Sắc đỏ trong cái Tết thời COVID-19 ở châu Á

Đèn lồng đỏ vẫn treo cao, hoa vẫn khoe sắc đón xuân nhưng người dân nhiều nước châu Á đang trải qua một cái Tết “kém thắm” hơn so với mọi năm vì dịch bệnh.

Tại một địa điểm công cộng ở thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc, mô hình một con trâu robot chiếm không gian rộng lớn. Năm Tân Sửu, tính theo nông lịch ở nhiều nước châu Á, bắt đầu từ ngày 12/2. Ảnh: AFP.

Tết Nguyên Đán vẫn diễn ra ở nhiều nước với các truyền thống như bình thường, nhưng đại dịch Covid-19 cũng khiến Tết năm nay trở nên đặc biệt hơn theo nhiều nghĩa. Trong ảnh, đường phố ở Vũ Hán được trang trí bằng đèn lồng đỏ. Ảnh: Reuters.

Với các biện pháp hạn chế để chống dịch, người dân ít ra đường hơn, ít mua sắm hơn. Trung Quốc đã khuyến cáo người dân hạn chế về quê dịp Tết này trước sự bùng phát của làn sóng lây nhiễm mới. Ảnh: Reuters.

Đi đền chùa là truyền thống của người dân Hong Kong cũng như người Hoa ở nhiều nước trong những ngày Tết. Chỉ khác là năm nay người đi chùa gần như đều đeo khẩu trang. Ảnh: Reuters.

Người dân đi lễ tại miếu Văn Võ ở Hong Kong hôm 11/2. Ảnh: Reuters.

Đồ trang trí Tết được bày bán tại một trung tâm thương mại ở Jakarta, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Indonesia đang nỗ lực kiểm soát dịch bệnh sau đợt bùng phát mới ở Jakarta. Ảnh: Reuters.

Indonesia là một trong những nước có cộng đồng người Hoa lớn ở Đông Nam Á. Ảnh: Reuters.

Đồ trang trí hình thú được bán tại khu người Hoa ở Manila, Philippines. Ảnh: Reuters.

Không khí Tết tại Kuala Lumpur có phần ảm đạm hơn mọi năm. Ảnh: Reuters.

Nhiều trung tâm thương mại chứng kiến sự sụt giảm người đi mua sắm và giải trí những ngày cận Tết. Ảnh: Reuters.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Ranh giới mong manh giữa khiêu dâm và khỏa thân nghệ thuật

  • Lizzie Enfield
  • BBC Culture
Getty Images

Trong hơn 100 năm, các nhà hoạt động đã khiến công chúng chú ý tới việc miêu tả cơ thể người phụ nữ khỏa thân trong nghệ thuật. Đã đến lúc ta nhìn lại chúng bằng quan điểm mới.

Vào thời gian xảy ra phong trào Black Lives Matter ở Anh Quốc, cả quốc gia này chú ý tập trung vào bức tượng một nhà buôn nô lệ, trong khi đó, có một nhà hoạt động lại nhấn mạnh đến cách miêu tả hình ảnh phụ nữ trong cách tạc tượng.

“Hãy nhìn vào cách mà bạn đang bị xã hội hóa để coi đó là chuyện bình thường…” tờ rơi của nhà hoạt động viết, nhấn mạnh đến một tượng đài bên ngoài Trung tâm Trafford ở Manchester.

Bức tượng thể hiện một người đàn ông ngồi rửa chân, vây quanh là một nhóm phụ nữ bán khỏa thân khúm núm quỵ lụy.

Một nội dung khác viết bên cạnh hình ảnh bức tượng ở Iowa, Mỹ – về một phụ nữ bằng đồng không mặc áo, uốn lưng và nâng ngực lên như thể nàng đang cố ý tôn vinh đường rãnh trên cơ thể – tờ rơi này viết: “Iowa như biểu tượng bà mẹ đang dành sự nuôi dưỡng cho con của nàng? Yeah.”

Người cầm tờ rơi này là ArtActivistBarbie (AAB – Nhà hoạt động nghệ thuật Barbie), một búp bê Barbie đứng tạo dáng trước các tác phẩm nghệ thuật và tượng đài, và là hiện thân vui vẻ của Sarah Williamson, giảng viên cao cấp ở Đại học Huddersfield.

Williamson bắt đầu dự án như một cách giúp sinh viên tương tác với ý tưởng về nữ quyền, chủ yếu là trong cách nghệ thuật mô tả nữ giới.

“Bằng cách này, tôi có thể nhẹ nhàng dẫn dắt người xem vào cuộc đối thoại,” Williamson nói với BBC Culture. “Đó là tiếng nói ngầm về nữ quyền – tiếng nói của tôi, cất lên từ bên thứ ba với AAB, tương tự như người lồng tiếng cho bù nhìn.”

Sarah Williamson/Twitter
Chụp lại hình ảnh,ArtActivistBarbie tạo dáng bên chú hổ đồ chơi, nhái lại bức họa Circe của họa sĩ Wright Barker vẽ năm 1889, mô tả một phụ nữ để ngực trần với bầy sư tử vây quanh

Trong một nội dung đăng trên Twitter, ArtActivistBarbie tưởng tượng về người đặt hàng cho bức họa Circe của họa sĩ Wright Barker vẽ năm 1889, miêu tả người phụ nữ để ngực trần với bầy sư tử vây quanh.

“Tôi muốn một cô gái trẻ quyến rũ, bán khỏa thân, vây quanh là bầy thú lớn,’ người bảo trợ nghệ thuật nói”, nội dung trên Twitter viết.

“Xem thử bức Circe xem sao, là có khoảng 5 đến 6 con hổ?'” họa sĩ nói. ‘Mọi người sẽ ngưỡng mộ sự quan tâm uyên bác của ông với Thần thoại Hy Lạp.'”

Với nụ cười nửa miệng, ArtActivistBarbie đặt câu hỏi liệu đây là bức tranh mô tả khung cảnh cổ điển hay chỉ là một bức tranh khiêu dâm kín đáo thời Victoria.

Giáo sư về nghệ thuật cổ điển Mary Beard hỏi câu tương tự trong loạt chương trình truyền hình của bà có tên Cú sốc Khỏa thân (Shock of the Nude), lên sóng đầu năm nay ở Anh Quốc.

Chương trình tìm hiểu nhiều cách mà các nam họa sĩ cố gắng diễn giải sự hiện diện của phụ nữ trần truồng trong tranh vẽ của họ: khỏa thân nằm nghiêng được coi là vô tình bị bắt gặp, còn lúc đang tắm hay đang buồn ngủ lfa lý do có thể dùng để giải thích cho trạng thái không mặc đồ.

Vậy ta đang xem tranh nghệ thuật hay đang xem hình khiêu dâm?

“Đây là câu hỏi phức tạp và bất kỳ ai nghĩ rằng họ biết câu trả lời thì hãy nên xem xét kỹ lưỡng hơn một chút,” Giáo sư Beard nói với BBC Culture.

“Quan điểm của tôi là lằn ranh giữa nghệ thuật và khiêu dâm luôn luôn gian trá, và khi nhìn về quá khứ là ta phải nhìn vấn đề trong bối cảnh quá khứ cũng như trong bối cảnh thời đại chúng ta. Ta phải học cách nhìn thẳng vào quá khứ và những lỗi lầm trong quá khứ.”

Vấn đề gây tranh cãi

Trong hơn 100 năm qua, các nhà nữ quyền đã gây chú ý tới thái độ kỳ thị giới tính trong thế giới nghệ thuật.

Vào năm 1914, nhà vận động đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, Mary Richardson dùng rìu tấn công bức họa Thần Vệ Nữ Rokeby của Velazquez.

Bức tranh miêu tả Thần Vệ Nữ soi gương, xoay lưng về phía công chúng và để lộ phần mông ở trung tâm bức tranh.

Richardson tuyên bố sự phản kháng của bà một phần nhắm phản đối cách những người đàn ông sững sờ nhìn ngắm bức tranh treo tại Bảo tàng Quốc gia London.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Năm 1914, gương mặt đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, Mary Richardson, đã tấn công bức Thần Vệ Nữ Rokeby của Velazquez, đẻ tỏ thái độ phản kháng cách thức bức tranh mô tả phụ nữ khỏa thân

“Phụ nữ liệu có phải trần truồng để được bước vào Bảo tàng Nghệ thuật Trung tâm?” một tấm biển quảng cáo do nhóm vận động nữ quyền nghệ thuật Guerrilla Girls đăng tải vào thập niên 1980 viết.

Vào thời đó có vẻ đúng là như vậy – có chưa đến 4% họa sĩ trong mảng nghệ thuật hiện đại của bảo tàng là nữ giới, nhưng 76% tranh khỏa thân là vẽ phụ nữ.

Với thông điệp thông minh và rõ ràng thông qua biển quảng cáo quy mô lớn, nhóm Guerilla Girls đã gọi tên và chỉ mặt việc giới nghệ thuật coi thường phụ nữ và những nhóm thiểu số khác trong nghệ thuật.

Vào năm 2018, họa sĩ người Anh Sonia Boyce có cách tiếp cận khác khi bà tháo bỏ bức tranh Hylas and the Nymphs của John William Waterhouse, ngay trước mắt công chúng, tại Phòng trưng bày Nghệ thuật Manchester.

Không gian trên tường, vị trí treo bức tranh miêu tả một nhóm các cô gái trẻ bán khỏa thân dụ dỗ Hylas vào bồn tắm đầy hoa huệ, đã bị để trống trong một tuần.

“Mục đích của tôi là gây chú ý và đặt câu hỏi về cách bảo tàng quyết định cho khách tham quan xem gì, trong bối cảnh gì và dán nhãn chúng là gì,” Boyce nói sau khi sự việc gây ra làn sóng phản tác dụng, theo đó phe phản đối cáo buộc sự kiểm duyệt, đúng đắn chính trị (political correctness) và chủ nghĩa nữ quyền cực đoan.

“Gỡ bỏ bức tranh là để bắt đầu một thảo luận, không phải để kích thích cơn phẫn nộ truyền thông.” Nó gây ra cả hai. Chủ đề nghệ thuật và khiêu dâm là chủ đề gây tranh cãi.

Guerilla Girls
Chụp lại hình ảnh,Trong thập niên 1980, nhóm các nhà vận động nghệ thuật nữ quyền Guerilla Girls nổi tiếng khi đặt câu hỏi “Liệu phụ nữ liệu có phải trần truồng để được bước vào Bảo tàng Nghệ thuật Trung tâm?”

“Lằn ranh luôn luôn mờ nhạt,” Hans Maes, giảng viên lịch sử nghệ thuật ở Đại học Kent, người từng viết chuyên sâu về đề tài này, cho biết.

“Nói chung, mọi người cho rằng khiêu dâm có hai tính chất cơ bản: Nó mô tả trần trụi yếu tố tính dục và mục đích là kích thích người xem về mặt tình dục. Vâng, trong suốt lịch sử và nhiều nền văn hóa, bạn có thể tìm thấy những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại có những tính chất này.”

“Hãy nghĩ đến một số tranh ghép ở Pompeii, các tượng điêu khắc Kama Sutra hoặc một số tranh vẽ trần trụi của Gustav Kilmt. Nếu muốn, hãy so sánh bức tranh Maja Khỏa thân của danh họa Goya với bức ảnh cỡ lớn trên tạp chí Playboy và nói tôi nghe xem, ranh giới liệu có bị xóa nhòa chưa.”

Năm 2014, nghệ sĩ trình diễn Deborah de Robertis tìm cách thể hiện quan điểm này bằng cách phơi bày thân thể của chính bà trước bức tranh Cội nguồn Thế giới của Gustave Courbet trong Bảo tàng Musée d’Orsay ở Paris, nhằm tái hiện hình ảnh cận cảnh bộ phận sinh dục của người phụ nữ.

Sau đó, bà đã bị bắt vì khỏa thân trước bức tranh Olympia của Manet, cũng trong bảo tàng Musée d’Orsay.

Mục đích của bà là khơi lên câu hỏi: Tại sao cùng là thể hiện bộ phận cơ thể con người nhưng một thứ thì được coi là nghệ thuật, còn một thứ khác thì lại bị coi là khiêu dâm?

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Bức Maja Khỏa thân của họa sĩ Goya (hình trên), bức Cội nguồn Thế giới của Courbet và những tranh vẽ trần trụi của Klimt là các tác phẩm mà giới hoạt động và sử học coi là “lằn ranh bị xóa nhòa”

Trong quá khứ, sự kiểm duyệt hình ảnh trần trụi thường bắt nguồn từ những giá trị tôn giáo, từ sự bảo thủ và từ nỗi sợ tha hóa đạo đức.

Ngược lại, các nhà nữ quyền chống lại việc vật thể hóa hình ảnh tính dục vì muốn sự bình đẳng cho phụ nữ, và họ sợ rằng lan tỏa những hình ảnh vật thể hóa này gây bất lợi cho mục đích đó.

Vào thời gian xảy ra sự can thiệp của Boyce ở Manchester, làn sóng nữ quyền thứ tư đang dâng lên giữa làn sóng cáo buộc Harvey Weinstein, Jeffrey Epstein và những người khác. Sự căng thẳng dâng cao trong cách ứng xử với tác phẩm nghệ thuật ra đời dưới những giá trị đạo đức khác biệt so với thời đại của chúng ta.

Bạn không cần phải nhìn rất xa để tìm ví dụ. Benvenuto Cellini một mực muốn sử dụng nữ đồng trinh làm người mẫu và “khai hoa” họ sau khi ông hoàn thành bức vẽ về họ. Eric Gill dùng các con gái của chính mình làm người mẫu và xâm hại tình dục chúng.

“Có lẽ ta nên phân biệt giữa sự sùng bái và sự sáng tạo,” Maes nói với BBC Culture. “Nếu ta biết một họa sĩ xâm hại phụ nữ và thái độ xâm hại đó cũng thể hiện trong tác phẩm, thì nó ảnh hưởng đến giá trị của tác phẩm. Tự thân tác phẩm sẽ xuất hiện một cách gớm ghiếc và có vấn đề về đạo đức, một khi bạn biết về chuyện đó.”

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Vào năm 2018, họa sĩ Sonia Boyce gỡ bức tranh Hylas and the Nymphs của họa sĩ John William Waterhouse khỏi Phòng trưng bày Nghệ thuật Manchester

Trong bộ phim tài liệu gần đây trên Netflix về Jeffrey Epstein, một trong những sĩ quan cảnh sát đến bắt giữ đã bình luận về số lượng tranh khỏa thân treo trong dinh thự của kẻ xâm hại tình dục. Nếu đặt trong phòng tranh, những bức khoả thân tương tự có thể là các tác phẩm được ngưỡng mộ.

“Vâng, đúng là nó khiến bạn phải nghĩ,” Sarah Williamson đồng tình. “Có rất nhiều tranh trong các bảo tàng nghệ thuật công là vẽ về những thiếu nữ tuổi dậy thì, khiến người xem thấy khó chịu. Bức tranh Syrinx của họa sĩ Arthur Hacker treo ở Phòng Trưng bày Nghệ thuật Manchester chẳng hạn, tác phẩm này thể hiện một cô gái trẻ, trần truồng, trông rất yếu ớt và sợ hãi và nó khiến tôi cảm thấy cực kỳ không thoải mái khi xem. Nhưng có một kiểu tôn kính với những người đã thành danh với ngôn ngữ Bậc thầy Cổ điển và với các tác phẩm nổi tiếng mà ta đã lĩnh hội, chấp nhận một cách vô thức.”

“Ở truồng” hay “khỏa thân”?

Vẽ tranh tả thực người mẫu khỏa thân vẫn chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục nghệ thuật hiện đại, và đa số người mẫu vẫn là nữ giới; nhưng trong “sự tôn nghiêm” của xưởng vẽ, những phụ nữ này không phải ở truồng mà là “khỏa thân”, và họ không cởi truồng mà là “thoát y”.

“Nhưng tất nhiên, những ánh nhìn của nam giới vẫn tồn tại trong lớp vẽ tả thực,” Mary Beard nói, người mà chính bản thân bà cũng làm mẫu trong cuộc điều tra của bà cho chương trình “Cú sốc Khỏa thân”.

“Có nhiều cách mà văn hóa cố gắng loại bỏ nó và những công cụ ngôn ngữ được sử dụng để cố gắng loại bỏ yếu tố tính dục. Nhưng nó vẫn hiện diện.”

“Tạo dáng hầu như là thứ mà tôi hi vọng tránh phải làm,” người mẫu Fra Beecher viết trong một blog về việc làm mẫu chân dung trên mạng trong thời gian cách ly, trong đó cho thấy cô để ý đến ánh nhìn của nam giới.

“Tôi không bao giờ cho phép chụp ảnh khi tôi đang làm mẫu. Tôi tự hỏi liệu có thể cân bằng cảm xúc bản thân về hình ảnh khỏa thân với nỗi sợ hình ảnh khỏa thân của mình xuất hiện trên mạng hay không.”

Một người mẫu khác thể hiện lo lắng rõ ràng về việc khi rời xa không gian kiềm tỏa của phòng vẽ, những người tham dự có thể thoải mái thủ dâm thay vì chú tâm vào việc vẽ tranh.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Một trong những chủ đề khác của ArtActivistBarbie là bức họa Le Déjeuner sur l’Herbe của Manet, trong đó một phụ nữ trần truồng ngồi kế hai người đàn ông mặc quần áo đầy đủ

Lo lắng của cả hai người phụ nữ này là làm sao có thể thấy được lằn ranh mỏng manh giữa nghệ thuật và khiêu dâm, và việc phải vượt qua được vấn đề này phức tạp ra sao.

Trong một cuộc phỏng vấn, Mary Beard cho rằng khỏa thân luôn có nguy cơ bị biến thành “khiêu dâm mềm cho giới tinh hoa”, và nhận xét này đã bị tấn công bởi những bình luận về bài báo và trên Twitter.

Giống như Boyce, bà phát hiện ra rằng việc cố gắng tạo ra một cuộc thảo luận về chủ đề này sẽ có xu hướng gây ra tâm lý thù nghịch thay vì gợi mở sự quan tâm.

Đó cũng là lý do khiến ArtActivistBarbie, một cô búp bê nhựa bị giới nữ quyền coi là kẻ thù vì định kiến giới, là ý tưởng thông minh của người sáng tạo ra cô.

“Vấn đề là cần thảo luận và bắt đầu nhìn mọi thứ khác đi,” Sarah Williamson cho biết. “AAB khiến điều này có thể được thực hiện một cách vui vẻ và dễ chịu, và từ đó cố gắng tạo ra một thế giới bình đẳng hơn cho nữ giới, để họ không phải chỉ là một thứ vật thể trong ánh nhìn của đàn ông.”

Một trong những nội dung đăng tải có nhiều bình luận nhất của ArtActivistBarbie, là cảnh cô búp bê tạo dáng ở phòng triển lãm, ngay trước bức tranh Le Déjeuner sur l’herbe của Manet.

Trong bức tranh đầu tiên, Barbie cũng trần truồng giống người phụ nữ trong tranh và hai người bạn nam giới của cô mặc quần áo đầy đủ. Nhưng sau đó thiết kế trong tranh bị đảo ngược, với Barbie khoác tấm khăn choàng, trong khi hai người đàn ông lại ở truồng.

Đó là sự đối sánh thú vị và dĩ nhiên là khiến bạn phải suy nghĩ.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Culture.

Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này

Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này

Người ông xuất chúng và kỳ quặc

Suốt thời thơ ấu, bọn trẻ luôn trêu chọc Musk vì cái tên khác thường của anh. Tên Elon của anh được lấy từ người cụ cố John Elon Haldeman- sinh năm 1872 và lớn lên tại Illinois, trước khi chuyển đến Minnesota. Ở đó cụ gặp Almeda Jane Norman, người vợ kém cụ năm tuổi. Đến năm 1902, hai vợ chồng yên bề gia thất trong một ngôi nhà gỗ tại thị trấn Pequot, trung tâm Minnesota và hạ sinh người con trai Joshua Norman Haldeman, ông ngoại của Musk. Khi trưởng thành, ông trở thành một nhân vật kỳ quặc nhưng xuất chúng, và cũng là hình mẫu cho Musk.

Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này - Ảnh 1.

Gia đình cụ cố John Elon Haldeman.

Joshua Norman Haldeman được mô tả như một cậu trai cường tráng và tự lập. Năm 1907, gia đình ông chuyển đến thảo nguyên Saskatchewan; cha ông mất sau đó không lâu khi Joshua chỉ mới bảy tuổi, khiến cậu bé phải sớm phụ giúp gia đình. Ông gắn bó với miền đồng cỏ rộng lớn và tập cưỡi ngựa hoang, quyền anh và đấu vật. Ông chuyên huấn luyện ngựa cho các điền chủ trong vùng, thường tự làm mình bị thương và là một trong những người tổ chức cuộc thi rodeo đầu tiên tại Canada. Trong các bức ảnh gia đình, Joshua thường mặc một chiếc quần da sặc sỡ, trình diễn kỹ xảo tung thòng lọng của mình. Đến tuổi thiếu niên, Haldeman rời nhà để theo học ngành Nắn xương khớp tại Trường Palmer, Iowa, rồi trở về Saskatchewan làm chủ trang trại.

Khi cơn suy thoái kinh tế ập đến vào thập niên 1930, Haldeman lâm vào khủng hoảng tài chính. Ông không đủ sức duy trì các khoản vay ngân hàng để mua trang thiết bị, và 5 nghìn mẫu Anh đất đai đã bị tước đi. “Kể từ đó, cha tôi không còn tin tưởng ở ngân hàng hay muốn nắm giữ tiền bạc nữa”, Scott Haldeman – người nhận bằng bác sĩ nắn xương tại ngôi trường nơi cha ông theo học, và trở thành một trong những chuyên gia về bệnh cột sống hàng đầu thế giới cho biết.

Sau khi để mất trang trại vào khoảng năm 1934, Haldeman sống cuộc đời du cư, một tình cảnh mà cháu trai ông đã tái hiện ở Canada những thập kỷ sau đó. Với chiều cao đến mét chín, ông xin làm những công việc lặt vặt như Công nhân xây dựng hay người biểu diễn rodeo trước khi ổn định với nghề nắn xương khớp.

Đến Nam Phi

Năm 1948, Haldeman kết hôn với Winnifred Josephine Fletcher (còn gọi là Wyn), một vũ sư người Canada, và mở một phòng mạch nắn xương khớp rất phát đạt. Trong cùng năm đó, gia đình – vốn đã có một trai một gái – tiếp tục chào đón cặp chị em sinh đôi Kaye và Maye (tức mẹ của Musk). Bọn trẻ sống trong một căn hộ ba tầng và rộng đến 20 phòng, trong đó có một phòng tập nhảy để Wyn tiếp tục huấn luyện học viên.

Trong lúc tìm kiếm điều gì đó mới mẻ để làm, Haldeman đã chọn thú vui bay lượn và mua một chiếc phi cơ riêng. Gia đình ông bị mang tiếng vì người ta nghe đâu Haldeman và vợ ông thường nhét con cái vào chiếc máy bay một động cơ và lao vào những cuộc du ngoạn trên khắp Bắc Mỹ. Haldeman cũng thường xuyên xuất hiện trong các cuộc họp chính trị hoặc hẹn nắn xương khớp ngay trên máy bay, và sau này đã cùng vợ viết một quyển sách nhan đề The Flying Haldemans: Pity the Poor Private Pilot (Nhà Haldeman bay: Đáng thương thay người phi công tư).

Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này - Ảnh 2.
Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này - Ảnh 3.
Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này - Ảnh 4.

Năm 1950, khi dường như đã có mọi thứ trong tay, Haldeman lại quyết định ném đi tất cả. Vị chính trị gia kiêm bác sĩ này từ lâu đã luôn lên tiếng chống lại hành động can thiệp của chính phủ đối với cuộc sống của người dân, và cho rằng thể chế quan liêu ở Canada quá nhũng nhiễu. Là người cấm tiệt trò văng tục, hút thuốc, Coca-Cola và bột mì tinh luyện ở nhà mình, Haldeman tin rằng phẩm chất đạo đức của người Canada đã bắt đầu tha hóa. Haldeman cũng có một khát khao phiêu lưu vô tận. Thế nên chỉ trong vài tháng, gia đình ông đã bán nhà, phòng tập nhảy cùng phòng mạch nắn xương khớp và quyết định chuyển đến Nam Phi – đất nước Haldeman chưa từng đặt chân đến.

Scott Haldeman còn nhớ ông đã giúp cha mình tháo rời chiếc máy bay Bellanca Cruisair (đời 1948) của gia đình và xếp vào thùng gỗ trước khi chuyển nó đến châu Phi. Khi đến Nam Phi, cả gia đình đã ráp lại chiếc máy bay và dùng nó lùng sục khắp đất nước để tìm một nơi an cư tốt đẹp; cuối cùng, họ dừng chân tại Pretoria, nơi Haldeman lập một phòng nắn xương khớp mới.

Cuộc đời phiêu lưu

Có vẻ như tinh thần phiêu lưu của gia đình Haldeman không có giới hạn. Năm 1952, Joshua và Wyn đã thực hiện chuyến hành trình hơn 35.000 km bằng máy bay của họ, bay qua châu Phi tới Scotland và Na Uy. Wyn giữ vai trò hoa tiêu, và tuy không có bằng phi công, vẫn thỉnh thoảng kiêm luôn nhiệm vụ lái máy bay. Năm 1954, hai vợ chồng đã đưa nỗ lực của họ đến đỉnh cao, khi bay hơn 48.000 km đến nước Úc rồi quay về. Báo chí đưa tin về chuyến hành trình của họ, và tin rằng họ là cặp phi công tư nhân duy nhất từng bay từ châu Phi đến châu Úc trên một chiếc máy bay một động cơ.

Khi không mải bay lượn, nhà Haldeman lại tìm đến những miền đồng cỏ xa xôi, thực hiện những chuyến thám hiểm vĩ đại suốt cả tháng trời để tìm kiếm Thành phố Thất lạc trên Sa mạc Kalahari – một thành phố được cho là bị bỏ hoang ở phía nam châu Phi. Trong bức ảnh gia đình chụp một chuyến du ngoạn như thế là cảnh năm đứa trẻ đang ở giữa đồng cỏ châu Phi. Chúng vây quanh một chiếc ấm kim loại lớn được đun nóng trên than hồng lửa trại, ngồi trên ghế xếp, bắt chéo chân và đọc sách với vẻ thư thái. Phía sau là chiếc Bellanca màu đỏ ruby, một chiếc lều và một chiếc xe hơi. Nhưng khung cảnh thanh bình đó không nói lên được chuyến hành trinh nguy hiểm ra sao.

Xuất chúng, điên rồ, kỳ quặc, mạo hiểm: Tất cả những tính cách đặc trưng thiên tài của Elon Musk đều được kế thừa từ người đàn ông này - Ảnh 5.

Trong một sự cố, chiếc xe tải của gia đình đã đâm vào gốc cây, khiến thanh cản trước xuyên vào bộ tản nhiệt. Mắc kẹt giữa nơi vô định mà không có phương tiện liên lạc nào, Joshua phải dành ba ngày trời để sửa xe, trong khi các thành viên còn lại săn tìm thức ăn. Có những lúc, linh cẩu và báo đốm vây quanh đống lửa trại suốt đêm; và một buổi sáng, cả gia đình thức giấc chợt thấy một con sư tử chỉ cách bàn ăn của họ chừng một mét. Joshua vớ ngay lấy thứ đầu tiên ông tìm được- một chiếc đèn ngủ- khua liên hồi, và bảo nó hãy đi đi. Và nó đã bỏ đi.

Haldeman mất năm 1974 ở tuổi 72. Khi đó, ông đang hạ cánh trên chiếc phi cơ của mình và không nhìn thấy sợi dây điện mắc giữa hai cây cột. Sợi dây vướng vào bánh máy bay và làm nó lật nhào, còn Haldeman bị gãy cổ. Elon khi ấy chỉ mới chập chững tập đi. Nhưng suốt thời thơ ấu, Elon đã nghe kể nhiều câu chuyện về các chiến tích của ông ngoại anh, và ngồi xem mê mệt vô số bức ảnh chiếu lại những chuyến viễn du và hành trình của ông trên miền đồng cỏ.

“Bà tôi kể lại rằng họ đã có vài lần suýt chết trong những chuyến đi của mình,” Musk nói. “Họ cứ thế bay mà hoàn toàn không có thiết bị gì – kể cả radio liên lạc; họ chỉ có bản đồ đường bộ thay cho bản đồ hàng không, trong đó một số cái thậm chí còn không chính xác. Ông tôi có niềm khao khát thám hiểm, khám phá và làm những điều điên rồ.” Elon tin rằng khả năng chịu đựng rủi ro khác thường của anh có thể đã thừa hưởng trực tiếp từ người ông của mình.

(Tham khảo: Elon Musk: Tesla, SpaceX, and the Quest for a Fantastic Future)

Thảo Nguyên / Dpoanh Nghiệp & Tiếp Thị

10 sự kiện kinh tế thế giới nổi bật nhất trong năm 2020

10 sự kiện kinh tế thế giới nổi bật nhất trong năm 2020

Càng ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới yêu cầu ĐCSTQ phải chịu trách nhiệm vì đã che giấu dịch bệnh. (Ảnh: Flick)

Năm 2020 đã khép lại trở thành năm ẩn chứa nhiều nhân tố rủi ro kinh tế – chính trị bất định nhất trong vài thập kỷ gần đây. Thiên nga đen (dịch bệnh) đã cùng lúc hội tụ với Voi trắng (bong bóng nợ) và Tê giác xám (suy giảm kinh tế do chu kỳ) ngay từ đầu năm 2020. Đại dịch cũng làm lộ ra nền kinh tế “kền kền” và tập đoàn kinh tế “kền kền” toàn cầu. Và từ đây, các thông điệp mới, các lối đi mới và cả các sai lầm mới, cũ đều tiếp tục triển hiện… Tất cả tạo nên một sân chơi và diện mạo kinh tế phi truyền thống mới trên toàn cầu.

1. Cuộc hội tụ không mong muốn của Thiên nga đen, Tê giác xám và Voi trắng

Năm 2020 bắt đầu bằng nỗi lo suy giảm kinh tế do chu kỳ (hiện tượng Tê giác xám) và khối nợ toàn cầu (Voi trắng) đã ở mức kỷ lục từ cuối năm 2019. Hai hiện tượng này nếu không tạo ra khủng hoảng thì cũng dẫn đến suy thoái kinh tế kéo dài sau đó. Nhưng thảm họa đại dịch viêm phổi Vũ Hán với nhiều chủng loại virus biến thể, nguồn gốc bất minh, loại sau độc tố lớn loại trước, sức mạnh lây nhiễm đáng kinh ngạc – đã “tập kích” nền kinh tế nhiều lỗ hổng của thế giới; trở thành hiện tượng Thiên nga đen lớn nhất trong nhiều thập kỷ, hội tụ không mong muốn cùng thời điểm với Tê giác xám và Voi trắng. 

Kết thúc năm 2019, tăng trưởng toàn cầu suy giảm mạnh nhất kể từ giai đoạn sau cuộc khủng tài chính toàn cầu bởi thương mại suy giảm, sản xuất giảm. Sự suy giảm tăng trưởng còn đi kèm với lạm phát thấp do tổng cầu yếu bất chấp hơn một thập kỷ bơm tiền giá rẻ trên toàn cầu, kích thích nợ, đầu tư ồ ạt để tạo việc làm và tăng trưởng. Điểm rơi của 2019 vào đúng chu kỳ suy giảm khiến dự báo tăng trưởng cho năm 2020 không mấy khả quan; được xem như hiện tượng Tê giác xám của nền kinh tế. 

Không chỉ vậy, khối nợ toàn cầu ngày một mở rộng và liên tiếp đạt kỷ lục. Năm 2019, nợ toàn cầu gấp 3,22 lần số của cải mà cả hành tinh này làm ra trong một năm (công bố của Viện Tài chính quốc tế IIF). Trung Quốc và Mỹ là hai con nợ lớn nhất của thế giới, chiếm hơn 60% mức tăng trưởng nợ toàn cầu năm 2019. Nợ của các nền kinh tế đang phát triển đạt mức cao nhất mọi thời đại, chiếm tới 168% GDP, tương đương khoảng 55 nghìn tỷ USD, do chi phí vay cực kỳ thấp.

IMF cảnh báo gần 40% nợ doanh nghiệp ở các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Ý và Tây Ban Nha (tương đương khoảng 19 nghìn tỷ USD) có nguy cơ vỡ nợ trong trường hợp nền kinh tế toàn cầu suy thoái. Độ lớn từ khối nợ như một “con voi trắng” vẫn đang lớn, không ai hiểu rõ hết sức nặng và độ lớn của nó có thể tổn hại đến mức nào với tăng trưởng và ổn định kinh tế toàn cầu trước 2020. 

Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 bước vào giai đoạn suy giảm do chu kỳ và chính sách tiền tệ, tài khóa không còn bao nhiêu dư địa để cứu vãn tăng trưởng (Nguồn: Ngân hàng thế giới) 

Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 bước vào giai đoạn suy giảm do chu kỳ và chính sách tiền tệ, tài khóa không còn bao nhiêu dư địa để cứu vãn tăng trưởng (Nguồn: Ngân hàng thế giới)

Ngay trong những ngày đầu năm 2020, “Thiên nga đen” đại dịch xuất hiện làm tê liệt nền kinh tế toàn cầu, đảo loạn mọi trật tự kinh tế – xã hội đã thiết lập hàng thập kỷ trước đó. Cho tới nay, dù vaccine đã xuất hiện nhưng các chủng virus mới cũng vẫn xuất hiện song hành. Thế giới liên tiếp chứng kiến các đợt lây nhiễm lớn trong cộng đồng, đóng cửa nền kinh tế, dừng sản xuất và các gói cứu trợ không tiền lệ được đưa ra nhằm vãn hồi tổn thất.

2. Đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu vì virus viêm phổi Vũ Hán – Tăng động lực thoát Trung khắp toàn cầu

Nhiều thập kỷ qua, đa số các công ty đa quốc gia vì để cạnh tranh về giá cả và chi phí sản xuất đã phải tìm kiếm đối tác là nước thứ ba để gia công một số bộ phận hay toàn bộ sản phẩm. Các chuỗi cung ứng từ nguyên liệu dược phẩm, thực phẩm, điện tử đến cả thiết bị y tế… đều phụ thuộc lớn vào Trung Quốc – nơi vẫn được coi là “đại công xưởng” của thế giới.

Trước đại dịch, Trung Quốc xuất khẩu hơn 80% sản phẩm – bao gồm hàng công nghiệp (linh kiện, phụ kiện đầu vào cho các ngành sản xuất công nghiệp khắp nơi trên thế giới) và tiêu dùng, nguyên liệu thô và thực phẩm – bằng đường biển. Theo trích dẫn từ một cuộc khảo sát vào tháng 2/2020 bởi nhà tư vấn chuỗi cung ứng Đức Kloepfel Consulting và Riskmethods, số liệu cho biết 81% các công ty trong danh sách khảo sát đều dựa vào các nhà cung cấp Trung Quốc. 

Nếu các cảng bị đóng cửa, điều này sẽ dẫn đến sự gián đoạn lớn trong thương mại toàn cầu, tương tự việc nguồn cung dầu từ Ả Rập Xê Út bị gián đoạn. Ở mức độ nhất định, Trung Quốc có “năng lực làm đảo chiều” trong ngành sản xuất. Sự gián đoạn trong sản xuất khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào bế tắc. Thêm vào đó, các ngành du lịch, dịch vụ, vận tải vốn phát triển chóng mặt nhờ toàn cầu hóa hiện đang tê liệt vì hàng chục quốc gia buộc phải đóng cửa biên giới, cấm xuất nhập cảnh để ngăn ngừa virus Corona Vũ Hán.

Lần đầu tiên, vì sự đứt gãy đột ngột của chuỗi cung ứng toàn cầu mà các kệ trong siêu thị lớn của Mỹ, EU trống trơn. Khan hiếm hàng hóa, đặc biệt là hàng phòng hộ dịch (khẩu trang, găng tay y tế, đồ  phòng hộ…) dù đã được lấp đầy sau vài tháng nhưng đã khiến thế giới thức tỉnh trước rủi ro tập trung trong chuỗi cung ứng cũ. 

Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng diễn ra trong thời gian tới là điều tất yếu nhằm giảm sự lệ thuộc vào một “mắt xích”, tăng tính an toàn cho hệ thống, kèm theo đó là các lợi ích của mỗi quốc gia. Các nước phát triển đang chủ động tái cấu trúc lại các chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào Trung Quốc, có thể đối phó với bất kỳ sự kiện bất thường nào xảy ra trong tương lai. 

Chính quyền TT Trump đang đẩy mạnh chương trình rút các chuỗi cung ứng toàn cầu khỏi Trung Quốc với nhiều biện pháp khác nhau và phối hợp với nhiều nước. Đặc biệt, Mỹ đang xúc tiến hình thành một liên minh “những đối tác đáng tin cậy” gọi là “Mạng lưới Thịnh vượng Kinh tế”.Chúng ta đang bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất bởi nó cùng một lúc hội tụ 3 hiện tượng: “Voi trắng”, “Tê giác xám” và “Thiên nga đen”…

Chúng ta đang bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất bởi nó cùng một lúc hội tụ 3 hiện tượng: “Voi trắng”, “Tê giác xám” và “Thiên nga đen”... (Ảnh: NTDVN tổng hợp)

(Ảnh: NTDVN tổng hợp)

Các nước cung cấp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp của mình đầu tư về nước. Các nước EU thúc đẩy kinh tế “tự chủ chiến lược”, kiểm soát đầu tư ra nước ngoài. Đức, Italia quy định chặt chẽ hơn đối với đầu tư ra nước ngoài. Pháp triển khai chiến lược “sản xuất tại Pháp”. Nhật Bản dành khoản ngân sách 2,2 tỷ USD hỗ trợ các doanh nghiệp đưa sản xuất từ Trung Quốc về nước và di chuyển sản xuất. Hàn Quốc ban hành luật thu hút các doanh nghiệp đã đầu tư ở nước ngoài quay về sản xuất, kinh doanh tại Hàn Quốc…

3. Cứu trợ không giới hạn và tương lai u ám của các chính phủ ‘vú em’ 

Mới chỉ 3 tháng đóng cửa do đại dịch, 11 nghìn tỷ USD đã được các chính phủ tung ra thị trường để hỗ trợ chống dịch, giải cứu doanh nghiệp, ngân hàng và tình trạng thất nghiệp trong nửa đầu năm 2020 do Covid-19. Hiển nhiên, với kỷ lục nợ năm 2019; 11 nghìn tỷ USD lần này được các chính phủ tiếp tục gia tăng vay nợ để xử lý khủng hoảng. 

Cho tới thời điểm này, mở rộng các gói cứu trợ xa hoa và chưa có điểm dừng vẫn tiếp tục là nhiệm vụ chính của hầu hết các chính phủ trên toàn cầu. Nhưng dịch chưa hết và suy thoái kinh tế sẽ còn kéo dài cả thập kỷ, kỷ lục nợ thực sự chưa đến hồi kết, rất có thể nó sẽ gấp tới 5 – 6 lần số của cải mà cả thế giới làm ra.

Để giải quyết khủng hoảng, các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, đều mở rộng hầu bao để hỗ trợ các chính phủ. Hầu bao của các tổ chức này chủ yếu đến từ tiền của các cường quốc đóng góp vào, từ các định chế tài chính hàng đầu thế giới. Nói theo cách khác, phần lớn tiền đến từ các tài phiệt tài chính hàng đầu thế giới, nhóm sở hữu phần lớn hệ thống tài chính toàn cầu và quyết định nguyên tắc của cuộc chơi tài chính này. 

Các chính phủ được khuyến khích hoặc đơn giản là học hỏi lẫn nhau trong việc dùng tiền đi vay cứu trợ các tập đoàn kinh tế lớn, các định chế tài chính lớn với lý do rằng nếu không cứu họ thì người dân sẽ mất việc làm, nguồn thu thuế tương lai sẽ giảm… Dĩ nhiên, tương lai, chính phủ thu thuế người dân cả nước để trả nợ. Ngoài ra, một phần tiền lớn cũng dùng để cứu trợ thất nghiệp, đào tạo mới, tái đào tạo lực lượng lao động… 

Nhưng các nghiên cứu về hiệu quả, tác động các gói cứu trợ và chính sách nới lỏng tiền tệ – tài khóa để kích thích tăng trưởng kinh tế tại các nền kinh tế kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 cho tới nay đã cho các bài học sau:

Thứ nhất, giải cứu nợ tư nhân càng lớn thì nợ công càng tăng khiến cơ hội phục hồi sau khủng hoảng càng thấp do gia tăng can thiệp của chính phủ vào thị trường. Đây là kết luận nghiên cứu của Mbeys và cộng sự (2018, IMF) dựa trên số liệu nợ của hơn 100 chính phủ và cách thức chi tiêu công của các chính phủ này trong khủng hoảng chỉ ra rằng các nền kinh tế càng mạnh tay giải cứu thì nợ công càng tăng mạnh, bền vững nợ công càng thấp và sức phục hồi sau khủng hoảng càng hạn chế. 

Thứ hai, nghiên cứu của OECD năm 2017 chỉ ra rằng chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng quá mức, không đúng mục đích, không đúng trọng tâm đã tạo ra một lượng lớn doanh nghiệp “xác sống”, chiếm cứ nguồn lực hữu hạn về vốn, đất đai, làm hạn chế cơ hội tiếp cận nguồn lực của các doanh nghiệp tốt, từ đó hạn chế đổi mới, sáng tạo, quá trình M&A thay máu doanh nghiệp theo nguyên tắc thị trường lành mạnh. Thực chất làm giảm khả năng tự phục hồi của nền kinh tế. Thực tế, doanh nghiệp “xác sống” sẽ tạo ra nhiều doanh nghiệp “xác sống” sau đó… 

Thứ ba, dòng tiền ồ ạt giá rẻ chảy vào nền kinh tế do chính sách tiền tệ nới lỏng và do cả chính sách cứu trợ tài khóa, đầu tư công của chính phủ không hiệu quả đã tạo ra bong bóng giá trên thị trường tài sản có rủi ro cao. Thực tế là tổng tài sản của quỹ ETFs trên toàn cầu đã tăng 863% trong 10 năm (2008-2019) trong khi kinh tế thực phục hồi chậm chạp. Điều này khiến giá thị trường chứng khoán – tại hầu hết các thị trường và phân khúc – đã tăng quá mức so với giá trị thực của các doanh nghiệp, bong bóng bất động sản, thị trường phái sinh phình to bất thường, gây rủi ro lớn tới ổn định tài chính toàn cầu. 

Đáng nói là, tất cả các sai lầm đang tiếp tục lặp lại trong cuộc khủng hoảng lần này, ở mức cao hơn và liều lĩnh hơn vì không ai biết sức tàn phá của con “thiên nga đen” bao giờ mới đạt đỉnh cũng như thời gian tìm ra thứ có thể kìm hãm hay vô hiệu nó. Không phải chính phủ không biết hậu quả tồi tệ của bong bóng nợ, nhưng trong một hệ thống kinh tế – tài chính toàn cầu chạy theo tăng trưởng dựa trên vay nợ, sự phụ thuộc vào nợ đã trở thành chính sách bắt buộc cho nền tảng chính trị và an sinh.

4. Thế giới ngồi trên khối nợ nóng bỏng kỷ lục

Năm 2020 kết lại bằng hậu quả tất yếu là bong bóng nợ nóng bỏng toàn cầu, lập đỉnh kỷ lục mới trong lịch sử kinh tế thế giới, tổng nợ ước tính gấp 3,65 lần GDP toàn cầu (cùng kỳ 2019, nợ toàn cầu gấp 3,22 lần GDP). Nợ toàn cầu tăng thêm gần 8%, khoảng 20 nghìn tỷ USD. 

Nợ công bình quân/GDP trên toàn cầu đã bắt đầu vượt 100% (mức kỷ lục). Con số này rủi ro đến mức nào? Theo tính toán của Ngân hàng thế giới, ngưỡng an toàn nợ công/ GDP là 77%, nếu mức nợ công vượt ngưỡng này, cứ mỗi % gia tăng thêm nợ/GDP sẽ làm tăng trưởng GDP giảm đi 0.017%.

5. Làn sóng vỡ nợ địa phương của Trung Quốc

Chỉ từ tháng 11/2020, hàng loạt doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước như Công ty than đá Yongcheng Coal, Tập đoàn Điện lực Electricity Holdings, Công ty Sản xuất chíp Tsinghua Unigroup, Tập đoàn Brilliance Auto Group Holdings… đã rơi vào tình trạng vỡ nợ trái phiếu. 

Cho đến lúc này, không ai biết được chắc chắn bong bóng nợ địa phương của Trung Quốc lớn đến cỡ nào và bao giờ thì vỡ. Các dấu hiệu cho thấy bong bóng nợ địa phương Trung Quốc giống như một chiếc ung nhọt đã tích lũy lâu ngày và không thể vãn hồi cứu chữa, chỉ đợi đến ngày là bung ra.

Theo số liệu từ Bloomberg, nợ địa phương đến hạn trả năm 2020 của Trung Quốc gấp gần 12 lần năm 2015. Khoản nợ đến hạn phải trả khổng lồ này làm lo ngại bất cứ nhà đầu tư nào.

Theo phân tích của Rhodium Group, hơn một nửa số trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong quý II năm 2020 được sử dụng để tái cấp vốn cho các khoản nợ cũ, không phải để thúc đẩy chi tiêu vốn hoặc thậm chí đầu tư. Trên hầu hết các tỉnh, chi tiêu đầu tư năm 2020 không tăng so với năm 2019. 

Đây là rủi ro tín dụng cực kỳ lớn. Vay để đáo hạn nợ cho thấy khoản đầu tư cũ không hề thu hồi được vốn theo kế hoạch. Việc gì sẽ xảy ra khi địa phương không còn phát hành được nợ nữa? Tức là không còn tiền vay mới để đảo các khoản nợ tiếp theo?

Năm 2020 đánh dấu năm thứ ba liên tiếp vỡ nợ địa phương kỷ lục tại Trung Quốc nhưng nhìn về tương lai còn ảm đạm hơn. Nợ đến hạn sẽ tăng mạnh vào tháng 12/2020 và tháng 3/2021. Làn sóng vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp mới của Trung Quốc sẽ vẫn còn tiếp tục và rất khắc nghiệt, vấn đề không còn là con số nợ bao nhiêu, mà hiện Trung Quốc đang phải đối mặt với làn sóng phá sản, ngừng hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng, bất động sản và công nghệ.

Chính quyền Trung Quốc đã chạy theo mô hình tăng trưởng nóng dựa trên nợ để lấy thành tích, trung ương ép chỉ tiêu tăng trưởng cho chính quyền địa phương; ngược trở lại, địa phương lại có toàn quyền trong việc phát triển công cụ nợ để thực hiện đầu tư công, bơm tiền cho doanh nghiệp nhà nước địa phương. Để tăng nợ nhưng vẫn đảm bảo con số nợ công “đẹp” thì chính quyền trung ương buộc phải ra luật để đảm bảo các khoản nợ địa phương không phải hạch toán vào nợ quốc gia, rất nhiều khoản phải hạch toán ngoại bảng.

Trung Quốc đạt được mục tiêu trước mắt là các chỉ số an toàn nợ công, tín nhiệm chính phủ ở mức cao, hợp lý với thông lệ quốc tế. Nhưng thực tế, bất cân đối, an toàn tài chính của Trung Quốc đã vượt xa rất nhiều so với chuẩn an toàn của thế giới, thậm chí đổ vỡ nợ Trung Quốc có thể gây ra chấn động tài chính toàn cầu.Virus Corona Vũ Hán dường như đang bơm thêm bong bóng cho TTCK toàn cầu…

Virus Corona Vũ Hán dường như đang bơm thêm bong bóng cho TTCK toàn cầu... (Ảnh: Spencer Platt/Getty Images)

(Ảnh: Spencer Platt/Getty Images)

6. TTCK thế giới tăng điên cuồng bất chấp khu vực doanh nghiệp điêu đứng: Đại dịch bơm thêm bong bóng cho TTCK? 

Sức tăng trưởng ngoạn mục của thị trường chứng khoán (TTCK) trong đại dịch viêm phổi Vũ Hán năm 2020 bất chấp sự ảm đạm của nền kinh tế thực, sự đổ vỡ của chuỗi cung ứng, sự khó khăn của lương thực và sự leo thang bất ổn địa chính trị toàn cầu khiến chúng ta không khỏi e ngại. Virus Corona Vũ Hán dường như đang bơm thêm bong bóng cho TTCK toàn cầu.

Trong hai quý đầu năm 2020, TTCK đã tuần tự đạt mức cao kỷ lục vào tháng 2/2020, rồi lao dốc mạnh giảm gần 1/3 giá trị vốn hóa TTCK, rồi lại tăng mạnh trở lại, cũng đột ngột như sự lao dốc trước đó.

Không chỉ trên TTCK Mỹ, tại Châu Á, thậm chí là tại Trung Quốc, nơi xuất sinh đại dịch, cũng phải chịu đựng các “đòn tấn công” đa diện mạnh mẽ trên mọi phương diện chính trị – kinh tế – tài chính. Khi các doanh nghiệp (hàng hóa của TTCK) đang vật lộn với rủi ro, thua lỗ, nợ nần thì TTCK vẫn tăng đến mức “không thể dừng lại”.

Theo lý thuyết, hàng hóa trên TTCK chính là doanh nghiệp, mà doanh nghiệp chẳng phải chính là nền kinh tế thực, nơi hoàn toàn phụ thuộc vào sức khỏe, sự hiệu quả của thể chế, y tế… Khi hàng hóa chất lượng kém, sức sinh lời giảm đi, suy giảm quy mô doanh thu, lợi nhuận, thậm chí rủi ro mất khả năng thanh toán, không có lý do gì giá cả lại có thể tăng. 

TTCK vẫn tăng trưởng ‘bừng bừng” bất chấp nền kinh tế thực rơi vào tăng trưởng trì trệ, chính sách tiền tệ nới lỏng vô hạn định để cứu vớt tăng trưởng, TTCK không còn là hàn thử biểu của nền kinh tế thực nữa mà chỉ phản ánh mức độ mở rộng hay thu hẹp của chính sách tiền tệ.

Ngân hàng thương mại (NHTW) các nước hối hả bơm tiền bất chấp thực trạng kinh tế toàn cầu rơi vào trạng thái hoàn toàn tê liệt. Dòng tiền này, trở thành cứu cánh cho TTCK toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng ảo trên TTCK mà không quan tâm tới kết quả kinh doanh, “sức khỏe” thực sự của hàng hóa (chính là các doanh nghiệp trên thị trường đó). 

Động thái của giá cả cổ phiếu chứng khoán trong đại dịch thoạt đầu có vẻ vô lý, phi lý, thậm chí điên rồ. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, ta lại thấy rõ là các thị trường không phản ứng một cách hoàn toàn mù quáng khi dòng tiền quá dư thừa, quá rẻ trong khi doanh nghiệp và hộ gia đình bế tắc trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh trong cả ngắn, trung và dài hạn. Do vậy, TTCK toàn cầu đã tạo thêm một bong bóng giá mới.

7. Các ông lớn Mỹ Big Tech, Big Media trở thành thế lực nhà nước ngầm: độc quyền, kiểm duyệt thông tin, đánh cắp cuộc bầu cử Mỹ và kiếm bộn tiền từ hỗn loạn

Việc hợp nhất Big Tech với Big Media đã tạo ra một thế giới độc tài kiểu Orwell, nơi sự cuồng loạn tập thể đang chuyển từ những nước như Triều Tiên, Trung Quốc sang những người “không đồng ý với câu chuyện về đại dịch”.

Ông lớn công nghệ, Facebook thậm chí còn xem các bài đăng “đặt câu hỏi về bạo loạn” là “tội phạm” và trừng phạt người dùng. Chúng ta đang chứng kiến một thế giới nơi đúng thành sai, nơi bạo loạn, cướp bóc, nói tục được tôn vinh, nơi “khoa học” và “đạo đức” được thẩm định và quyết định theo tiêu chuẩn của Big Tech, Big Media.

Các tỷ phú Mỹ đã kiếm được 434 tỷ USD chỉ trong hai tháng đầu tiên Mỹ đóng cửa đất nước. Càng nhiều đợt đóng cửa, tài sản tích lũy càng nhiều cho giới công nghệ. Khi hàng chục triệu cá nhân và doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt với phá sản vào Giáng sinh này, cuộc cách mạng làm việc từ xa đang trao “những giải đặc biệt trị giá hàng tỷ USD” cho những người như Jeff Bezos (Amazon) và Mark Zuckerberg (Facebook).

Các hệ thống sinh thái đám mây Azure (Microsoft) và AWS (Amazon), trong số những hệ thống khác, đã mở rộng thêm 50% kể từ khi bắt đầu đại dịch.

Trong cuộc bầu cử Mỹ lần này, Twitter và Facebook đã kiểm duyệt nhóm Trump đến 65 lần, nhưng lại “bảo vệ” ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ, Joe Biden – nhằm đảm bảo rằng những tin tức tồi tệ về nhà Biden và chiến dịch của ông ta sẽ không bị lộ ra. Twitter đã có “đóng góp rất lớn” với 98% trong tổng số các trường hợp kiểm duyệt.

Cả Facebook và Twitter vẫn tiếp tục thao túng thông tin – bằng cách cho phép người dùng xem “những gì phù hợp” – ngay cả sau cuộc bầu cử. Facebook đã sửa đổi nguồn cấp dữ liệu của mình để hạn chế các trang web “thân Trump” và nhấn mạnh rằng các hãng tin tức truyền thống lớn tự hào về việc chống lại Trump.Giám đốc điều hành Google Sundar Pichai và Giám đốc điều hành Facebook Mark Zuckerberg (Tổng hợp)

Giám đốc điều hành Google Sundar Pichai và Giám đốc điều hành Facebook Mark Zuckerberg (Tổng hợp)

Big Tech đã chứng minh rằng họ đã cố hết sức để ảnh hưởng đến cuộc bầu cử bằng cách tiếp tục “ném Trump xuống đất” với sự kiểm duyệt này. Tổng thống Trump và chiến dịch của ông đã bị kiểm duyệt ít nhất 486 lần trên Twitter, với hơn 400 trường hợp xảy ra sau ngày 3 tháng 11.

8. Trung Quốc ra sức kiếm tiền bằng hàng hóa kém chất lượng từ thảm họa khiến thế giới bừng tỉnh và cố gắng thoát Trung

Khi dịch bệnh bùng phát không kiểm soát và chuỗi cung ứng tại Trung Quốc bị gián đoạn, thì khan hiếm vật tư y tế phòng dịch trở thành vấn đề sống còn của y tá, bác sỹ, người dân và của mọi chính phủ nơi có dịch bùng phát. 

Trong lúc này, bất chấp tính mạng của người dân Trung Quốc, Bắc Kinh vội vàng khôi phục lại việc đi làm trở lại và xuất khẩu lượng vật tư y tế khổng lồ trong đại dịch. Không chỉ kiếm tiền, Bắc Kinh còn không ngừng tuyên truyền về hình ảnh “cứu rỗi thế giới” nhờ sản xuất và xuất khẩu hàng vật tư y tế vào thời điểm đó. 

Nhưng sự thực lại khiến cả thế giới bừng tỉnh. 

Trung Quốc đã tạo ra chất độc và đang bán thuốc giải cho thế giới”, chuyên gia đối ngoại Gordon Chang nói với Fox News như vậy. Và một tin không vui với Bắc Kinh là rất nhiều trong số “thuốc giải” mà họ cung cấp là hàng lỗi.

Ngày 29/3, Bộ Y tế Philippines cho biết nước này không sử dụng một số bộ xét nghiệm Covid-19 do Trung Quốc tặng vì thiếu chính xác, theo tờ Philippine Daily Inquirer. Thứ trưởng Y tế Maria Rosario Vergeire cho biết các bộ xét nghiệm chỉ có độ chính xác khoảng 40% so với các bộ xét nghiệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Tây Ban Nha cũng trong tình trạng tương tự khi nhận thấy rằng bộ xét nghiệm nhanh của Trung Quốc được quảng cáo độ chính xác 80%, nhưng kết quả thực tế chỉ đạt 30%. Do vậy, thủ đô Madrid của Tây Ban Nha đã ngừng sử dụng các bộ kit xét nghiệm nhanh COVID-19 được phát triển bởi một công ty Trung Quốc. Đồng thời, Bộ Y tế Tây Ban Nha cũng yêu cầu thay thế bộ kit xét nghiệm này sau khi phát hiện có nhiều sai sót, theo báo SCMP.

Trước đó, Cộng hòa Séc cũng cho biết, khoảng 80% bộ xét nghiệm COVID-19 từ Trung Quốc cho kết quả sai. Do đó, các bác sĩ nước này phải dựa vào phương pháp xét nghiệm truyền thống, trang iROZHLAS của Đài phát thanh Séc hôm 23/3 đưa tin.

Ngày 28/3, Bộ Y tế Hà Lan cũng thu hồi 600.000 chiếc khẩu trang trong số 1,3 triệu khẩu trang được sản xuất ở Trung Quốc do không đạt tiêu chuẩn an toàn. Theo AFP, Bộ Y tế Hà Lan phát hiện khẩu trang có tấm lọc khí bị lỗi và không che kín vùng cần bảo vệ trên mặt.

Có thể thấy, việc Trung Quốc xuất khẩu vật tư y tế kém chất lượng cho các nước không chỉ tiêu tốn chi phí của nước bạn mà còn là tác nhân không nhỏ khiến cho việc kiềm chế đại dịch trở nên khó khăn hơn, do những xét nghiệm sai, do thiết bị bảo hộ không bảo vệ được nhân viên y tế và người dân… 

Cách kiếm tiền thiếu nhân tính khiến chúng ta liên tưởng tới hình ảnh “kền kền” ngửi thấy mùi tử thi và chờ đợi… Thế giới dường như đang thức tỉnh trước một đối tác bất lương – nền kinh tế “kền kền” – kiếm tiền trên thân xác đồng bào và sinh mệnh của nhân loại trên toàn cầu. 

9. Mỹ dứt khoát chặt đứt các vòi hút vốn, công nghệ và ngăn chặn sự bành trướng Biển đông của Trung Quốc

Thu hồi quy chế thương mại đặc biệt đối với Hong Kong: Đây được xem là nhát cắt sâu nhất vào lợi ích của Bắc Kinh. Nhờ vị thế đặc biệt này, Hong Kong tuy thuộc Trung Quốc, nhưng lại được thế giới đối xử như một nền kinh tế phát triển và dân chủ. Bởi vậy, Hong Kong là thị trường và công cụ để Bắc Kinh hút vốn, tiếp cận công nghệ, thâu tóm doanh nghiệp có công nghệ và an ninh trọng yếu của các nền kinh tế lớn trên thế giới. Tuy nhiên, Tổng thống Trump đã ký một lệnh hành pháp hồi tháng 8/2020 thu hồi quy chế thương mại đặc biệt mà Mỹ đã cung cấp cho Hong Kong kể từ năm 1997.

Gần đây, Tổng thống Donald Trump cùng các quan chức hàng đầu trong nội các của ông đã có những phát biểu và hành động cực kỳ cứng rắn, trong cuộc đối đầu toàn diện với ĐCSTQ. (Ảnh tổng hợp)

Gần đây, Tổng thống Donald Trump cùng các quan chức hàng đầu trong nội các của ông đã có những phát biểu và hành động cực kỳ cứng rắn, trong cuộc đối đầu toàn diện với ĐCSTQ. (Ảnh tổng hợp)

Kiểm soát dòng vốn Mỹ đầu tư vào Trung Quốc: Hôm 12/11, Tổng thống Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp đối với việc đầu tư vào Trung Quốc: cấm người Mỹ đầu tư vào 31 công ty Trung Quốc có liên quan đến quân đội của ĐCSTQ, bao gồm Huawei, Hikvision, Inspur Group, China Mobile, China Telecom, AVIC, Tập đoàn Xây dựng Đường sắt Trung Quốc (CRCC), Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (CSIC), Tập đoàn điện tử Panda (Panda Electronics), v.v. Đây là một sắc lệnh hành pháp được ký sau khi chính quyền Tổng thống Trump ra lệnh cấm Huawei, TikTok và WeChat, và nó sẽ có hiệu lực từ ngày 11/1 năm sau. Washington tuyên bố rằng các công ty này là do quân đội Trung Quốc sở hữu hoặc kiểm soát. 

Hàng trăm doanh nghiệp Trung Quốc bị đưa vào danh sách các thực thể bị hạn chế thương mại với Mỹ do đây là các công ty sở hữu hoặc bị kiểm soát bởi quân đội Trung Quốc: Trong đó, nhiều doanh nghiệp đang niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán của EU hoặc của Mỹ cũng bị các sàn giao dịch này loại khỏi rổ tính chỉ số chứng khoán quan trọng. Không chỉ vậy, chính quyền Tổng thống Trump còn xóa bỏ chính sách “ưu ái” cũ của Ủy ban Chứng khoán Mỹ dưới thời Obama cho doanh nghiệp Trung Quốc.

Theo đó, doanh nghiệp Trung Quốc được quyền niêm yết sẽ hút vốn trên các sàn giao dịch chứng khoán Mỹ mà không phải tuân thủ chế độ kiểm toán, minh bạch thông tin giống như các doanh nghiệp Mỹ khác. Việc xóa bỏ chính sách này dự kiến sẽ buộc nhiều doanh nghiệp Trung Quốc phải hủy niêm yết tại Mỹ, tổng gía trị vốn hóa lên tới 1.200 tỷ USD. 

Mạnh mẽ ngăn chặn tham vọng bành trướng Biển đông hòng chiếm đoạt lợi thế thương mại, tài nguyên và địa chính trị: Thông cáo hôm 13/7/2020 của Mỹ nêu rõ: Mỹ đã bác bỏ rằng tuyên bố của Trung Quốc là “hoàn toàn trái pháp luật” – đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi ở hầu hết Biển Đông, một lập trường mà Bắc Kinh cho rằng đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Lần đầu tiên Mỹ biểu thị các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bất hợp pháp. 

Áp đặt lệnh trừng phạt đối với các quan chức Hong Kong và Trung Quốc – Mỹ không thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của chế độ Bắc Kinh: Washington đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Bí thư Đảng Cộng sản khu tự trị Tân Cương Chen Quanguo, một ủy viên Bộ Chính trị quyền lực của Trung Quốc, và ba quan chức khác. Hồi tháng 8/2020, Hoa Kỳ cũng đã trừng phạt 11 quan chức Hong Kong, đóng băng tài sản của Trưởng đặc khu hành chính Hong Kong Carrie Lam; và các cảnh sát trưởng hiện tại và trước đây của thành phố, những người này bị cáo buộc là tìm cách hạn chế quyền tự trị của lãnh thổ và “quyền tự do ngôn luận hoặc hội họp” của người dân. Danh sách trừng phạt các quan chức của Trung Quốc, Hong Kong không ngừng tiếp tục kéo dài và điều này cho thấy Mỹ không thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của chế độ Bắc Kinh.

10. Giá dầu âm kỷ lục

Ngày 20/4 (sáng 21/4 theo giờ Việt Nam) đã trở thành ngày lịch sử của ngành dầu mỏ thế giới, khi giá dầu thô trên Sàn giao dịch New York lần đầu tiên rơi xuống mức giá âm (dưới 0 USD/thùng).

Khái niệm “giá âm” được hiểu là mức giá khi thị trường bán buôn một mặt hàng (như dầu mỏ) ở tình trạng cung vượt quá cầu, theo hãng tin Bloomberg. Hiện nay, tình trạng này đang xảy ra với thị trường dầu mỏ thế giới, khi các kho chứa khắp nơi trên thế giới đã đầy tràn. Dầu thô WTI giao tháng 5 trên sàn New York đóng cửa tuần trước ở 18,27 USD nhưng chốt phiên thứ hai đã lao dốc về âm 37,63 USD một thùng, theo hãng tin CNBC.

Tình trạng sụt giảm kinh tế và nhu cầu tiêu thụ dầu trên phạm vi toàn cầu đã dẫn tới việc làm dư thừa khoảng 20 triệu thùng dầu/ngày trên thị trường dầu mỏ, khiến các kho chứa dầu bị tràn. Một số nhà đầu tư đã phải thuê tàu neo đậu ở các cảng để chứa dầu thô. Ước tính có khoảng 160 triệu thùng dầu nằm ở các tàu chở dầu trên toàn thế giới.

Dịch Covid-19 đã tác động mạnh vào hoạt động kinh tế trên toàn cầu và làm giảm nhu cầu về xăng dầu. Trong khi đó, thỏa thuận cắt giảm sản xuất của OPEC+ và các nước khác được đánh giá không đủ bù đắp nhu cầu nhiên liệu đang rơi tự do vì đại dịch.

Trà Nguyễn / NTD