Ngôi nhà mộc nhiều cây xanh của gia đình trẻ

Căn nhà tại quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng mang vẻ đẹp mộc mạc với những món đồ handmade của vợ chồng trẻ đều là kiến trúc sư.

Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 1
Công trình được thực hiện bởi các kiến trúc sư của XR Studio nằm trên khu đất với diện tích 210 m2, mặt tiền hướng Tây – Nam, tọa lạc trong khu dân cư với bối cảnh xung quanh là những ngôi nhà 3-4 tầng với mật độ khá thưa thớt.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 2
Ngôi nhà tạo nên một nơi ở cho gia đình nhỏ 4 thành viên gồm vợ chồng và 2 con nhỏ, yêu cầu đảm bảo tính riêng tư trong công trình đồng thời hòa quyện với nắng, gió và cây xanh. Cùng với đó, các KTS hạn chế việc sử dụng năng lượng trong công trình, đảm bảo tính bền vững và tiết kiệm cho nhu cầu sử dụng lâu dài.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 3
Vì mảnh đất mặt tiền hướng Tây – Nam khá nóng nên các KTS hạn chế trổ cửa ở hướng này, trồng thêm cây lớn che nắng vào mùa hè oi bức, xây tường hai lớp, ốp đá để giảm bức xạ nhiệt lên bề mặt. Mặt tiền chính chuyển sang hướng Đông – Nam và thêm khoảng sân vườn trải dài để tạo không gian cho cả nhà vui chơi.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 4
Khoảng thông tầng ở giữa nhà và trên mái, tạo sự đối lưu, thông thoáng cho ngôi nhà. Thêm vào đó là một khoảng lam che nắng bớt cho mặt đứng bên và tạo hiệu ứng ánh sáng.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 5
Vườn nhỏ trước nhà che nắng cho hướng Tây – Nam, vườn lớn bên nhà là khoảng không gian sinh hoạt chính ngoài trời. Xung quanh nhà còn được bao bọc bởi những hàng trúc cần câu, chuối cảnh. Vì cây xanh tương đối nhiều nên chủ nhà cũng lắp đặt hệ thống tưới riêng.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 6
Ý tưởng thiết kế dựa trên sự đặc rỗng về hình khối, nhìn bên ngoài thì ngôi nhà như một khối đặc nhưng bên trong chủ yếu không gian mở. Không gian bếp và phòng ăn có màu sắc đen – trắng tương phản với một số điểm nhấn ấn tượng ở cách thiết kế nội thất.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 7
Đá ốp tường bếp có hoa văn nhiều màu sắc mang đến cảm giác gần gũi, trẻ trung và tươi sáng.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 8
Bên cạnh đó là sự đề cao về thông gió, chiếu sáng, mảng xanh với tinh thần đơn giản mà tinh tế. Từ đó tạo cảm giác thoải mái dễ chịu để “nhà là nơi để tận hưởng cuộc sống sau những lúc mệt mỏi”.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 9
Phòng ngủ tràn ngập ánh nắng với gam màu trẻ trung và tầm nhìn thẳng ra vườn cây xanh.
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 10
Vì chủ nhà yêu thích sự mộc mạc nên những đồ handmade được làm từ chất liệu tự nhiên, nhỏ xinh như mây, tre, gỗ,…
Ngoi nha moc mac nhieu cay xanh anh 11
Khu vực vệ sinh được thiết kế với phong cách đơn giản, trang nhã.
Hà Bùi / Zing

Chuyện Mạnh mẫu dạy con trở thành người tài đức

Thời cổ đại, người ta coi “giúp chồng, dạy con” vừa là trách nhiệm, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm hạnh của một người phụ nữ trong gia đình. Bởi vậy, rất nhiều vị quan vừa có tài vừa đức thời xưa đều là chịu ảnh hưởng từ cách giáo dục của người mẹ.

Nói đến người phụ nữ xưa, ngày nay người ta thường nghĩ rằng họ là những người kém hiểu biết, an phận. Nhưng kỳ thực người mẹ trí tuệ thời xưa lại vô cùng chú trọng đến việc bồi dưỡng phẩm đức và tri thức không chỉ cho bản thân  mà còn cho con cái mình.

Nhờ sự chỉ dạy của người mẹ, đã có rất nhiều người con trở thành những vị quan tốt bụng, thanh liêm chính trực được người đời ca ngợi. Dưới đây là phương pháp dạy con của Mạnh mẫu – mẹ của Mạnh Tông.

Phương pháp dạy con thành người tài đức của bậc hiền nhân xưa

(Tranh qua Kknews.cc)
Mạnh Tông (? – 271), tên tự là Cung Vũ, người huyện Giang Hạ (huyện Hiếu Xương, tỉnh Hồ Bắc ngày nay). Nhưng vì tên tự của Hoàng đế Ngô Mạt Đế Tôn Hạo là Nguyên Tông, nên về sau Mạnh Tông đã đổi tên mình thành Mạnh Nhân. Ông xuất thân nghèo khổ, về sau làm quan đến chức Tư Không cho nước Ngô, là trọng thần của nhà Ngô thời Tam Quốc, nhiều lần đảm nhiệm chức quan hiển hách.

Mạnh Nhân là người con hiếu thảo nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa. Trong “Nhị thập tứ hiếu” (24 tấm gương hiếu thảo), có điển cố “Khóc đến khi măng mọc” kể về tấm gương hiếu thảo của ông. Chuyện kể rằng Mạnh Nhân vì không có măng cho mẹ đang bị bệnh ăn nên đã khóc rất thảm thương ở bụi tre, khiến trời đất cũng thương tình mà cho măng mọc. Mạnh mẫu chính là người quan trọng nhất trong cuộc đời Mạnh Nhân, mọi hành vi của ông đều là theo gương của mẹ, là kết quả từ sự tận tâm chỉ dạy của mẹ ông.

Ngay từ khi Mạnh Nhân còn nhỏ, Mạnh mẫu đã bắt đầu tiến hành dạy dỗ một cách nghiêm khắc đối với con trai. Thuở nhỏ, Mạnh Nhân được mẹ gửi đến vùng Nam Dương, theo học học giả Lý Túc. Trước khi Mạnh Nhân đi học, mẹ ông đã đặc biệt may vội cho con một tấm chăn rất dày và rộng. Hàng xóm nhìn thấy cách làm đặc biệt này, họ không sao đoán được dụng ý của bà, chỉ cảm thấy kỳ lạ khó hiểu. Họ tò mò hỏi bà: “Con của chị còn nhỏ, sao chị làm tấm chăn lớn thế?”

Mạnh mẫu nói với mọi người rằng: “Con trai của tôi không có phẩm tính gì đặc biệt nổi trội để có thể được nhiều bạn kết giao. Hơn nữa, những người đi học bên ngoài phần đông đều có gia cảnh nghèo khổ, có những người thậm chí không có lấy một tấm chăn mang theo. Tôi may một tấm chăn rộng như vậy, chính là để con trai và bạn học nó cùng đắp chung, kết giao làm bạn thân với nhau. Điều này nhất định có ích đối với việc học của con trai”.

Lời được nói rõ ra, mọi người đều hoàn toàn hiểu được dụng tâm vất vả và cảm phục lòng nhân hậu của bà

Mạnh Nhân hiểu được dụng tâm vất vả của mẹ, ông học hành hết sức chăm chỉ, ban đêm cũng thường thắp đèn đọc sách, không chịu nghỉ ngơi. Thầy giáo của ông là Lý Túc rất hài lòng, thường khen ngợi ông rằng: “Con quả là có tài đức của một tể tướng!”.

Sau khi Mạnh Nhân trưởng thành, lúc đầu khi đảm nhiệm chức quan nhỏ dưới quyền Phiêu kỵ tướng quân Chu Cứ, ông bèn đón mẹ về sống chung. Lúc này, chức quan của ông đã thấp, lại không được như ý nguyện nên tình cảnh vô cùng khó khăn. Một buổi tối nọ, bên ngoài trời mưa to, trong nhà bị dột nên khó có thể ngủ được. Bản thân Mạnh Nhân vốn không cảm thấy gì, chỉ thương mẹ già phải chịu khổ sở như vậy, càng nghĩ càng cảm thấy buồn khổ. Ông bèn từ trên giường ngồi dậy, không cầm lòng được mà bật khóc, tạ tội với mẹ.

Mẹ của Mạnh Nhân lại không để ý đến điều đó, bà khích lệ con trai rằng: “Chỉ cần con không quên chí hướng, chăm chỉ cố gắng, chịu một chút khổ thì nào có đáng gì, có gì đáng để khóc chứ!”. Mạnh Nhân nghe được lời khích lệ của mẹ, lập tức lau nước mắt không khóc nữa.

Sau khi Phiêu kỵ tướng quân Chu Cứ biết được tình cảnh khó khăn của hai mẹ con Mạnh Nhân, bèn đề bạt Mạnh Nhân làm Giám trì tư mã (một chức quan nhỏ quản lý ngư nghiệp). Mạnh Nhân tuy rằng gia cảnh bần hàn, nhưng lại rất thanh liêm. Lúc này, mẹ của ông đã trở về sống ở quê nhà, không sống cùng ông nữa.

Phương pháp dạy con thành người tài đức của bậc hiền nhân xưa

(Tranh qua Kknews.cc)
Mạnh Nhân tuy thân là Giám trì tư mã, nhưng lại tự học đan lưới và tự mình bắt cá. Ông đem số cá mà mình bắt được chế biến thành cá khô rồi gửi về nhà cho mẹ già ăn. Mẹ của Mạnh Nhân sau khi nhận được,đã ngay lập tức gửi trả số cá ấy, và viết một phong thư trách cứ con trai, rằng: “Con thân là ngư quan, lại gửi cá khô cho ta, lẽ nào con không biết cần phải tránh bị hiềm nghi sao?”.

Mạnh Nhân dưới sự đốc thúc dạy dỗ không ngừng của mẹ mà dần dần đã trở nên chín chắn hơn. Về sau ông làm huyện lệnh nhưng vẫn không thể đón mẹ già đến nơi nhậm chức sống cùng. Vì vậy mỗi khi có được đồ ăn ngon, ông đều gửi về nhà cho mẹ ăn trước để tận hiếu đạo.

Ngày mẹ ông qua đời, ông vô cùng đau lòng, không để ý đến pháp lệnh của triều đình mà từ quan trở về quê nhà chịu tang, làm tròn đạo hiếu. Nhưng triều đình biết được hiếu tâm của ông nên đã miễn tội cho ông. Sau sự việc ấy, triều đình vẫn tiếp tục để ông ra làm quan.

Nhờ có sự dạy dỗ nghiêm khắc của mẹ, Mạnh Nhân đã trở thành một con người tài đức, chuyên cần, một người con hiếu thảo, một vị quan thanh liêm chính trực.

An Hòa / TrithucVN

Cuộc đào tẩu ngoạn mục của con trai Sa hoàng

Gorenevsky là con trai của Sa hoàng Nga Nicholas II, ông ta trốn từ Nga sang Ba Lan đổi họ đổi tên trà trộn vào cơ quan tình báo Ba Lan để rồi trở thành một điệp viên. Tháng 4 năm 1958, Gorenevsky gửi thư đề nghị được tình nguyện làm gián điệp cho Hoa Kỳ, ngày lễ Giáng sinh năm 1960, ông này trốn sang Hoa Kỳ và tiết lộ rất nhiều bí mật của phương Đông cho Hoa Kỳ.

Bức thư gửi giám đốc FBI    

Tháng 4 năm 1958, Đại sứ Mỹ tại Thụy Sĩ là Taylor nhận được một lá thư từ Zurich. Taylor mở bức thư và chuyển ngay cho người đứng đầu CIA ở Bern. Đây là bức thư gì? 

Nhân viên CIA (Cục tình báo trung ương) phát hiện có một phong bì trong bức thư gửi cho ông Taylor nhưng người nhận lại là ông Edgar Hoover, giám đốc FBI. (Cục điều tra liên bang). Bức thư được đánh máy bằng máy đánh chữ Đức và chỉ có vài dòng: “Tôi sẵn sàng cung cấp những thông tin có giá trị về hoạt động gián điệp của Đảng cộng sản ở phương Đông. Nếu cần, xin hãy đăng nó trong chuyên mục “Nhân vật” của tờ “Nhật báo Frankfurter” một thông báo là đã nhận được bức thư. Cuối bức thư ký tên “Snipper”.

Snipper muốn nói chuyện với Hoover, Giám đốc CIA đành phải thông báo với Hoover về bức thư. Hoover đã rất tức giận khi biết rằng CIA đã mở thư riêng của mình. Ông chỉ trích CIA đã đối xử với FBI như thế nhưng cuối cùng ông đã đồng ý để CIA xử lý vụ việc với điều kiện tất cả thông tin bí mật mà Sniper cung cấp phải được báo cáo cho FBI biết.

Gia đình Sa hoàng Nga Nicholas II.

Một quan chức CIA nói tiếng Đức được lệnh xem xét lá thư của Snipper để xác định quốc tịch và danh tính của người viết. Quan chức nói tiếng Đức đã báo cáo với CIA: “Từ cách viết trong bức thư, từ ngữ được sử dụng đều là cú pháp tiếng Ba Lan, dựa trên điều này có thể suy ra rằng anh ta không phải là người Đức bản địa và người nói chuyện với chúng ta là người Ba Lan”. CIA phân tích dấu vết mực trên máy đánh chữ và giấy viết thư mà Snipper sử dụng và khẳng định đó là sản phẩm của Đông Âu. Snipper là ai? Ngay lúc nay CIA cũng không thể biết được.

CIA đã đăng một thông báo nhỏ trong chuyên mục “Nhân vật” của tờ “Nhật báo Frankfurter” để thông báo cho Snipper biết rằng bức thư đã nhận được. Từ đó, liên lạc giữa Snipper với CIA bắt đầu. Thời gian đầu sự giao tiếp với nhau mất nhiều thời gian, dần dần Snipper ngày càng trở nên can đảm và các bức thư đến thường xuyên hơn. Trong vài tháng CIA đã nhận được 14 bức thư của Snipper.

CIA quyết định tăng cường mối quan hệ với Snipper. CIA đã đăng một thông báo khác trên tờ “Nhật báo Frankfurter” và cung cấp cho Snipper hai hộp thư liên lạc. Hộp thư thứ nhất là ở Tây Berlin, hộp thứ hai ở một nhà tắm công cộng quận Tiergarten của Tây Berlin. Bằng cách này, Snipper có thể vừa gửi thư đến các hộp thư và nhận được hướng dẫn cách viết mật mã tình báo. Snipper cũng được CIA cho biết vài số máy điện thoại để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Những bức thư của Snipper được bộ phận tình báo của CIA ở Berlin đọc và chụp ảnh sau đó được đưa về Washington để phân tích và trả lời.

Chạy trốn đến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Sau khi ẩn thân như một điệp viên hai mang trong hai năm rưỡi, cuối cùng vào đầu mùa đông năm 1960 Snipper đã đào tẩu sang Hoa Kỳ. Thời gian đó, KGB đã phát hiện ra có người làm điệp viên hai mang cho CIA và đề nghị Snipper hợp tác tìm kiếm, điều này làm cho ông ta phải cảnh giác rằng chắc chắn có “gián điệp” của KGB cài vào CIA, bí mật này đã được người trong cuộc báo cáo.

Gorenevsky.

Snipper thấy mối nguy hiểm nên phải hành động ngay lập tức. Ngày Giáng sinh năm 1960, Sniper cùng vợ xuất hiện tại phái bộ quân sự Hoa Kỳ ở Tây Berlin và xác nhận rằng mình là Mikhail Gorenevsky, phó giám đốc Cục tình báo quân sự Ba Lan, đồng thời là một điệp viên Liên Xô; ông ta đã báo cáo với KGB bất cứ điều gì mà các đồng nghiệp Ba Lan của anh ta cố gắng che giấu những người bạn Liên Xô.

Trong thời gian trước khi bỏ trốn khỏi Warsaw, Gorenevsky đã giấu hàng trăm tài liệu được chụp ảnh trong một cái hốc cây lớn mà anh ta đi ngang qua mỗi đêm khi đi làm về. Anh ta chọn ngày đào tẩu là ngày đầu tiên của kỳ nghỉ lễ Giáng sinh để trước khi bị phía bên kia phát hiện anh ta mất tích và truy nã thì đã muộn, đồng thời để CIA có đủ thời gian thông báo cho người của họ ở Warsaw đến lấy tài liệu mật từ trong hốc cây.

Các nhân viên CIA phát hiện Gorenevsky đã giấu hơn 300 cuộn phim tài liệu được chụp bởi máy quay siêu nhỏ Minox trong đó có cả danh sách nhân viên tình báo và sơ đồ tổ chức. Các quan chức cấp cao của CIA gọi Gorenevsky là “Kẻ đào tẩu tốt nhất mà Hoa Kỳ có được”.

Sa hoàng Nga Nicholas II.

“Tôi là con trai của Đại công tước Alexei Nikolayevich Romanov, Sa hoàng cuối cùng của Nga, Nicholas II”.

Ngay khi đến Mỹ, Gorenevsky đã tiết lộ danh tính thật của mình cho các quan chức CIA. Ông ta cũng nói với các quan chức CIA về việc thay đổi tên và họ của mình sau khi đến Ba Lan và trà trộn vào các cơ quan tình báo Ba Lan. Gorenevsky đã yêu cầu CIA giúp ông ta lấy lại tài sản bị mất của vị Hoàng đế ở Nga. Vì vấn đề này, CIA không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cắt đứt liên lạc với Gorenevsky vào năm 1964.   

Bắt được “Chuột Chũi”

Trong thư gửi CIA, Snipper đề cập rằng KGB đã phát triển một điệp viên ở Ba Lan để thâm nhập vào Bộ Hải quân Anh. Theo thông tin tình báo của Snipper, người Anh đã tìm thấy Harry Horton, người từng làm việc ở Warsaw hiện đang làm thư ký tại căn cứ hải quân Portland. Tháng 6 năm 1960, các đặc vụ do Cơ quan cảnh sát London phái tới đã phát hiện ra Horton và bạn gái Ethel Gee đã giao một gói hàng cho một người đàn ông tên là Gordon Lance trước Nhà hát Old Vic trên đường Waterloo ở London.

Trụ sở CIA tại Langley, Virginia.

Snipper cũng ám chỉ rằng Liên Xô đã có được danh sách 26 mục tiêu mà MI-6 của Anh dự định tuyển mộ ở Ba Lan. Một nhà nghiên cứu phân tích từ phòng Đông Âu của CIA phát hiện ra rằng cơ quan tình báo Anh đã thú nhận với Hoa Kỳ một năm trước với cùng một danh sách, điều này khẳng định tính chính xác của thông tin do Snipper cung cấp.

Trong một báo cáo khác, Snipper tuyên bố rằng hai trong số các quan chức của cơ quan tình báo Tây Đức đã đến thăm CIA năm 1956 thì một là “Chuột Chũi” của KGB. 

Sau khi Golenevsky đến Hoa Kỳ, các thẩm vấn viên của Anh cũng vội vã tới Hoa Kỳ họ muốn điều tra thêm về cách Liên Xô có được danh sách các điệp viên mà MI-6 của Anh đã tuyển dụng ở Ba Lan. Gorenevsky khẳng định rằng danh sách này không bị đánh cắp như MI-6 nghĩ mà do một điệp viên ở Berlin giao cho Liên Xô. MI-6 của Anh đã tìm kiếm thông qua các trung tâm đăng ký và điệp viên hai mang của Liên Xô là George Black được cài trong MI-6 của Anh đã bị lộ diện.

Thông tin tình báo của Gorenevsky cũng dẫn đến việc vạch mặt điệp viên hai mang Liên Xô là Fairfer. Fairfer là phó cơ quan phản gián Tây Đức, thông qua việc giám sát chặt chẽ anh ta, một nhóm điệp viên hai mang gồm Hans Clemens, người đứng đầu công tác trinh sát ở Bon cũng bị bắt.

Năm 1954, một người Liên Xô đào tẩu tên là Peter Jeriabin cảnh báo rằng có hai điệp viên KGB dưới bí danh Peter và Paul trong Cơ quan tình báo Tây Đức. Năm 1957, CIA đã tiến hành phân tích an ninh của Cơ quan tình báo Tây Đức và phát hiện ra rằng Fairfer, người chịu trách nhiệm về các hoạt động phản gián chống lại Liên Xô có thể là một điệp viên thâm nhập. Trong hai năm tiếp theo, mối nghi ngờ đối với anh ta tiếp tục không suy giảm cho đến khi anh ta nhận được thư của Gorenevsky. Trong bức thư đầu tiên, Gorenevsky cảnh báo rằng Liên Xô đang chuyển cho Ba Lan một bản tóm tắt báo cáo tình báo Tây Đức. 

Tin tức bí mật này củng cố thêm sự nghi ngờ của CIA đối với Fairfer. Gorenevsky đã cung cấp một số thông tin cụ thể trong một bức thư sau đó. Gorenevsky báo cáo rằng ông  ta đã nghe lãnh đạo cơ quan phản gián KGB nói rằng vào năm 1956, sáu quan chức Cơ quan tình báo Tây Đức được CIA chi trả chi phí khi đến thăm Hoa Kỳ. Trong số sáu người, có hai người là điệp viên Liên Xô. Sau khi tham khảo tài liệu lưu trữ, người ta nhanh chóng tìm ra danh sách 6 sĩ quan tình báo liên bang Tây Đức từng là “khách mời của” của CIA năm 1956, một trong số đó là Rainz Fairfer.

Thông qua việc nghe lén điện thoại của Fairfer, người ta thấy anh ta đã thực hiện nhiều cuộc điện thoại với Hans Clemens, đội trưởng đội giám sát của Cơ quan tình báo Tây Đức ở Bon. Khi giám sát Clemens thấy rằng anh ta có thể là một nhân viên giao thông cho mạng lưới gián điệp của Liên Xô vì luôn có những sự trùng hợp kỳ lạ giữa hành động của anh ta và những cuộc phát thanh mật của Liên Xô. 

Vào một ngày thứ sáu của tháng 9 năm 1961, Clemens gọi điện cho Fairfer và phàn nàn rằng không thể giải mã được một bức điện. Fairfer yêu cầu Clemens gửi cho anh ta bức điện bằng thư bảo đảm. Nhân viên an ninh Đức chặn bức thư và tìm thấy một mảnh giấy có chỉ dẫn của sĩ quan đặc nhiệm Liên Xô được viết bằng mật mã; phong bì đã được đóng lại và gửi đến Fairfer vào sáng thứ hai, ngay đêm hôm đó, Fairfer bị bắt với lá thư vẫn  còn nguyên trong túi áo.

Con trai của Sa hoàng, Gorenevsky có thể thâm nhập vào các cơ quan tình báo của Ba Lan trong nhiều năm sau đó ông ta đề nghị làm gián điệp cho Hoa Kỳ và đã gửi một lượng lớn tin tức tình báo mà phương Tây không có được rồi trốn sang Hoa Kỳ. Điều này chứng minh cơ quan tình báo Ba Lan dùng người không kiểm tra kỹ đã làm cho những con “Chuột Chũi” của Liên Xô được cài sâu vào phương Tây bị bại lộ và không có gì lạ khi người Mỹ đã tự hào gọi Golenevsky là “Kẻ đào tẩu tốt nhất mà Hoa Kỳ có được”.

Nguyễn Đình Thiêm (Theo “Xinhuanet.com”) /Vannghe CA

Nghịch lý Covid-19: Nhà giàu đang in tiền nhanh chưa từng thấy, người giàu càng giàu thêm

Nghịch lý Covid-19: Nhà giàu đang in tiền nhanh chưa từng thấy, người giàu càng giàu thêm

Những người giàu có thể tái tài trợ cho khoản thế chấp của mình ở mức lãi suất thấp kỷ lục, mua ngôi nhà thứ hai để tránh xa thành phố đông đúc và sau đó chứng kiến các cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đầu tư tăng giá phi mã.

Xét theo một số khía cạnh, ngay trong đại dịch Covid-19 người Mỹ lại trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Điều này nghe có vẻ khó hiểu trong bối cảnh nền kinh tế suy sụp và các chỉ số như tỷ lệ thất nghiệp, số lượng người vô gia cư và bị đói tăng chóng mặt. Tuy nhiên, có 1 tầng lớp – ít nhất là top 20% giàu nhất – không bị ảnh hưởng bởi những rắc rối này.

Đối với họ, thật dễ dàng để tiếp tục công việc khi mà tính chất nghề nghiệp cho phép họ hoàn toàn có thể làm việc từ xa. Không chỉ có vậy, các biện pháp khẩn cấp chưa từng có tiền lệ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ tung ra để giải cứu nền kinh tế – trong đó có hạ lãi suất xuống mức gần 0 – cũng làm cho ví của họ dày thêm. Những người này có thể tái tài trợ cho khoản thế chấp của mình ở mức lãi suất thấp kỷ lục, mua ngôi nhà thứ hai để tránh xa thành phố đông đúc và sau đó chứng kiến các cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đầu tư tăng giá phi mã.

Những tác động tiêu cực do Covid-19 gây ra phần lớn đổ lên đầu những người không thể tiếp cận dễ dàng với thị trường tài chính hoặc thị trường tín dụng. Trong khi tài sản của các hộ gia đình Mỹ lập kỷ lục mới, hàng trăm nghìn doanh nghiệp phải đóng cửa vĩnh viễn. Hơn 10 triệu người vẫn còn thất nghiệp và gần 30 triệu người không đủ ăn mỗi ngày.

Kể cả khi nội các mới của Tổng thống đắc cử Joe Biden có kế hoạch chi thêm hàng nghìn tỷ USD để tiếp thêm sức mạnh cho gói “giảm đau kinh tế”, các chuyên gia kinh tế vẫn cảnh báo về những hệ lụy chính trị và xã hội từ việc chênh lệch giàu nghèo ngày càng mở rộng ở Mỹ. Với mức chênh lệch thu nhập hiện đang cao nhất trong 50 năm trở lại đây, phản ứng của nước Mỹ với những tác động của Covid-19 làm dấy lên những câu hỏi rằng các biện pháp khẩn cấp đã được thiết kế để giúp đỡ ai và ai đang bị bỏ lại phía sau.

“Có lẽ hiện tại là thời điểm tốt nhất đối với nhà giàu Mỹ”, Peter Atwater, giáo sư kiêm nhiệm tại William & Mary và cũng là “cha đẻ” của cụm từ “đà phục hồi hình chữ K” nhận xét. “Điều mà các nhà hoạch định chính sách đã làm là giúp cho nhóm người giàu nhất hồi phục nhanh nhất sau đại dịch”, ông nói.

Trong 10 tháng gần nhất, nhóm người có thu nhập cao đã sống khá tốt. Tỷ lệ có việc làm của nhóm người lao động kiếm được 60.000 USD/năm trở lên đã hồi phục và hiện còn cao hơn cả so với 1 năm trước, theo dữ liệu của tổ chức nghiên cứu Opportunity Insights.

Và trong khi gần như tất cả các quốc gia đều áp dụng lệnh phong tỏa, hàng triệu người, đặc biệt là những người xếp phía trên trong bậc thang kinh tế xã hội của Mỹ, đã chuyển số tiền đáng lẽ sẽ được chi cho giải trí, ăn uống ở nhà hàng và du lịch sang tiết kiệm hoặc đầu tư. Đối với nhiều người, điều này mang lại rất nhiều lợi ích. Chứng khoán Mỹ liên tục lập đỉnh trong khi trái phiếu cũng tăng mạnh nhất trong hơn 1 thập kỷ.

Ngược lại, lãi suất thế chấp rơi xuống mức thấp kỷ lục. Những người sở hữu nhà, đặc biệt là nhóm có điểm tín dụng tốt, nhanh chóng tận dụng cơ hội tái tài trợ khoản vay. Hàng triệu người đi vay đã có thể giảm bớt số tiền họ phải trả hàng tháng.

Nhưng đối với những người ở phía bên kia, câu chuyện rất khác

Tỷ lệ việc làm trong nhóm những người kiếm được dưới 27.000 USD/năm hiện vẫn thấp hơn 20% so với thời điểm tháng 1/2020. Tháng trước, gần 30 triệu người thưởng thành sống trong các hộ gia đình không đủ ăn, tăng 28% so với trước dịch. Ở Louisiana, bang bị ảnh hưởng nặng nề nhất, 20% người dân thiếu ăn. Tỷ lệ trong nhóm da màu còn cao hơn.

Hàng triệu người đang chật vật tìm cách để có thể giữ lại ngôi nhà của mình. Hơn 1/3 người Mỹ trưởng thành sống trong những ngôi nhà có nguy cơ bị tịch biên trong 2 tháng tới.

Tình trạng chênh lệch giàu nghèo ngày càng tệ hơn thể hiện rõ nét những hạn chế của gói kích thích chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nước Mỹ. Nới lỏng điều kiện tín dụng thông qua Fed, các nhà làm luật có thể nhanh chóng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn và những cá nhân giàu có nhưng thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và người lao động có thu nhập thấp lớn hơn rất nhiều.

Gần 40 năm qua, chính phủ Mỹ vẫn giao trọng trách điều hành các chu kỳ kinh tế cho một Fed độc lập. Chính sách tài khóa thích hợp hơn cho việc chia đều “miếng bánh” cho mọi thành phần trong nền kinh tế nhưng đã bị cho là lỗi thời. Nhưng giờ thì đại dịch cho thấy “cơ sở hạ tầng” mà chính phủ Mỹ sử dụng để hỗ trợ cho mọi người dân đã vỡ vụn và cần phải được cải cách ngay lập tức.

Hàng triệu người sẽ cạn kiệt tiền trợ cấp thất nghiệp vào giữa tháng 3 nếu như các biện pháp mà Quốc hội Mỹ thông qua từ tháng 12 không được gia hạn. Trong khi đó các chính quyền địa phương sẽ buộc phải cắt giảm ngân sách (vốn đã cạn kiệt) để bù đắp cho số thuế bị thâm hụt.

Ngày càng có nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo về những hệ lụy lâu dài của tình trạng chênh lệch giàu nghèo. Đó là tăng trưởng kinh tế thấp hơn, tỷ lệ tội phạm cũng như bất ổn xã hội gia tăng.

Bạn không thể có 1 nền kinh tế và hệ thống chính trị bền vững nếu như có 1 nhóm dân số (dù nhỏ) tin rằng họ đang bị bỏ lại phía sau và ngày càng có nhiều người dân cảm thấy bản thân thất bại.

Tham khảo Bloomberg

Twitter và Tổng thống


Tài khoản Twitter của TT Trump bị đóng.
Tài khoản Twitter của TT Trump bị đóng.

Từ khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức các công ty truyền thông kiếm được rất nhiều tiền. Những báo đài với nội dung ủng hộ ông như Fox News hay Wall Street Journal, hoặc chỉ trích ông như New York Times, CNN đều lôi cuốn thêm hàng triệu người coi và thâu tiền các thân chủ quảng cáo. Những “diễn đàn” không có nội dung riêng mà chỉ được ông Trump dùng để truyền đạt ý kiến của mình, như Twitter hay Facebook cũng được lợi như vậy.

Trong năm 2020 giá cổ phiếu của Twitter tăng 70%, một phần nhờ chuyên chở các thông điệp của ông Trump và những người đối lập với ông. Sau khi Twitter ngưng không cho ông Trump sử dụng diễn đàn của họ, Facebook, YouTube cũng làm theo. Công ty Amazon không cho mạng Parler, quy tụ những người ủng hộ Tổng thống Trump, dùng máy chủ (server) của họ khiến Parler phải ngừng hoạt động.

Ông Donald Trump không thể ra lệnh cho Twitter, Facebook, hay YouTube phải mở cửa cho mình trở lại diễn đàn. Một tổng thống Mỹ không có quyền như các ông Tập Cận Bình, hoặc Kim Jong Un. Những nhà độc tài đó không cần được dân bầu lên. Vladimir Putin có thể bắt, giết những người đối lập trước ngày bỏ phiếu. Ở Mỹ, tổng thống cũng phải theo luật.

Vậy tại sao Tổng thống Trump không kiện các công ty Twitter, Facebook, xin tòa án ngăn không cho họ cấm cửa ông? Ông Trump không phải là người ngại kiện cáo. Người của ông đã thưa kiện các tiểu bang, tố cáo họ để xẩy ra gian lận trong cuộc bầu cử gần đây khiến ông thua phiếu. Sau khi các quan tòa, nhiều người do chính ông Trump bổ nhiệm, bác bỏ 60 vụ kiện vì người thưa kiện không đưa ra được bằng chứng, ông vẫn tiếp tục tố cáo gian lận. Tại sao bây giờ ông không đưa Twitter, Facebook, YouTube ra tòa về tội đóng cửa ông?

Trước hết, bởi vì đó là quyền của những công ty tư nhân. Ở nước Mỹ, nếu một cơ quan chính phủ cấm cửa ai thì người đó sẽ kiện đến cùng – trừ khi người ta vào đó với dây thòng lọng để thắt cổ ai đó, rồi lúc ra về lại cầm cái laptop. Còn tư nhân thì khác. Các tiệm ăn cũng có quyền yết thị: “Chúng tôi có quyền từ chối không tiếp bất cứ khách hàng nào.” Nhiều tiệm không cho ai đi chân đất, cởi trần hoặc mặc áo thun bước vào. Chỉ khi nào việc cấm cửa này vi phạm luật, thí dụ, vì kỳ thị màu da, tôn giáo, vân vân, thì mới có thể kiện ra tòa.

Tổng thống Trump không thưa kiện khi bị Twitter, Facebook cấm cửa, bởi vì ở nước Mỹ các tư nhân làm kinh doanh có quyền chọn khách hàng. Tất cả các công ty trên đều nêu lý do là họ sợ nếu tiếp tục cho các thông điệp của ông truyền trên mạng thì có thể sinh ra bạo loạn lần nữa, như ngày 6 tháng 1 ở điện Capitol, trụ sở quốc hội Mỹ. Chắc ông cũng không muốn các công ty đó phải ra tòa trình bày lý do tại sao họ cấm cửa ông, cho cả nước được nghe suốt thời gian xử án.

Nhưng Tổng thống Trump có thể tự biện hộ trước tòa án rằng ông không hề cổ động dùng bạo lực. Ông chỉ kêu gọi mọi người đến trụ sở quốc hội bắt họ phải công nhận ông đắc cử vẻ vang (landslide) thôi. Ông hô khẩu hiệu “Chấm dứt vụ Ăn cắp” chức vụ tổng thống của ông. “Stop The Steal” không cần phải vác súng, thòng lọng treo cổ, hay mang bom xăng theo! Rất nhiều người trong các tổ chức “Da Trắng Ưu Việt” như Proud Boys, Boogaloo Bois, Tân Quốc Xã, vân vân, vẫn phẫn nộ về cảnh đất nước “của người da trắng” đã mất vào tay các “chủng tộc hạ đẳng.” Họ đã kêu gọi đồng đảng chuẩn bị vũ khí suốt hai tháng trời. Họ cũng muốn “Stop The Steal!” The Steal đây là vụ nước Mỹ của họ bị mất cắp. Họ tự coi đang tham dự một cuộc thánh chiến.

Hầu hết những người bị bắt sau cuộc “nổi dậy” đều công nhận họ được khuyến khích vì những lời kêu gọi “Stop The Steal!” của ông Trump. Ông có thể nói rằng họ đã hiểu lầm. Khi ông nói “To Be Wild” – hoang dã, hỗn loạn, dữ dội, điên cuồng…; và hô hào “Hãy Chiến đấu” (Fight), những người đó nghe tưởng là lệnh hành quân!

Nếu bị ông Trump kiện ra tòa, các công ty Twitter, Facebook, YouTube sẽ phải nhắc lại lý do họ nêu ra khi cấm cửa: Họ cấm những thông điệp như trên, để tránh cảnh bạo loạn lần nữa, vào ngày 20 tháng 1 năm 2021.

Nhưng không thể coi những người nghe diễn văn của ông Trump rồi đi phá quốc hội giống các Vệ Binh Đỏ làm theo những lời kêu gọi đại cương của Mao Trạch Đông. Họ Mao nắm quyền sinh sát không giới hạn. Khi ông ta hô khẩu hiệu “Tiến đánh Đại Bản Doanh” thì các vệ binh đỏ hiểu ngay đó là một mệnh lệnh. Họ đến từng nhà bắt Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, và các ủy viên Bộ Chính Trị khác, đem ra đánh đập, chửi bới, nhục mạ. Cũng không thể so sánh các thông điệp “Tuýt” của Tổng thống Trump với những cuốn Sách Đỏ “Trích lời Mao Chủ Tịch.” Người Trung Hoa thời đó tôn thờ Mao Trạch Đông như thần thánh. Còn ông Donald Trump vẫn chỉ là một người được dân bầu; khi thua phiếu thì không còn làm tổng thống nữa.

Nhưng sự kiện ba công ty lớn làm chủ các diễn đàn mạnh nhất đã cấm cửa một ông tổng thống Mỹ vẫn là một điều không tốt đẹp cho chế độ tự do dân chủ. Khi họ có thể gây ảnh hưởng trên sinh hoạt chính trị, một ảnh hưởng quá rộng, quá lớn như vậy, thì phải đặt câu hỏi: Xã hội có thể cho phép các doanh nghiệp sử dụng quyền lực như vậy hay không?

Chắc chắn là không. Khi quyền lực được tập trung vào trong tay bất cứ một đảng chính trị hay một chính quyền, một công ty kinh doanh nào thì dân chủ tự do bị đe dọa. Nước Mỹ đã phải đối phó với nạn độc quyền kinh tế từ thế kỷ 19, vì thế đạo luật Sherman Antitrust Act ra đời năm 1890. Từ đó rất nhiều đại công ty đã phải cắt, chia ra làm nhiều công ty nhỏ, nổi tiêng nhất là những công ty Standard Oil, Công ty Thuốc lá American Tobacco, General Electric, bị chia cắt năm 1911; AT&T năm 1982. Gần đây nhất, công ty Microsoft cũng bị đưa ra tòa nhưng không bị chia cắt sau khi vụ kiện được giải quyết, năm 2001.

Đạo luật Sherman Act chỉ nhắm giới hạn quyền lực kinh tế. Nhưng các công ty như Twitter, Facebook, Amazon, và Alphabet, chủ nhân của Google và YouTube còn ảnh hưởng quá mạnh trên chính trị và xã hội nước Mỹ. Vì họ đang nắm trong tay những “hạ tầng cơ sở” của việc thông tin trên mạng, không khác gì độc quyền của các công ty lớn những thế kỷ trước.

Quốc hội Mỹ sẽ phải làm luật quy định hoạt động của các công ty loại này. Thứ nhất, để bảo vệ quyền tự do phát biểu của tất cả mọi người, không riêng gì một ông tổng thống hay các đại biểu quốc hội. Thứ hai, nước Mỹ vẫn tôn trọng quyền tự do kinh doanh, cũng không thể quốc hữu hóa các công ty “hạ tầng cơ sở” trên, theo đường lối các chế độ cộng sản.

Quyền tự do kinh tế là một nền tảng của tự do chính trị. Người dân tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo. Họ cũng được tự do sử dụng đồng tiền khi tiêu thụ, giống như “bỏ phiếu” cho các công ty cung cấp hàng hóa hay dịch vụ.

Quyền tự do chính trị bảo đảm người tiêu thụ được sử dụng đồng tiền của mình. Người ta có thể hô hào “tẩy chay” các công ty đồng lõa với các hành động phi pháp. Trong thế kỷ trước, dưới áp lực của giới tiêu thụ, nhiều công ty và ngân hàng Mỹ đã ngưng đầu tư vào Nam Phi, thúc đẩy nước này bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc. Sau khi Twitter và Facebook đã cấm cửa ông Trump, công ty Alphabet chờ mấy ngày mới làm theo cũng vì nhiều người bắt đầu kêu gọi tẩy chay YouTube.

Nhưng khi quyền tự do kinh tế đe dọa lấn áp các quyền tự do chính trị thì cần phải sửa lại bản “hợp đồng xã hội.” Quốc hội Mỹ cần làm thêm luật mới để quy định việc các công ty đóng góp vào quỹ tranh cử, thay thế đạo luật cũ đã bị Tối cao pháp viện xóa bỏ. Trong mùa bầu cử năm 2020, các công ty lớn đã góp $205 triệu cho các ứng cử viên Cộng Hòa và $155 triệu cho đảng Dân chủ. Không ai ngây thơ nghĩ rằng số tiền đóng góp của họ không ảnh hưởng gì đến các nhà chính trị.

Sau vụ bạo loạn ngày 6 tháng 1, hai công ty đã đóng góp cho các quỹ tranh cử nhiều nhất là AT&T ($2,650,000) và Comcast ($2,570,000) tuyên bố ngưng không góp tiền cho quỹ tranh cử của các dân biểu nghị sĩ Cộng Hòa chống kết quả cuộc bỏ phiếu năm 2020. Một số công ty tuyên bố ngưng đóng góp tất cả. Thí dụ, Raytheon tặng $1,713,000 mà 53% cho Cộng Hòa, Deloitte đóng góp $1,719,000 trong đó Cộng Hòa được 54%, UPS đã góp $1,770,430 mà gần 59% cho đảng Cộng Hòa. Tuy họ nói ngưng góp tiền cho cả hai đảng, nhưng ai cũng thấy Cộng Hòa bị mất mát nhiều hơn!

Trong những năm tới, Quốc hội Mỹ nên làm những đạo luật mới quy định các tiêu chuẩn về góp quỹ tranh cử. Nhưng cần làm ngay một đạo luật không cho phép các diễn đàn trên mạng giữ độc quyền khiến mọi người bị cấm đoán theo ý kiến của một số tư nhân.

Sau vụ Twitter cấm cửa Tổng thống Trump, bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, là người chưa hề thân thiện với ông, cũng lên tiếng phản đối. Bà nói rằng quyền tự do phát biểu có thể bị hạn chế; nhưng hạn chế như thế nào thì chỉ có các nhà lập pháp mới có quyền quyết định, không thể cho các công ty tư muốn làm gì thì làm.

Ngô Nhân Dụng / VOA