Khi đàn sếu chẳng trở về

Năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam không thấy sếu đầu đỏ bay về, trú lại tìm thức ăn. Giới khoa học quan sát và cho biết chỉ có 7 con bay qua khu vực Phú Mỹ (Kiên Giang) mà không hề đậu lại. Lý do là vì không còn chút đất lành nào cho đàn sếu trở về.

“ Buồn lắm, vẫn không thấy chúng đâu” – ông Trần Hào Hiệp, phó giám đốc Trung tâm bảo tồn và hợp tác quốc tế thuộc Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim, nói với tôi qua cuộc điện thoại ngày 14-12-2020, dẫu “tháng 12 là tháng chúng có thể về sớm”.

Cuộc gọi thứ hai cho ông Nguyễn Văn Hướng, giám đốc Ban Quản lý khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ, cũng nhận tin buồn: năm nay, đến ngày 15-12 vẫn chưa có sếu về Phú Mỹ như mọi năm.

Vậy là, ở cả hai khu vực sếu thường về Việt Nam là VQG Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) và cánh đồng cỏ bàng Phú Mỹ (huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang) năm nay vẫn chưa ghi nhận con sếu nào xuất hiện.

Theo thống kê của Trung tâm bảo tồn và hợp tác quốc tế thuộc VQG Tràm Chim, những năm 2014-2016 vẫn còn thấy sếu về, dù ít, từ 14-23 con mỗi năm thì năm 2017 đột ngột chỉ có 3 con. Năm 2018 họ đếm được 9 con, năm 2019 là 11 con. Trong cả năm 2020 không có con sếu nào về.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Phong Vân, nguyên giám đốc Ban Quản lý khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ, cho biết năm 2018 và 2019 số lượng sếu về Phú Mỹ lần lượt là 97 con và 54 con. “Người dân tự bao chiếm, đắp đê làm lúa bên trong Phú Mỹ làm xáo trộn sinh cảnh sống của sếu nên năm 2020 sếu không về. Những người dành tâm huyết cho công tác bảo tồn và yêu sếu đều rất đau lòng” – ông Vân nói.

Thạc sĩ Nguyễn Hoài Bảo – phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu đất ngập nước (thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM), cũng là một tình nguyện viên bảo tồn sếu tại Hội Sếu quốc tế – cho biết sự sụt giảm của đàn sếu ở Việt Nam và cả Campuchia cho thấy môi trường sinh thái tự nhiên đang bị xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là các vùng đất ngập nước tự nhiên và khu vực sản xuất nông nghiệp

Cụ thể, sinh cảnh sống của sếu bị tàn phá quá nhanh trong 10 năm gần đây, xảy ra ở cả 2 nước. Chẳng hạn ở phía Bắc Campuchia và Tây Nguyên Việt Nam, trước đây là những khu rừng khộp rộng lớn nơi sếu sinh sản, nay đã biến thành đồn điền cao su, đồng mía, rẫy điều… Khu vực đồng cỏ ngập nước quanh Biển Hồ khi trước là vùng đất hoang hoặc trồng lúa một vụ, nay hầu hết đang trồng lúa 2-3 vụ.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 2.

Đối với ĐBSCL, việc chuyển đổi đồng cỏ ngập nước tự nhiên thành đất nuôi trồng thủy sản hay trồng lúa và lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp đã làm phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái. Sếu gần như không còn cơ hội để tồn tại. Tại các khu bảo tồn, việc “trồng rừng” không phù hợp cũng dẫn đến sự biến mất của loài sếu ở Việt Nam.

Khi được hỏi về những kiến nghị và giải pháp để sếu một lần nữa quay về Việt Nam, ông Bảo thẳng thắn: “Gần như không có giải pháp. Trước đây, các khuyến nghị của những nhà khoa học bảo tồn không được lắng nghe. Đến nay gần như mọi thứ không thể đảo ngược. Khi môi trường tự nhiên đã thay đổi, việc khôi phục nó là hầu như không thể hoặc rất tốn kém”.

Ông Bảo cho rằng chỉ có thể gìn giữ những vùng đất tự nhiên còn sót lại, đồng thời quy hoạch lại một số vùng trồng lúa không hiệu quả, giảm hóa chất nông nghiệp thì mới “Hi vọng trong 10 hay 15 năm tới có sự thay đổi tích cực”.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 3.
Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 4.

Tràm Chim trong những năm 1980 là nơi đầu tiên phát hiện sếu về tìm thức ăn. Cao điểm có cả ngàn con sếu tạo nên vũ điệu đặc sắc trước hoàng hôn. Lúc đó, nơi này còn chưa được công nhận là vườn quốc gia, cũng chưa hề có khái niệm về bảo tồn.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 5.

Theo các chuyên gia, hệ sinh thái VQG Tràm Chim bắt đầu bị xáo trộn xuất phát từ tư duy trữ nước để phòng lửa và chữa lửa. Muốn vậy, phải nâng đê lên 4-5m so với mặt đất, phải đào kênh bên trong để trữ nước suốt mùa khô.

Tràm Chim vốn vận hành theo nhịp tự nhiên từng mùa (mùa khô và mùa nước nổi) bỗng bị biến thành “hồ nước” quanh năm. Cây cỏ thuộc hệ sinh thái theo mùa không thích nghi được với việc bị ngâm trong nước nhiều năm nên chết dần.

Theo quan sát của Tuổi Trẻ Cuối Tuần, kể từ khi Tràm Chim có đê bao khép kín, hệ thống kênh chằng chịt, người ta không còn phân biệt được đâu là mùa khô, đâu là mùa lũ vì chỉ còn một mùa nước bình bình bủa quanh.

Chim cò giảm hẳn, chỉ còn tiếng ghe máy đưa du khách vào tham quan trong rừng tràm xành xạch ồn ào. Số lượng chim giảm, số lượng cây tràm thì tăng, nhưng những cây tràm này cũng ốm o, ngả nghiêng trong nước ngập.

Việc chăm chăm giữ nước để phòng cháy còn kéo theo nhiều hệ lụy: diện tích đồng cỏ bị thu hẹp, tràm bị ngã đổ và không tăng trưởng được, cây năn không tạo củ để làm thức ăn cho sếu. Xác bã thực vật chết, thối rữa lấy hết oxy trong nước làm cá không sống được, chim, cò không thể tìm được nguồn thức ăn.

Từng nhiều năm làm giám đốc VQG Tràm Chim nên ông Nguyễn Văn Hùng (hiện là phó giám đốc Sở Khoa học – công nghệ Đồng Tháp) hiểu hơn ai hết những áp lực của việc trữ nước để chống cháy rừng vì luật chồng chéo. Mặc dù VQG Tràm

Chim được công nhận là Ramsar (vùng đất ngập nước) thứ 2.000 của thế giới, nơi đây lại không được quản lý theo Công ước Ramsar mà quản lý theo Luật bảo vệ rừng đặc dụng, trong đó có quy định không để cháy rừng. Các nhà khoa học và vườn quốc gia đã có nhiều lần kiến nghị nên thực thi pháp luật Việt Nam, đồng thời vận dụng Công ước Ramsar để quản lý Tràm Chim tốt hơn, nhưng đến nay những kiến nghị ấy vẫn rơi vào im lặng.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 6.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia sinh thái với hơn 20 năm kinh nghiệm về bảo tồn đất ngập nước ở ĐBSCL, cũng nói về nghịch lý trong việc quản lý khi để rừng tràm chiếm ưu thế và lấn át những loài khác.

“Đồng Tháp Mười nguyên thủy là những cánh đồng cỏ rộng mênh mông, xa xa có những cụm tràm. Dĩ nhiên cũng cần tràm nhưng không cần trồng dày đặc vì đây không phải lâm trường mà là khu bảo tồn đất ngập nước. Loài sếu rất sợ bụi cây vì bản năng cảnh giác của chúng rất cao” – ông Thiện phân tích.

Ngoài ra, theo lý thuyết sinh thái, và thực tiễn cũng đã chứng minh, lửa ở một cường độ vừa phải là một yếu tố của hệ sinh thái. Nó góp phần làm vệ sinh hệ sinh thái để tái tạo khối mới, tốt tươi cho muôn loài. Và cây tràm cùng đồng cỏ Đồng Tháp Mười là những loài thích nghi cao với lửa, có thể phục hồi rất nhanh sau lửa.

“Tràm trồng thì không phải là loài bị đe dọa tuyệt chủng. Ấy vậy mà để bảo vệ cây tràm khỏi lửa, toàn bộ hệ sinh thái trong đó có sếu và các loài quý hiếm khác phải chết dần chết mòn. Một cái chết ngộp. Tràm không cháy trong lúc bị ngâm nước nhưng cũng ngã đổ và ốm o” – ông Thiện nói.

Vị chuyên gia này cũng nhấn mạnh: mối đe dọa với hệ sinh thái ĐBSCL là các đập thủy điện ở Lào và Campuchia đã tạo thành những bức tường thành ngăn cá trắng đổ về hạ lưu. Cá trắng mất đi thì cá đen cũng không thể tồn tại vì mất nguồn thức ăn. Và không có cá thì muôn loài chim, không riêng sếu trong VQG Tràm Chim, khó mà tồn tại.

Khi đàn sếu chẳng trở về... - Ảnh 7.
Nội dung:
 NGỌC TÀI – HỒNG VÂN
Hình ảnh:
 TĂNG A PẨU – NGUYỄN HOÀI BẢO – DỰ ÁN SARUS CONSERVATION – ONNUCHA HUTASINGH
Thiết kế:
 HẢI PHI
Concept:
 BẢO SUZU

Tuổi trẻ Online.

Nếu là tài năng công nghệ, Phần Lan mời ‘Sống thử 90 ngày’

TTO – Phần Lan đã nhận được hơn 5.300 đơn sau 1 tháng triển khai chương trình thể nghiệm đột phá nhằm thu hút tài năng công nghệ chuyển đến quốc gia này sống và làm việc lâu dài.

Nếu là tài năng công nghệ, Phần Lan mời Sống thử 90 ngày - Ảnh 1.

Phần Lan đứng đầu trong danh sách quốc gia hạnh phúc nhất thế giới trong ba năm liền gần đây – Ảnh: REUTERS

Người nộp đơn và gia đình họ có cơ hội chuyển đến quốc gia này để “sống thử” trong 90 ngày trước khi quyết định có muốn sống lâu dài ở xứ Bắc Âu này hay không.

Bà Johanna Huurre, thuộc trung tâm Kinh doanh Helsinki Business Hub – đơn vị có ý tưởng về chương trình trên, lý giải: “Chúng tôi biết ai đã đến Phần Lan đều có xu hướng ở lại. Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi phải suy nghĩ một cách sáng tạo để cạnh tranh về nhân tài trên toàn cầu”.

Khoảng 30% trong số những người nộp đơn đến từ Mỹ và Canada, số còn lại rải rác cho nhiều nước khác nhau. Phần lớn họ đều đã có gia đình và muốn làm việc từ xa cho công ty hiện tại, ít nhất là giai đoạn đầu. Hơn 800 người khác dự định khởi nghiệp và 60 người là nhà đầu tư, số còn lại là những người tìm kiếm việc làm.

Phần Lan là quốc gia đã khai sinh ra Nokia, tin nhắn SMS, mạng 5G và hệ điều hành Linux. Quốc gia này là môi trường nở rộ của các công ty khởi nghiệp, trị giá đến 6 tỉ euro. Số lượng các công ty khởi nghiệp trong ngành kỹ thuật số tính theo đầu người ở Phần Lan là cao nhất thế giới.

Các công ty đa quốc gia về công nghệ như Google, Bayer và GE Healthcare gần đây cũng đã mở các cơ sở ở Phần Lan.

Theo báo The Guardian, chương trình sống ở Phần Lan 90 ngày hiện đã hết hạn nộp đơn. Ứng viên được chọn sẽ được hỗ trợ các giấy tờ chính thức cần thiết để tìm nhà, văn phòng để làm việc từ xa, được giới thiệu với các trung tâm về công nghệ, được kết nối về nghề nghiệp ở thủ đô Helsinki và vùng lân cận, được hỗ trợ về thủ tục chuyển sang cư trú dài hạn như tìm trường học, nhà trẻ phù hợp cho con cái.

Ông Joonas Halla, một thành viên của Business Finland, cho biết: “Đây là một sáng kiến tuyệt vời để giới thiệu Phần Lan đến những tài năng công nghệ. Chúng tôi cần người tài”.

Lĩnh vực công nghệ số ở Phần Lan đang phát triển mạnh mẽ và có ước tính cho rằng nó có thể tạo ra 50.000 việc làm mới trong năm 2021.

Người nộp đơn không chỉ cảm thấy viễn cảnh công việc ở Phần Lan hấp dẫn mà còn vì những ưu đãi như chăm sóc sức khỏe miễn phí trọn đời, chính sách nghỉ chăm con nhỏ hậu hĩnh, sự cân bằng trong đời sống riêng và công việc và lối sống gần gũi thiên nhiên.

Phần Lan đứng đầu trong danh sách quốc gia hạnh phúc nhất thế giới trong ba năm liền.

Hồng Vân / TPO

Những đại dịch kỳ lạ chưa lời giải đáp

Tháng 11/2019, ca bệnh COVID-19 đầu tiên được phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc. Một năm sau, cả nhân loại vẫn đang miệt mài đi tìm phương thức hạ gục đại dịch nguy hiểm này, coi đây là thách thức chưa từng có trong lịch sử loài người. Nhưng, trước khi COVID-19 xuất hiện, loài người đã từng đối diện những điều kỳ lạ hơn thế, với những căn bệnh thậm chí không thể tìm ra lời giải đáp.

Dịch bệnh nhảy múa

Vào năm 1518, theo First Post, một dịch bệnh kỳ lạ đã càn quét gần như toàn bộ thành phố Strasbourg của Pháp, khiến hàng trăm người nhảy múa cuồng loạn cho đến khi gục ngã. Theo tài liệu y khoa viết năm 1530 bởi bác sĩ Paracelsus, dịch bệnh này bắt đầu vào giữa tháng 7/1518, khi một người phụ nữ có tên Frau Troffea vô thức bước ra đường phố và bắt đầu nhảy múa trong nhiều ngày liên tiếp. Chỉ trong vòng 4 ngày, 33 người khác xuất hiện những biểu hiện tương tự như Troffea. Một tháng sau, hơn 400 người đã đổ ra đường phố và cùng Troffea nhảy múa không ngừng nghỉ. Trong cái nắng oi ả của ngày hè, những người dân bất kể già trẻ, gái trai đều say mê khiêu vũ cho tới khi lưng áo ướt đẫm mồ hôi, còn đôi chân thì bầm tím.

Cuộc khiêu vũ cứ tiếp tục cho đến khi – trước sự kinh hãi của đám đông đứng xem – một số nạn nhân gục xuống và chết vì nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não hoặc kiệt sức. Giới chức thành phố ban đầu cho rằng, việc người dân khiêu vũ là hệ quả của tăng thân nhiệt ác tính. Họ quyết định cho người dân nhảy múa nhiều hơn, với niềm tin rằng việc duy trì chuyển động liên tục sẽ giúp khỏi bệnh.

Thế nhưng, điều này lại mang về kết quả ngược. Britannica trích dẫn một tài liệu lịch sử kể lại: “Trong cơn điên loạn, mọi người vẫn tiếp tục nhảy múa cho đến khi họ bất tỉnh, và nhiều người đã chết”. Chỉ trong hơn một tháng, hơn 400 người đã thiệt mạng vì dịch bệnh kỳ quái này. Giới chức thành phố tiếp tục cho rằng những người dân nhảy múa điên cuồng là do hứng chịu cơn thịnh nộ của thần thánh. Họ lựa chọn cách “đền tội” bằng việc cấm âm nhạc và khiêu vũ nơi công cộng. Những người mắc bệnh được đưa đến ngôi đền thờ Thánh Vitus nằm trên ngọn đồi thuộc thị trấn Saverne gần đó, nơi đôi chân đẫm máu của các bệnh nhân được đặt vào những chiếc giày đỏ, và họ được dắt đi quanh một bức tượng nhỏ bằng gỗ của vị thánh. Trong những tuần tiếp theo, các hoạt động nhảy múa đã dần dừng lại, và dịch bệnh kết thúc một cách lạ kỳ.

Hàng trăm năm đã trôi qua, nhưng nguyên nhân của đại dịch này vẫn là một ẩn số, thách thức nền khoa học hiện đại. Nhà xã hội học người Mỹ Robert Bartholomew cho rằng các nạn nhân là tín đồ của giáo phái dị giáo nên buộc phải khiêu vũ để thu hút sự ưu ái của thần thánh. Giả thuyết khác lại cho rằng, những tín đồ địa phương nếu không ủng hộ hay không tin vào Thánh Vitus sẽ bị nguyền rủa và buộc phải nhảy múa cho đến chết. Một trong những giả thuyết được cho là hợp lý nhất do nhà nghiên cứu John Waller đưa ra, nói rằng các nạn nhân của bệnh nhảy múa mắc chứng rối loạn tâm thần hàng loạt. Cụ thể, những đợt bùng phát tương tự diễn ra trong hoàn cảnh căng thẳng tột độ và thường hình thành dựa trên nỗi sợ hãi. Trong trường hợp của bệnh nhảy múa năm 1518, Waller đã viện dẫn hoàn cảnh lịch sử, khi nạn đói đang hoành hành ở một số nơi, và sự lây lan của bệnh đậu mùa và bệnh giang mai đã tác động tiêu cực đến tinh thần của cư dân Strasbourg.

Đồng tình với quan điểm này, nghiên cứu Hetherington và Munro mô tả chứng cuồng khiêu vũ là kết quả của “sự căng thẳng chung”, với việc người dân nhảy múa vô thức để giảm bớt căng thẳng, quên đi cái đói và bệnh tật bủa vây. Gần đây nhất, các nghiên cứu do The Guardian thu thập cho thấy, dịch bệnh là hệ quả của việc ăn bánh mì làm từ bột lúa mạch đen bị nhiễm nấm mốc có chứa chất thức thần gây ảo giác, khiến người nhiễm độc có thể bị co giật, tồn tại những tưởng tượng không có thật, kéo họ vào thế giới dị biệt với những màn khiêu vũ không thể kết thúc.

Hình minh họa những nạn nhân của dịch bệnh nhảy múa đang khiêu vũ bất kể ngày đêm tới khi gục ngã, bất tỉnh. Ảnh: Alamy Stock.

Đại dịch “bọ tháng Sáu”

Nghiên cứu được thực hiện bởi Alan C. Kerckhoff, Kurt W. Back đăng trên tạp chí ACP nhắc đến một dịch bệnh lạ được gọi tên là “Bọ tháng sáu” (June Bug). Cụ thể, vào tháng 6/1962, một người phụ nữ làm việc tại nhà máy dệt ở South Carolina miền Nam nước Mỹ đột nhiên phát ban và sốt, nghi do bị một loại bọ lạ cắn. Chỉ trong vài ngày, hàng chục người khác trong nhà máy cũng xuất hiện các triệu chứng tương tự, nhiều người phải nhập viện dù họ thực tế không có vết bọ cắn nào. Trang Mental Floss thống kê rằng đã có 62 công nhân mắc bệnh, với các triệu chứng buồn nôn, chóng mặt và sốt cao.

Giả thuyết ban đầu cho rằng số công nhân này bị nhiễm virus lây truyền qua một loại bọ lạ xuất hiện trong nhà máy. Toàn bộ nhà máy đã được sơ tán để phục vụ cho công tác kiểm dịch, truy gốc bệnh. Nhưng, chỉ có hai loài côn trùng được tìm thấy và không có bất cứ hóa chất độc hại nào được phát hiện trong cả hai loài, bao gồm cả những loại hóa chất có thể gây ra các phản ứng bệnh kể trên. Các chuyên gia thuộc Trung tâm Bệnh truyền nhiễm Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ cũng được điều đến nhà máy, nhưng không tìm thấy bất cứ thứ gì liên quan đến loài bọ tháng sáu như tin đồn. Các cơ quan y tế và các nhà côn trùng học cũng vào cuộc, và đưa ra cùng một kết luận rằng không có cơ sở thực tế chứng minh côn trùng đã gây ra căn bệnh hàng loạt trên.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, tất cả các đoàn y tế đều đưa ra một kết luận như nhau, đó là các công nhân đã mắc căn bệnh được gọi là “chứng rối loạn phân ly hàng loạt” (Mass Hysteria). Việc xuất hiện tin đồn về virus “bọ tháng sáu”, kết hợp cùng những áp lực tại nhà máy, và không có một nguyên nhân cụ thể nào lý giải cho bệnh dịch này, đã khiến sự lo lắng bao trùm lấy các công nhân và làm họ đổ bệnh. Kết quả phỏng vấn những người lao động bị bệnh và phân tích dữ liệu khảo sát do Lawrence R. Murphy & Michael J. Colligan thực hiện cũng chỉ ra rằng, những người lao động mắc bệnh đều không hài lòng hơn với môi trường làm việc, đồng thời luôn gặp căng thẳng về thể chất và gánh chịu áp lực tài chính quá lớn từ gia đình. Nhiều trong số các công nhân bị bệnh đều chịu cảnh làm việc tăng ca liên tục tại nhà máy dẫn đến suy nhược. Tình trạng vệ sinh không được đảm bảo và điều kiện làm việc tệ cũng đã tác động tới tâm lý chung của số công nhân này, khiến căn bệnh “bọ tháng Sáu” lây lan khó kiểm soát.

Hình minh họa dịch cười Tanganyika khiến nhiều học sinh cấp 3 tại Tanzania rơi vào trạng thái cười không kiểm soát. Ảnh: Youtube.

Dịch cười Tanganyika 

Ngày 30/1/1962 là một ngày dị thường tại Tanganyika. Ba học sinh thuộc trường nữ sinh Kashasha, Tanzania khi đang đi chơi cùng nhau bất chợt cười rồi khóc liên tục không thể kiểm soát. Những tiếng cười ngày càng lớn và không thể dừng lại, sau đó lan rộng đến các lớp học khác, khiến số học sinh mắc chứng cười trong vô thức liên tục tăng lên.

Theo số liệu do nghiên cứu của Tiến sĩ Christian F. Hempelmann từ Đại học Texas A&M công bố trên tạp chí quốc tế Humor Research, cho đến ngày 18/3 cùng năm, 95 trong tổng số 159 học sinh nhà trường đã mắc căn bệnh này, buộc nhà trường phải tạm thời đóng cửa. Sau khi trường bị đóng cửa và các học sinh đã được đưa về nhà, dịch cười vẫn tiếp tục lan rộng đến Nshamba, ngôi làng mà nhiều nữ sinh của trường sinh sống. Chỉ trong 2 tháng, có 217 người trong làng đã mắc dịch cười, hầu hết là trẻ em độ tuổi đi học và thanh thiếu niên. Đáng chú ý, tháng 5, khi ngôi trường này mở cửa trở lại, 57 học sinh tiếp tục mắc chứng cười không kiểm soát, buộc nhà trường phải đóng cửa một lần nữa vào tháng 6.

Các nghiên cứu cho thấy, không giống như dịch bệnh nhảy múa xảy ra tại Pháp, tình trạng cười không kiểm soát tại Tanganyika kéo dài trung bình khoảng 7 ngày, với một số trường hợp có thể lên tới 16 ngày mà không có triệu chứng bệnh lý nào cụ thể. Chỉ trong vòng nửa năm, dịch cười đã lây lan sang các trường trung học khác, buộc 14 trường học tại Tanzania phải đóng cửa. Bệnh “cười” thậm chí còn lan sang nước láng giềng Uganda, với báo cáo từ Central African Medical Journal cho thấy có tới hơn 1.000 nạn nhân của dịch cười này với mọi lứa tuổi, giới tính. Sau 18 tháng kể từ khi 3 ca bệnh đầu tiên được phát hiện, dịch bệnh cười mới hoàn toàn kết thúc.

Mặc dù được gọi dịch bệnh cười, Tiến sĩ Christian F. Hempelmann đã giải thích rằng, tình trạng bệnh có thể không chỉ là về tiếng cười mà còn là những cảm xúc cực đoan, được coi là trường hợp biến thể vận động của “chứng rối loạn phân ly hàng loạt” (Mass Hysteria), tương tự như dịch bệnh “bọ tháng Sáu”. Nhưng, thay vì tình trạng sốt phát ban, cười là triệu chứng phổ biến. Dựa trên những phân tích về lịch sử, ông Hempelmann cho rằng, các học sinh của trường Kashasha đã phải trải qua những sang chấn tâm lý nghiêm trọng do sự thay đổi môi trường sống, cùng những quy định quản thúc nghiêm ngặt và khác biệt về văn hóa, tín ngưỡng tại ngôi trường mới. Tuy nhiên, khoa học hiện đại vẫn chưa đưa ra kết luận cụ thể về dịch bệnh này, khiến nụ cười ma mị ở Tanganyika cho đến nay vẫn là ẩn số.

An Nhiên Văn nghệ CA

Nhìn lại kinh tế thế giới 2020: Covid-19 và ông Trump

  • Martin Webber
  • Chủ biên Kinh tế, BBC Thế giới vụ
Commuters wearing facemasks in Los Angeles in November
Chụp lại hình ảnh,Với những người cần phải đi tới chỗ làm thì năm 2020 là năm mà việc đeo khẩu trang đã trở thành bắt buộc đối với một số nơi

Đại dịch Covid-19 không chỉ gây ra một năm xáo trộn về kinh tế, mà còn dẫn tới những thay đổi dài hạn quyết liệt đối với cách chúng ta sinh sống, làm việc.

Thêm nữa, đại dịch một lần nữa cho thấy những nguy cơ mà nhân loại đang gặp phải từ việc cho phép những phần nhỏ trong ngành cung ứng lương thực thực phẩm nhốt giữ động vật trong những điều kiện tồi tệ, giam nhốt trong lồng chật hẹp.

Không ai biết được chắc chắn, nhưng giả thuyết hàng đầu vẫn là Covid-19 đã khởi phát từ khu mua bán động vật tươi sống trong một ‘chợ động vật hoang dã’ ở Vũ Hán, Trung Quốc.

Từ đó, virus gây bệnh đã dễ dàng lây lan mạnh ra toàn cầu bằng những phương thức được cho là thành tựu to lớn nhất của nhân loại: việc đi lại toàn cầu bằng đường hàng không giá rẻ, hoạt động liên tục.

Người từng cảnh báo trong nhiều năm về các khu chợ động vật hoang dã là Peter Knights từ tổ chức Wild Aid, người gọi các chợ đó là “góc nhỏ từ địa ngục”.

Puppies are seen in a cage at a dog meat market in Yulin, in China's southern Guangxi region on June 21, 2017
Chụp lại hình ảnh,Chó bị nhốt tại chợ thịt chó ở Trung Quốc: Covid-19 nhiều khả năng đã phát sinh từ khu vực mua bán động vật sống ở một chợ Vũ Hán

Wild Aid đã quay phim từ Trung Quốc những hình ảnh cho thấy các lồng nhốt chật cứng những con ngỗng, mèo, rắn và các loại động vật khác, đặt chồng chất lên nhau.

“Âm thanh phát ra từ những con vật khác nhau thật thê thảm. Điều kiện nhốt giữ chúng vô cùng tệ hại,” ông Knights nói, và cho biết thêm là “chúng ta phải chấm dứt [việc buôn bán các loại thú hiếm làm đặc sản]… thật vô lý khi để điều đó tiếp diễn”.

Các khoa học gia chỉ ra rằng đại dịch cúm Tây Ban Nha hồi 1918 được cho là bắt đầu từ chim, HIV thì từ các loài linh trưởng, còn Ebola là từ dơi.

“Những động vật này [ở chợ động vật hoang dã] sẽ rất thảm thiết trong những lồng nhốt chật hẹp, và điều đó tạo ra những điều kiện lý tưởng để bệnh dịch sinh sôi,” ông nói.

Prof Devi Sridhar
Chụp lại hình ảnh,Giáo sư Sridhar cho rằng các nước áp dụng các biện pháp quyết liệt nhằm chặn việc đi lại quốc tế đã thành công nhất trong việc hạn chế các tác động của Covid-19

Nội dung tập trung vào chuỗi cung ứng thực phẩm này được Devi Sridhar, giáo sư về y tế cộng đồng toàn cầu tại Đại học Edinburgh, ủng hộ.

“Chỉ cần một vụ nhồi nhét là đã đủ để chuyện này diễn ra. Vào một lúc nào đó, một trong hàng triệu loại virus có trong vương quốc động vật sẽ nhảy sang người, và sẽ duy trì được khả năng lây nhiễm từ người sang người,” bà nói.

Chính phủ các nước cần phải “xem xét cách thức hành xử của chúng ta đối với động vật, với tình trạng phá rừng, về cách thức chúng ta nuôi động vật trong các nhà máy, việc chúng ta dùng kháng sinh và những điều kiện ta nhốt giữ động vật”, bà nói.

Giáo sư Sridhar cũng cho rằng có những bài học mà chính phủ các nước cần học hỏi về cách thức các nước khác nhau ứng phó với đại dịch.

Những nước áp dụng các biện pháp quyết liệt nhằm chặn việc đi lại quốc tế đã thành công nhất trong việc hạn chế tổn hại cả về y tế lẫn kinh tế do virus gây ra, bà nói.

UN workers wearing suits and a masks for a sanitizing operation of the central market in Bamako on April 04, 2020.
Chụp lại hình ảnh,Nhân viên LHQ làm vệ sinh tại một ngôi chợ ở Bamako, Mali. Nước này đã cấm các chuyến bay quốc tế từ trước khi có ca ây nhiễm virus corona đầu tiên

Hồi giữa năm, các nước tây Âu thực sự đã khuyến khích người dân đi nghỉ nhằm tái khởi động ngành du lịch. “Chúng ta nay đang phải trả giá cho những ngày nghỉ mùa hè bằng những đợt phong tỏa mùa đông,” Giáo sư Sridhar kết luận.

Đối ngược lại, bà nói, các nhà lãnh đạo châu Phi biết rằng hệ thống y tế của họ không thể “xử lý được theo cách đó”, cho nên có những nước, chẳng hạn như Mali, đã dừng toàn bộ việc đi lại quốc tế thậm chí từ trước khi nước này có bất kỳ ca lây nhiễm nào.

Hầu hết chính phủ các nước đã có hành động quyết liệt để chủ động đóng cửa kinh tế, nhằm giảm bớt mức độ tiếp xúc xã hội và qua đó giảm bớt tổn thất nhân mạng.

Do vậy, sản phẩm đầu ra của thế giới trong năm 2020 được trông đợi sẽ thấp hơn năm trước chừng 4%.

Bị sụt giảm mạnh nhất là Tây Ban Nha và Anh Quốc, với mức khoảng 12%, còn Ấn Độ bị giảm ở mức khoảng 8%.

Tuy nhiên, có sự bất đồng lớn trong cách các nhà phân tích số liệu ở các nơi khác nhau ghi nhận trong những thời điểm bất ổn, cho nên toàn bộ các con số cần được xem xét một cách thận trọng.

Passengers arrive at London Heathrow airport

Nhìn chung, các số liệu quốc gia về thị trường chứng khoán và kinh tế đã che giấu đi những chênh lệch to lớn giữa các ngành công nghiệp.

Chẳng hạn như các nền tảng trực tuyến và các nhà bán lẻ địa phương đã rất phát đạt, do mọi người không còn đi lại đường dài tới nơi làm việc nữa và hạn chế các chuyến đi chợ ở các siêu thị lớn.

Tại Anh, sữa tươi được coi là thiết yếu, cho nên những người giao sữa tận nhà đột nhiên nhận được lượng yêu cầu đặt hàng tăng vọt.

Paul Ward từ công ty sữa McQueen Dairies ở Cheshire, miền tây bắc xứ Anh, nói: “Chúng tôi chưa bao giờ bận rộn thế này. Bận đến phát điên. Nó làm bạn thấy tự hào vì mình là người bán sữa.”

Với những công ty bị ảnh hưởng nặng nề do thiếu vắng các cuộc họp “gặp trực tiếp”, thì sự bền bỉ và khả năng thích nghi là những yếu tố sống còn giúp cho hãng tiếp tục tồn tại.

Ngành công nghiệp hàng không nhận được 170 tỷ đô la từ hỗ trợ nhà nước, qua đó tránh được tình trạng phá sản hàng loạt. Số lượng hành khách đi lại giảm 60% trong năm, trở lại mức của 17 năm về trước.

Paul Ward
Chụp lại hình ảnh,”Chúng tôi chưa bao giờ bận rộn như lúc này,” Paul Ward từ công ty sữa McQueen Dairies ở tây bắc Anh nói

Raja Daswani – thợ may chuyên nhận may đo tại Hong Kong – vẫn duy trì độ phát đạt bất chấp một năm tồi tệ với hầu hết mọi người, khi đa phần do làm việc từ nhà nên chủ yếu dùng đồ tiện dụng thoải mái hầu như cả tuần.

Ông nói khách hàng của mình tại châu Á đang sẵn sàng mở hầu bao rộng rãi để sắm lại các bộ đồ bảnh bao, chỉn chu. “Sau khi virus này biến mất, mọi người sẽ muốn làm ăn theo cách hết sức nghiêm túc. Không còn chuyện mặt đồ thoải mái nữa.”

Ông Daswani nói rằng các khách hàng dùng Facetime và Zoom để gọi tới mua các bộ vest. “Chúng tôi phải tìm các cách để kinh doanh. Đó là một trải nghiệm tốt, bởi chúng tôi đang hiện đại hóa công ty mình với thứ công nghệ mới.”

“Nếu không giữ được cho mình ở thế đi trước trong đời thì quý vị sẽ bị tụt hậu, cho nên tôi khuyến khích mọi người là hãy nên hướng về phía trước,” ông nói.

Thực sư là nhiều chuyên gia tin rằng thế giới có thể đã học được những bài học từ đại dịch, điều sẽ cho phép các nền kinh tế trở nên hiệu quả hơn trong tương lai.

Raja Daswani measuring customer for suit
Chụp lại hình ảnh,Raja Daswani (trái) nói các khách hàng ở châu Á đang sẵn sàng vung tiền mua sắm đồ, tuy nhiên ngày càng nhiều người chọn dùng Facetime và Zoom để đặt hàng

Kinh tế gia của Anh, Roger Bootle, Chủ tịch Capital Economics, nói: “Tôi cho rằng vẫn có chỗ để tăng tính hiệu quả công việc thêm nữa.”

“Chúng tôi khám phá ra rằng thực sự là nền kinh tế dựa vào hoạt động ở văn phòng có thể khá là thành công trong lúc không cần phải tất cả mọi người đều tới sở.”

Ông nói rằng công nghệ đã được cải thiện trong nhiều năm, cho phép nhân viên có thể làm việc từ nhà, “nhưng có độ trễ giữa cái có thể thực hiện bằng công nghệ và cái mà các doanh nghiệp cảm thấy họ có thể làm hoặc muốn làm.”

Ông Bootle nói: “Cần phải có một cú sốc, một cú choáng, để mọi người trên cùng thuyền vào cùng thời điểm nhận thấy rõ là có thể làm được chuyện đó.”

Mọi người có lẽ sẽ trở lại làm việc nơi công sở chỉ bán phần giờ, ông tin vậy, nhưng điều này sẽ có nghĩa là cần tới ít diện tích văn phòng hơn ở các trung tâm thành phố, trong lúc nhiều doanh nghiệp sẽ cần khởi nghiệp ở các thị trấn nhỏ, các làng quê.

Đây sẽ là “một thách thức to lớn”, ông nói, nhưng ông kết luận rằng “kết quả cuối cùng sẽ là tiết kiệm được diện tích văn phòng, tiết kiệm được nỗ lực của con người, và tôi nghĩ là mọi người sẽ vui vẻ hơn.”

U.S. President Donald Trump removes his mask upon return to the White House from Walter Reed National Military Medical Center on October 05, 2020 in Washington, DC
Chụp lại hình ảnh,Covid là một trong những lý do khiến ông Trump thất cử trước ứng viên canh tranh, ông Joe Biden

Tại Hoa Kỳ, hầu hết các cử tri quyết định trong tháng Mười Một rằng việc có một doanh nhân làm tổng thống trong bốn năm qua chưa chứng tỏ được rằng đó là một thử nghiệm thành công.

Robert Reich, giáo sư tại Đại học California Berkeley và là bộ trưởng lao động dưới thời Tổng thống Clinton, chỉ trích gay gắt việc điều hành của Tổng thống Trump trong bốn năm qua.

“Thật là xấu hổ. Thật là đáng sợ,” ông nói.

Giáo sư Reich nói rằng Tổng thống Trump đã thành công trong việc đẩy giá cổ phiếu tăng, nhưng điều đó không ích gì cho hầu hết người dân khi mà 10% những người Mỹ giàu nhất đang sở hữu 92% thị trường cổ phiếu.

Tương phản, “lương bổng thì đình đốn đối với hầu hết mọi người… ông ấy tạo ra rất ít các công ăn việc làm trong nhà máy mà được trả lương cao”, ông nói.

Giáo sư Reich đổ lỗi cho ông Trump trong thất bại khi xem nhẹ mối đe dọa Covid-19 đối với việc gây ra “ảnh hưởng tai hại” cho nền kinh tế 2020.

Tuy nhiên, thành tích của ông Trump lại được mạnh mẽ bảo vệ bởi Tomas Philipson từ Đại học Chicago, người từng giữ chức chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế dưới thời ông Trump.

Ông Philipson nói rằng khoản tiền 10 tỷ đô la mà chính quyền chi ra trong “Chiến dịch Warp Speed” đã giúp khối tư nhân thành công trong việc chế tạo thành công vaccine chống Covid-19, cho thấy chính sách đối phó đại dịch là thành công.

Ông cũng nói rằng có thêm những người Mỹ vốn chỉ được trả mức lương thấp nay đã được tăng lương nhiều hơn người giàu dưới thời ông Trump. Ông nói: “Chúng ta đã giảm bớt mức bất bình đẳng trong thu nhập và giàu-nghèo.”

Ông Philipson nói rằng điều này là nhờ vào sự bùng nổ đầu tư do ông Trump cắt giảm thuế, và kết luận: “Nếu như quý vị là một chiến binh công lý xã hội, quý vị sẽ rất vui vẻ khi nhìn vào những dữ liệu này.”