Biệt thự hơn 28 triệu USD của vợ cũ Tiger Woods

Tỷ phú Mỹ Russell Weiner vừa chi 28,6 triệu USD sở hữu căn biệt thự sang trọng ở phía nam tiểu bang Florida, Mỹ từ vợ cũ của tay golf huyền thoại Tiger Woods.

ty phu My anh 1
Bất động sản nằm trên một mảnh đất rộng gần 5.700 m2 bên bờ biển ở hạt Palm Beach.
ty phu My anh 2
Ngôi nhà 2 tầng này được hoàn thiện vào năm 2014 theo phong cách kiến trúc vùng Caribbean, có diện tích hơn 2.400 m2.
ty phu My anh 3
Phòng khách và khu vực ăn uống được tích hợp trong một không gian sang trọng, thoáng đãng với khung cửa lớn mở ra cảnh sắc thiên nhiên.
ty phu My anh 4
Nhà bếp rộng rãi nằm ngay sát phòng khách, được trang bị những công cụ nấu nướng hiện đại cùng một số nội thất làm từ đá cẩm thạch.
ty phu My anh 5
Phòng làm việc tinh tế, được bài trí gọn gàng với ô cửa sổ mở ra khung cảnh sân vườn và đại dương.
ty phu My anh 6
Phòng ngủ chính rộng lớn, trang nhã, tràn ngập ánh sáng tự nhiên. Căn phòng được tích hợp với một khu vực tiếp khách và một phòng tắm.
ty phu My anh 7
Một phòng ngủ phụ nổi bật với bức tranh tường độc đáo.
ty phu My anh 8
Một số tiện ích cao cấp bên trong căn biệt thự có thể kể đến rạp chiếu phim, phòng tập thể dục, và hầm rượu.
ty phu My anh 9
Không gian thư giãn ngoài trời bao gồm hồ bơi, bồn tắm nước nóng, quầy bar, và bàn billiard.
Minh Đức / Zing

Vì sao việc ‘thừa nam, thiếu nữ’ ở Việt Nam lại đáng lo

Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, mỗi năm Việt Nam thiếu hụt hơn 40.000 bé gái. Tình trạng mất cân bằng giới tính gia tăng đang kéo theo nhiều hệ lụy xã hội.

Hiện nay, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất nằm trong nhóm 15 nước có tình trạng mất cân bằng giới tính cao nhất thế giới và đứng thứ 2 châu Á, chỉ sau Trung Quốc.

Điều tra mới nhất về dân số tại Việt Nam cho thấy tỷ suất sinh đang có sự chênh lệch lớn về giới tính: 111,5 bé trai/100 bé gái. Ở một số địa phương, con số này còn vượt ngưỡng 115/100.

mat can bang gioi anh 1
Viễn cảnh “thừa nam, thiếu nữ” do mất cân bằng giới tính sẽ để lại những hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội chỉ trong 5-10 năm tới.

Dự báo đến năm 2030, dân số Việt Nam sẽ đạt mức 104 triệu người, tăng hơn 8 triệu so với hiện tại. Tuy nhiên, theo ước tính của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, khoảng 40.800 trẻ em gái sẽ không có cơ hội chào đời mỗi năm do biện pháp sàng lọc giới tính trước khi sinh.

Như vậy, dù được tuyên truyền, đề cập rầm rộ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tỷ lệ sinh thấp chưa phải vấn đề đáng ngại nhất về dân số. Trái lại, viễn cảnh “thừa nam, thiếu nữ” do mất cân bằng giới tính sẽ để lại những hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội chỉ trong 5-10 năm tới.

Phái mạnh “ế” vợ

Nhiều chuyên gia xã hội học đánh giá đến năm 2050, Việt Nam sẽ dư thừa ít nhất 2,3 triệu nam giới, thậm chí có thể đạt mức 4,3 triệu người. Điều này đồng nghĩa với việc phần đông đàn ông trong độ tuổi lập gia đình sẽ không tìm được bạn đời để kết hôn.

Tình trạng này được thể hiện rõ tại một số quốc gia trên thế giới, điển hình là “đất nước tỷ dân” Trung Quốc – nơi có sự chênh lệch giới tính trầm trọng.

Liên Hợp Quốc ước tính, hiện tỷ lệ nam – nữ tại Trung Quốc đạt mức 106,2 đàn ông/100 phụ nữ. Tình trạng trên khiến việc tìm người yêu, bạn đời của phần đông nam giới nước này trở thành “nhiệm vụ bất khả thi”.

Mới đây, Bộ Nội vụ công bố số liệu cho thấy dân số độc thân của Trung Quốc lên tới 240 triệu người. Có 77 triệu hộ gia đình độc thân, dự kiến tăng lên 92 triệu vào năm tới.

mat can bang gioi anh 2
Đến năm 2030, khoảng 1/3 số đàn ông trong độ tuổi 30 ở Trung Quốc sẽ không thể kết hôn.

Dự báo đến năm 2030, khoảng 1/3 số đàn ông trong độ tuổi 30 ở nước này sẽ không thể kết hôn. Khi ấy, hôn nhân dần mất đi ý nghĩa vốn có, trở thành gánh nặng đối với cả hai giới.

Sau nhiều thập kỷ chung sống với cảnh “thừa nam”, đàn ông Trung Quốc buộc phải gồng mình phấn đấu, tích lũy của cải để trở nên “hấp dẫn và giá trị hơn”, gia tăng cơ hội tìm được bạn đời.

Theo khảo sát của tờ Shanghai Daily, 80% các gia đình có con gái không muốn gả con cho một người đàn ông không có nhà cửa, xe cộ. Do đó, áp lực tài chính của nam giới trong độ tuổi lấy vợ ngày càng nặng nề.

Về phía nữ giới, nhiều khả năng họ phải kết hôn sớm, lấy người nước ngoài hoặc tái giá nhiều lần theo nguyện vọng của gia đình hai bên. Từ đó phát sinh các vấn đề bạo lực gia đình, bạo hành tình dục…

mat can bang gioi anh 3
Chênh lệch giới tính khiến vấn đề bất bình đẳng giới thêm hằn sâu, ảnh hưởng tiêu cực đến cả nam và nữ trên nhiều khía cạnh đời sống xã hội. Ảnh: The Economist.

Mặt khác, sự mất cân bằng giới tính là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến cơ cấu nhân lực trong thị trường lao động. Cụ thể, thị trường sẽ thiếu hụt trầm trọng lao động nữ trong các ngành nghề đòi hỏi sự khéo léo, vốn định hướng cho phái đẹp như dệt may, giáo viên mầm non, công nghiệp chế biến…

Trong khi đó, vắng bóng nữ giới không trở thành ưu thế giúp đàn ông có thêm cơ hội việc làm. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp của phái mạnh có thể gia tăng do tính chất cạnh tranh gay gắt trong các ngành nghề phổ thông.

Khi ấy, sự thay đổi cơ cấu giới tính trên thị trường lao động khiến tình trạng bất bình đẳng giới thêm trầm trọng. Số lượng nam giới áp đảo tại nơi làm việc đẩy phụ nữ vào thế yếu, không được lắng nghe, tôn trọng.

Nạn “buôn bán cô dâu”

Mặt khác, mất cân bằng cân bằng giới tính là xuất phát điểm của nạn buôn bán cô dâu.

Mỗi năm, hàng chục nghìn phụ nữ và trẻ em gái bị lừa bán sang các nước “thiếu vợ” bằng những lời dụ dỗ công ăn việc làm ổn định, lương cao của kẻ buôn người. Thậm chí, họ bị chính người thân trong gia đình bán để lấy tiền hồi môn.

Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ là thị trường nhập khẩu cô dâu chủ yếu.

Cụ thể, đàn ông Trung Quốc thường phải trả phí từ 10.000-15.000 USD cho người môi giới. Trong đó, 1.000-3.000 USD là “của hồi môn” đưa cho gia đình cô dâu. Còn ở Ấn Độ, mức giá cho cô dâu còn rẻ mạt hơn, chỉ dao động khoảng 500 USD.

mat can bang gioi anh 4
Các cô dâu trở thành món hàng, được trao tay với giá chỉ dao động từ 500-3000 USD. Ảnh: Inkstone.

Từ xa xưa, các thế hệ gia đình Á Đông quan niệm rằng có con gái giống như một “vụ làm ăn thua lỗ”. Sau khi lấy chồng, họ như “bát nước đổ đi” do thường phải chăm sóc bố mẹ chồng thay vì bố mẹ đẻ.

Ngược lại, con trai được xem là “có giá trị” hơn, kiếm được nhiều tiền hơn, có khả năng làm việc tốt hơn. Bên cạnh đó, quý tử trong nhà khi lớn lên sẽ là người mang nhiệm vụ duy trì dòng giống, thờ cúng tổ tiên và phụng dưỡng bố mẹ.

Do vậy, không ít bậc phụ huynh chỉ trông chờ bán con gái đi cho nhẹ gánh, đỡ tốn miệng cơm mà được một khoản tiền hồi môn, coi như bù đắp công lao dưỡng dục bấy lâu.

“Nhiều gia đình trông đợi vào những cô con gái để đem ‘lợi nhuận’ về cho họ. Các thiếu nữ càng xinh đẹp và trẻ trung, họ càng nhận được của hồi môn lớn”, Chou Bun Eng, Phó chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Chống buôn người của Campuchia, cho biết.

Shafiq R. Khan, nhà sáng lập tổ chức từ thiện chống buôn người Empower People, cho biết những cô dâu bị mua về thường phải đối mặt với cuộc sống nô lệ ở gia đình nhà chồng.

“Đáng lẽ những nhà phải nhập khẩu vợ phải tôn trọng người phụ nữ đó. Tuy nhiên, họ không làm vậy. Thay vào đó, họ coi thường và nhục mạ các cô dâu, gọi nạn nhân là những món hàng bị mua lại”, ông nói.

mat can bang gioi anh 5
“Thay vào đó, họ coi thường và nhục mạ các cô dâu, gọi nạn nhân là những món hàng bị mua lại”, Shafiq R. Khan, nhà sáng lập tổ chức từ thiện chống buôn người Empower People, nói. Ảnh: Getty.

Bên cạnh đó, cũng chỉ vì tư tưởng trọng nam khinh nữ cố hữu trong xã hội châu Á, hàng triệu bé gái bị cướp đi sinh mạng ngay từ khi nằm trong bụng mẹ do nhiều gia đình quyết định phá thai. Họ muốn đảm bảo đứa con duy nhất trong nhà phải là một quý tử để nối dõi tông đường.

Ngay cả khi xã hội phát triển, tình trạng “khát con trai” vẫn diễn ra. Nhiều gia đình sẵn sàng chi tiền sử dụng công nghệ hiện đại để chọn lọc và giữ lại bào thai mang giới tính nam.

Hành động lựa chọn giới tính thai nhi này lại càng khiến tình trạng mất cân bằng nam – nữ trở nên trầm trọng.

Sau 35 năm thực hiện chính sách một con nhằm kiềm chế bùng nổ dân số , số nam giới ở Trung Quốc hiện nhiều hơn nữ giới khoảng 34 triệu người. Còn Ấn Độ cũng thừa tới 37 triệu đàn ông, theo South China Morning Post.

Trang Minh,Hồng Chang / Zing

Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh

Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh
Đã từng có thời kỳ các loại thuốc Vitamin được “thần thánh” hóa rằng có thể chữa được cả HIV. Điều đáng ngạc nhiên là sự lừa đảo này lại được cổ xúy bởi 1 nhà khoa học từng 2 lần đoạt giải Nobel.

Ngày nay, tiêu chuẩn cuộc sống ngày càng cao, lượng vận động xuống thấp và con người quan tâm đến sức khỏe nhiều hơn thì những hợp chất như Vitamin lại càng được người tiêu dùng mua nhiều.

Bạn bị nhiệt ư? Hãy uống vitamin.

Bạn ốm ư? Hãy uống thuốc kèm vitamin.

Bạn mệt ư? Vitamin có thể là giải pháp.

Hiện tại, hơn 50% số người trong độ tuổi trung niên Mỹ uống ít nhất một loại vitamin hay khoáng chất nào đó thường xuyên. Nếu tính những người cao tuổi thì tỷ lệ này lên tới 70%. Hệ quả là tổng giá trị thị trường Vitamin dự kiến sẽ lên tới 300 tỷ USD vào năm 2024 với tốc độ lão hóa toàn cầu như hiện nay.

Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta lại nạp nhiều Vitamin đến vậy? Liệu chúng có thần diệu như những gì quảng cáo? Hãy cầm bất cứ vỉ thuốc Vitamin tổng hợp nào lên và bạn sẽ thấy cả đống hợp chất trong đó. Những viên thuốc càng đắt tiền thì lại càng nhiều chất.

 Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh  - Ảnh 1.

Thị phần thực phẩm chức năng và thuốc bổ trợ tại Mỹ (tỷ USD)

Khảo sát cho thấy khoảng 79% người dùng Vitamin là để nâng cao thể chất, phục vụ cho công việc hay cuộc sống hàng ngày. Chỉ khoảng 2,9% số người uống Vitamin là do bệnh tật hoặc thiếu chất. Khảo sát này cũng cho thấy phần lớn người uống Vitamin quan tâm đến sức khỏe hoặc mong muốn được sống lành mạnh. Hệ quả là uống Vitamin trở thành biểu tượng của một lối sống khỏe mà chẳng có lý do rõ ràng.

Một khảo sát khác cũng cho kết quả tương tự khi 84% người Mỹ cảm thấy tự tin hơn, an toàn và ổn định hơn khi có dùng Vitamin. Dẫu vậy, các nghiên cứu khoa học thực sự có rất ít bằng chứng rõ ràng chỉ ra rằng uống Vitamin sẽ có ích cho cơ thể, hay nói đúng hơn là uống nhiều loại Vitamin chẳng đem lại hiệu quả sức khỏe rõ rệt nào.

Thậm chí ngay cả trong thể thao, việc uống thuốc và khoáng chất bổ trợ cũng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng chứ chẳng thể dùng bừa. Ngay cả vậy, chưa có một chứng minh khoa học nào cho thấy uống Vitamin sẽ giúp vận động viên thi đấu tốt hơn.

Nghiên cứu của trường đại học Minnesota cho thấy phụ nữ dùng nhiều Vitamin tổng hợp sẽ dễ tử vong hơn những người ít dùng. Hai ngày sau đó, báo cáo của Bệnh viện Cleveland cho thấy đàn ông dùng quá nhiều Vitamin E có tỷ lệ cao mắc ung thư tuyến tiền liệt (một tuyến trong hệ sinh dục nam).

Tệ hơn, nghiên cứu đăng trên BMC Medicine cho thấy 70% số Vitamin đang bày bán trên thị trường có sai số, nghĩa là sản phẩm không chứa đúng lượng chất ghi trên vỏ hoặc có sự chênh lệch nhất định. Khoảng 1/3 số Vitamin được bày bán hiện nay chứa các chất có khả năng gây hại cho cơ thể hoặc thậm chí là chất độc.

 Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh  - Ảnh 2.

Một nghiên cứu khác đăng trên JAMA cho thấy 20% số vụ nhiễm độc gan hiện nay là do uống quá nhiều Vitamin cũng như khoáng chất. Riêng tại Mỹ, khoảng 23.000 bệnh nhân đã phải vào viện mỗi năm do kích ứng với Vitamin hay khoáng chất mà họ uống.

Vậy tại sao người tiêu dùng vẫn cuồng Vitamin đến như vậy?

Những lời khuyên gây tranh cãi

Nói về Vitamin thì không thể không nhắc tới Linus Pauling (1901-1994). Ông là một nhà hóa học đã từng đạt 2 giải thưởng Nobel, đồng thời được giới khoa học tôn vinh về những công hiến của mình cho nhân loại. Đặc biệt, Pauling được coi là một trong những nhà sáng tạo ra mảng hóa học lượng tử hiện đại cùng nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu cấu trúc của Protein.

Mặc dù không phải là người phát hiện ra Vitamin C nhưng Pauling lại là chuyên gia có công lớn quảng bá việc sử dụng Vitamin C liều cao cũng như bổ sung lượng lớn các khoáng chất để chữa bệnh.

Với uy tín của mình, Pauling đã cổ xúy và khiến đa phần các nhà khoa học thời đó thừa nhận tác dụng của việc dùng nhiều Vitamin. Thậm chí, Pauling còn cho rằng Vitamin C có thể hỗ trợ chữa ung thư cũng như giúp bệnh nhân kéo dài sự sống gấp 4 lần so với thông thường.

Trong thập niên 1960-1970, những công trình nghiên cứu của Pauling về hóa học lượng tử và sinh học lượng tử gây được tiếng vang rất lớn. Ngoài ra, quan điểm chống hạt nhân hóa và chống chiến tranh của Pauling cũng giúp ông đạt được giải Nobel hòa bình, qua đó mở rộng uy tín cũng như thúc đẩy quan điểm dùng nhiều Vitamin tốt cho sức khỏe của Pauling.

Năm 1970, Pauling đã khuyến khích mọi người sử dụng 3.000 mg Vitamin C mỗi ngày, cao gấp 50 lần khuyến nghị thông thường. Mặc dù chưa có một nghiên cứu lâm sàng nào nhưng những cuốn sách và bằng uy tín của mình, Pauling đã khiến 50 triệu người Mỹ dùng Vitamin C liều cao hàng ngày vào giữa thập niên 1970. Thậm chí có hẳn một làn sóng mang tên “The Linus Pauling Effect” để nói về phong trào uống nhiều Vitamin của Pauling.

 Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh  - Ảnh 3.

Linus Pauling (1901-1994)

Điều trớ trêu là từ 30 năm trước khi Pauling phát hành cuốn sách nổi tiếng về Vitamin C, tháng 12/1942, các chuyên gia của trường đại học Minnesota đã nghiên cứu và kết luận Vitamin C không có một tác dụng trực tiếp nào với việc chữa trị cho các bệnh nhân bị cảm cúm hay cảm lạnh.

Bất chấp điều đó, người tiêu dùng Mỹ vẫn tin tưởng mù quáng vào những gì Pauling nói. Nhiều trường đại học đã cố thử nghiệm để chứng minh quan điểm này chưa được xác minh nhưng hầu như chả mấy ai quan tâm. Các công ty dược bán thêm được thuốc trong khi bệnh nhân cảm thấy an tâm khi được uống thêm nhiều “chất bổ”.

Hàng loạt những cuộc thử nghiệm của trường đại học Maryland, Toronto, các nghiên cứu ở Hà Lan, của Cục quản lý dược phẩm Mỹ (FDA), Hiệp hội y dược Mỹ (AMA)… đều cho thấy Vitamin C chẳng có tác dụng chữa trị hay phòng bệnh trực tiếp với các thể loại bệnh cúm, nhưng người dân chẳng tin.

Bản thân Pauling cũng chẳng tin những báo cáo của các hiệp hội y dược, ông vẫn tích cực cổ xúy mọi người dùng càng nhiều Vitamin càng tốt. Khi xuất hiện trước báo giới với triệu chứng bị cảm dù dùng Vitamin liều cao hàng ngày, nhà khoa học này đổ thừa là do “dị ứng”.

Năm 1971, nhà khoa học đoạt 2 giải Nobel này thậm chí tuyên bố Vitamin C có thể giảm 10% tỷ lệ tử vong do ung thư. Đến năm 1977, con số này được Pauling nâng lên 75% và có thể cao hơn nữa nếu kết hợp cùng các loại khoáng chất khác.

Các bệnh nhân ung thư bắt đầu có hy vọng với những lời của Pauling trong khi các bác sĩ đau đầu với nó. Mặc dù nhiều bác sĩ đã can ngăn rằng chưa có bằng chứng khoa học nhưng bệnh nhân thà tin lời người đoạt giải Nobel hơn là tin vào bệnh viện.

 Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh  - Ảnh 4.

Cuốn sách nổi tiêng của Pauling về Vitamin C

Không dừng lại ở đó, Pauling tiếp tục tuyên bố nếu dùng lượng cao Vitamin C, A, E cùng nhiều khoáng chất khác, con người có thể chữa được mọi loại bệnh trên thế giới, thậm chí là cả đại dịch HIV.

Một sự thật đắng lòng

Luận điểm của những người tin Pauling khá có cơ sở nhưng chưa được chứng minh thực tế và vẫn còn mang tính phỏng đoán. Trong quá trình chuyển đổi thức ăn thành năng lượng, cơ thể cần oxy và chúng được gọi là quá trình oxy hóa.

Hậu quả của quá trình này là tạo ra các gốc tự do có thể phá hủy ADN, màng tế bào hay niêm mạc động mạch, gây ra nhiều loại bệnh như ung thư, bệnh tim cũng như tạo nên quá trình lão hóa cơ thể.

Để trung hòa các gốc tự do này, cơ thể tạo ra các chất chống oxy hóa (loại tốt) như Vitamin C, E, A, Beta Carotene… thường được tìm thấy trong hoa quả, rau xanh.

Logic ở đây là liệu cơ thể người nếu cũng uống những chất oxy hóa tổng hợp nhân tạo thì liệu có chống được bệnh tật hay không còn là nghi vấn, bởi quá trình chuyển biến diễn ra ở cấp độ lượng tử và vô cùng phức tạp nên chưa có một nhà khoa học nào có bằng chứng xác thực câu hỏi này.

Năm 1994, nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia Mỹ và Phần Lan cho thấy Vitamin E cũng như Beta Carotene chẳng có tác dụng gì cho việc chữa ung thư hay bệnh tim. Năm 1996, một nghiên cứu tương tự với Vitamin A và Beta Carotene cũng cho kết quả như vậy, thậm chí những người dùng Vitamin liều cao còn có nguy cơ tử vong cao hơn người ít dùng.

Thế rồi hàng loạt nghiên cứu của các năm sau đó, từ Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson đến trường y khoa Johns Hopkins, từ Viện ung thư quốc gia Mỹ cho đến các trường đại học và bệnh viện đều chỉ ra rằng Vitamin không có tác dụng trực tiếp rõ rệt trong việc chữa ung thư, nếu chưa nói là gây hại nếu dùng lâu dài liều cao. Dẫu vậy người dân Mỹ vẫn chẳng tin.

Tháng 5/1980, khi được hỏi dùng Vitamin C liều cao thời gian dài có tác dụng phụ nào không, Pauling đã trả lời rất dứt khoát rằng “không”.

Trớ trêu thay, vợ của ông mất 7 tháng sau đó vì bệnh ung thư dạ dày. Năm 1994, bản thân nhà khoa học này cũng qua đời vì ung thư tuyến tiền liệt, một loại bệnh có thể mắc khi dùng quá nhiều Vitamin.

 Câu chuyện Vitamin: Bí ẩn của loại thuốc phổ biến nhất hành tinh  - Ảnh 5.

Vitamin trở thành mặt hàng béo bở của các hãng dược mà chẳng quan tâm nó có hại ra sao.

Theo AB / Tổ quốc

Tại sao TT Trump bị ‘kỳ thị’? 4 thủ đoạn thâm nhập và phá hoại nền giáo dục Mỹ của phe cực tả

Ảnh: NTDVN.

Năm 2016, sau chiến thắng của ông Donald Trump, các trường đại học Mỹ xuất hiện những cảnh dở khóc dở cười. Một số sinh viên thấy “sợ hãi, mệt mỏi và tổn thương” đến nỗi phải yêu cầu giáo viên hủy buổi học hay hoãn thi. Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy?

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 còn chưa kết thúc, mặc dù đông đảo người dân bị thuyết phục bởi những gì Tổng thống (TT) Donald Trump đã làm cho đất nước và ủng hộ ông bằng cả trái tim mình, nhưng có một bộ phận người Mỹ, đặc biệt là người trẻ, hoàn toàn không lý giải được mục đích của TT Trump muốn đưa nước Mỹ quay về con đường truyền thống tốt đẹp, khôi phục các giá trị lập quốc của Hoa Kỳ. Điều đó không chỉ là hậu quả của truyền thông chủ lưu khuynh tả, mà còn có nguyên nhân ở hệ thống giáo dục Hoa Kỳ từ lâu bị thâm nhập và phá hoại nghiêm trọng bởi hệ ý thức cực tả. Sự phá hoại này nghiêm trọng hơn nhiều lần sức tưởng tượng của chúng ta.

Hiện tượng bất thường ở sinh viên

Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, do chịu ảnh hưởng bởi những tuyên truyền của các kênh thông tin chủ lưu thời gian dài nói xấu ứng cử viên của phái truyền thống (phái bảo thủ) và dự đoán sai lệch cái gọi là cuộc thăm dò ý kiến người dân, rất nhiều người – đặc biệt là thanh niên, sinh viên – đã bị sốc khi có kết quả của cuộc bầu cử.

Sau chiến thắng của ông Donald Trump, các trường đại học Mỹ xuất hiện những cảnh dở khóc dở cười. Một số sinh viên thấy “sợ hãi, mệt mỏi và tổn thương” đến nỗi phải yêu cầu giáo viên hủy buổi học hay hoãn thi. Để giảm bớt cảm giác căng thẳng, buồn bã cho sinh viên, một số trường học danh tiếng đã tổ chức nhiều hoạt động như nặn đất sét, tô màu, chơi xếp hình khối và thổi bong bóng xà phòng, thậm chí còn cho học sinh chơi thú cưng như chó, mèo. Nhiều trường đại học còn cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý, các nhóm hỗ trợ, dịch vụ “phục hồi tâm lý sau bầu cử” và “các nguồn lực và hỗ trợ sau bầu cử” cho sinh viên. 

Chưa nói đến sự hoang đường khi thấy hậu quả của một cuộc bầu cử bình thường lại đáng sợ hơn cả vụ thiên tai hay một cuộc tấn công khủng bố, chỉ riêng việc sinh viên đại học, đáng lẽ phải là người đã có suy nghĩ chín chắn, lý tính và có khả năng chịu áp lực trước sự thay đổi thì lại bỗng nhiên trở thành những người cố chấp, yếu đuối như vậy. Có thể nói đây là một thất bại lớn của nền giáo dục Mỹ.

Nhưng thất bại của giáo dục Mỹ lại chính là “thành công” của chủ nghĩa cực tả trong việc làm bại hoại giáo dục Mỹ. Những thay đổi đau lòng nhất trong xã hội Mỹ trong mấy chục năm qua chính là sự thất bại toàn diện của hệ thống giáo dục công lập. Đây là kết quả của sự thâm nhập và lật đổ của ma quỷ.

4 thủ đoạn thâm nhập và phá hoại nền giáo dục Mỹ của phe cực tả

Thủ đoạn 1: Không cho thế hệ trẻ tiếp xúc với với lịch sử và văn hóa truyền thống

Trong bài diễn văn tại Đại học Liberty có tiêu đề “Đừng bao giờ bỏ cuộc” , TT Trump nói:

Nước Mỹ đã luôn là mảnh đất của hy vọng bởi vì Mỹ là quốc gia của các tín đồ đích thực. Khi những người du hành đầu tiên tiến về Tân Thế Giới, khi đặt chân tới Plymouth, họ đã cầu nguyện. Khi các vị cha lập quốc của chúng ta viết bản Tuyên ngôn độc lập, họ đã nhắc đến Đáng tạo hóa 4 lần, bởi vì tại Mỹ, chúng ta không tôn thờ chính phủ, chúng ta tôn thờ Thượng Đế.

Đó là lý do tại sao các Tổng thống của chúng ta đặt tay lên cuốn Kinh thánh và nói “Xin Chúa giúp con” khi họ tuyên thệ nhậm chức. Đó là lý do tại sao trên đồng tiền của chúng ta tự hào tuyên bố “Chúng ta tin vào Chúa”. Và đó là lý do tại sao chúng ta đầy tự hào khi nói rằng nước Mỹ là một quốc gia dưới chân Thiên Chúa mỗi lần cử hành lễ Tuyên thệ Trung thành.

Tổng thống Trump là người tín Chúa và kiên quyết bảo vệ các giá trị lập quốc của Hoa Kỳ. Ảnh: NTDVN.

Thế nhưng, thế hệ trẻ Mỹ quốc ngày nay không phải ai cũng hiểu được những điều ông Trump nói. Năm 2014, một nhóm sinh viên của Đại học Công nghệ Kỹ thuật Texas (Texas Tech University) đã tiến hành một cuộc điều tra trong trường, họ đặt ra ba câu hỏi cho người được phỏng vấn: “Ai là người chiến thắng trong cuộc nội chiến?”, “Phó Tổng thống là ai?”, “Chúng ta giành được độc lập từ tay ai?” Rất nhiều sinh viên hoàn toàn không biết những kiến thức thông thường về lịch sử và chính trị này của nước Mỹ, nhưng lại thuộc như lòng bàn tay khi nói về chuyện tình cảm hôn nhân của những ngôi sao. 

Học lịch sử Mỹ không chỉ để hiểu về quá trình hình thành một quốc gia, mà cũng để hiểu quốc gia đó được xây dựng trên giá trị quan nào, và để bảo vệ những giá trị truyền thống này thì phải đánh đổi những gì. Duy chỉ có vậy, mọi người mới có thể trân quý những gì đang có hôm nay và cũng sẽ bảo vệ truyền thống này để truyền lại cho thế hệ sau.

Lãng quên lịch sử chính là cắt đứt truyền thống; không hiểu được nghĩa vụ công dân sẽ tạo điều kiện cho chính phủ độc tài xuất hiện. Chúng ta không khỏi thắc mắc giáo dục lịch sử và giáo dục công dân của Mỹ rốt cuộc đã xảy ra vấn đề gì? Câu trả lời nằm ở sách giáo khoa mà sinh viên Mỹ sử dụng và qua chính những thầy cô giáo của họ.

Howard Zinn, tác giả cuốn sách giáo khoa lịch sử phổ biến nhất, cuốn “Lịch sử Dân tộc Hoa Kỳ”, là người theo chủ nghĩa cực tả. Cuốn sách này mang đến một ấn tượng cho người đọc là tất cả những tấm gương anh hùng và những câu chuyện làm lay động lòng người trong lịch sử nước Mỹ đều chỉ là những lời dối trá vô liêm sỉ, và rằng lịch sử thật sự của nước Mỹ đầy rẫy những áp bức, bóc lột và diệt chủng. 

Tháng 7 năm 2016, California đã thông qua đề cương mới của môn khoa học xã hội ở bậc tiểu học và trung học. Đề cương vốn mang tư tưởng tả khuynh này lại càng giống những tuyên truyền về hình thái ý thức của cánh tả hơn. Nội dung giảng dạy lẽ ra phải chú trọng môn lịch sử và các môn khoa học xã hội – như tinh thần lập quốc, quân sự, chính trị, lịch sử ngoại giao của nước Mỹ – nhưng những nội dung này đều bị cố ý làm mờ nhạt hoặc giản lược đi. Ngược lại, các phong trào phản truyền thống những năm 1960 lại được chú trọng như thể đây mới là nguyên tắc lập quốc mới của nước Mỹ.

Trên phương diện gia đình và giới tính, đề cương này cực kỳ phản truyền thống. Lấy chương trình học lớp 11 làm ví dụ. Đề cương này tuyên bố trọng tâm của nó là “phong trào đòi quyền bình đẳng cho chủng tộc, dân tộc thiểu số, và tôn giáo, cũng như phụ nữ và người Mỹ đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và người chuyển giới (LGBT)”. Thực chất, nó rất ít đề cập đến tôn giáo, mà chủ yếu đề cập đến nhóm giới tính thiểu số. Đặc biệt là lần đầu tiên nhóm người LGBT được đưa vào chương trình học môn lịch sử, trở thành trọng điểm của môn lịch sử lớp 11. Giọng điệu trong đó thể hiện rõ khuynh hướng ủng hộ “giải phóng tình dục”. Chẳng hạn, trong phần liên quan đến bệnh AIDS, đề cương này ám chỉ nỗi sợ hãi của mọi người đối với bệnh AIDS đã dẫn đến sự thoái trào của “phong trào giải phóng tình dục”. 

Thủ đoạn 2: Nhồi nhét thuyết vô Thần, thuyết tiến hóa

TT Donald Trump là người có tín ngưỡng trung thành vào Chúa. Ông nói: “Chúng ta sẽ luôn luôn đứng lên bảo vệ quyền được cầu nguyện của người Mỹ với Chúa và làm theo lời dạy của Ngài”. Thần đã tạo ra con người, đồng thời đặt định cho con người quy phạm đạo đức để điều chỉnh phương thức sinh hoạt của con người. Tín Thần kính Thần là cơ sở của hết thảy đạo đức, cũng là sự đảm bảo cho sự tồn tại của xã hội nhân loại. Phương thức quan trọng nhất mà chủ nghĩa cực tả dùng để phá hoại đạo đức chính là cưỡng chế phổ biến rộng rãi thuyết vô Thần và thuyết tiến hóa trong trường học. 

Ở Mỹ, các phần tử cánh tả mượn chính sách tách biệt nhà thờ và nhà nước để phản đối việc trường học công lập Mỹ giảng dạy “thuyết Thần sáng thế”, chỉ được dạy “thuyết vô Thần”. Các trường công lập không dám vượt ra khỏi giới hạn này. Không nghi ngờ gì, kiểu giáo dục này khiến số người tin vào Thần ngày càng ít đi, con người càng ngày càng coi thuyết tiến hóa là “khoa học chân chính” và không được chất vấn.

Ngoài ra, từ những năm 1960, cũng với cái cớ tách biệt nhà thờ và nhà nước, tòa án các nơi ở Mỹ đã loại bỏ việc học Kinh Thánh khỏi các trường học. Một tòa án còn đưa ra phán quyết rằng học sinh, sinh viên có quyền tự do ngôn luận và báo chí, nhưng một khi đề cập đến tôn giáo thì ngôn luận đó là vi phạm hiến pháp. 
Năm 1987, tại các trường công lập ở Alaska, học sinh được thông báo không được sử dụng từ “Christmas” (Giáng sinh) trong trường học, bởi vì từ này có mang từ “Christ” (tên Chúa của Cơ Đốc giáo). Năm 1987, một tòa án liên bang ở Virginia đã ra phán quyết cho phép phát báo đồng tính luyến ái ở một trường học, nhưng báo tôn giáo thì không. Năm 1993, một giáo viên dạy âm nhạc của một trường tiểu học ở Colorado Springs bị cấm dạy hát các bài hát mừng Giáng sinh, lý do là nó vi phạm nguyên tắc tách biệt nhà thờ và nhà nước. 

Hệ thống giáo dục công lập của Mỹ một mặt lấy cớ “tách biệt nhà thờ và nhà nước” để bài trừ, đánh bật tín ngưỡng vào Thần khỏi các trường học, mặt khác dùng danh nghĩa “khoa học” để biến “thuyết tiến hóa” không hề có căn cứ khoa học và đầy rẫy sơ hở trở thành chân lý hiển nhiên không cần chứng minh, rồi nhồi nhét vào đầu những đứa trẻ vốn chưa có sự chuẩn bị tư tưởng cũng như không có khả năng kháng cự. Trẻ em thường tin tưởng vào thẩm quyền của giáo viên.

Những bậc phụ huynh có tín ngưỡng cũng thường dạy bảo con cái phải kính trọng thầy cô giáo, nhưng sau khi bị nhồi nhét thuyết tiến hóa, trẻ em sẽ vặn lại những gì cha mẹ dạy về tín ngưỡng, hoặc ít nhất cũng không còn coi trọng sự chỉ dạy của cha mẹ về tín ngưỡng nữa. Hậu quả là giáo dục đã đẩy những đứa trẻ rời xa những người cha, người mẹ có tín ngưỡng. Đây là vấn đề lớn nhất mà rất nhiều gia đình có tín ngưỡng phải đối diện khi dạy dỗ con cái, cũng là sự tà ác nhất trong nền giáo dục vô Thần.

Thủ đoạn 3: Nhồi nhét tư tưởng ‘áp bức và đấu tranh’ 

Trong cuốn sách “Phòng học một đảng: Các giảng viên cấp tiến ở các trường đại học hàng đầu của Mỹ đã tuyên truyền cho sinh viên và phá hoại nền dân chủ của chúng ta như thế nào” (One-Party Classroom: How Radical Professors at America’s Top Colleges Indoctrinate Students and Undermine Our Democracy), David Horowitz và Jacob Laksin đã liệt kê ra khoảng 150 môn học của cánh tả ở 12 trường đại học. Những môn học này che đậy ý đồ chính trị bằng ngôn ngữ học thuật, nhưng một số môn mà ngay cả những quy phạm học thuật cơ bản cũng không đếm xỉa tới.

Một ví dụ: Đại học Missouri đã thiết kế các chương trình học để dẫn dắt sinh viên đứng trên quan điểm của cánh tả để nhìn nhận chủ nghĩa nữ quyền, văn học, giới tính và hòa bình. Ví dụ, khóa học “Giới tính Phi pháp” (Outlaw Gender) coi giới tính là “sản phẩm nhân tạo do văn hóa tạo ra”, chứ không phải do tự nhiên sinh ra. Từ đó nhồi nhét vào đầu sinh viên một loại quan điểm dựa trên sự áp bức giới tính và sự phân biệt đối xử giữa các loại giới tính. 

Bill Ayers, mang danh hiệu Giáo sư Ưu tú của trường Chicago thuộc Đại học Illinois, là một phần tử cánh tả cực đoan và là lãnh đạo của phong trào Weather Underground, ban đầu được gọi là Weathermen (người dự báo thời tiết), một phong trào của “Tổ chức Sinh viên Đấu tranh vì Xã hội Dân chủ” (Students for a Democratic Society – SDS). Năm 1969, phong trào “Người dự báo thời tiết” chuyển sang hoạt động ngầm và trở thành tổ chức khủng bố đầu tiên ở Mỹ. Tổ chức này ra sức kích động những sinh viên cấp tiến ở Mỹ tham gia vào các hoạt động khủng bố nhằm châm ngòi cho các cuộc xung đột sắc tộc.

Tổ chức này đã phát động đánh bom Đồi Capitol (trụ sở Quốc hội Mỹ), Tổng cục Chỉ huy Cảnh sát Thành phố New York, Lầu năm góc và các văn phòng của Lực lượng Vệ binh Quốc gia. “Câu nói bất hủ” của Ayers được nhiều người biết đến là: “Giết sạch người giàu. Đập nát xe cộ, nhà cửa của họ. Đưa cách mạng về nhà, giết chết cha mẹ của bạn”. Quan điểm của Ayers thể hiện trong các tác phẩm học thuật và lý lịch của ông ta khá tương đồng với nhau. Trong một cuốn sách của mình, ông ta đã nhấn mạnh cần phải vượt qua “định kiến” của chúng ta đối với tội phạm bạo lực vị thành niên”. 

Các cuộc bạo loạn là một phần trong kế hoạch chống Mỹ, chống Trump của những kẻ theo chủ nghĩa cực tả (ảnh: NTDVN).

Do Ayers được một mạng lưới các phần tử cấp tiến cánh tả bảo vệ, Cục Điều tra Liên bang (FBI) đã không thể bắt được ông ta. Năm 1980, Ayers xuất hiện trở lại trước công chúng, nhờ lợi dụng sơ hở của pháp luật mà đã thoát được tội hình sự. Sau đó, Ayers trở thành một giảng viên ở trường Chicago thuộc Đại học Illinois, ở đó, ông ta nghiên cứu phương pháp giáo dục trẻ em từ sớm. Quan điểm chính trị của ông ta không hề thay đổi chút nào, không thể hiện sự ăn năn nào về những vụ tấn công khủng bố của mình năm xưa. Ayers được thăng chức lên làm phó giáo sư, rồi giáo sư, còn được trao cho danh hiệu hiện tại là Giáo sư Ưu tú. Ông ta còn nhận được danh hiệu Học giả Cao cấp, học hàm cao nhất của đại học này.

Mỗi lần thăng chức của Ayers đều cần được sự biểu quyết của các đồng nghiệp trong khoa. Bản thân việc này đã chứng tỏ trường đại học đã mặc nhiên thừa nhận và ủng hộ hành động khủng bố trước đây của ông ta.

Thủ đoạn 4: Nhân danh ‘chủ nghĩa tiến bộ’, phá hoại đạo đức và phóng túng ma tính

Cha đẻ của giáo dục cấp tiến Mỹ là nhà triết học chủ nghĩa hiện thực John Dewey, mà Dewey lại chịu ảnh hưởng cực lớn của nhà tư tưởng thế kỷ 18 của Pháp là Jean-Jacques Rousseau. Theo lý luận giáo dục của Rousseau, con người sinh ra vốn là tự do và lương thiện, nhưng bị xã hội làm hư hỏng; vì thế, cách giáo dục tốt nhất là buông lỏng để cho trẻ em tự do phát triển.

Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng của Rousseau, các nhà giáo dục cấp tiến từ Dewey trở đi thường lấy quan điểm này làm câu cửa miệng: Không được áp đặt quan niệm của phụ huynh hay giáo viên lên học sinh, hãy để chúng tự đánh giá và lựa chọn sau khi lớn lên. Nhà thơ người Anh Samuel Taylor Coleridge từng sắc sảo vặn lại kiểu quan điểm này như sau:

“Thelwall cho rằng, trước khi trẻ em đến tuổi biết tự suy xét và có thể đưa ra lựa chọn cho bản thân thì không nên gây ảnh hưởng đến tư tưởng của chúng bằng cách in vào đầu chúng bất cứ quan niệm nào. Tôi bèn đưa anh ta đi xem khu vườn của tôi, và bảo anh ta rằng đây là vườn cây của tôi. Anh ta nói: ‘Sao có thể như vậy được? Ở đây toàn là cỏ dại.’ Tôi nói: ‘Ồ, đó là do nó chưa đến tuổi biết tự suy xét và lựa chọn thôi. Anh xem, những cây cỏ dại cứ tự nhiên lớn lên, và tôi cho rằng làm cho đất thiên vị hoa hồng và dâu tây thì không đúng.’” 

Nhà thơ đã rất nhanh trí khi dùng hình ảnh so sánh này để nói với người bạn một đạo lý rằng: Đức tính tốt đẹp và trí tuệ cần được trui rèn tỉ mỉ, giống như vườn hoa nếu không được chăm sóc sẽ chỉ mọc toàn cỏ dại, bỏ mặc trẻ em chẳng khác nào giao trứng cho ác. Đó là biểu hiện của thái độ lãnh đạm và vô trách nhiệm đến mức cực đoan.

Kiểu buông thả học sinh như thế này đã lên đến đỉnh điểm sau khi một tác phẩm văn học có tính sư phạm có tên “Trường Summerhill: Một phương pháp giáo dục cấp tiến” (Summerhill: A Radical Approach to Education) được xuất bản năm 1960. A.S. Neill, tác giả của cuốn sách này, đã thành lập một trường nội trú ở Anh, Trường Summerhill, vào năm 1921, chiêu sinh trẻ em từ 6-16 tuổi. Đặc điểm của trường này là cho phép học sinh hoàn toàn tự do. Học sinh có thể lựa chọn lên lớp học hoặc không lên, có thể lựa chọn học môn này mà không học môn kia. Tư tưởng giáo dục của Neil chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Wilhelm Reich, nhà triết học phái Frankfurt và là người cổ xúy giải phóng tình dục mạnh mẽ nhất. Hai người họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau.

Nhà trường không chỉ đi ngược lại mọi giá trị truyền thống về mặt học thuật mà còn buông lỏng một cách thái quá đạo đức, kỷ luật và quan hệ nam nữ. Học sinh nam nữ tùy tiện hẹn hò, sống chung, nhà trường vờ như không biết thậm chí còn ngấm ngầm cho phép. Neil cho phép nhân viên và học sinh cùng tắm khỏa thân ở bể bơi ngoài trời. Cậu con trai 35 tuổi của ông ta dạy nghệ thuật đồ gốm, thường đưa các nữ sinh lớp lớn về nhà.

Trong cuốn sách, Neil nói không biết ngượng rằng “Ở Summerhill, mỗi học sinh lớp lớn hơn đều biết qua cuộc trò chuyện hay các sách của tôi rằng tôi ủng hộ việc mỗi người, bất kể tuổi tác thế nào, đều nên được hưởng quyền sinh hoạt tình dục thoải mái nếu họ muốn”. Ông ta thậm chí còn ám chỉ rằng, nếu không phải là vì pháp luật cấm, ông ta đã cho phép nam nữ ngủ chung với nhau. Sau khi được xuất bản, “Summerhill” nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy. Chỉ trong những năm 1960, nó đã bán được hơn 3 triệu bản, trở thành cuốn sách “kinh điển” mà tất cả giáo viên ở các trường sư phạm yêu cầu sinh viên phải đọc.

Lời kết: Quay về giáo dục truyền thống

Đọc đến đây, có lẽ quý vị đã minh bạch vì sao khi TT Donald Trump tuyên bố sẽ đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại theo con đường truyền thống, khi ông phản đối phá thai và đồng tính luyến ái, đề cao các giá trị hôn nhân và gia đình… thì không phải ai cũng hiểu được thiện ý của ông. Những người đã bị tiêm nhiễm, đầu độc bởi hệ ý thức cực tả từ những năm tháng trên ghế nhà trường đã không thể chấp nhận được con đường trở về truyền thống chính trực của TT Trump. Ngược lại, vị tổng thống có đức tin vào Chúa còn bị chính người dân của mình kỳ thị, cho rằng ông đang kỳ thị nhóm người yếu thế.

Giáo dục là phương tiện để truyền thừa nền văn minh của một quốc gia, dân tộc và nhân loại cho thế hệ tương lai, là kế sách lớn cho trăm nghìn năm. Nhìn lại 100 năm qua, nền giáo dục Mỹ, dưới ảnh hưởng và thâm nhập của chủ nghĩa cực tả, đã phải hứng chịu trăm ngàn vết thương. Phụ huynh và giáo viên bị bó buộc đến mức không thể mang đến cho học sinh, sinh viên sự giáo dục tốt. Trường học, vốn là nơi để cho học sinh, sinh viên rèn luyện thành tài, lại trở thành nơi phóng túng, dẫn dắt các em lạc lối. Sự khiếm khuyết về đạo đức, kỹ năng kém cỏi, suy giảm sức chịu đựng tâm lý cùng các thói hư tật xấu, dâm loạn, phản truyền thống, phản xã hội của học sinh, sinh viên khiến toàn xã hội lo lắng. Chủ nghĩa cực tả đang nuốt chửng thế hệ sau và tương lai của nhân loại.

Từ khi thuở đầu của Tạo hóa và khi nền văn minh nhân loại trở nên bại hoại, đều có các Giác giả hay Thánh nhân xuất thế. Những Giác giả hay Thánh nhân này chính là những người mà người ta gọi là “Thầy”. Chẳng hạn như, Socrates, người đặt nền móng cho văn minh Hy Lạp cổ đại là một nhà giáo dục; trong sách Phúc âm, Jesus cũng tự xưng là thầy; Phật Thích Ca Mâu Ni có 10 danh xưng, trong đó cũng có một danh xưng là “Thiên nhân chi sư” (thầy của người trời); Khổng Tử là một nhà giáo dục, còn Lão Tử lại là thầy của Khổng Tử. Họ dạy con người cách làm người căn bản, kính Thần thế nào, đối nhân xử thế ra sao, làm sao để đề cao đạo đức.

Giáo dục cổ điển phương Đông và phương Tây đã từng trải qua thực tiễn hàng nghìn năm, kế thừa văn hóa mà Thần truyền cho con người, lưu giữ rất nhiều tài nguyên và kinh nghiệm quý giá. Theo tinh thần của giáo dục cổ điển, đức tài toàn vẹn là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giáo dục có thành công hay không. Trong quá trình nhân loại tìm kiếm con đường trở về với giáo dục truyền thống, kho tàng giáo dục cổ điển xứng đáng để chúng ta kiên trì nghiên cứu và học hỏi. 

Người có đạo đức cao thượng có khả năng chế ngự, kiểm soát bản thân. Đây là hình thái xã hội mà những người thành lập nước Mỹ hằng kỳ vọng. Người có đạo đức cao thượng sẽ được Thần ban phúc, dựa vào cần cù lao động và trí tuệ mà có được vật chất đầy đủ và tinh thần sung mãn. Quan trọng hơn, người có đạo đức cao thượng mới có thể giúp xã hội phồn vinh, trường tồn, không ngừng phát triển. Đây là khải thị của những Thánh nhân và Giác giả – những nhà giáo dục vĩ đại nhất của nhân loại – về việc đưa con người quay về với truyền thống. TT Donald Trump quyết tâm đưa nước Mỹ trở về truyền thống, đó cũng chính là thuận theo ý Trời.

(Bài viết sử dụng các tư liệu từ cuốn sách “Ma quỷ đang thống trị thế giới chúng ta” – Chương 12: Giáo dục)

Hình bóng “Cách mạng tháng 10” trong Bầu cử Mỹ: Lợi dụng truyền thông để tạo ra thù hận

Bài viết của Vị Danh  

[MINH HUỆ 20-11-2020] Ở Trung Quốc có một câu mọi người nghe nhiều đã quen: “Cách mạng tháng Mười nổ ra đã gửi chủ nghĩa Mác-Lê sang Trung Quốc.” Trong sách giáo khoa của Trung Cộng, Cách mạng tháng Mười được miêu tả như một cuộc cách mạng chủ nghĩa xã hội đầu tiên thắng lợi trong lịch sử loài người … là nỗ lực đầu tiên kiến thiết một xã hội tốt đẹp công bình chính nghĩa và cùng nhau thịnh vượng.

Tuy nhiên, sau khi Liên Xô giải thể, giới văn học Nga đã trả lại bộ mặt chân thật của nó: “Cách mạng tháng Mười” trên thực tế là một cuộc “chính biến”, trước mắt thì điểm này đã được ghi vào trong sách vở.

Tại một giai đoạn nào đó trong lịch sử, có lẽ sẽ là trắng đen đảo lộn, nhưng rồi những hành vi tà ác mà dân chúng đang mở to mắt chăm chú dõi theo cuối cùng sẽ giống như “giấy không bọc được lửa”, sẽ có ngày bị phơi bày ra trước thanh thiên bạch nhật.

Sự thật về “Cách mạng tháng Mười”: Truyền thông tạo ra thù hận, chớp lấy thời cơ phát động “chính biến”

Năm 1917, Sa hoàng thoái vị, chính quyền chuyển dịch sang cho Duma Quốc gia Nga (Quốc hội) dựa vào Hiến Pháp để thành lập chính phủ lâm thời. Có lẽ nước Nga đã có thể chuyển hướng trở thành một quốc gia chính thường kiến lập chính quyền dựa trên Hiến pháp từ thời điểm đó.

Trong cuốn sách “Lịch sử nước Nga thế kỷ 20 (1894─2007)” có viết: Lênin đã nhận được 50 triệu Mác tiền tài trợ từ nước Đức, sau khi quay trở về Nga, ông ta đã bí mật lên kế hoạch phát động một cuộc chính biến.

Tàu hỏa xuất phát từ trạm ở Phần Lan tiến về Saint Petersburg, sau khi cửa xe mở ra từ phía ngoài, Lênin kinh ngạc vui mừng phát hiện hóa ra bên ngoài lại có một nhóm lớn những người hoan nghênh ông ta. Ông ta lập tức đã phát biểu diễn văn đề xuất khẩu hiệu “hòa bình và bánh mì”.

Lênin đã lợi dụng đầy đủ sự tự do mà người Nga vừa mới có được, cùng với nguồn kim tiền do người Đức gửi đến để lập tức ban bố hơn 40 loại ấn phẩm và báo chí, trắng trợn cổ xúy bình đẳng, tự do, lên tiếng kêu gọi đánh đổ trật tự cũ, cổ xúy thù hận giai cấp. Hơn nữa, Pravda là tờ báo được phát hành với số lượng lớn nhất thời đó đã trở thành công cụ dư luận chủ yếu, ảnh hưởng đến một lượng lớn công nhân, binh sỹ và dân thành thị. Bất cứ một đảng phái nào khác thời đó chưa từng nhận được nguồn quỹ tài trợ nhiều như vậy, và cũng không hề phát hành số lượng báo chí nhiều đến như thế, về căn bản là họ không thể gây ra sức ảnh hưởng to lớn.

Chính phủ lâm thời nhận ra biến hóa đang phát sinh, thông qua điều tra nắm được chứng cứ củng cố vững chắc, cho nên đã hạ lệnh truy nã Lênin dưới danh nghĩa gián điệp nước Đức. Ngay dưới tình huống này, Lênin buộc phải phát động chính biến.

Thứ gọi là “Cách mạng tháng Mười” không phải là cuộc tấn công Cung điện Mùa Đông như trong điện ảnh nhắc tới sau này, mà tình huống thực tế là một nhóm chưa tới 2 nghìn người Bolshevik có trang bị vũ khí nổi dậy chiếm đóng cứ điểm chiến lược là thành phố Petrograd (hiện nay là Saint Petersburg), một nhóm những người mang vũ trang đã làm ra hành động bức vua thoái vị; tuần dương hạm Avrora thời đó không có bắn đạn thật, mà chỉ là bắn một quả pháo hoa. Do quân bị của chính phủ lâm thời chủ trương tự do dân chủ yếu nhược cho nên không hề có bất cứ hành động phản kháng nào.

Truyền thông bị Lênin nắm thóp đã lèo lái dư luận xã hội, sử dụng kết thúc chiến tranh, lấy khẩu hiệu mang lại “hòa bình và bánh mì” cho người dân để bành trướng tầm ảnh hưởng cực lớn của Đảng cộng sản Lênin. Xã hội Nga thời đó không có bất cứ sức lực đề kháng nào có thể ức chế cuộc cách mạng đó. Đây chính là bộ mặt chân thật về “Cách mạng tháng Mười”.

Học giả Amphiergiyev từng nói: “Trước khi Bolshevik cướp lấy chính quyền, họ đưa ra đủ loại khẩu hiệu hứa hẹn mang đến tự do cho người dân, cho đến ruộng đất thuộc về nông dân, công xưởng thuộc về công nhân v.v., nhưng về căn bản đều không có thành hiện thực. Vào năm 1918 ngay sau Cách mạng tháng Mười, dân chúng liền cảm thấy mình đã bị lừa dối.”

Đến nửa đầu năm 1921, bất cứ xuất bản tự do, hội họp tự do, ngôn luận tự do đều bị cho là hành vi “tự sát” và “liều thuốc chết người”. Năm 1922, Lênin phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ 11: “Phàm là người công khai tuyên truyền chủ nghĩa Menshevik, tòa án của chúng ta nên phán xét hành quyết không có ngoại lệ.”

Những kênh truyền thông sử dụng nguồn tiền từ nước Đức lập nghiệp kia đã thay cho Lênin ngụy tạo dư luận, thao túng ý dân, thế nhưng cuối cùng “bàn tay cổ xúy” của những kênh truyền thông này đã bị lưu đày và giết hại hàng loạt bởi Lênin. Thứ mà kẻ độc tài không an tâm nhất chính là công cụ đã từng sử dụng để trấn áp dân chúng, bởi vì chúng sợ nhất là những công cụ này quay ngược lại cắn trả chúng.

Từ năm 1918 đến tháng 2 năm 1922, cảnh sát đặc vụ Cheka đã sát hại gần 2 triệu người. Chỉ thị mà Cheka nhận được là: “Lúc thẩm vấn bị cáo không cần dùng đến tìm kiếm chứng cứ gì, chỉ khiến cho người bị bắt trả lời anh ta xuất thân ở đâu, được giáo dục và có nghề nghiệp như thế nào. Vậy là có thể định đoạt sống chết của người đó. Đây chính là bản chất thực sự của khủng bố đỏ.”

Mặt khác, Liên Xô dưới thời Lênin nhanh chóng trở thành quốc gia hợp pháp hóa đồng tình luyến ái, vận động nữ quyền, bao gồm việc phổ biến vận động viên khỏa thân ở thời kỳ đầu của Liên Xô, phần lớn dân du mục thành phố và những người vô sản lưu manh bị dụ dỗ gia nhập vào cái thứ gọi là đội ngũ cách mạng, Bolshevik sở hữu tư bản có thể giao chiến với lực lượng chính trị truyền thống cùng với lực lượng bao vây những người tín ngưỡng vào Chính thống giáo Đông phương.

Ngày 21 tháng 1 năm 2016, nhân dịp Lênin qua đời 92 năm, Tổng thống Nga Putin cho biết tư tưởng của Lênin cuối cùng đã dẫn đến sự giải thể của Liên Xô, nó giống như quả bom hạt nhân được chôn bên dưới tòa nhà cao tầng là “nước Nga”, rồi sau đó quả bom này đã phát nổ.

“Điều kinh ngạc tháng Mười”: Tại đây chúng ta nhìn thấy được hình bóng của “Cách mạng tháng Mười”

Tháng 10 năm 2020 được cho là tháng mang đến điều kinh ngạc cho thế giới, toàn thế giới đang chăm chú dõi theo cuộc tổng tuyển cử Mỹ quốc. Tuy nhiên, theo sau “điều kinh ngạc tháng Mười” này, chúng ta đã nhìn thấy được hình bóng của “Cách mạng tháng Mười”.

Thủ đoạn mà Biden và thế lực hậu thuẫn dùng đến giống hệt với thủ đoạn năm đó Lênin dùng để phát động “Cách mạng tháng Mười” kiến lập Liên Xô: trận địa chú trọng tuyên truyền, chiếm lĩnh dư luận, tạo ra thù hận.

Đầu năm 2016, Tổng thống Trump vừa mới nhậm chức, ông ấy tự nói rằng: “Chúng ta tin vào Thượng Đế, không tín nhiệm chính phủ.” Từ đó, chính phủ ngầm (tập đoàn lợi ích) đã bắt đầu không ngừng tấn công và nhục mạ trên truyền thông đối với TT Trump – người đã dốc hết sức lực khôi phục truyền thống và tát cạn “đầm lầy Washington”, nó xé toang dư luận và dân ý, nào là “thông đồng với Nga” vô tung vô tích, luận tội không có chứng cứ, gây ra chia rẽ dân tộc. Kể từ năm nay, truyền thông không ngừng đùn đẩy trách nhiệm bệnh dịch cho ông Trump, nhưng trên thực tế là ông Trump đã cho dừng nhập cảnh bằng đường biển và đường hàng không trong thời gian nhanh nhất.

Những thứ mang theo màu sắc “tuyên truyền” rõ rệt này đã kích phát một bộ phận dân chúng tương ứng bất mãn với ông Trump.

Kể từ tổng tuyển cử ngày 3 tháng 11, gian lận phiếu bầu liên tiếp xuất hiện, phiếu bầu của ông Trump đã bị vứt vào thùng rác, máy đếm phiếu bịp bợm, đếm phiếu trong “phòng tối”, trắng trợn và không chút kiêng nể gì, những người này đã bị tiếng nói của truyền thông lèo lái mà vẫn cho rằng vứt bỏ phiếu bầu của TT Trump là một việc làm đúng đắn!

Bức phá tạo ra thù hận vẫn chưa dừng lại. Trong cuộc diễu hành ở Washington ngày 14 tháng 11, hàng triệu người ủng hộ TT Trump đã có mặt ở thủ đô Washington để duy hộ sự công chính trong tổng tuyển cử Mỹ quốc. Thế nhưng, dưới ngòi bút miệt thị và tô vẽ của truyền thông dòng chính Mỹ quốc, những người ủng hộ TT Trump đã bị miêu tả thành một nhóm phần tử bất ổn định xã hội có thể sử dụng bạo lực. Đương lúc màn đêm giăng xuống, Antifa (những kẻ ủng hộ chủ nghĩa xã hội) đã xông ra đường phố tấn công người ủng hộ TT Trump đang đi bộ một mình, thế mà truyền thông dòng chính không dám hó hé lời nào.

Thông đồng phối hợp và thống nhất dẫn hướng dư luận xảy ra chưa từng có trong lịch sử.

Lúc Tổng thống Trump lần đầu mở cuộc họp báo công bố kêu gọi bầu cử công chính, ba kênh truyền thông lớn của nước Mỹ là ABC, CBS, MSNBC đã sử dụng đến “chiêu trò quen dùng của Trung Cộng” – trực tiếp cắt bỏ truyền hình trực tiếp buổi họp báo.

Ngày 11 tháng 11, bài phát biểu trên trang đầu của New York Times có tựa đề là “Phát hiện của quan chức bầu cử: Không có gian lận trên cả nước”. Đối diện với hành vi gian lận bầu cử tràn lan khắp nước Mỹ, bọn họ vẫn ngang nhiên “có mắt như mù”.

Facebook ,Twitter càng trắng trợn hơn nữa, bọn họ vung chiếc gậy “kiểm duyệt ngôn luận kiểu Trung Cộng”, gắn tag đặc biệt lên tất cả các bài đăng của Tổng thống Trump. Thậm tệ hơn là, trong bài viết của người dân chỉ cần có nhắc đến Biden, TT Trump, những từ có liên quan đến bầu cử thì liền bị gắn tag.

Trong khi tổng tuyển cử vẫn chưa kết thúc, Biden đã được truyền thông phong cho danh hiệu “Tổng thống đắc cử”. Chỉ trong thời gian chính phủ quá độ tự mình tuyên bố, phe cánh Đảng Dân chủ cánh tả đã bắt đầu tung ra danh sách đen, chuẩn bị trừng phạt đội ngũ của TT Trump và những người dân ủng hộ ông ấy.

Những kẻ ủng hộ Biden đã trực tiếp giương cao biểu ngữ, trên đó có viết: “Chủ nghĩa tư bản đang giết chết chúng ta. Đấu tranh cho lựa chọn chủ nghĩa xã hội.”

Nếu như Biden trúng cử thì sẽ như thế nào? Phải chăng những kẻ bạo lực đường phố như Antifa, Black Lives Matter v.v. Sẽ chuyển thành bạo lực vũ trang dưới sự cổ động của thù hận? – Khởi nguồn của vận động chủ nghĩa cộng sản: Cách mạng Công xã Paris ở Pháp chẳng phải là một nhóm vô sản lưu manh đập phá Paris thành đống hỗn độn đó sao?

Sự sụp đổ hoàn toàn của phe chủ nghĩa cộng sản Đông Âu trong thế kỷ trước đã báo trước cho nhân loại cuối cùng chủ nghĩa cộng sản sẽ phá sản. Mấy quốc gia cộng sản còn lại trên thế giới hôm nay như Bắc Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc Đại Lục không lúc nào không ở trong bạo lực và nói dối theo mô thức Lênin trong “Cách mạng tháng Mười”, người dân giống như đang sống trong cái lồng lớn, cảnh sát đặc vụ đi theo như hình với bóng, cho dù là tầng lớp giàu có hay là bách tính bình dân đều không có một chút cảm giác an toàn nào.

Đây chính là nguyên nhân vì sao ở Trung Quốc Đại Lục có hàng trăm triệu người dân đang chăm chú theo dõi tổng tuyển cử Mỹ quốc: Chỉ có Tổng thống Trump dẫn dắt chính phủ thì mới dám thách thức Trung Cộng, mới dám nói rằng “Chúng ta cự tuyệt chủ nghĩa xã hội”, số lượt theo dõi bầu cử Mỹ trên Weibo đã vượt quá 10 tỷ lượt, con số này đã nói rõ về vấn đề này.

Đây cũng là chỗ hoàn toàn khác biệt giữa “điều kinh ngạc tháng Mười” và “Cách mạng tháng Mười”, từng ngõ ngách trên toàn thế giới đều có dân chúng kêu gọi chính nghĩa, một người Úc ủng hộ ông Trump đã dùng máy bay phun khói viết lên bầu trời dòng chữ: “Trump 2020”.

Tổng tuyển cử nhìn nhân tâm, thiện ác tự mình định lấy. Trong thế cục trông như hỗn loạn, người người đều đang trong thiện ác tận tình biểu hiện ra bản thân mình. Trên bề mặt trông như cuộc chiến giữa các đảng phái, nhưng về bản chất nó chính là trận đại chiến chính-tà. Mỗi một người đều đang lựa chọn, mỗi một người cũng đang đặt nền tảng tương lai cho chính mình!

Theo Pháp luân đại pháp.