, khí tiết, cương trực thì bè lũ gian nịnh, bằng mọi cách, chúng phải trừ khử cho bằng được. Bởi bọn bất tài, gian nịnh sợ người tài đức, cương trực như cú sợ ánh sáng.  

Lê Thánh tông là một vị vua anh minh, nghiêm khắc, thưởng phạt công tâm, thế mà việc vua cho tiến cử người tài, các trọng thần của nhà vua vẫn ngang nhiên tìm người cùng phe cánh để đưa vào triều nhằm nhóm gây thế lực. Việc này xảy ra vào tháng chạp năm Đinh hợi ( 1467 ), vua Lê Thánh tông: ‘’ Sai các triều thần tiến cử chức huyện quan cương trực biết chỉ trích kẻ gian nịnh, mỗi người cử một viên.’’              

Nhà vua đã dụ ‘’mỗi người cử một viên‘’, thế mà : ‘’Thượng thư Lại bộ Nguyễn Như Đổ đem nhiều người thế gia thân thích quen biết là bọn Nguyễn Thế Mỹ 8 người ra ứng cử, vua cho là bọn tân tiến thường tài. Ngày hôm sau lại sai cử 10 người để giữ các chức làm việc ở trong triều. Thái bảo Lê Niệm cử Lương Thế Vinh; đô đốc Trịnh Văn Sái cử Hộ khoa cấp sự trung Đặng Thục Giao; Thượng thư Trần Phong cử Thượng bảo tự khanh Dương Tông Hải, đều tiến cử người mình quen biết.         

Vua xem tâu, phần nhiều tại chức đã không xứng chức, bèn loại bỏ họ tên của bọn Lương Thế Vinh trong ngạch tuyển… và phê rằng:’’ – Sáu bộ, sáu khoa và Ngự sử đài mà bảo cử người bậy thì chịu tội giáng hay bãi, nếu bảo cử được người giỏi thì tất có thưởng hậu. ‘’( Đại Việt sử ký toàn thư tr 219 q III NXB KHXH 1972 ). Sau đó nhà vua kiểm tra thấy ‘’ Lương Như Hộc tiến cử Trần Qúy Huyên không phải người tốt, xuống chiếu giam Như Hộc vào ngục và thu lại văn bằng của Qúy Huyên ‘’ ( ĐVSKTT q III tr 220 ).  

Lê Thánh tông là bậc vua anh minh, giỏi trên tầm người giỏi trong thiên hạ. Vậy mà các quan còn dám làm bậy, huống hồ gặp phải vua ngu tối, thiển cận, ưa nịnh hót, thì lũ quần thần cơ hội tha hồ lập bè cánh, lập nhóm lợi ích xâu xé đất nước ngoài tầm kiểm soát của nhà vua. Và đó đều là nguyên nhân dẫn các chính thể tới sụp đổ, và cũng là cơ hội gọi mời kẻ thù tới xâm lăng.          

Là người tài trí, tinh minh Trạng nguyên Nguyễn Trực ý thức được, một nước tiến bộ hay lạc hậu đều do năng lực của bộ máy cầm quyền. Vì vậy bộ máy cầm quyền cần có nhiều người tài, đức. Bởi thế,  việc tuyển chọn người tài, trách nhiệm duy nhất thuộc về người đứng đầu bộ máy quốc gia, đó là nhà vua. Ông dũng cảm đề xuất: ‘’ Bệ hạ muốn quân tử tiến mà tiểu nhân thoái thì không gì bằng gần gũi bề tôi cương trực…’’.

Thân Nhân Trung được Lê Thánh tông sai viết văn bia ghi danh tiến sĩ tại Văn miếu vào năm Gíap thin ( 1484 ); đó là tấm bia đầu tiên ghi tên các nhà khoa bảng từ khoa thi năm Nhâm tuất ( 1442 ). Bia ấy ghi tên Nguyễn Trực đầu tiên; đáng tiếc ông không còn nhìn thấy cảnh mình được lưu danh trên bia đá. Bởi ông đã mất trước đó mười năm ( Gíap ngọ 1474 ).

Thân Nhân Trung đỗ khoa thi năm Kỷ sửu ( 1469 ), khoa ấy do Trạng nguyên Nguyến Trực làm chủ khảo, bài ký do vua Lê Thánh tông sai ông soạn có câu nói bất hủ: ‘’ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế mà các bậc đế vương thánh minh chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sĩ bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần kíp… ‘’. Ta có quyền hiểu Thân Nhân Trung đã lấy cảm hứng khi viết bài bi ký này từ tài năng, tâm huyết và khí tiết của bậc sĩ quân tử toát ra từ bài Đình đối của Nguyễn Trực.

Trạng nguyên Nguyễn Trực là người  tài năng và đức độ trải qua 3 triều vua, vua nào cũng trọng dụng ông. Tuy có tài, nhưng Nguyễn Trực luôn giữ đức khiêm nhường. Ví như năm Gíap tý  (1444 ) vua Lê Nhân tông ban cho ông chức’’ Thiếu khanh đại phu, Ngự sử đài, Ngự sử thị đô úy ‘’. Ông dâng biểu tạ ơn, nhưng từ chối. Nhà vua phải ‘’ Dụ ‘’ tới 3 lần ông mới chịu thụ chiếu.

Dưới triều Lê Thánh tông, Nguyễn Trực càng được nhà vua yêu trọng. Nhà vua phong cho ông chức Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh. Đã mấy lần ông xin cáo quan, vua không cho. Khi ông mất vua có thơ điếu, lại cho lập đền thờ ông tại hai nơi : Sinh quán, làng Dĩnh Tú, huyện Quốc Oai; nguyên quán, làng Bối Khê huyện Thanh Oai. Nay đền thờ Nguyễn Trực tại Bối Khê được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Di tích ở Dĩnh Tú được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố.

Để nhân tài có thể xuất hiện, ta phải đặc biệt coi trọng những điều tâm huyết của Nguyễn Trực đề xuất trong bài Đình đối. Đó là người phò tá thân cận nhà vua phải là bậc chân tài, trung thực, chính trực mới có thể ‘’ DẪN VUA ĐI VÀO ĐƯỜNG ĐÚNG, ĐẶT VUA Ở CHỖ KHÔNG SAI ‘’. Và ông khẳng định: ‘’ Chỉ có bậc đại nhân mới có thể sửa được sai trái trong lòng vua.’’

Cái dũng của vị trạng nguyên này là dám nói thẳng, vua cũng có thể sai. Và chỉ có bề tôi là bậc đại nhân mới giúp vua sửa được, chứ không phải bất cứ tên bẻm mép nào cũng có thể giúp vua chính được những điều bất chính. Ở đây Nguyễn Trực quan niệm giúp vua là giúp nước.

Nguyễn Trực cũng khẳng định vai trò trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia, tức đấng quân vương phải là tấm gương sáng cho mọi người noi theo : ‘’ VUA CÓ NHÂN KHÔNG AI KHÔNG NHÂN, VUA CÓ NGHĨA KHÔNG AI KHÔNG NGHĨA, VUA CHÍNH KHÔNG AI KHÔNG CHÍNH, TRƯỚC NHẤT VUA CHÍNH THÌ NƯỚC MỚI ĐỊNH ĐƯỢC ‘’. 

Tưởng mọi người cũng nên biết thêm, khi viết bài Đình đối này chàng thanh niên Nguyễn Trực chỉ mới 25 tuổi.                                         

Xóm vắng Pháo Đài Láng ngày cuối Đông năm Canh tý (2020)                                                                                                 H. Q. H.

Ảnh: Nhà văn Hoàng Quốc Hải thăm Nhà thờ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

Những chuyện đời tư khó nói của vua Khải Định

Vua chỉ thích đàn ông, không thích đàn bà. Ngài cũng không hề đụng đến phi tần nào trong tam cung lục viện, khiến hàng trăm mỹ nhân sống tàn tạ, buồn phiền trong hậu cung lạnh lẽo.

Vua Đồng Khánh sinh được 6 trai và 2 gái, nhưng chỉ nuôi được Nguyễn Phúc Bửu Đảo (con bà Tiên Cung Dương Thị Thục) và 2 công chúa Ngọc Lâm, Ngọc Sơn. Cho nên, gia đình vua đều hy vọng Bửu Đảo (ông Phụng hóa công) sẽ nối dõi tông đường, bảo vệ những gì mà vua cha đã vun đắp trong suốt thời gian trên ngai vàng (1885-1889).

Thế nhưng, sự kỳ vọng đó mau chóng biến thành nỗi thất vọng, khi Bửu Đảo bị cho là bất lực và không thể có con. Vợ đầu của ông hoàng là bà phủ thiếp Trương Như Thị Tịnh, con gái quan đại thần Trương Như Cương đã không chịu nổi đức ông chồng đã bất lực lại còn ham mê cờ bạc, nên đã dứt áo đi tu.

Vua Bảo Đại có phải là con trai của Khải Định?

Trong cuốn Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam, sử gia người Pháp Daniel Grandclémant cho biết, năm 1907, sau khi vua Thành Thái bị phế truất, người Pháp định đưa Bửu Đảo lên ngôi, nhưng ngặt một nỗi ông đã 23 tuổi mà vẫn không có con (người vô hậu). Đình thần không muốn đặt lên ngai vàng một người vô hậu như vậy nên phải chấp nhận đưa Duy Tân là con vua Thành Thái lên ngôi vua.

Năm 1912, bà thứ thất của Bửu Đảo là Hoàng Thị Cúc (phong Huệ phi năm 1918, phong Đoan huy Hoàng thái hậu năm 1933) có thai (sau này sinh ra Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, vua Bảo Đại) và nhận là của ông hoàng. Sự việc này đã dấy lên những những hoài nghi ai là tác giả của cái thai đó. Các nhà viết sử trong và ngoài nước sau này đã đưa ra những giả thuyết, các chứng cứ và cho rằng, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy là con của Hoàng thân Hường Đ. (Hường Để).

Câu chuyện về vị vua không thích phụ nữ nhưng vẫn có con đã gây ra nhiều đồn đại trong lịch sử Việt Nam.

Vua Khải Định tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, sinh ngày 8/10/1885, là vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn. Ông là con trưởng của Vua Đồng Khánh và Hòa Tần Dương Thị Thục. Nhà vua lên ngôi năm 31 tuổi, trị vì từ năm 1916 đến năm 1925 trong giai đoạn Pháp thuộc, tại vị gần 10 năm và mất vào năm 40 tuổi.

Có một giai thoại cho rằng vua Khải Định không thích đàn bà hay thậm chí là “bất lực”.

Tuy nhiên, theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu tâm lý hiện nay, vua Khải Định không phải bất lực, mà là không thích gần đàn bà. Trong cuốn Chuyện nội cung các vua Nguyễn, ông Nguyễn Đắc Xuân viết: “… Những buổi sáng phải ra điện Cần Chính thiết triều, các bà đứng hai hàng bái yết đón chào, vua liền dùng tay ôm gọn hai vạt áo bào sát vào người để khỏi vướng vào đàn bà”.

Là vị vua thứ 2 của nhà Nguyễn, trị vì từ 1916 đến 1925, Khải Định không ăn nằm với bất kỳ bà vợ nào. Ông đã nuôi Nguyễn Đắc Vọng làm thị vệ và thường ôm ông Vọng để ngủ. Cũng nhờ sự ưu ái và khéo léo của trong việc phục tùng này mà ông Vọng được thăng chức nhanh lên Ngũ đẳng Thị vệ.

Vua Khải Định tỏ ra vô cùng buồn chán trước những buổi vũ múa do cung tần mỹ nữ đảm trách. Ông thậm chí còn bảo quan hãy thay thế bằng vũ công nam và yêu cầu họ phải thoa phấn, đánh má hồng và tô môi son đỏ; thậm chí cho họ mặc áo quần màu lòe loẹt… Theo một nghiên cứu, vua Khải Định cũng có sở thích ăn mặc đẹp, thiết kế những áo quần nhiều màu sắc, mang nhiều nữ trang trên người và đội nón lá.

Nhiều người cho rằng Khải Định bất lực nhưng các quan đại thần vẫn muốn “tiến cung” con gái để được làm ông nhạc (bố vợ) của vua, mong hưởng nhiều quyền lợi.

Vào những lúc đó, vì khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân tình dục), ai muốn vào tu thì cứ vào!”.

Khải Định có mấy chục bà vợ, nhưng không bà vợ nào có con. Tuy nhiên, vào một ngày khi vừa dùng thuốc, vua nổi cơn ham muốn. Lúc ấy không có vợ kế bên nên vua liền “ban lộc” cho một cung nữ gần đó. Cung nữ tên Hoàng Thị Cúc, sau đó có bầu và sinh ra hoàng tử Vĩnh Thụy.

Tuy nhiên, sau này lại có tin đồn rằng Vĩnh Thụy không phải con vua Khải Định, phần lớn xuất phát từ miệng những kẻ đối lập với Khải Định và Bảo Đại.

Cho đến bây giờ, nghi án Vĩnh Thụy là con ai vẫn là bí mật của cung đình. Nhưng theo sự nhìn nhận của chính thống, Vĩnh Thụy vẫn là con của Khải Định và đã được Khải Định chǎm sóc nâng niu. Mẹ ông vẫn được tôn xưng là bà Từ Cung.

Trong cuốn Chuyện các bà trong cung (tập 2), nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã căn cứ vào lời kể của Phan Văn Dật, di cảo của Ưng Đồng, tài liệu của R.Orband và của Nguyễn Đắc Vọng, Ngũ đẳng thị vệ triều Khải Định, cho biết không có chuyện Bửu Đảo “dùng” cô Cúc và may mắn cô Cúc có thai. Cô Cúc đã mang thai với chính Hường Đ. từ trước. Bửu Đảo đã nhờ hoàng thân Hường Đ., thuộc bậc ông, nhưng tuổi cùng trang lứa cháu giúp đỡ, san sẻ khó khăn không có con nối dõi, nên ông Hường Đ. đã ra tay giúp cháu.

Ông Xuân cũng cho hay, được sự giúp đỡ của anh Bửu Dương, ông đã đọc 17 cuốn vở gồm 1.700 trang viết tay của thầy Ưng Đồng (con trai cụ Hường Đ.) viết về lịch sử gia đình và họ hàng. Qua tập di cảo đồ sộ ấy, ông đã lọc ra được một số chi tiết liên quan đến sự việc Vĩnh Thụy chính là con Hường Đ. (Hường Để).

Tin cô Cúc có thai với Bửu Đảo mau chóng đến tai Bà Tiên cung (mẹ ông hoàng), bà Thánh cung (chính thất vua Đồng Khánh) và những người thân thích trong gia đình ông Phụng hóa công như một phép lạ. Để xác minh thực hư, bà Tiên cung và bà Thánh cung đã sai đào một cái hố (sâu khoảng 2 tấc), bảo cô Cúc nằm sấp, để cái bụng có mang nằm lọt dưới hố, rồi dùng roi đánh tra hỏi cô Cúc lấy ai mà vu cho ông Phụng hóa công. Cô Cúc cắn răng chịu đựng hình phạt và chỉ đinh ninh một lời khai đích thị có mang với Bửu Đảo.

Thế là các bà mừng rỡ công bố cho hoàng tộc biết Phụng hóa công sắp có con. Tin mừng mau chóng lan đi, những kẻ độc miệng trong đám cận thần cụt hứng không còn chế nhạo ông hoàng liệt dương và vô hậu nữa. Thế nhưng kể từ đó ông hoàng không có thêm được người con nào.

Trong cuốn Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam, sử gia Daniel Grandclémant cho biết, sau khi người Pháp chọn  Bửu Đảo lên ngôi (năm 1916, lấy niên hiệu Khải Định) thay vua Duy Tân bị đầy sang đảo Réunion, ông có cưới thêm 10 bà phi, nhưng không ai sinh cho ông được người con nào.

Vua chỉ thích đàn ông, không thích đàn bà?

Phép lạ đã hết thiêng. Tuy nhiên, lệ trong triều vẫn cho ông rất nhiều phi tần, nhưng ông không hề đụng đến người nào. Hàng trăm người có nhan sắc được tuyển chọn khắp nơi trong cả nước phải sống tàn tạ, buồn phiền trong cung điện lạnh lùng băng giá.

Trong cuốn Chuyện các bà trong nội cung, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết thêm, nhiều người biết Khải Định bất lực, chính vua cũng nhận điều đó. Thế nhưng, các quan đại thần thì vẫn muốn “tiến” cung con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân tình dục), ai muốn tu thì cứ vào”.

Năm 1916, ngay sau khi Khải Định lên ngôi, đại thần Hồ Đắc Trung đã “tiến” ngay vào Nội con gái mình là Hồ Thị Chỉ (người trước đó từng được “tiến” cho vua Duy Tân, nhưng vua không nhận vì đã yêu cô Mai Thị Vàng, con ông Mai Khắc Đôn, thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân).

Là con quan đại thần, được triều đình cưới hỏi đúng nghi lễ, bà Hồ Thị Chỉ được phong chức rất cao, nhưng cũng vẫn ở vào bậc Ân Phi (Đệ nhị giai phi). Tước cao, chức trọng, danh nghĩa là vợ chính ở với vua Khải Định, nhưng thực chất bà chẳng được tí gì về ái ân chăn gối với ông vua “bất lực”.

Bà phải chấp nhận cảnh đóng kịch làm vợ vua như thế để được hưởng phú quý danh vọng, với ý nghĩ mình sẽ là mẹ đích thực của hoàng tử Vĩnh Thuỵ, vì bà Từ Cung tuy là mẹ sinh, nhưng là con nhà bình dân, lại không được cưới hỏi theo nghi lễ triều đình.

Thế nhưng, bà không được toại nguyện điều đó, vì trước khi lâm chung, Khải Định đã truyền trao cho bà Từ Cung lời di ngôn vắn tắt: “Tử quý, mẫu vinh”. Điều này đã khiến bà Hồ Thị Chỉ tức điên. Cuối cùng bà chết già trong một tu viện Thiên chúa giáo.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cũng cho biết vua Khải Định thích đàn ông chứ không thích đàn bà. Trong suốt 10 năm làm vua (1916-1925), vua đã nuôi ông Nguyễn Đắc Vọng làm thị vệ. Ban đêm, vua ôm Vọng ngủ. Nhờ sự khéo léo trong việc phục tùng này mà ông Vọng đã được thăng tiến đến Ngũ đẳng thị vệ. Những buổi sáng phải ra điện Cần Chánh thiết triều, các bà đứng hai hàng bái kiến đón chào, ông liền dùng tay ôm gọn hai vạt áo bào sát vào người để khỏi vương vào “đàn bà”…

Liên quan đến chuyện Khải Định thích đàn ông một số tư liệu khác cho biết thêm, nhà vua ham xem hát bội, nhưng lại không thích xem phụ nữ diễn. Đoàn tuồng ngự chỉ toàn nam giới. Gặp cảnh cần có đào thì nam đóng giả vai nữ.

Do vậy mà đoàn tuồng Thanh Bình dưới triều Khải Định có nhiều nghệ nhân nam rất giỏi. Bên cạnh đó, vua còn chuộng trang điểm, đeo nhiều trang sức, ăn mặc lòe loẹt, tự sáng chế ra những bộ y phục không giống ai cho mình.

Theo MINH CHÂU / TRI THỨC TRỰC TUYẾN 

Đảng Dân chủ bẽ bàng: Cố luận tội cựu TT Trump, lại bị “tố” ngược lại là những kẻ kích động bạo lực và đạo đức giả

Đảng Dân chủ bẽ bàng: Cố luận tội cựu TT Trump, lại bị "tố" ngược lại là những kẻ kích động bạo lực và đạo đức giả

Thậm chí bà phó Tổng thống Harris còn bị “điểm mặt” 4 lần trong video, và Tổng thống Biden còn nói nếu ông ta được quay trở lại thuở học trung học, ông ta sẽ đi vào phòng tập thể dục và “đánh bại” Trump.

Thay vì cố dựng nên một phiên tòa luận tội cựu TT Trump vì tội “kích động bạo lực”, thì Đảng Dân chủ bị một phen tê tái, lúng túng và ăn “quả đắng” khi đội ngũ pháp lý của ông Trump đang “lột trần” các thành viên đảng Dân chủ ra “xét xử” ngược lại. Bằng cách liên tục phát các đoạn clip về những lời hùng biện kích động bạo lực trong quá khứ của họ. Video dài 11 phút đã lột tả thói “đạo đức giả” của những người theo chủ nghĩa tự do cấp tiến đang tự đặt ra một “tiêu chuẩn kép nguy hiểm” cho riêng họ…

Theo foxnews, nhóm luật sư của cựu Tổng thống Trump cho biết bài phát biểu của ông trước cuộc bạo động ở Điện Capitol ngày 6/1, nơi ông nói với những người ủng hộ rằng “hãy chiến đấu như địa ngục” không có nghĩa là một hành động kích động bạo lực. Nhóm luật sư cho biết, nếu như vậy thì cũng cần phải luận tội nhiều dân biểu, thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ vì họ cũng có những tuyên bố tương tự.

Luật sư David Schoen nói to với các đảng viên Đảng Dân chủ đang ngồi trong phòng họp, khi đoạn video dài 11 phút kết thúc với những clip họ liên tục nói “chiến đấu” :   

 “Mọi người trong số các quý vị ở đây. Không sao đâu. Quý vị không làm gì sai cả. Đó là từ ngữ mà mọi người dùng, nhưng xin hãy dừng ngay thói đạo đức giả”.

Ông Michael Van der Veen, luật sư của Donald Trump công kích mạnh mẽ các thành viên đảng Dân chủ, đồng thời tố cáo đây là một phiên xử bị định hướng ở sự thù hận nhắm vào thân chủ của ông.

Ông nói: “Các đại diện của đảng Dân chủ căm ghét Donald Trump. Kiểu thù hằn chính trị này không có chỗ đứng trong các định chế chính trị của chúng ta”.

Luật sư Van der Veen cũng cáo buộc đảng Dân Chủ đã cắt ghép các đoạn video và các phát biểu của Tổng thống Trump. Cả khán phòng “lặng ngắt” khi nhóm luật sư trình chiếu video bằng chứng, cho thấy các dân biểu, thượng nghị sĩ đảng Dân Chủ lặp lại từ “chiến đấu”, một cụm từ được dùng để luận tội Tổng thống Trump trong bài diễn văn ngày 6/01. Video dài 11 phút đầy đủ bằng chứng thuyết phục, khiến các đảng viên Đảng Dân chủ lúng túng và bẽ bàng. 

Video đã “điểm danh” hàng chục gương mặt gạo cội của Đảng Dân chủ bao gồm từ dân biểu “cuồng chống Trump” Maxine Waters (California), Lãnh đạo Đa số Thượng viện Chuck Schumer, Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, Hillary Clinton,  Phó Tổng thống Kamala Harris, Tổng thống Joe Biden cho tới “thủ lĩnh” Black Lives Matter. 

Thậm chí bà phó Tổng thống Harris còn bị “điểm mặt” 4 lần trong video, và Tổng thống Biden còn nói nếu ông ta được quay trở lại thuở học trung học, ông ta sẽ đi vào phòng tập thể dục và “đánh bại”  Trump. 

Các đảng viên Đảng Dân chủ đã lặp đi lặp lại cả nghìn lần về cụm từ “chiến đấu” trên youtube, Twitter kích động bạo lực, và người dân Mỹ được chứng kiến điều gì đã xảy ra? Antifa – Black Lives Matter: Bạo loạn. Hỏa hoạn. Đập phá, Giết người…

Trong khi đó truyền thông dòng chính làm việc 24/7 để bảo vệ cho Đảng Dân chủ, và che đậy cho năm bạo loạn 2020 của BLM /Antifa bằng cách giả vờ gọi đó là “biểu tình ôn hòa”, trong khi đổ vấy cho cả triệu người Mỹ yêu nước quần tụ tại Washington DC là biểu tình “bạo động”.

Những đảng viên Đảng Dân chủ nói từ “chiến đấu” cả nghìn lần, nhưng Big Media, Big Tech…cũng như không có bất kỳ ai gọi đó là xúi giục, kích động bạo loạn và đưa họ ra trước một phiên điều trần tại Quốc hội, ngay cả khi họ cam kết hỗ trợ tài chính để bảo lãnh những tên tội phạm Antifa-BLM bị cảnh sát bắt giữ trong khi đang “chiến đấu” phá hoại nước Mỹ. Điều này không khác gì việc các đảng viên Dân chủ tiếp thêm “sinh lực” cho những kẻ tội phạm phương tiện để “chiến đấu” dữ dội hơn.

Với cả triệu người tuần hành tại Thủ đô Washington một cách ôn hòa ngày 6/1, sự cố một số người biểu tình đã gây ra bạo lực trong Tòa nhà Quốc hội càng ngày càng cho thấy nhiều bằng chứng đã được lên kế hoạch trước đó 1 ngày. Điều này được minh chứng bằng bài phát biểu của Tổng thống Trump vào trưa ngày 6/1, và các video ghi lại được tại hiện trường Tòa nhà Quốc hội. 

Làm thế nào mà các đảng viên Dân chủ, Big Media, Big Tech coi đây là những lời nói có tính chất kích động bạo lực, khi Tổng thống Trump nói với người dân rằng: “Hãy để tiếng nói của các bạn được lắng nghe một cách ôn hòa và yêu nước”. Nội dung bài phát biểu của Tổng thống Trump hoàn trái ngược với bản tường thuật của giới truyền thông cánh tả cũng như bị Đảng Dân chủ gọt xén và quy kết Tổng thống kích động bạo lực. 

Nếu bài phát biểu của Tổng thống Trump bị coi là kích động bạo lực, vậy hãy so sánh những lời phát biểu đầy tính bạo lực của những người nổi tiếng theo Đảng Dân chủ cánh tả cấp tiến dưới đây:

Trong video trên có đoạn ca sĩ Madonna phát biểu trong cuộc Tuần hành Phụ nữ ở Washington năm 2017 trong những ngày đầu tiên của chính quyền Donald Trump, trong đó Madonna phát biểu: “Tôi đã nghĩ rất nhiều về việc làm nổ tung Nhà Trắng”. Diễn viên hài Kathy Griffin thì cầm cái đầu hình nộm nhuốm máu của Tổng thống Trump. Diễn viên Johnny Depp chậm rãi nói: “Lần cuối cùng một diễn viên ám sát Tổng thống là khi nào?”. 

Phiên luận tội lần thứ hai của Đảng Dân chủ đối với cựu Tổng thống Donald Trump đang đi tới hồi kết, và khả năng cao là thất bại hoàn toàn. Điều này càng làm cho người dân Mỹ thấu tỏ bộ mặt dối trá và đồi bại của những người theo dân chủ tự do cấp tiến. 

Đông Bắc / NTD