Nhà thờ Sagrada Familia – kiệt tác của kẻ điên hay thiên tài?

Sagrada Familia là công trình mà kiến trúc sư vĩ đại bậc nhất Tây Ban Nha đã vắt kiệt tâm huyết, sự sáng tạo và sức lực trong 42 năm.

Một trong những nét đặc sắc nhất của nhà thờ là 18 ngọn tháp hình con suốt quay tơ, tượng trưng cho 12 tông đồ, 4 thánh sử chép Phúc âm, Đức Mẹ Maria và ngọn tháp cao nhất, 170 m, là Chúa Jesus.

Trên đỉnh của các ngọn tháp có những bức điêu khắc tượng trưng theo truyền thống: con bò (thánh Luca), phượng hoàng (thánh Gioan), sư tử (thánh Marco) và người có cánh (thánh Matthew) hoặc hình bánh thánh với chùm bông lúa, chén lễ và chùm nho, biểu tượng của phép Thánh Thể… Ảnh: Open Culture.

Mong muốn của Gaudi là Sagrada Familia sẽ trở thành nhà thờ với ngọn tháp cao nhất thế giới. Hiện tại, 8 tháp chuông đã được hoàn thành.

Mặt trước của nhà thờ được trang trí nhiều bức tượng tái hiện lại quãng đời của Đức Chúa. Ảnh: Lonelyplanet.

Bên trong nhà thờ được chiếu sáng bởi những luồng ánh sáng mặt trời xuyên thẳng qua hình ovan trên vòm trần và những khuôn cửa kính màu lộng lẫy. Ảnh: Egosumgo.

Theo Destinationsdetoursdreams, đây là công trình mà kiến trúc sư vĩ đại bậc nhất ở Tây Ban Nha đã vắt kiệt tâm huyết, sự sáng tạo và sức lực của mình trong 42 năm. Gaudi đã dành 16 năm để hoàn thiện công trình. Đến năm 1926 thì dự án dang dở do ông mất đột ngột trong một tai nạn tàu điện. Ảnh: Carmencita.

Ngoài ra, Sagrada Familia nổi tiếng vì là nhà thờ duy nhất trên thế giới có thời gian xây quá lâu, hơn một thế kỷ. Khởi công xây dựng từ năm 1882, và đến nay, sau 135 năm, nhà thờ vẫn chưa hoàn thiện. Còn theo lời nói đùa nổi tiếng của Gaudi, ông tin rằng khách hàng của mình, Đức Chúa trời, sẽ không quá nóng lòng và có thể chờ đợi được. Ảnh: News.

Theo chính phủ Tây Ban Nha, kiệt tác này sẽ được hoàn thành vào năm 2026, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Gaudi. Câu hỏi của thầy trưởng khoa kiến trúc cách đây gần 140 năm vẫn chưa có lời giải đáp. Không ai biết Gaudi có điên hay không, nhưng hiện tại ai cũng xem ông như một thiên tài.

Nhiều du khách khi được phỏng vấn đều cho biết, cảm giác đầu tiên của họ là choáng ngợp trước vẻ đẹp độc đáo, khác lạ, lối kiến trúc tinh xảo, tỉ mỉ của nhà thờ mà không nơi đâu có được. Ảnh: News.

Năm 1984, nhà thờ được ghi vào danh sách di sản thế giới của UNESCO. Vào năm 2007, nó được xếp vào danh sách 12 bảo vật của Tây Ban Nha. Ảnh: News.

Ngày 7/11/2010, nhà thờ được Giáo hoàng Benedictus XVI thánh hiến và nâng lên thành Vương cung thánh đường trong dịp thăm Santiago de Compostela và Barcelona. Do vậy, ngày nay, Sagrada Familia còn có tên gọi khác là Vương cung thánh đường Nhà thờ ngoại hiệu Thánh Gia.

Ngày nay, Sagrada Familia đón khoảng 3 triệu du khách mỗi năm. Tiền đầu tư để tiếp tục xây dựng nhà thờ được thu về từ việc bán vé tham quan cho du khách.

Địa chỉ nhà thờ: La Sagrada Familia, Carrer Mallorca, Barcelona.

Giờ mở cửa: 9h-18h (tháng 1, 2, 11, 12), 9h-19h (tháng 3, 10), 9h-20h (tháng 4, 5, 6, 7, 8, 9), 9h-14h (hai ngày 25, 26/12 và 1-6/1).

Giá vé: 15 – 29 Euro. Ảnh: Pinterest.

Nguồn: LonelyPlanet

Suy ngẫm về cái ác ẩn trong mỗi người chúng ta

Trong tác phẩm Tội ác và hình phạt của văn hào Nga Dostoevski, chàng sinh viên Rashonikov trước khi quyết định giết chết bà già cho vay nặng lại tự đặt ra cho mình câu hỏi: Trong trường hợp này Napoléon sẽ làm gì? Tính mạng của một cá nhân tồi tệ, ăn bám xã hội có nghĩa lý gì so với cuộc sống của một vĩ nhân, người có thể mang lại biết bao lợi ích cho nhân quần [1]?

Suy ngẫm về ‘tính quần chúng’ của cái ác

Và Rashonikov – người vẫn tự nghĩ về mình như một vĩ nhân – đã phạm tội, không phải vì anh ta cần tiền mà vì anh ta coi đó là một thử thách cần vượt qua đối với một “Napoléon” bởi lẽ “vô độc bất trượng phu”. Điều ác mà anh ta làm được biện minh bởi một thứ lý tưởng hay triết lý sống nào đó mà anh ta thực sự tin tưởng và sẵn sàng trả giá cho

Thế kỷ 20 là thế kỷ có nhiều cuộc chiến tranh kinh khủng nhất: số người chết vì tay đồng loại trong thế kỷ 20 nhiều hơn tất cả những thời gian trước đó trong lịch sử tồn tại của loài người. Tại sao lại có thể như thế? Triết gia người Đức Hannah Arendt từng suy nghĩ về bản chất của cái Ác trong suốt 30 năm, kể từ năm 1933 – năm Hitler lên nắm quyền và thi hành chính sách phát xít, bài Do Thái ở Đức trước khi có được câu trả lời trong tác phẩm Eichmann ở Jerusalem – Báo cáo về sự tầm thường của cái Ác” (Eichmann in Jerusalem: A Report on the Banality of Evil).

Hannah Arendt sinh ra trong một gia đình Do Thái ở Hanover, Đức. Bà từng theo học triết học với hai bậc thầy triết học vĩ đại nhất của nước Đức trong thế kỷ 20 – Heidegger và Karl Jaspers. Bà cũng từng là người yêu của Heidegger – cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh – trong một thời gian dài. Năm 1941, trước sự khủng bố người Do Thái của phát xít Đức, Arendt trốn thoát sang Mỹ. Bà nhập quốc tịch Mỹ năm 1950, tham gia giảng bài ở nhiều trường đại học danh tiếng và là nữ giáo sư chính (full professor) đầu tiên ở Princeton vào năm 1959. Năm 1961, nhận lời của tạp chí New Yorker, bà sang Israel theo dõi phiên toà ở Jerusalem xử tên trung tá SS Adolf Eichmann – một trong những kẻ phải chịu trách nhiệm chính cho thảm họa Holocaust của người Do Thái ở châu Âu. Eichmann tham gia lập kế hoạch và người trực tiếp chỉ đạo việc bắt nhốt người Do Thái trong các trại tập trung cũng như đưa họ vào các lò thiêu người. Các bài viết của bà trên tạp chí New Yorker về phiên toà này sau đó được tập hợp và bổ sung thành tác phẩm Eichmann ở Jerusalem – Báo cáo về sự tầm thường của cái Ác, xuất bản năm 1963. Tác phẩm này nhanh chóng trở thành kinh điển và là một kiệt tác chính trị-đạo đức học trong thế kỷ 20.

Chúng ta vẫn quen nghĩ rằng cái ác là một cái gì đó thật ghê gớm và những kẻ phạm tội ác là những kẻ khác xa với người bình thường. Nhưng trong tác phẩm của mình, Hannah Arendt lý giải hành động của Eichmann không phải do những thú tính, cũng không phải do sự cuồng tín vào lý tưởng Quốc xã hay chủ nghĩa bài Do Thái. Eichmann chưa bao giờ tỏ ra ghét người Do Thái, thậm chí còn có một số bạn bè là người Do Thái. Y tham gia SS hoàn toàn là một sự tình cờ và để có việc làm chứ không phải do lý tưởng Quốc xã. Về khía cạnh tâm lý, trong phiên toà, chính phủ Israel đã cử sáu chuyên gia tâm lý tìm hiểu về Eichmann và họ đều không tìm thấy bất cứ một trục trặc tâm lý nào, dù là nhỏ nhất, ở kẻ được mệnh danh là “tên đồ tể của châu Âu” này. Dựa trên những chứng cứ thu thập về cuộc đời của Eichmann, Hannah Arend nhận thấy động cơ duy nhất của tên sát nhân này chỉ là muốn thăng tiến trong công việc. Y không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm khi làm điều ác vì y cho rằng y chỉ làm đúng và làm tốt những gì mà cấp trên giao phó và luật pháp cho phép. Theo Eichmann, y không phải chịu trách nhiệm gì vì không những y chỉ tuân thủ mệnh lệnh cấp trên mà y còn làm đúng theo tinh thần luật pháp nước Đức lúc đó. Nói tóm lại, kẻ giết sáu triệu người Do Thái tỏ ra là một công dân Đức bình thường, một người nếu trong hoàn cảnh khác rất có thể sẽ là một nhà kinh doanh năng nổ hay một công chức tuân thủ pháp luật, một người chồng, người cha tốt, người hàng xóm thân thiện.

Từ trường hợp Eichmann, Hannah Arendt viết về “sự tầm thường của cái Ác”. Bà bác bỏ một luận điểm phổ biến thời đó (và có lẽ cả bây giờ) rằng những tên tội phạm Quốc xã là những kẻ bất bình thường tâm lý và khác biệt với những người bình thường. Theo bà, tội ác của Eichmann, cũng như của rất nhiều tên tội phạm Quốc xã khác, bắt nguồn từ sự mù quáng tuân thủ mệnh lệnh và những điều luật vô đạo đức của một chính thể vô đạo đức. Tội ác đó càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự khuyến khích từ dư luận phổ biến trong xã hội đó và sự đồng phạm của những người xung quanh y. Eichmann từng thú nhận, y cảm thấy nhẹ cả người như Pontius Pilate [2] sau khi rửa tay, khi chứng kiến việc những thành viên có vị thế trong xã hội đều nhiệt tình hưởng ứng Giải pháp Cuối cùng cho vấn đề Do Thái của Hitler. Cái gốc của tội lỗi đó, chính là ở việc nhân danh một thể chế quyền lực trên cao (luật pháp, cấp trên), Eichmann đã đánh mất khả năng lựa chọn và chịu trách nhiệm đạo đức cá nhân với các hành động của mình, đánh mất sự tưởng tượng, đặt mình vào địa vị những nạn nhân và tự đối thoại với bản thân. Với Eichmann, việc đưa người Do Thái vào các lò thiêu người cũng không khác gì các công việc bàn giấy quan liêu khác mà y phải thực hiện. Trong sự ý thức về hành động của cá nhân và trách nhiệm đạo đức, Eichmann rất khác với nhân vật Rashonikov của Dostoevsky. Dù động cơ lệch lạc, nhưng Rashonikov vẫn có được tự do ý chí. Eichmann thì không, y để kẻ khác chọn lựa cho y và mù quáng đi theo sự lựa chọn có sẵn đó.

Cuốn sách của Hannah Arendt khi ra đời gây một cú sốc lớn trong dư luận thời đó. Một số học giả lên tiếng phản đối Arendt, cho là bà bào chữa cho những tên tội phạm Quốc xã (làm sao cái bọn ghê tởm đó lại có thể giống người bình thường được!), thậm chí còn kết tội bà kỳ thị người Do Thái ở Đông Âu – những nạn nhân chính của Eichmann. Nhưng ngày nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý với quan điểm của Hannah Arendt. Một khi đánh mất ý thức trách nhiệm cá nhân, những người bình thường nhất cũng có thể trở thành đồng loã với cái ác. Đã có nhiều bằng chứng trong lịch sử về điều này.

Dưới thời Đức phát xít đã không chỉ có một Eichmann mà hẳn còn rất nhiều Eichmann khác mà chúng ta không biết tên. Ở một phạm vi rộng hơn, những tội ác thời Quốc xã còn có sự tán đồng hay bàng quan của rất nhiều người dân bình thường trong xã hội. Trong cuốn Những đao phủ tự nguyện của Hitler (Hitler’s Willing Executioners) xuất bản năm 1996, nhà chính trị học Daniel Jonah Goldhagen cho rằng người dân Đức bình thường không những biết mà còn ủng hộ việc thanh toán người Do Thái. Luận điểm này nhận được những phản ứng khác nhau từ dư luận nhưng không phải không có lý khi chúng ta biết rằng trong thời Hitler nắm quyền và khủng bố người Do Thái, hầu như không có một hoạt động kháng cự hay bảo vệ người Do Thái một cách có tổ chức nào ở nước Đức. Trong một cuốn sách khác có tên là Những người bình thường: Tiểu đoàn cảnh sát trù bị 101 và Giải pháp cuối cùng ở Ba Lan, nhà sử học Christopher Browning nghiên cứu một đơn vị cảnh sát đóng ở các trại tập trung Ba Lan vào năm 1941. Những người lính trong đơn vị này hoàn toàn không phải là các tín đồ Quốc xã mà hầu hết đều là những người dân bình thường ở độ tuổi trung niên bị bắt lính nhưng không đủ sức khỏe nên được chuyển sang công việc coi trại tập trung. Thế nhưng chính những người bình thường này, chứ không phải lực lượng cảnh sát SS nổi tiếng tàn bạo, đã bắt, nhốt và thủ tiêu người Do Thái. Điều đáng nói là khi viên sĩ quan chỉ huy đơn vị này cho phép những người lính có thể chọn không làm nhiệm vụ nếu họ cảm thấy việc giết chóc là quá nặng nề thì hầu hết vẫn chọn lựa tiếp tục công việc này. Tác giả Christopher Browning cho rằng những người lính trong đơn vị 101 phạm tội ác không phải vì hằn thù hay ý thức hệ mà chỉ đơn giản là thi hành mệnh lệnh cấp trên và để không bị gạt ra ngoài rìa.

Khi quân Đồng minh chiếm được nước Đức năm 1945, họ ngạc nhiên trước việc có rất nhiều người Đức tự nhận mình là không ủng hộ chế độ, nhưng đều không làm gì cả và bỏ mặc cho những tội ác diễn ra. Những người Đức đó được người Mỹ gọi một cách mỉa mai là “Những người Đức tốt” (Good Germans). Một bài báo trên tờ New York Times tháng 5/1945 viết về họ như sau: “Trong quân đội của chúng ta, binh lính bảo nhau là chẳng có một tên Quốc xã thực thụ nào ở Đức cả. Chỉ có “những người Đức tốt” thôi. Tất cả những tội ác chống lại loài người mà nước Đức phạm phải đều do một ai khác làm”.

Đó là trong thời Quốc xã, dưới một chế độ phân biệt chủng tộc, khủng bố, chà đạp quyền con người và đòi hỏi người dân phải tuân thủ những luật lệ khắc nghiệt của nó. Trong các điều kiện ít khốc liệt hơn, liệu những luận điểm của Hannah Arendt về “sự tầm thường của cái Ác” có còn thuyết phục? Tiếc thay, một số thí nghiệm của các nhà khoa học dường như lại khẳng định điều này. Tháng Bảy năm 1961, ba tháng sau phiên tòa xử Eichmann ở Jerusalem và loạt bài chấn động dư luận của Hannah Arendt trên tờ New Yorker, nhà tâm lý học Stanley Milgram ở trường Đại học Yale bắt đầu thực hiện một loạt thí nghiệm được gọi tên là “Thí nghiệm Milgram” nhằm đo lường mức độ cá nhân sẵn sàng tuân thủ những mệnh lệnh trái với lương tâm mình.

Thí nghiệm Milgram gồm một người đóng vai giáo viên và một người đóng vai học sinh. Người ta nói với người tình nguyện tham gia thí nghiệm và một người khác (cũng đóng vai tình nguyện tham gia thí nghiệm nhưng thật ra là người của Milgram) là họ sẽ tham gia thí nghiểm kiểm tra tác động của hình phạt tới việc tiếp thu kiến thức. Người tình nguyện thực sự sẽ đóng vai giáo viên. Hai người sẽ được cách ly để không thể nhìn thấy nhau. “Giáo viên” được trao một dụng cụ có thể tạo ra sốc điện cho nạn nhân. “Giáo viên” sẽ đưa ra lần lượt một bảng câu hỏi (đã được chuẩn bị) cho “học sinh”. Nếu “học sinh” trả lời sai, “giáo viên” sẽ tăng điện áp như là một hình phạt với học sinh. Trong suốt cuộc thí nghiệm, các nhà khoa học làm cho “giáo viên” tin rằng “học sinh” thực sự đang bị trừng phạt bằng điện giật nhưng thực ra họ sẽ gắn một băng ghi âm ghi các lời rên la của “học sinh” khi điện áp đạt tới mức nào đó. Trong băng ghi âm, tới một mức điện áp nào đó, “học sinh” sẽ kêu lên rằng mình có bệnh tim và xin được ngừng thí nghiệm. Lúc này các “giáo viên” đều hỏi người tổ chức thí nghiệm có nên dừng không. Nhưng khi được trấn an là họ sẽ không phải chịu trách nhiệm gì nếu có bất trắc xảy ra thì hầu hết trong số họ đều lựa chọn tiếp tục tăng điện áp. Trong quá trình làm thí nghiệm, khi các “giáo viên” muốn dừng thí nghiệm, người phụ trách sẽ yêu cầu họ tiếp tục. Chỉ sau 5 lần được yêu cầu liên tục thì người phụ trách mới cho dừng (tất nhiên, các “giáo viên” không được biết điều này). Bằng không, thí nghiệm sẽ được tiếp tục tới tận cùng, khi mức điện áp đạt mức tối đa 450 Volt.

Kết quả thí nghiệm của Milgram là có tới 65% số người tình nguyện tham dự tiếp tục tăng điện áp cho tới mức tối đa 450 Volt, dù đa số đều cảm thấy khó chịu và một số sẵn sàng trả lại tiền để ngừng thí nghiệm. Một loạt các thí nghiệm sau đó của Milgram và của các tác giả khác cũng cho kết quả tương tự – khoảng 2/3 số người tình nguyện “tuân thủ” mệnh lệnh tăng điện áp tới mức tối đa, bất chấp các bứt rứt hay e ngại có thể. Thí nghiệm Milgram cho thấy dưới áp lực của mệnh lệnh và khi không phải chịu trách nhiệm cá nhân, rất nhiều người bình thường sẽ thực hiện những việc làm có thể đưa lại hậu quả tai hại tới sức khỏe và tính mạng người khác.

Một thí nghiệm tâm lý nổi tiếng khác là thí nghiệm “Nhà tù Stanford” (Stanford prison experiment) của Philip Zimbardo và các đồng sự ở trường Đại học Standford. Thí nghiệm này chia các sinh viên tham gia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên, trong đó một nhóm đóng vai tù nhân và nhóm kia đóng vai cai ngục. Các điều kiện của thí nghiệm được tạo ra mô phỏng với nhà tù thực. Các cai ngục mặc đồng phục, có gậy gỗ, đeo kính đen và làm việc theo ca. Trong khi đó, tù nhân mặc đồng phục tù bằng vải sơ không có đồ lót, được gọi bằng số thay vì tên (nhằm làm mất tính cá nhân của đối tượng). Tù nhân mặc áo có gắn số hiệu và phải đeo một cái xích nhỏ quanh cổ chân để khiến họ luôn nhớ rằng họ đang ở trong tù. Ngoại trừ việc không được xâm phạm về thân thể với tù nhân, các cai ngục được phép làm bất cứ những gì cần thiết để duy trì trật tự của nhà tù.

Kết quả thí nghiệm Stanford cho thấy diễn biến tâm lý phức tạp của hai nhóm và sự xuống cấp về đạo đức. Trong quá trình thí nghiệm, xảy ra đụng độ giữa tù nhân và cai ngục, cai ngục tấn công tù nhân bằng bình chữa cháy, trừng phạt những người cứng đầu bằng cách giam cách ly… Khoảng 1/3 số người đóng vai “cai ngục” có dấu hiệu trở nên khoái trá với việc làm hại người khác (sadistic) trong khi rất nhiều “tù nhân” bị khủng hoảng tinh thần. Tình trạng khủng hoảng và biến đổi về nhân cách này khiến thí nghiệm phải dừng lại sớm hơn dự định, chỉ sau 6 ngày so với thời gian dự tính là 2 tuần.

Hai thí nghiệm của Milgram và Zimbardo gợi ra những điểm đáng sợ về khả năng một người bình thường có thể trở nên tàn nhẫn và phạm điều ác trong nhiều trường hợp: khi họ không phải chịu trách nhiệm cá nhân, khi cái tôi của họ và của nạn nhân bị mờ đi, khi họ không phải trực tiếp chứng kiến sự chịu đựng của nạn nhân, và khi một thứ quyền lực nào đó ở trên họ ra lệnh hay dung túng cho họ làm điều đó… Đã có một số bộ phim được xây dựng trên các thí nghiệm này, ví dụ như phim Thí nghiệm (Das Experiment) của Đức năm 2001 mô phỏng thí nghiêm Nhà tù Stanford.

Nhưng đáng sợ hơn cả là những gì xảy ra trên thực tế. Khi vụ tai tiếng ở nhà tù Abu Ghraib xảy ra tháng Ba năm 2004, nhiều người đã bị sốc khi chứng kiến sự tương đồng kỳ lạ giữa thí nghiệm Stanford và những gì thực tế xảy ra ở nhà tù Abu Ghraib ở Iraq. Dù một số người cho rằng sự kiện này chỉ là hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng các nghiên cứu kỹ lưỡng về tâm lý các cai tù Abu Ghraib và về điều kiện ở nhà tù này cho thấy hoàn toàn không phải vậy. Những cai ngục như Charles Graner, như Lynndie England trước đó đều không có vấn đề gì về tâm lý và đều được gia đình, bạn bè, hàng xóm đánh giá như những công dân tốt, thân thiện. Để bào chữa cho mình, cả Lynndie England lẫn Charles Graner đều cho rằng họ chỉ là những người lính và họ chỉ biết tuân thủ lệnh trên. Không những thế, cả gia đình, bạn bè họ cũng bào chữa cho họ. Mẹ của England, nữ cai ngục tai tiếng với bức ảnh thòng dây vào cổ một tù nhân để kéo như với súc vật, phát biểu “Bọn chúng chỉ làm những trò trẻ con ngốc nghếch thôi. Chỉ là mấy trò nghịch ngợm”. Sự kiện nhà tù Abu Ghraib là hiện thực hóa những gì từng xảy ra trong thí nghiệm Stanford và cho thấy sự tha hóa tiềm ẩn của con người [3] .

Trái với Mạnh Tử khi cho rằng con người mang thiện tính từ lúc mới lọt lòng mẹ, Tuân Tử nói: con người sinh ra, tính vốn ác. Từ xưa tới nay, cả các nhà triết học lẫn các nhà khoa học vẫn loay hoay tìm hiểu đâu là bản chất con người nhưng đều không có một câu trả lời nào thoả đáng. Hannah Arendt không tìm cách trả lời đâu là bản chất con người. Cái mà bà muốn tìm hiểu là bản chất của cái ác? Theo bà, cái ác thật tầm thường – vì lẽ nó ở trong mỗi con người bình thường và bất cứ khi nào nó cũng có thể quẫy đầu đứng dậy.

Như thế có phải Arendt bi quan, mất lòng tin vào con người không? Liệu có phải hầu hết mọi người bình thường đều có thể trở thành một Eichmann, đều có thể phạm những tội ác kinh tởm nếu có động cơ phù hợp? Không phải vậy. Arendt vẫn tin vào khả năng lựa chọn đạo đức của con người trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi người lựa chọn hoàn toàn bất lực về chính trị. Bà viết: “Dưới những điều kiện kinh khủng, hầu hết mọi người sẽ chọn tuân thủ nhưng vẫn có một số sẽ bất tuân thủ”. Bà lấy ví dụ trường hợp Đan Mạch, khi người dân nước này từ chối không giao người Do Thái cho Hitler dù rằng Đan Mạch lúc đó đang bị quân Đức chiếm đóng. Khi Hitler định trực tiếp bắt người Do Thái ở Đan Mạch, y nhận ra rằng ngay cả các viên chức Quốc xã ở Đan Mạch cũng đã nhiễm tinh thần nhân đạo ở nơi này và không thể xuống tay với mức độ nhẫn tâm như những kẻ đồng sự ở nhiều nơi khác tại châu Âu.

Người ta vẫn luôn có thể chọn cách nói không với cái Ác, thay vì việc chấp nhận biến mình thành một công cụ của nó, hoặc trở thành một kẻ ngoài cuộc “mũ ni che tai” mặc cho nó hoành hành. Và những câu chuyện về những anh hùng như doanh nhân Oskar Shindler (nguyên mẫu phim Bản danh sách Schildler), như chủ khách sạn Paul Rusesabagina (nguyên mẫu phim Khách sạn Rwanda) sẽ luôn là những khích lệ đối với chúng ta. Nếu những kẻ như Eichmann trước khi thành hung thần cũng là những người bình thường thì những Shindler, Rusesabagina cũng không khác gì với đa số những người quanh họ trước khi có những hành động anh hùng cứu sống hàng trăm, hàng ngàn người. Con người luôn có thể lựa chọn giữa Thiện và Ác dù hoàn cảnh thế nào. Và Hannah Arendt vẫn luôn tin như vậy.

———————————

Chú thích:

[1]Cũng Dostoevsky có một câu trả lời khác cho câu hỏi này qua lời nhân vật Alyosha trong Anh em nhà Kazamazov. Khi được hỏi Alyosha có sẵn sàng đổi lấy việc một đứa trẻ bị tra tấn tới chết lấy hạnh phúc của nhân loại hay không, câu trả lời của Alyosha là không.
[2]Pontius Pilate, tổng trấn La Mã ở Jerusalem, rửa tay phủi bỏ trách nhiệm sau khi giao Jesus cho người Do Thái đóng đinh.
[3]Tác giả của thí nghiệm Stanford là Zimbardo đã viết một cuốn sách có tên Hiệu ứng Lucifer: Để hiểu tại sao người tốt lại trở thành kẻ ác (The Lucifer Effect: Understanding How Good People Turn Evil) so sánh sự kiện nhà tù Abu Ghraib với thí nghiệm Stanford.

Theo TALAWAS

Bí mật bên trong lò hỏa táng: Mất bao lâu và nóng bao nhiêu độ để thiêu 1 thi thể thành tro?

Bí mật bên trong lò hỏa táng: Mất bao lâu và nóng bao nhiêu độ để thiêu 1 thi thể thành tro?
Đâu là nguyên tắc tiên quyết của kỹ thuật viên hỏa táng khi xử lý một thi thể?

Trở lại năm 1980, có ít hơn 10% người Mỹ (đã mất) được hỏa táng. Con số này hiện là khoảng 53%, theo Hiệp hội Hỏa táng Quốc gia Bắc Mỹ.

Sự thay đổi đến từ nhiều nguyên nhân từ tôn giáo, văn hóa đến sự chấp nhận rộng rãi của xã hội. Tuy nhiên, không có sự kiện nào thúc đẩy sự thay đổi đó nhanh hơn cuộc Đại suy thoái (Cuộc suy thoái toàn cầu 2009). “Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ hỏa táng tăng lên khi kinh tế suy thoái hồi cuối năm 2008 và mọi người mất việc làm. Hỏa táng là một giải pháp thay thế ít tốn kém hơn so với chôn cất trong lòng đất truyền thống” – Jim Koslovski, Giám đốc Nghĩa trang Rosehill và Rosedale tại bang New Jersey (Mỹ) nhận định.

Nghĩa trang Rosehill và Rosedale chỉ tính phí 190 đô la để hỏa táng một thi thể, và tính thêm phí cho linh cữu, hoa và dịch vụ khác. Ngược lại, một ngôi mộ có thể có giá 2.500 đô la, cộng thêm 1.900 đô la phụ phí.

CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA LÒ HỎA TÁNG

Thông thường, khi xe tang tiến vào nhà hỏa táng, thi thể người chết sẽ được bọc kín, bỏ trong quan tài. Điều này một phần thể hiện sự tôn trọng người chết cũng như bảo vệ kỹ thuật viên hỏa táng khỏi các bệnh truyền nhiễm, cũng như giúp họ xử lý hài cốt an toàn nhất trước khi hỏa táng.

Các quan tài đi vào khu vực bảo quản lạnh của lò hỏa táng. Tại Rosehill, người ta cố gắng thực hiện tất cả các lễ hỏa táng và đưa hài cốt về với gia đình thân nhân trong vòng 24 giờ. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc an táng người đã mất ở các tiểu bang của Mỹ.

Khi công tác chuẩn bị cho việc hỏa táng đã sẵn sàng, quan tài sẽ được đưa ra khỏi kho lạnh và được đặt trên một bàn nâng thủy lực trông giống như một cái thùng, sau đó được chuyển đến một trong những đơn vị hỏa táng (hiểu rõ hơn là lò hỏa táng, tuy nhiên, người Mỹ tránh gọi từ này vì nó khiến người ta nghĩ đến lò thiêu ở trại tập trung Auschwitz của phát xít Đức).

Một sai sót/nhầm lẫn nhỏ sẽ để lại hậu quả không thể tha thứ, vì vậy Rosehill sử dụng hai hình thức ID để đảm bảo gia đình nhận lại đúng hài cốt. Một bản sao của biên nhận được đính kèm bên ngoài đơn vị hỏa táng và thẻ ID bằng kim loại đi kèm với người đã khuất bên trong đơn vị.

Một đơn vị hỏa táng có hai buồng: Buồng chính, nơi thi thể được đưa vào và buồng thứ cấp hoặc “buồng sau”, nơi tiêu thụ các khí được tạo ra bởi quá trình hỏa táng. Buồng sơ cấp điển hình có tường lót gạch, sàn và mái bằng bê tông chịu nhiệt cao. 

Buồng chính (nơi hỏa táng thi thể) được làm nóng từ 760 độ C đến 1.093 độ C trong 1,5 đến 2 giờ.

Các chất khí và hạt tạo thành đi vào buồng sau, một mê cung dài 9 mét được thiết kế để giữ lại các chất khí trong ít nhất một giây. Buồng sau được thiết kế để chịu các luồng khí nóng tới nhiệt độ 927 độ C.

Bí mật bên trong lò hỏa táng: Mất bao lâu và nóng bao nhiêu độ để thiêu 1 thi thể thành tro? - Ảnh 1.

Các đơn vị hỏa táng (lò hỏa táng – ND) ở Rosehill. Ảnh: CAREN CHESLER/Popularmechanics

“Bất kỳ chất rắn nào cũng sẽ chuyển thành khí nếu được nung nóng đến đúng điểm. Về cơ bản, đó là những gì xảy ra với cơ thể khi mô bị đốt nóng đến mức chất rắn của nó chuyển thành khí và trở nên dễ cháy. Điều cốt yếu là thiết kế thiết bị tiêu thụ phần lớn lượng khí thải để chúng nằm trong các quy định về môi trường của tiểu bang” – Brian Gamage, Giám đốc tiếp thị của Thiết bị hỏa táng Mỹ ở bang Florida cho biết.

Theo các cơ quan môi trường ở hầu hết các bang của Mỹ, các hạt thải ra phải nhỏ hơn 0,1 trên 0,0283 mét khối tiêu chuẩn. Các vấn đề phát sinh khi khối lượng khí (khói) trở nên quá lớn đối với buồng sau xử lý và nó tràn ra ngoài. Điều đó có thể xảy ra nếu máy không được thiết kế phù hợp hoặc nếu người vận hành làm quá tải buồng chính, điều này có thể xảy ra vì những lý do đáng ngạc nhiên – ví dụ: Đưa một người béo phì vào thiết bị vào sai thời điểm trong ngày.

Nghe có vẻ rùng rợn nhưng trọng lượng là điều mà những người vận hành lò hỏa táng phải lo lắng. Máy không biết sự khác biệt giữa một người nặng 68 kg và một người nặng 180 kg. Nó chỉ thực hiện công việc của nó.

Quy tắc chung của nhà hỏa táng là 45 kg mỡ người tương đương 65 lít dầu hỏa. Nếu một người nặng 180 kg thì ít nhất 90 kg trong số đó sẽ là chất béo đốt cháy nhanh chóng. Nếu bạn đặt người đó vào một cái máy quá nóng, vì đơn vị hỏa táng (lò thiêu) có xu hướng nóng hơn vào cuối ngày, buồng sau có thể tỏa khói và mùi ồ ạt và tràn ra ngoài không khí.

Mặc dù một số lò hỏa táng có thể xử lý thi thể nhanh hơn, về cơ bản một đơn vị hỏa táng có thể hoàn thành việc hỏa táng trong khoảng 1,5 giờ. Và điều đó thay đổi tùy thuộc vào trọng lượng của người chết và loại quan tài mang họ. Tính chất tốn thời gian giới hạn số lượng hỏa táng mà mỗi đơn vị có thể xử lý trong một ngày.

Bí mật bên trong lò hỏa táng: Mất bao lâu và nóng bao nhiêu độ để thiêu 1 thi thể thành tro? - Ảnh 2.

Quy trình hỏa táng qua ảnh: (1) Thi thể được xác định và gia đình người quá cố cho phép hỏa táng. Các thiết bị y tế và bộ phận giả được lấy ra và đồ trang sức được thu hồi trước khi thi thể được đặt vào hộp dễ cháy. (2) Hộp được đặt bên trong buồng hỏa táng và được làm nóng từ 760 độ C đến 1.093 độ C trong 1,5 đến 2 giờ. (3) Phần còn lại được làm nguội và kỹ thuật viên loại bỏ các mảnh kim loại bằng nam châm. (4) Phần còn lại được nghiền thành bột mịn. (5) Tro cốt được cho vào thùng, lọ và trả lại cho gia đình. Ảnh: CAREN CHESLER/Popularmechanics

Sau khi quá trình hỏa táng hoàn tất, hài cốt được đưa vào một khay nướng bằng bạc. Một kỹ thuật viên chạy một nam châm lên chúng để loại bỏ các vật liệu không bắt lửa trong quá trình hỏa táng. Những thứ này thường đến từ kim ghim, đinh vít, bản lề và khớp giả của một người. Sau đó, kỹ thuật viên sẽ kiểm tra trực quan và loại bỏ bất kỳ vật liệu nào mà nam châm bỏ sót, ví dụ, những mảnh thủy tinh bị bỏ lại.

Lò hỏa táng đưa xương và tro còn sót lại vào một máy nghiền bột, không giống như một máy xử lý thực phẩm, để xay chúng thành một dạng bột đồng nhất hơn. Hài cốt sau đó được đưa vào một thùng chứa cho gia đình..

TRỞ VỀ ĐẤT MẸ

Tất nhiên, thiêu xác người chết không phải là một khái niệm mới. Hỏa táng bắt đầu từ thời kỳ đồ đá, và nó phổ biến ở Hy Lạp và La Mã cổ đại. Trong một số tôn giáo nhất định như Ấn Độ giáo, hỏa táng, đặc biệt là hỏa táng ngoài trời là hình thức an táng người chết rất phổ biến.

Sự trỗi dậy của Cơ đốc giáo đã kìm hãm việc hỏa táng ở phương Tây. Đến năm 400 sau Công Nguyên, vào khoảng thời gian Hoàng đế Constantine Cơ đốc hóa Đế chế La Mã, La Mã đã cấm hỏa táng như một tập tục ngoại giáo. Lý do thần học cho lệnh cấm này có liên quan đến sự sống lại (hồi sinh) – họ muốn giữ xác nguyên vẹn để người chết có thể hồi sinh ở thế giới khác. Luật Do Thái cũng cấm việc này. Đến thế kỷ thứ 5, hỏa táng đã biến mất khỏi châu Âu.

Hoạt động này đã chứng kiến ​​sự hồi sinh ở châu Âu vào những năm 1870, chủ yếu là trong nỗ lực hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

Nhà hỏa táng hiện đại đầu tiên được xây dựng ở Mỹ vào năm 1876. Đến năm 1900, có 20 nhà hỏa táng ở Mỹ. Việc thực hiện này được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1963, khi Giáo hội Công giáo đảo ngược quan điểm về hỏa táng trong những cải cách của Công đồng Vatican II và nói rằng hỏa táng được cho phép. Ngày nay, có hơn 3.000 nhà hỏa táng trên khắp Mỹ.

Jim Koslovski cho biết, việc mọi người chấp nhận rộng rãi hỏa táng phù hợp với điều kiện thực tế khi các nghĩa trang sắp hết chỗ. Ông ước tính Rosehill chỉ còn 15 năm nữa trước khi nó hết chỗ.

“Cát bụi lại trở về với cát bụi” – Con người sinh ra từ Trái Đất rồi cũng trở về với Trái Đất. Nhưng cách chúng ta trở lại Đất Mẹ quan trọng hơn câu chuyện cảm xúc – Đó là vấn đề môi trường.

Bí mật bên trong lò hỏa táng: Mất bao lâu và nóng bao nhiêu độ để thiêu 1 thi thể thành tro? - Ảnh 3.

Ảnh: GETTY IMAGES

Khi hỏa táng tiếp tục được xem là giải pháp hàng đầu thay thế chôn cất người chết thì lượng khí thải đi kèm với quá trình này đã trở thành mối quan tâm – đến nỗi mọi người bắt đầu cân nhắc một số lựa chọn thay thế hỏa táng.

Hiện nay có một quy trình dựa trên nước được gọi là thủy phân kiềm, được phát minh ra như một cách để loại bỏ những động vật bị nhiễm bệnh bò điên. Nó đang được bán trên thị trường như một lựa chọn thân thiện hơn với môi trường sau khi giết mổ cho con người vì nó tạo ra ít khí carbon monoxide và ô nhiễm hơn.

Quá trình thủy phân bằng kiềm bao gồm việc đặt một thi thể vào một khoang chứa đầy nước và kali hydroxit và được làm nóng lên đến 149 độ C ở áp suất cao. Sau ba giờ, cơ thể trở thành một chất lỏng có màu nâu xanh và xương đủ mềm để nghiền nát. Xương có thể được trả lại cho gia đình, trong khi chất lỏng có thể thải vào hệ thống cống rãnh.

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, biện pháp này không thực sự thành công. Nó chậm hơn hỏa táng. Và quan trọng hơn, công nghệ này đắt hơn: Một thiết bị điều áp bằng thép không gỉ có thể có giá từ 175.000 đô la cho một đơn vị cơ bản đến 500.000 đô la cho một đơn vị cao cấp, trong khi một đơn vị hỏa táng có giá khoảng 110.000 đô la. Cũng có những vấn đề pháp lý vì quy trình này bị cấm trừ khi một tiểu bang thông qua luật cho phép cụ thể.

Hơn nữa, vấn đề đạo đức cũng được đặt ra khi một phần thi thể người chết (sau khi thủy phân kiềm) bị biến thành chất lỏng rồi chảy ra hệ thống cống rãnh. Điều này khó lòng mà chấp nhận đươc với thân nhân gia đình.

Bài viết sử dụng nguồn: Popularmechanics

Theo Pháp luật & bạn đọc

Triết lý ‘ngược đời’ giúp John D. Rockefeller trở thành tỷ phú đầu tiên trên TG: “Người làm việc cả ngày là người không kiếm được tiền”

Tỷ phú Rockefeller khuyên nhân viên không nên dành phần lớn thời gian (trừ lúc ngủ) để làm việc mà phải chú ý đến các khía cạnh khác của cuộc sống.

Năm 16 tuổi, John D. Rockefeller bước vào thế giới kinh doanh với tư cách là một nhân viên kế toán tại Hewitt and Tuttle, một công ty môi giới nông sản ở Cleveland, Ohio. Hai năm sau, do không hài lòng về mức lương thấp, Rockefeller bỏ việc để thành lập một doanh nghiệp cũng hoạt động trong lĩnh vực này.

Không lâu sau, nó đã trở thành một trong những công ty tốt nhất ở Cleveland và tên tuổi của ông được nhiều người biết đến hơn. Chưa dừng lại ở đó, ông hợp tác với một nhà hóa học để thành lập một trong những nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Mỹ mang tên Standard Oil. Đến năm 1865, đây là công ty có lợi nhuận cao nhất toàn cầu. Rockefeller cũng được coi là tỷ phú đầu tiên trên thế giới.

 Triết lý ‘ngược đời’ giúp John D. Rockefeller trở thành tỷ phú đầu tiên trên TG: Người làm việc cả ngày là người không kiếm được tiền  - Ảnh 1.

Tỷ phú dầu mỏ Rockefeller.

Rockefeller cho biết có 5 nguyên tắc quan trọng giúp ông đạt được thành công này. Dưới đây là những nguyên tắc đó:

1. Luôn nói sự thật

Rockefeller là một người trung thực. Các nhân viên ngân hàng yêu mến điểm này của ông và sẵn sàng hợp tác cũng như hậu thuẫn cho hầu hết các dự án kinh doanh của vị tỷ phú vì họ tin tưởng ông.

Rockefeller xây dựng văn hóa làm việc của mình dựa trên sự trung thực. Ông yêu cầu mọi người phải luôn nói sự thật và chịu trách nhiệm với lời nói cũng như hành động. Ông từng nói: “Điều quan trọng nhất đối với một người là tạo dựng được uy tín, danh tiếng và tư cách”.

2. Chú ý đến từng chi tiết

Ron Chernow nói về sự chú ý của Rockefeller đến từng chi tiết trong cuốn sách bán chạy nhất của mình. Từ ngoại hình, thói quen buổi sáng, thói quen hàng ngày, các mối quan hệ nghề nghiệp, nỗi ám ảnh về những con số, Rockefeller đều chú ý đến từng tiểu tiết. Những chi tiết nhỏ này kết hợp lại để tạo nên doanh nhân quyền lực bậc nhất thế giới. Ngoài để ý đến công việc, ông trùm dầu mỏ còn dành thời gian quý giá của mình để hiểu những người làm việc với ông rõ hơn và luôn tôn trọng mọi người.

 Triết lý ‘ngược đời’ giúp John D. Rockefeller trở thành tỷ phú đầu tiên trên TG: Người làm việc cả ngày là người không kiếm được tiền  - Ảnh 2.

Standard Oil từng có thời điểm là công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới.javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(201018);}else{parent.admSspPageRg.draw(201018);}

3. Xây dựng một nhóm tuyệt vời

Rockefeller đối xử rất công bằng và trả lương cao cho cấp dưới. Ông là một trong những doanh nhân đầu tiên cho phép nhân viên trực tiếp gửi khiếu nại hoặc đề xuất. Hơn ai hết, ông hiểu rằng để xây dựng một doanh nghiệp vĩ đại, ông cần một nhóm tuyệt vời.

Để làm điều đó, ông tập trung vào EQ (trí tuệ cảm xúc). Ông từng nói: “Khả năng tương tác với người xung quanh và xử lý vấn đề cũng đáng giá như các mặt hàng như đường hay cà phê. Tôi sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho khả năng đó”. Và đội ngũ vừa có chuyên môn vừa có trí tuệ cảm xúc đã giúp ông gặt hái nhiều thành công.

4. Chăm sóc bản thân

Trong cuốn hồi ký của mình, Rockefeller nói về tầm quan trọng của việc chăm sóc bản thân. Ông cảnh báo mọi người không nên hy sinh sức khỏe chỉ vì làm giàu. Ông khuyên nhân viên không nên dành phần lớn thời gian (trừ lúc ngủ) để làm việc mà phải chú ý đến các khía cạnh khác của cuộc sống. Và ông chính là ví dụ điển hình nhất: Nhờ chăm sóc bản thân tốt, ông sống đến 97 tuổi.

Một trong những câu nói hay nhất của ông là “Người làm việc cả ngày là người không kiếm được tiền”. Rockefeller tin rằng người không dành thời gian chăm sóc bản thân sẽ không kiếm được tiền. Theo vị tỷ phú, chăm sóc bản thân bắt đầu bằng một giấc ngủ ngon, uống nhiều nước, tập thể dục và chế độ ăn uống điều độ.

 Triết lý ‘ngược đời’ giúp John D. Rockefeller trở thành tỷ phú đầu tiên trên TG: Người làm việc cả ngày là người không kiếm được tiền  - Ảnh 3.

Theo vị tỷ phú, chúng ta không nên làm việc quá nhiều và cần chăm sóc bản thân thật tốt.

5. Tập trung vào các mục tiêu

Rockefeller luôn tập trung vào mục tiêu đã đặt ra, nhất quán với thói quen và kiên trì với cách tiếp cận của mình. Khi chuyển đến Cleveland, ông coi tìm việc mới là một việc nghiêm túc. Ông mặc vest đen, cạo râu sạch sẽ, đánh bóng giày và sẵn sàng cung cấp dịch vụ của mình. Rockefeller giữ các mục tiêu chính đã đề ra là động lực thúc đẩy hành động. Nhờ, đó, ông đã đạt được thành công lớn trong sự nghiệp.

Nguồn: Entrepreneur / Theo Mộc Tiên / Doanh nghiệp và tiếp thi

‘Vào tù hoặc bị giết’, tỷ phú Quách Văn Quý tiên đoán kết cục của Jack Ma

Jack Ma (ảnh: Reuters).

Sau khi Jack Ma, người sáng lập Tập đoàn  Alibaba và Ant Group, chỉ trích mạnh mẽ Hệ thống quản lý tài chính của Trung Quốc tại Hội nghị thượng đỉnh tài chính Bến Thượng Hải vào tháng 10 năm ngoái, đến nay đã không xuất hiện trước công chúng hơn hai tháng, làm dấy lên mối quan tâm của các giới. 

Báo chí nước ngoài đưa tin, khi vẫn chưa rõ tung tích của Jack Ma, thì những lời tiên đoán kinh hoàng của ông Quách Văn Quý (Miles Kwok) – tỷ phú Trung Quốc hiện đang sống tại Mỹ, về kết cục của Jack Ma từ cách đây hai năm đã được lan truyền rộng rãi trở lại trên mạng xã hội.

Newsweek, một trong những tạp chí hàng tuần uy tín lớn nhất thế giới của Mỹ ấn bản tại New York City đưa tin, kể từ khi Jack Ma biến mất khỏi tầm mắt của công chúng đến nay, một đoạn video của ông Quách Văn Quý nói về kết cục của Jack Ma trong một cuộc phỏng vấn với ông trùm quỹ đầu cơ nổi tiếng Kyle Bass trên chương trình Kinh tế Tài chính Mỹ “Real Vision” vào tháng 9/2019 đang được lan truyền rộng rãi trên Twitter gần đây.

Trong chương trình, ông Quách Văn Quý nói với Kyle Bass rằng sau khi Jack Ma rời Alibaba vào tháng 9 năm 2019, tương lai sẽ chỉ có hai kết cục, “tất cả các tỷ phú Trung Quốc sẽ chỉ có hai kết cục: vào tù và bị giết”.

Ông Quách Văn Quý khi đó cũng chỉ ra rằng Tập đoàn Ant Group của Jack Ma đã là một “vấn đề lớn” đối với chính quyền Trung Quốc, vì Ant Group đã thách thức hệ thống ngân hàng của Trung Quốc, và chính quyền Trung Quốc hiện giờ muốn “thu hồi” tập đoàn này.

Tiên đoán này của ông Quách đã khiến các doanh nhân nước ngoài cảm thán không thôi. Jason Calacanis – doanh nhân internet, nhà đầu tư thiên thần nổi tiếng người Mỹ, đã chia sẻ video liên quan trên Twitter và nói: “Jack Ma đang ở đâu? Video này (ám chỉ dự đoán của ông Quách Văn Quý) đã là chuyện của hơn một năm trước”. Henry Mascot, người sáng lập của công ty khởi nghiệp Nam Phi Curacel, nói trên Twitter rằng:  “Anh chàng này đã tiên đoán rằng Jack Ma sẽ bị ĐCSTQ bỏ tù hoặc giết chết. Sau hơn 1 năm, đến nay Jack Ma đã mất tích được 2 tháng”.

Tại sao Jack Ma liên tục hứng trừng phạt? Cư dân mạng tìm thấy một ‘bằng chứng phạm tội’ của ông

Gần đây, người sáng lập Alibaba, Jack Ma đã liên tục hứng chịu các trừng phạt của chính quyền Trung Quốc, gần nhất là vụ kiện chống độc quyền nhắm vào tập đoàn của ông. Điều này làm dấy lên nhiều đồn đoán về cuộc tranh giành quyền lực của trong nội bộ Đảng. Một video về bài phát biểu của Jack Ma đã lan truyền trên mạng gần đây, trong đó nhà sáng lập Alibaba đã công khai đe dọa sự độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước thông qua nền tảng thanh toán Alipay của mình. Một số cư dân mạng cho rằng, đây có thể là lý do tại sao chính quyền đại lục muốn hạ bệ Jack Ma.

Trong video, Jack Ma tuyên bố rằng với sự xuất hiện của Alipay, tất cả các ngân hàng ở Trung Quốc đều không thể ngủ được. Bởi với việc giảm chi phí và cải thiện dịch vụ ngân hàng, ít nhất Alipay đã có một số công lao. Bước vào kỷ nguyên Internet, tôi chỉ muốn China Mobile và China Unicom (hai tập đoàn viễn thông lớn của Trung Quốc) ngủ yên. Jack Ma cho biết ông không quan tâm đến việc mình kiếm được bao nhiêu tiền, nhưng ông không ngại làm phật lòng những người ngồi ở vị trí đó và không làm gì cả. Chúng tôi không quan tâm đến việc giành giật việc làm từ các doanh nghiệp tư nhân, nhưng chúng tôi không ngại thử thách các doanh nghiệp nhà nước.

Tuyên bố này của Jack Ma đã thúc đẩy nhiều bình luận của cư dân mạng.

Một cư dân mạng nói: “Những lời nói này của Jack Ma nên được vang vọng trong khắp hệ thống, bình thường một doanh nghiệp tư nhân nếu có can đảm cũng không dám nói ra những lời như vậy”.

“Dưới hệ thống này, người ta hoặc trở thành công cụ, tay sai, hoặc là bị giết. Nguyên nhân rất đơn giản, là bởi vì bạn dám cản đường, nhưng đứng trước mặt quyền lực bạn không là gì cả!”

“Bất quá Jack Ma cũng làm lợi cho dân một chút, không giống như chính quyền là cao thủ bóc lột dân”.

“Vì Jack Ma, ngân hàng đã mất rất nhiều khoản doanh thu lớn! Đây là điểm then chốt!”

“Ngay cả khi ông ấy không có kế hoạch làm vậy, ĐCSTQ vẫn sẽ tấn công ông ta! Đặc điểm cơ bản của xã hội tư bản quan liêu là: độc chiếm huyết mạch nền kinh tế, tích lũy tài sản khổng lồ, theo đuổi tối đa hóa lợi nhuận và bóc lột tàn nhẫn. Khi đó công nhân và nông dân sẽ bị vắt kiệt, giai cấp tư sản trên toàn quốc, các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp cá thể sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo bị cướp bóc”.

Tập đoàn tín dụng Ant Group của Alibaba ban đầu được lên kế hoạch niêm yết đồng thời tại Thượng Hải và Hồng Kông vào ngày 5/11, nhưng hai ngày trước khi niêm yết, đã bất ngờ có một thông báo đình chỉ việc này. Người ta đồn đoán rằng bài phát biểu của Jack Ma tại Hội nghị thượng đỉnh tài chính Thượng Hải ngày 24/10 đã khiến chính quyền tức giận, và vì vậy chuyện này mới xảy ra.

Kể từ sau hội nghị thượng đỉnh Thượng Hải, Jack Ma đã bị chính quyền trừng phạt. Vào ngày 2/11, Jack Ma bất ngờ nhận được yêu cầu phỏng vấn bởi bốn cơ quan quản lý lớn của Ngân hàng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy ban Điều tiết Ngân hàng Trung Quốc, Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Trung Quốc và Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước. Ngày hôm sau, kế hoạch niêm yết Ant Group của Jack Ma bị đình chỉ.

Không chỉ có vậy, ngày 10/12, dự án quy hoạch “Đại học đào tạo doanh nhân Lake Side” chi nhánh Côn Minh nơi Jack Ma làm hiệu trưởng đã bị nhà chức trách ngăn chặn.

Đến ngày 14/12, Cục Quản lý Giám sát Thị trường Nhà nước đã ra lệnh phạt 500.000 NDT đối với Công ty TNHH Đầu tư Alibaba dưới quyền quản lý của Jack Ma.

Ngày 18/12, tất cả các sản phẩm ký gửi trên nền tảng Internet của Ant group đã bị loại bỏ khỏi các kệ hàng mà không có cảnh báo trước.

Về vấn đề này, một nhân viên truyền thông cấp cao chỉ ra rằng các sản phẩm tài chính Internet của Ant Group đã cướp đi một phần lớn thị phần của hệ thống ngân hàng quốc doanh Trung Quốc. Việc này từ lâu đã khiến ngân hàng trung ương và các ban ngành khác bất mãn. Lần này Jack Ma đã trúng một phát đạn, giới chức trách đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ để giành lại quyền bá chủ thị trường tài chính.

Cũng có quan điểm cho rằng Jack Ma đang tham gia vào cuộc tranh giành quyền lực ở cấp cao. Jack Ma và cháu trai của Giang Trạch Dân , Giang Chí Thành, có mối liên hệ lợi ích đáng kinh ngạc. Tập đoàn Alibaba có nền tảng chính trị vững chắc trong phe Giang. Quỹ đầu tư Boyu Investment do Giang Chí Thành thành lập, CITIC Capital của Lưu Lạc Phi (con Lưu Vân Sơn) và nhiều công ty tư nhân đều có vốn đầu tư trong gã khổng lồ công nghệ này.

Hôm 12/11, tờ Wall Street Journal cho biết rằng việc đình chỉ niêm yết Ant Group đã được Tập Cận Bình đích thân phê duyệt. Tập Cận Bình ngày càng trở nên không khoan nhượng với các doanh nghiệp tư nhân lớn có vốn và ảnh hưởng ngày càng rộng, vốn được coi là mối đe dọa đối với sự thống trị của Tập.

Nhà bình luận cấp cao Jiang Qingping đã dẫn lời một giám đốc tin tức tài chính của kênh truyền thông trung ương Trung Quốc chia sẻ với tờ Caixun.com của Đài Loan như sau:

“Bạn có tin rằng ở Trung Quốc, bắt đầu từ con số không, nếu không có sự giúp đỡ của ĐCSTQ, một giáo viên tiếng Anh [như Jack Ma] có thể trở thành người giàu nhất Trung Quốc hay không?”

Jiang Qingping cho biết Jack Ma là người gốc Giang Tô và Chiết Giang. Sự nghiệp của ông gắn liền với cựu lãnh đạo Trung Quốc Giang Trạch Dân. Ông ta làm giàu vào cuối nhiệm kỳ của Giang Trạch Dân và mạnh hơn vào thời kỳ Hồ Cẩm Đào, người bị phe Giang vượt mặt hoàn toàn và không nắm thực quyền đằng sau. Taobao và Alipay đều phất lên trong thời kỳ này. Sau khi được thành lập, hai nền tảng thương mại điện tử trực thuộc Alibaba này đã nhanh chóng độc chiếm thị trường.

Đài Á Châu Tự Do hôm 17/12 dẫn lời một người trong cuộc tiết lộ rằng chính quyền trung ương đã cử một nhóm điều tra chung tới Tập đoàn Alibaba. Mặc dù việc này đã bị Alibaba bác bỏ, ngoại giới hiện đang đồn đoán rằng Alibaba đã bị điều tra.

Tờ Vision Times tiết lộ độc quyền vào ngày 22/12 rằng đội điều tra của trung ương đang hoạt động tại Alibaba là một thông tin tuyệt mật. Vì Alibaba là một công ty niêm yết nên việc đội điều tra vào cuộc lúc này chắc chắn không phải là điều tốt cho nó. Các bộ phận liên quan đã được yêu cầu giữ bí mật về chủ đề này.

Đại Kỷ Nguyên