Những quán nem nướng hút khách ở TP.HCM

Nem nướng là cái tên quen thuộc với bất cứ tín đồ mê món cuốn nào. Nếu chưa biết chọn địa điểm nào để thưởng thức món ăn này, bạn có thể tham khảo các quán dưới đây.

Nem nướng hấp dẫn nhờ hương vị đậm đà. Mẹt nem nướng thường có nem nướng, bánh phở, chả ram, xoài, dưa chuột, nộm chua ngọt, rau sống.

Nem nướng Bé Thảo

Địa chỉ: Hoàng Sa, quận Tân Bình

Giá: 40.000-60.000 đồng

Giờ mở cửa: 10h-22h30

quan nem nuong ngon o TP.HCM anh 1
Ảnh: Maryderoux, quangicungduoc.

Đánh giá của thực khách:

Anh Thi Cao: “Mỗi lần nhóm mình có dịp ăn uống chung là hay đặt nem nướng ở đây. Nước chấm khá ngon, đậm đà, có cả thịt băm. Bánh tráng chiên giòn rụm, đồ chua dưa leo và xoài cho khá nhiều. Tuy nhiên, mình thấy quán cho nem ngày càng ít”.

Thon.foodie: “Mình đã ăn nhiều chỗ nhưng ưng nhất quán này. Phần ăn cho một người khoảng 39.000 đồng gồm nem nướng, bánh tráng chiên, rau sống, cà rốt chua. Nước chấm sền sệt, nóng hổi có vị chua nhẹ. Không gian quán sạch sẽ, mình nghĩ phù hợp với ăn uống gia đình bình thường”.

Nem nướng Đà Lạt Cô Út

Địa chỉ: Vườn Lài, quận Tân Phú

Giờ mở cửa: 7h-13h và 15h30-22h

Giá: 45.000 đồng/phần

Ảnh: Hà Hoàng Trúc Anh.

Đánh giá của thực khách:

Hà Hoàng Trúc Anh: “Nước chấm có vị béo béo, thêm sa tế vào sẽ ngon hơn. Nếu đi nhóm 2-3 người, bạn nên gọi phần thập cẩm có giá 90.000 đồng sẽ rẻ hơn chút, đầy đủ như nem nướng, ram bắp, thịt nướng”.

Thiên Nghi Đoàn: “Mình là tín đồ của món nem nướng nên đi từ quận 3 sang đây để ăn. Mình gọi nem nướng giá 45.000 đồng và bánh hỏi thịt nướng giá 35.000 đồng. Về phần nhìn, mình thấy khá bắt mắt, bún được cắt nhỏ. Bánh tráng khá mềm nên dù niềng răng mình vẫn có thể ăn được. Đối với mình, phần nem hơi ít so với mức giá nhưng có thể chấp nhận được”.

Nem nướng Oanh Vy

Địa chỉ: Nguyễn Trãi, quận 1

Giờ mở cửa: 9h-21h

Giá: 60.000 đồng/phần

quan nem nuong ngon o TP.HCM anh 2
Ảnh: Janfoodie, constance.reportfood.

Đánh giá của thực khách:

Kei: “Trong những quán nem nướng mình từng ăn thì đây là địa chỉ ngon nhất và đáng tiền nhất. Nem khá tươi và chuẩn vị. Rau và đồ chua hợp vị. Bánh tráng ngày trước mỏng nên ăn tiện hơn so với loại dày bây giờ. Mình gọi một phần thấy khá nhiều so với sức ăn. Mình sẽ tiếp tục mua nhiều lần nữa ở đây”.

Constance.reportfood: “Đây là quán nem nướng chuẩn vị Nha Trang mà mình từng ăn ở TP.HCM. Nước chấm nóng hổi, béo ngậy. Một phần ăn khá nhiều so với một người. Quán có bán thêm bún nem nướng, bún chả cá sứa, bánh ướt… khá ổn”.

Nhà nấm

Địa chỉ: Thành Thái, quận 10

Giờ mở cửa: 9h-23h

Giá: 60.000 đồng/phần

quan nem nuong ngon o TP.HCM anh 3
Ảnh: Samlacareview.

Đánh giá của thực khách:

Samlacareview: “Đối với một đứa sành ăn nem nướng Đà Lạt thì đây là quán bạn nên thử. Tất cả mọi thứ đều chỉn chu. Thịt nướng chín đều, ram và chả giò giòn rụm. Chén chấm sốt đậu phộng siêu béo và có thêm thịt băm”.

Nam Phung: “Ở đây, cá nhân mình thấy nem nướng ngon, ăn rất giống quán nem nướng Hạnh Tâm trong chợ Đà Lạt, có khi ngon hơn. Nem ít mỡ, nướng xém thơm lừng. Nước chấm chủ quán pha rất khéo, vừa vị. Đồ chua và các loại rau đa dạng, sạch sẽ”.

Theo Quỳnh Anh / Zing

Lê Thị Lựu, một “Renoir của Việt Nam”

Phải nói thêm rằng bản thân Lê Thị Lựu là một người đàn bà đẹp, một phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Nhan sắc của bà là Cái Đẹp mẫu mực của phụ nữ Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Bà là mơ ước của giới văn chương nghệ sĩ Tự Lực Văn Đoàn. Nếu tôi sống vào thời của bà, e rằng tôi cũng rơi vào tình trạng si mê bà như phái mày râu cùng thời với bà – làm sao kháng cự được sự thu hút của một người đàn bà đẹp và tài hoa như Lê Thị Lựu?  Thụy Khuê mô tả điều này rất rõ ràng:

Thập niên 1930, các báo trong nước đều nhắc tới người nữ họa sĩ đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp thủ khoa khoá III, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương năm 1932. Ra trường nổi tiếng ngay khắp ba kỳ. Đặc biệt báo Phong Hoá, cũng ra đời năm 1932, số 18, nhận định về trường Mỹ Thuật Đông Dương bằng những hàng:

“Ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác đều là người có tài, mỗi người một vẻ riêng… Có một điều đáng ghi là cô Lê Thị Lựu không ngần ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích cánh với bọn hoạ sĩ đàn ông, mà cái hay cái khéo của cô lại hơn người, thật là vẻ vang cho phụ nữ nước nhà”.

Bài viết không ký tên nhưng ta có thể đoán là của Thạch Lam, bởi Thạch Lam là người phụ trách thường xuyên mục phê bình mỹ thuật trên Phong Hoá và Ngày Nay và cũng là nhà văn theo sát sinh hoạt của người nữ họa sĩ đầu tiên của Việt Nam lúc bấy giờ. Thạch Lam đã đặt Lê Thị Lựu cùng hàng với hai họa sĩ đàn anh là Lê Phổ và Mai Trung Thứ (tức Mai Thứ), tốt nghiệp khoá I, năm 1930……….

Những sự kiện này đưa đến thắc mắc: nhà văn trẻ Thạch Lam đã bị nghệ thuật hay sắc đẹp của họa sĩ Lê Thị Lựu chinh phục? Chắc chắn cả hai. Mà không chỉ có Thạch Lam, trong tám năm sống trên đất nước, sau khi tốt nghiệp, Lê Thị Lựu đã làm giáo sư dạy vẽ ở các trường Nam Bắc: trường Bưởi, Hàng Bài, Áo Tím… Trong đám học trò, rất nhiều văn nhân thi sĩ…”.

Tôi rất thích bức “Chân dung Lê Thị Lựu” do họa sĩ Lê Phổ vẽ năm 1935. Qua đó có thể thấy Lê Thị Lựu đẹp một cách sang trọng:

Chân dung Lê Thị Lựu, do Lê Phổ vẽ năm 1935.

Gần đây thị trường đấu giá tranh trên thế giới khá ồn ào bởi sự cạnh tranh và lên ngôi của hội họa Á Đông, đặc biệt là tranh của các danh họa Việt Nam, như tranh của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Trần Đông Lương, … và tất nhiên, cả Lê Thị Lựu nữa. 

Thú thật, tôi không mê tranh theo giá trị đo bằng tiền bán tranh trong các cuộc đấu giá ấy. Tôi mê tranh theo sở thích của bản thân tôi. Tôi không bao giờ ca ngợi một bức tranh cao giá mà chính tôi không thích. Chẳng hạn như tranh của Picasso. Tôi xin thú nhận rằng tôi không thích tranh của Picasso, bất kể thế giới ca ngợi ông ra sao. Ngày xưa, khi tôi tâm sự điều đó với họa sĩ Linh Chi, ông khuyên tôi: “Trong nghệ thuật không thể giả dối. Nếu không thích thì cứ nói không thích. Chân thật như thế là tốt”.

Môtj số tranh vẽ của Lê thị Lựu

Jeune fille dans le jardin (Thiếu nữ trong vườn), Lê Thị Lựu
Nửa chừng xuân 1960-62

LeAn sưu tầm & Biên soạn

‘Tôi kết hôn khi chỉ còn vài tháng để sống’

Phát hiện mắc ung thư tuyến tụy và không còn nhiều thời gian để sống, James (người Anh) bằng mọi giá thực hiện mong mỏi cuối cùng là cử hành hôn lễ với bạn gái Emma.

Tôi gặp Emma tại một sự kiện chán ngắt vào buổi tối mùa xuân năm 2015. Chúng tôi lập tức cảm thấy sự gắn kết. Sau vài buổi hẹn hò, cả hai đều tin rằng mình có tương lai bên nhau.

Giáng sinh năm đó, Emma dọn khỏi căn hộ ở Hove để đến sống cùng tôi trong ngôi nhà tại Brighton – nơi tôi làm quản lý cho một trường tiểu học.

Đều ở độ tuổi ngoài 30, chúng tôi chia sẻ về mong muốn có con trong buổi hẹn hò đầu tiên.

Con trai chúng tôi, Archie, chào đời năm 2018. Khi mới chập chững biết đi, thằng bé giống như cái bóng của bố. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ không được nhìn thấy con lớn lên.

Căn bệnh ập đến

Tôi luôn có thân hình cân đối và khỏe mạnh. Bởi vậy, khi đột nhiên sút cân vào mùa hè năm ngoái, suy nghĩ đầu tiên của tôi là “Tuyệt, giờ mình không cần tốn nhiều thời gian đến phòng tập gym nữa”.

Thế nhưng, tôi cũng bị chán ăn. Sau đó, mọi người bắt đầu lo lắng: “James, có chuyện gì vậy? Trông anh không được ổn lắm”.

ket hon khi chi con vai thang de song anh 1
Một y tá giúp James và Emma chụp lại khoảnh khắc bên nhau. Ảnh: Alex Lake/The Guardian.

Tôi tìm đọc rất nhiều thông tin trên Google và cho rằng mình bị sỏi mật. Nhưng sau khi xem kết quả xét nghiệm máu, bác sĩ yêu cầu tôi đến thẳng bệnh viện để siêu âm.

Các cuộc kiểm tra tiếp theo cho tôi biết rằng mình bị ung thư tuyến tụy, không cách nào chữa khỏi. Nếu tiến hành hóa trị, tôi có thể sống thêm 2 năm.

Tôi cảm thấy như tất cả sinh lực bị rút cạn khỏi cơ thể. Có nhiều đêm mất ngủ, nhưng chúng tôi cố gắng tập trung vào những mặt tích cực và tự nhủ dành nhiều thời gian hơn cho Archie.

Hôn lễ đặc biệt

Một buổi sáng, tôi cầu hôn Emma trong phòng tắm, khi chúng tôi đang đánh răng.

Khi còn làm quản lý một salon, mỗi thứ 7, cô ấy đều tạo kiểu tóc cho các cô dâu và lắng nghe kế hoạch cho ngày trọng đại của họ.

Sẽ chỉ là chuyện nhỏ nếu tổ chức buổi lễ chỉ có riêng hai người. Nhưng chúng tôi muốn ghi dấu khoảnh khắc thiêng liêng ở tòa thị chính Hove.

Bắt đầu chạy đua với thời gian, chúng tôi mua nhẫn và tìm cho Archie bộ trang phục đặc biệt. Ngay sau đó, chức năng gan kém đi khiến tôi phải nhập viện. Tuy nhiên, với chúng tôi, đám cưới vẫn quan trọng hơn tất thảy.

Bác sĩ cố gắng tăng tốc điều trị cho tôi. Nhưng vì sức khỏe giảm sút rõ rệt, tôi không thể đến tòa thị chính.

Charlie, y tá tại khoa ung thư nơi tôi được điều trị, muốn giúp chúng tôi đăng ký kết hôn ở bệnh viện. Điều này không thể xảy ra do các hạn chế phòng dịch Covid-19.

Khi chúng tôi ngậm ngùi chấp nhận hôn lễ chỉ là ước ao xa vời lúc này, Emma bất ngờ nhận được cuộc gọi từ Charlie. Cô ấy nói: “Xin chào. Hôm nay anh chị sẽ kết hôn. Hai người có thể sẵn sàng trong 1 giờ nữa không?”.

ket hon khi chi con vai thang de song anh 2
Năm 2020, VĐV bơi lội Chase Smith (18 tuổi, Mỹ) cũng tổ chức đám cưới với bạn gái cùng tuổi sau khi anh được chẩn đoán chỉ còn sống được ít tháng vì mắc bệnh ung thư xương. Ảnh: ET.

Đó là ngày 11/8, trời rất oi bức. Emma chuẩn bị sẵn đồ tươm tất cho tôi, còn cô ấy mặc chiếc váy cũ và búi tóc cao.

Archie ở nhà với bà ngoại – người phải luôn tay mặc quần áo cho thằng bé, cầm nhẫn giúp chúng tôi và gọi taxi. Trong khi đó, Emma vội vã đến văn phòng đăng ký kết hôn để hoàn thành các thủ tục cần thiết.

Tôi được cấp đủ thuốc để chịu đựng cơn đau trong vài giờ và di chuyển đến trung tâm Macmillan vắng vẻ – nơi các hộ tịch viên đồng ý giúp chúng tôi trở thành vợ chồng hợp pháp.

Charlie trang trí không gian hôn lễ bằng bóng bay, cánh hoa hồng và mang tới tấm thiệp có lời chúc phúc từ hàng xóm trong khu phố của tôi. Cô ấy thậm chí còn xoay xở để làm chiếc bánh kem.

Trong khi các hộ tịch viên đeo kính chống giọt bắn, chúng tôi phải mang khẩu trang trong suốt buổi lễ. Một y tá giúp chúng tôi lưu lại bức ảnh duy nhất trên điện thoại. Bấy nhiêu thôi cũng đủ nói lên niềm vui mà chúng tôi đang cảm nhận.

Tôi chỉ nhớ mình đã nghĩ: Không gì có thể khiến giây phút này hoàn hảo hơn.

Hôm sau, chúng tôi phải đối diện thực tế phũ phàng. Kết quả đợt kiểm tra mới nhất cho thấy tôi có thể chỉ còn 6-8 tháng nữa. Điều đó giáng một đòn khá cay đắng lên tôi.

Tôi sợ hãi khi mường tượng những gì sẽ xảy ra với Emma và Archie sau khi tôi không còn trên đời.

Cuối năm đó, tôi nghỉ việc ở trường học. Nhờ sự giúp đỡ của nhiều người trong sự kiện gây quỹ cộng đồng mà bạn tôi lập ra, chúng tôi trả xong khoản thế chấp căn hộ cũ của Emma và chuyển đến đây sống.

Trải qua mùa Giáng sinh ấm áp, tháng 1 lại mang đến tiên lượng mới khi tôi chỉ còn vài tuần để sống. Thế nhưng, trong vài tháng, tôi đã trải qua những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời.

Tôi tìm thấy sự bình yên khi biết gia đình mình sẽ có mái ấm sau khi mình ra đi. Tôi quyết tâm tận dụng từng ngày quý giá còn lại.

* James được The Guardian phỏng vấn vào cuối năm 2020. Tháng 1 vừa qua, sức khỏe của anh diễn biến xấu. James trút hơi thở cuối cùng vào ngày 31/1. Emma nói rằng với những người trân quý James, chồng cô “sẽ luôn được nhớ đến như người chồng, người cha tuyệt vời, cậu con trai hiếu thảo, anh trai chu đáo và người bạn tốt bụng”.

Thiên Nhi / Zing

VỀ TẾT – Tùy bút của Trần An

Tùy bút của Trần An 

Gần cuối năm, ríu rít bạn bè và người thân hỏi: bao giờ về Tết? Sáng 29, hỏi cô hàng hoa ngày mai em còn bán không; cô trả lời: có chị ạ, năm nay em ăn Tết ở đây. Chợt nghĩ, có rất nhiều từ trong tiếng Việt gắn liền với “Tết”: ăn Tết, nghỉ Tết, đón Tết, chợ Tết, hoa Tết, chơi Tết, vui Tết, chúc Tết, câu đối Tết, xin chữ Tết, lì xì Tết, tàu xe Tết, trực Tết, thưởng Tết, sắm Tết, tiêu Tết, hoặc là mất Tết, ngại Tết, sợ Tết, trốn Tết. Quá nhiều biểu cảm, nhưng mình đặc biệt thích từ “về Tết”.

“Về Tết” gợi nên hình ảnh con đường.
Là hối hả những dòng người xe tấp nập trên mọi nẻo đường, có sốt ruột, có bức xúc, có ngại ngần nhưng đã thành quen, mọi người đều kiên nhẫn để hòa vào và vượt thoát ra khỏi dòng sông bất tận người-xe đó để về tới đích. Nhưng “Về Tết” còn là những con đường hiện lên trong giấc mơ của những người xa quê vì nhiều lý do không thể trở về, khắc khoải nỗi trống vắng trong tim.

“Về Tết” gợi nên hình ảnh một nơi chốn trở về. 
Là ngôi nhà của cha mẹ dưới bóng cây xanh mát, bên giếng thơi trong và ngọt, vào dịp Tết nghi ngút khói bếp của nồi bánh chưng; hay là căn nhà ở phố của ba mẹ nồng nàn mùi hương lá mùi già của nồi nước tắm cuối năm, mùi hương trầm quyện những cánh hoa đào rụng vương đâu đó ở góc phòng… Đâu có gì nhiều nhặn, người đi nhớ, người ở mong, thế là thành nơi chốn khiến người dù đi muôn nơi vẫn không nguôi một khát khao cháy bỏng được trở về.

“Về Tết” còn gợi nên một hợp thể không gian-thời gian đặc biệt.
Là khoảng thời gian chùng lại sau một dòng thời gian bất tận những lo toan. Là khoảng thời gian mà dường như mọi lao xao cuộc sống dừng lại ngoài cánh cửa. Nhà nhà dọn dẹp nhà cửa, trang trí tô vẽ cho cái tổ mà trong năm có thể đôi khi chưa thật ấm; người người tíu tít sắp xếp, bày biện mọi thứ theo cái cách cảm nhận truyền thống của từng gia đình. Là khoảng thời gian của đoàn tụ, sum vầy, người trong nhà đối diện nhau rồi tự ngẫm nghĩ: trong một năm qua, mình đã có gì không phải với những người đang là một phần đời của mình; trong giây phút đoàn viên này, có điều gì cần tha thứ và buông bỏ?

“Về Tết” là sự trở về với bản thân mình.
Bị bứt khỏi không gian xã hội, vào dịp Tết, mỗi người tạm bỏ qua những hơn-thua, được-mất ngoài đời để đối diện với những sâu thẳm của bản thân: một năm qua, có niềm vui sống nào đã trải, có ước vọng dang dở nào tiếp tục không thành; có niềm hy vọng nào cần nhen nhóm? “Về Tết” cũng là về với những buộc ràng thắm thiết nhất của một đời người, để trân trọng hơn với người và độ lượng thêm một chút với mình.

Bao nhiêu là ý nghĩa, “Về Tết” là một chuyến đi đặc biệt trong năm, đi chính là trở về. 
Chúc mọi người cùng với gia đình chia sẻ thời khắc giao thừa và an nhiên đến với những giây phút đầu tiên của Nguyên đán – buổi sáng đầu tiên của năm – với những hy vọng tốt lành.

Theo Tễu Blog

Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn

Trong quá trình tồn tại của mình từ năm 27 trước Công Nguyên, đế quốc La Mã đã chứng kiến quá nhiều thăng trầm. Sau hai thế kỷ đầu thịnh vượng là một giai đoạn bất ổn định và khủng hoảng, khiến đế quốc bị chia đôi. Trong thế kỷ tồn tại thứ tư, sự xuất hiện của Constantine Đại Đế mở đầu cho sự nở rộ của Kitô giáo. Thế kỷ thứ năm, sau sự sụp đổ của Tây La Mã, đế quốc La Mã hợp nhất lại thành đế quốc Byzantine (đặt theo tên của thủ đô Byzantium mà Constantine Đại Đế trước đó lựa chọn), và trải qua 1000 năm cho đến khi hoàn toàn thất thủ trước Đế quốc Ottoman. Trải dài trên một diện tích rộng lớn xung quanh Địa Trung Hải, bao gồm châu Âu, Bắc Phi, và Đông Á, đế quốc La Mã nói chung đã đặt định một nền tảng quan trọng cho văn hóa nhân loại. Từ ngôn ngữ, nghệ thuật, triết học, cho đến luật pháp, không có lĩnh vực nào của phương Tây không chịu ảnh hưởng của đế quốc này. Và tất nhiên, lịch sử của nó vào những thế kỷ đầu cũng để lại rất nhiều bài học cho hậu thế, đặc biệt là ba lần dịch bệnh lớn nhất được ghi chép lại, gọi là: đại dịch Antonine (165 – 180 SCN), đại dịch Cyprian (249 – 262 SCN) và đại dịch Justinian (541 – 542 SCN); cùng rất nhiều lần dịch bệnh lớn nhỏ vào thời kỳ chia cắt Đông – Tây.

Đại dịch được cho là có ảnh hưởng nặng nề nhất tới đế quốc La Mã là Justinian. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể hình dung được sự tàn khốc của dịch bệnh thời ấy thông qua những miêu tả trong cuốn “Thánh đồ truyện” (Biographies of Eastern Saints) của tác giả kiêm nhà sử học John (John of Ephesus: 507-588); và nhà sử học Evagrius Scholasticus (536 – 594).

Trong quá trình thu thập tư liệu về cuộc đời của các Thánh, John đã chứng kiến lần bệnh dịch ở Constantinople. Còn nhà sử học Evagrius thì tự mình trải nghiệm dịch bệnh và sống sót vào thời trai trẻ, và đã chứng kiến dịch bệnh giết chết vợ, người thân, cùng lượng lớn dân số La Mã.

Những ghi chép về cảnh tượng thời ấy
Khắp nơi đều là “thi thể đã thối rữa nằm ở trên đường do không được ai chôn cất”. Đâu đâu cũng có những con đường đầy người chết và những “hình người” khiến tất cả những ai chứng kiến đều vô cùng sợ hãi và kinh hoàng. Bụng của họ sưng lên, máu và mủ ào ạt chảy ra từ miệng, mắt họ đỏ ngầu, tay với lên cao. Thi thể nối tiếp thi thể thối rữa nằm trên đường, trong những con ngõ, trước cửa sân nhà và giáo đường.

“Trong làn sương mù trên biển, có những con tàu chỉ vì thuyền viên phải chịu sự trừng phạt đầy phẫn nộ của Thượng đế mà trở thành những phần mộ trôi nổi trên sóng.”

Trên đồng “phủ đầy những cây ngũ cốc đã bạc màu”, mà chẳng hề có ai thu hoạch. “Những đàn cừu, sơn dương, bò và lợn gần như trở thành động vật hoang dã, những loài động vật chăn nuôi này dường như đã quên đi cuộc sống cày bừa và giọng của loài người đã từng nuôi chúng.”

“Có khi người ta đang nói chuyện với nhau thì đột nhiên bắt đầu run lên rồi ngã xuống đường hoặc trong nhà. Khi một người đang làm đồ thủ công, có thể anh ta sẽ ngã lăn sang bên cạnh và chết.”

Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn

(Tranh: The Plague at Ashdod, Họa sĩ Nicolas Poussin, 1630, Louvre Museum, Public Domain, Wikipedia)
“Có người ra chợ mua ít nhu yếu phẩm, khi đang đứng đó nói chuyện hoặc trả giá, cái chết sẽ đến với cả người mua và người bán một cách rất đột ngột, hàng hóa và tiền vẫn nằm đó nhưng không còn ai nhặt lên nữa.”

Số người chết ở Constantinople không thể đếm xuể, “Chỉ trong một ngày, có năm nghìn đến bảy nghìn người, thậm chí có thể lên đến mười hai nghìn đến mười sáu nghìn người rời khỏi thế gian. Do đây chỉ mới là bắt đầu, các nhân viên chính quyền thì đang đếm số người chết ở các bến cảng, các ngã tư đường và trước cổng thành.”

“Cứ như thế, người ở Constantinople dần dần đi đến bước đường hủy diệt, chỉ còn số ít người may mắn sống sót. Nếu như chỉ xét đến những người chết ở trên đường, giá như có người có thể nói ra số người chết cụ thể thực tế, chỉ ước đoán là hơn ba trăm nghìn người thiệt mạng ở trên đường. Những người chịu trách nhiệm thống kê số người chết hễ mà đếm không nổi nữa thì trực tiếp đẩy xác chết ra khỏi thành.” Hơn nữa chính quyền ở đó đã không còn tìm thấy đủ nơi để chôn cất nữa. “Do không có người kéo đi, cũng không có người đào mộ nên thi thể chỉ còn cách bị vứt trên đường, cả thành phố đầy mùi xác thối.”

Sau khi dùng hết mộ, người chết bị ném xuống biển. Số lượng lớn các thi thể bị đưa đến bờ biển. Hàng ngàn hàng vạn thi thể “chất đầy bờ biển, giống như những thứ trôi nổi trên sông trôi theo dòng ra biển lớn.” Tuy tất cả những con tàu chỉ qua lại như con thoi, không ngừng lại mà cứ thế hướng về biển, mang theo những thứ hàng đáng sợ, nhưng nếu muốn đếm được tất cả số tử thi thì vẫn là điều không thể.

Vì thế Hoàng Đế quyết định sử dụng cách xử lý thi thể khác: xây một ngôi mộ khổng lồ, mỗi phần mộ có thể chứa được bảy mươi nghìn thi thể. “Do thiếu không gian nên nam, nữ, người trẻ, trẻ em đều bị ép cùng nhau, giống như vữa bị vô số những đôi chân dẫm đạp lên. Tiếp đó, họ ném vô số thi thể xuống, nam nữ quý tộc, người nhà, thanh niên và cả trẻ em và trẻ sơ sinh đều bị ném xuống như thế, ở phía dưới đáy còn bị ném đến vỡ nát.”

“Mỗi vương quốc, vùng lãnh thổ, khu vực và những thành phố hùng mạnh, toàn bộ người dân đều bị bệnh dịch đùa giỡn trong lòng bàn tay.”

Thông qua miêu tả chi tiết của John, chúng ta phần nào như thể tự mình chứng kiến, lòng chúng ta cũng trở nên run rẩy. Bệnh dịch đáng sợ như thế đó: nó xảy ra chớp nhoáng mà không hình không tướng, con người ta bất cứ lúc nào cũng đối diện với cái chết.

Cũng không phải là quá nếu nói “xác chết rải rác” để hình dung tình trạng thảm khốc lúc đó. Nhà sử học Evagrius thì miêu tả: “Trên cơ thể của vài người, nó bắt đầu từ trên đầu, mắt họ chảy máu, mặt sung lên, tiếp đó là hô hấp khó khăn, sau đó thì những người này chết đi… nội tạng của vài người bị lộ ra ngoài; có người bị viêm hạch ở háng, mủ lan khắp người, và sốt cao, những người này sẽ chết trong vòng hai ba ngày. Có loại dịch bệnh mà người mắc có thể kéo dài vài ngày, nhưng có loại thì người bệnh sẽ chết trong chỉ vài phút sau khi phát bệnh. Có những người bị nhiễm bệnh một hai lần là lại khỏi, nhưng sau đó bị nhiễm lần thứ ba thì chết.”

Từ Pelusium đến cảng Alexandria ở Ai Cập, mọi nơi từ Constantinople đến đế quốc La Mã, lần đầu tiên dịch bệnh lan khắp cả La Mã. 1/3 số người chết bởi trận dịch bệnh này. Còn ở thủ đô Constantinople, có hơn nửa số dân chúng thiệt mạng. Đó chỉ mới là ghi chép về một trong 3 đại dịch lớn nhất của đế quốc La Mã, đại dịch Justinian.

Một số nhà sử học hiện đại không thừa nhận những ghi chép về dịch bệnh được viết bởi các sử gia Kitô giáo và cho rằng số lượng người thiệt mạng đã bị nói quá lên để có lợi cho việc truyền bá tín ngưỡng. Tuy nhiên, các nghiên cứu khảo cổ học mới đây đã phần nào chứng minh cho những ghi chép này.

Rốt cuộc La Mã đã xảy ra chuyện gì?
Tại sao lại bộc phát dịch bệnh đáng sợ quy mô lớn như thế? Tại sao có những người tiếp xúc gần gũi với người bệnh sau đó vẫn sống? Người may mắn sống sót khi đó là tác giả John đã nhận ra rằng: Đây là sự trừng phạt của Thượng Đế!

Để người sau này biết được sự tàn khốc của dịch bệnh và có được ví dụ thực tế, John đã viết ra những lời khuyên ngay trong khi ông trải qua đau đớn. “Khi một kẻ bất hạnh là tôi đây muốn ghi chép lại những sự kiện này vào tài liệu lịch sử, có rất nhiều lần dòng tư duy của tôi bị tê liệt. Hơn nữa, xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, tôi muốn quên đi tất cả: bởi vì đây xem như là tất cả những lời tôi muốn nói, cũng là những lời khó mà kể được; ngoài ra, còn bởi vì khi cả thế giới đều quay cuồng, đi đến bước đổ sập, khi mà thời gian sinh tồn của một thế hệ người đang bị rút dần đi, xem như là có thể ghi chép lại một phần nhỏ những sự kiện này, thì có tác dụng gì chứ? Còn người ghi tại tất cả mọi thứ thì là đang ghi chép lại cho ai đây?”

Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn

(Tranh: Plague in an Ancient City, họa sĩ Michiel Sweerts, 1652-1654, Los Angeles County Museum of Art, Public Domain, Wikipedia)
“Thế nhưng, tôi lại nghĩ, dùng ngòi bút của tôi, để thế hệ sau của chúng tôi biết được một phần nhỏ trong vô số những sự kiện mà Thượng Đế trừng phạt chúng tôi, thì hẳn là không sai đâu. Có lẽ trong những năm tháng còn lại của thế giới sau chúng tôi, thế hệ sau sẽ cảm thấy kinh hoàng và hoảng sợ với tai họa đáng sợ mà chúng tôi phải chịu do tội của chính chúng tôi, đồng thời có thể trở nên sáng suốt hơn vì sự trừng phạt mà những kẻ bất hạnh như chúng tôi phải chịu, từ đó có thể cứu được chính họ khỏi sự phẫn nộ của Thượng Đế cũng như tương lai đau khổ của họ.”

Nếu như không phải là sự trừng phạt của Thượng Đế thì quả thật là có rất nhiều việc khó có thể giải thích rõ ràng được. Như nhà sử học Evagrius đã viết về sự kỳ lạ của bệnh dịch:

“Có người đã thoát ly nơi thành phố bị nhiễm bệnh, hơn nữa bản thân họ còn rất khỏe mạnh nhưng chính họ lại truyền bệnh cho những người không bị nhiễm bệnh. Cũng có một số người thậm chí là sống giữa những người bệnh, không chỉ ở cùng với người bệnh mà còn tiếp xúc với những người đã chết nhưng họ hoàn toàn không bị lây nhiễm.”

“Cũng có người vì mất đi con cái và người thân nên chủ động muốn chết theo, hơn nữa họ còn gần gũi hơn với người bệnh để mong cho chết mau hơn, nhưng dường như căn bệnh lại từ chối ý muốn đó, dù cho họ có làm cách nào thì vẫn cứ khỏe mạnh như trước.”

Vậy thì tại sao Thượng Đế lại phải trừng phạt Đế quốc La Mã? Hãy xem người La Mã lúc bấy giờ đã làm những gì khiến Thượng Đế phẫn nộ đến thế. Chắc hẳn đó là sự đàn áp đạo Kitô và các tín đồ Kitô đã khiến cả người và Thần cùng tức giận, mà sự đàn áp này xảy ra trong suốt 300 năm.

Tín đồ Kitô bị đem cho sư tử xé xác trong đấu trường như một trò mua vui trước sự chứng kiến của người dân La Mã. (Tranh: The Christian Martyrs’ Last Prayer, Họa sĩ Jean-Léon Gérôme, 1863-1883, Walters Art Museum, Public Domain, Wikipedia)
Năm 64 sau CN, Nero đốt thành La Mã và đổ tội cho tín đồ Kitô, đây là lần đàn áp tín đồ Kitô đầu tiên trong lịch sử đế quốc La Mã. Sau Nero, còn có nhiều hoàng đế khác đàn áp tín đồ Kitô, từ năm 64 sau CN đến đầu thế kỷ thứ 4, tổng cộng đã xảy ra hơn mười lần đàn áp như thế. Hình phạt dành cho các tín đồ có thể kể đến như: đóng đinh vào giá chữ thập, khoác da thú để ác thú cắn chết, đóng đinh họ vào cột làm đuốc dần dần thiêu chết… Các tín đồ Kitô hoặc là lựa chọn hối lỗi, hoặc lựa chọn cái chết. Rất nhiều tín đồ không từ bỏ đức tin bị giết. Chính từ sự đàn áp đối với tín đồ Kitô mà đế quốc La Mã bắt đầu liên tiếp phải chịu hậu quả từ thiên tai và dịch bệnh, tình hình kinh tế không ngừng xấu đi, đi đến bước đường suy vong.

Cổ ngữ phương Đông có câu: “Thiện ác cuối cùng rồi cũng có báo ứng, chỉ đến sớm hay đến muộn mà thôi.” Báo ứng có hiện báo, sinh báo, và hậu báo. Các đại dịch Antonine (165 – 180 SCN), Cyprian (249 – 262 SCN) có thể nói là ứng vào hiện báo và sinh báo. Còn hậu báo như Justinian (541 – 542 SCN) lại là trầm trọng mà khó nhận biết nhất. Phần đế quốc La Mã (đế quốc Byzantine) mà Constantine Đại Đế (272-337 SCN) sùng đạo đặt định cơ sở tại Byzantium thì trường tồn thêm 1000 năm, trong khi phần đế quốc còn lại thì đoản mệnh. Nhân nói đến chuyện hậu báo và đàn áp Kitô này, người Do Thái chẳng phải cũng vì giết Chúa mà tha hương, chịu đủ loại cay đắng khốc liệt, mong mỏi bao nhiêu năm chờ ngày Israel phục quốc tại Jerusalem đó sao? (Xem bài: Chuyện người Do Thái phục quốc – P6: Không chỉ là phục quốc)

Còn có người hỏi, vậy vì sao không chỉ những cá nhân ra lệnh và thi hành đàn áp, mà cả những người dân thường cũng phải chịu cảnh báo ứng, cả thế hệ sau cũng chịu cảnh báo ứng? Khi những tín đồ Kitô bị đem ra làm thú vui trong đấu trường, thì ai là những người cổ vũ và hứng khởi trên ghế khán giả? Khi những tín đồ Kitô bị lùng bắt và bị giết vô đạo, thì có ai dám đứng ra nói lời ngay chính thay cho họ? Thờ ơ trước cái ác và bán đứng lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác? Tổ tiên làm, con cháu chịu, đây là quan niệm mà người phương Đông thời xưa hiểu vô cùng rõ.

Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn

Tín đồ Kitô bị treo lên làm “đuốc thịt” mua vui cho vua quan La Mã. (Tranh: Nero’s Torches, Họa sĩ Henryk Siemiradzki, 1876, National Museum Kraków, Public Domain, Wikipedia)
Lịch sử lặp lại, con người ngày nay cũng có bao nhiêu người hy vọng giống như John “có thể trở nên sáng suốt hơn vì sự trừng phạt mà những kẻ bất hạnh như chúng ta phải chịu”, từ đó có thể cứu được chính họ khỏi sự phẫn nộ của Thượng Đế cũng như tương lai đau khổ? Và có bao nhiêu người biết rằng Thượng Đế đã luôn cảnh báo chúng ta?

Nhìn lại thế giới ngày nay, không ít người vì kiên định với tín ngưỡng của bản thân mà đang bị đàn áp mạnh mẽ, bị bắt nhốt vào trại giam và trại giáo dưỡng chịu tra tấn, có rất nhiều người bị giết, và có vô số người bị ép phải bỏ nhà đi… Cũng có không ít người trẻ tuổi kiên định niềm tin vào tự do và lẽ phải mà bị đàn áp. Nếu như thật sự có sự tồn tại của Thần linh, vậy thì các Thần trên trời kia liệu có thể khoan dung được hành vi trái lẽ trời này? Dịch bệnh ở đâu đều là sự cảnh tỉnh đối người con người, nếu như con người còn không tỉnh ngộ thì cảnh tượng tàn khốc năm đó ở đế quốc La Mã rất có khả năng sẽ lại xảy ra.

“Trời không tuyệt đường của con người”, Trời vẫn rất thương xót con người, vẫn còn đang đợi con người tỉnh ngộ, nhưng thời gian còn bao lâu? Con người chúng ta tuyệt đối đừng đợi đến khi tai họa thật sự giáng xuống thì mới thức tỉnh, khi đó thì mọi thứ đều đã quá muộn màng.

An Hòa / TrithucVN