Cổ vật bằng bạc cực tinh xảo của nhà Nguyễn

Theo quan niệm của người xưa, bạc không chỉ là một nguyên liệu quý để chế tác các vật dụng sang trọng mà còn có tác dụng trừ tà khí, phòng ngừa bệnh tật. Cùng ngắm loạt cổ vật bằng bạc hết sức tinh xảo từng được sử dụng trong cung đình nhà Nguyễn.

Hiện vật của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế:

Trấn phong có chữ Phúc Lộc Thọ Toàn lằm bằng bạc. Cổ vật bằng bạc này được sử dụng trong hoàng cung nhà Nguyễn đầu thế kỷ 20.

Hình tượng nghê được chạm khắc tinh xảo ở giá đỡ chiếc trấn phong. Trấn phong là vật dụng có chức năng tương tự bình phong nhưng kích cỡ nhỏ hơn, dùng để che chắn đồ nội thất.

Bộ ấm chén bằng bạc gồm ấm, 8 chiếc chén và khay đựng của cung đình nhà Nguyễn.

Cận cảnh họa tiết trang trí trên chiếc ấm với hình tiều phu gánh củi trong rừng.

Bộ đồ uống rượu bằng bạc gồm bình rượu, chén uống rượu và khay.

Hình tượng chim phượng chạm khắc trên khay rượu.

Bộ đồ ăn trầu bằng bạc của vua nhà Nguyễn với khay, cơi trầu, ngoáy trầu.

Chi tiết chạm khắc hình rồng chầu nguyệt trên khay trầu.

Hộp đựng thuốc bằng bạc chạm hình rồng trên nắp.

Hình ảnh chim và hoa được chạm trên thành hộp.

Cù lao nấu nước bằng bạc đời vua Thành Thái (1889-1907).

Bình vôi bằng bạc được vua nhà Nguyễn sử dụng khi ăn trầu.

Hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam (Hà Nội):

Chiếc đỉnh bằng bạc niên hiệu Khải Định năm thứ nhất (1916), đồ thờ trong hoàng cung nhà Nguyễn.

Nắp chiếc đỉnh khắc hình rồng chầu nguyệt, núm cầm hình con nghê tạo tác rất sống động.

Hai bên cổ vật bằng bạc tuyệt đẹp này có quai hình rồng – biểu tượng cho quyền lực của vua.

Chiếc vạc có ba chân, tạo hình hổ phù.

Một chiếc bình trong cặp bình bằng bạc, đồ thờ trong hoàng cung nhà Nguyễn thế kỷ 19.

Hình tượng rồng trên cổ chiếc bình.

Hình rồng chạm nổi tinh xảo trên thân bình, trán rồng có chữ Vương (Vua).

Các họa tiết ở chân chiếc bình bạc.

Một đài thờ trong cặp đài thờ bằng bạc dùng để thờ tự trong hoàng cung nhà Nguyễn thế kỷ 19.

Các họa tiết trên nắp đài thờ.

Thân đài thờ chia thành nhiều ô, trong mỗi ô khắc hình chim phượng, tượng trưng cho nữ giới trong hoàng tộc.

Chân đài thờ cũng khắc hình chim phượng. Có lẽ hiện vật này từng thuộc về nơi thờ tự một bà hoàng của triều Nguyễn.

Bộ ấm chén bằng bạc, đồ dùng trong cung đình nhà Nguyễn, thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20.

Cận cảnh chiếc ấm. Một mặt ấm khắc hình rùa ngậm cành hoa sen.

6 chiếc chén trong bộ ấm chén bằng bạc được chạm khắc rất cầu kỳ.

Mỗi chiếc chén khắc hình một loại cây khác nhau. Tất cả đặt trên khay có 4 chân đỡ.

Theo KIẾN THỨC

‘Đế chế Obama’ tiếp tục chi phối chính trường Mỹ như thế nào?

Tám năm và hai nhiệm kỳ tổng thống không chỉ giúp ông Obama xây dựng “đế chế” trong lòng cử tri Mỹ, mà còn đặt ông vào vị trí chi phối của đảng Dân chủ.

‘Đế chế Obama’ tiếp tục chi phối chính trường Mỹ như thế nào?

Khu West End ở Washington, D.C., thủ đô Mỹ – nằm giữa hai khu nổi tiếng hơn là Georgetown và Dupont Circle – từng là nơi người ta chỉ đi qua, không phải đi đến. Song điều đó đã thay đổi cách đây 5 năm, đối với những thành viên đảng Dân chủ.

Đó là lúc cựu tổng thống Mỹ Barack Obama lập văn phòng riêng của ông tại West End (ảnh bên là tòa nhà nơi đặt văn phòng). Từ bên ngoài, khó có thể biết một trong những ngôi nhà bình thường ở đây là nơi ông Obama thường xuyên lui tới sau khi rời Nhà Trắng.

Trong mùa bầu cử 2020, gần như mọi chiến dịch của phe Dân chủ đều bắt đầu bằng việc mà một cố vấn thân cận của ông Obama gọi là “chuyến hành hương”: đến West End gặp cựu tổng thống. Việc này xuất phát từ thực tế rằng ông Obama vẫn là một trong những người được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ và được xem là người mang tính quyết định của đảng Dân chủ.

Ông để lại di sản lớn trong nội bộ đảng, khi cuộc chiến xây dựng cương lĩnh chính trị của đảng này cho thấy phe ủng hộ thiết chế của Obama vẫn thống trị, kể từ khi ông chính thức giành được đề cử của đảng cho cuộc chạy đua Nhà Trắng năm 2012.

“Đảng Dân chủ vẫn là đảng của Obama”, cây viết Branko Marcetic của tạp chí Jacobin, bình luận.

Những chuyến “hành hương” đến West End

Chuyến “hành hương” đầu tiên như vậy diễn ra từ đầu năm 2018 và hàng loạt ứng viên Dân chủ trong cuộc đua Nhà Trắng 2020 lần lượt đến gặp ông Obama trong mùa hè 2019, trước các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng này, theo một bài viết của Politico.

Theo quy luật thông thường, ai càng thân với Obama thì việc đến West End càng ít quan trọng. Song Joe Biden, một trong hai ứng viên mà tổng thổng Mỹ thứ 44 quen biết ở mức độ gia đình, thay vì chỉ dừng lại ở mức độ công việc, là một “ngoại lệ”, cố vấn của Obama nói.

Đối với những người khác – Elizabeth Warren, Bernie Sanders, Pete Buttigieg, Kamala Harris, Cory Booker, Beto O’Rourke, Steve Bullock… – cuộc gặp này cũng quan trọng như việc lên kế hoạch cho cuộc ra mắt khởi động chiến dịch tranh cử hoặc cho ấn phẩm quảng cáo đầu tiên.

Trong căn phòng được trang trí không hề giống Phòng Bầu dục, ông Obama tỏ ra thận trọng với các vị khách – ông biết một bình luận “lạc đề” có thể bị rò rỉ và thay đổi diễn tiến cuộc đua như thế nào, với ảnh hưởng mà ông đang có.

Kể từ khi rời Nhà Trắng vào đầu năm 2017, ông Obama cố gắng tránh can dự vào các vấn đề chính trị, cũng như tránh chỉ trích người kế nhiệm, như truyền thống của các tổng thống Mỹ. Song nhìn vào những con số, giữa một nước Mỹ ngày càng chia rẽ, người ta có thể thấy cựu tổng thống vẫn nắm giữ những tài sản chính trị to lớn.

Tỷ lệ ủng hộ ông vào năm 2009, năm đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, vốn bị thống trị bởi cuộc Đại Suy thoái, trung bình là 56,5%. Và trong khi con số này giảm xuống mức dưới 50% trong phần lớn nhiệm kỳ, sự ủng hộ dành cho ông sau nhiệm kỳ đã luôn rất mạnh. Trong thăm dò nhìn lại nhiệm kỳ mà Gallup thực hiện năm 2018 – phong vũ biểu cho thấy di sản tổng thống ra sao – tỷ lệ ủng hộ ông Obama là 63%.

Cuộc thăm dò hồi tháng 5 của Đại học Monmouth cho thấy 57% người Mỹ nói rằng họ hài lòng về ông Obama. Con số này bao gồm 92% đảng viên Dân chủ và 19% đảng viên Cộng hòa.

Tỷ lệ hài lòng với ông Obama cao hơn cả hai cái tên trên phiếu bầu tổng thống Mỹ vào tháng 11. Cuộc thăm dò trên cho thấy 41% người Mỹ hài lòng với ông Joe Biden, phó tổng thống thời Obama và là ứng viên tổng thống của phe Dân chủ năm nay. Trong khi đó, tỷ lệ hài lòng với tổng thống đương nhiệm, Donald Trump, là 40%.

Ông Obama vẫn là người đàn ông được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ năm 2019, năm thứ 12 liên tiếp, theo kết quả khảo sát của Gallup – dù đứng chung với ông Trump, người lần đầu giữ vị trí này. Kết quả này cũng cho thấy tính đảng phái rõ rệt khi hầu hết người ủng hộ phe Dân chủ chọn ông Obama, trong khi đa số người theo phe Cộng hòa chọn ông Trump. Người đứng đầu danh sách nữ là bà Michelle Obama, cựu đệ nhất phu nhân, năm thứ hai liên tiếp.

Với danh tiếng vẫn được duy trì như vậy, không khó hiểu khi ông Obama được xem là thế lực chi phối đảng Dân chủ từ mùa bầu cử 2016 đến mùa bầu cử năm nay, theo các nhà thăm dò. Dù vậy, ông Obama không công khai thể hiện sự ủng hộ với bất cứ ứng viên nào của đảng Dân chủ cho đến khi người cuối cùng lộ diện.

“Obama có ảnh hưởng chi phối. Nhưng tôi không biết liệu ông ấy có công khai ủng hộ ai hay không. Nếu ông làm vậy, thì sự ủng hộ đó quan trọng hơn gấp mười lần so với sự ủng hộ của bất kỳ ai khác”, Nate Silver, nhà sáng lập chuyên trang thăm dò FiveThirtyEight, nhận xét hồi tháng 7/2019.

Cuối cùng, cựu tổng thống cũng lên tiếng. Đó là vào tháng 4, sau khi ông Biden đã lội ngược dòng thành công trong bầu cử sơ bộ và trở thành ứng viên duy nhất còn lại của đảng Dân chủ trên đường đua.

“Tôi rất tự hào khi ủng hộ Joe Biden trở thành tổng thống Mỹ. Việc chọn Joe làm phó tổng thống là một trong những quyết định đúng đắn nhất tôi từng đưa ra”, ông Obama khẳng định trong đoạn video dài 12 phút hôm 13/4.

“Tôi tin rằng Joe có đủ mọi phẩm chất chúng ta cần ở một vị tổng thống trong tình hình hiện nay. Ông ấy là người đã học được sự kiên định, cách để vươn mình sau khi bị quật ngã”.

Chờ đợi người kiến tạo ngôi vương

Sau gần 8 năm kể từ lần cuối xuất hiện trên lá phiếu cử tri, ông Obama lại nổi lên như là nhân vật trung tâm của cuộc chạy đua vào Nhà Trắng 2020, AP đưa ra nhận định hồi tháng 5. Ông Biden, người từng là phó tổng thống trong cả hai nhiệm kỳ của ông Obama, cũng nóng lòng tìm cách tận dụng điều này.

“Chiến dịch của ông Biden coi ông Obama là một tài sản rõ ràng giữa lúc họ không chỉ tìm cách tiếp thêm tinh thần cho các cử tri Dân chủ, mà còn thu hút các cử tri độc lập cũng như các cử tri Cộng hòa có xu hướng ôn hòa hơn, những người có thể lo lắng nếu ông Trump ở lại Nhà Trắng thêm bốn năm nữa”, theo bài viết.

Đối với nhiều đảng viên Dân chủ, cựu tổng thống Obama có thể là người lý trí và khách quan. Đầu năm 2017, nhiều người đã kêu gọi ông lên tiếng phản pháo ông Trump nhiều hơn, và ông hầu như không làm theo những lời kêu gọi đó.

Thời kỳ hậu Nhà Trắng của ông Obama không giống bất kỳ tổng thống Mỹ nào trước đó. Nhiều tổng thống đã phải xử lý câu chuyện chính trị phức tạp của việc rời nhiệm sở khi một tổng thống của đảng khác tiếp quản. Và nhiều tổng thống cũng phải giải quyết tình huống tế nhị là phó tổng thống của họ muốn ra tranh cử.

Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ cùng lúc phải đối mặt với cả hai tình huống, trong những điều kiện chưa từng có: Ông Obama gần như mỗi ngày đều bị tấn công cá nhân bởi tổng thống đương nhiệm, người đã tweet về ông không ngừng nghỉ trong bốn năm qua, thường xuyên cáo buộc ông và các quan chức hàng đầu của ông một loạt tội lỗi, tình huống mà không một cựu tổng thống nào phải đối mặt hoặc thậm chí là tưởng tượng.

(Vào năm 2001, trong quá trình chuyển giao ở Nhà Trắng, đội ngũ của ông Clinton đã nghịch ngợm loại bỏ phím W khỏi nhiều bàn phím máy tính trước khi đội ngũ của George W. Bush đến, và sự việc đã bị coi là một vụ bê bối).

Dù vậy, cuối cùng ông Obama cũng bắt đầu lên tiếng. Ông công bố sự ủng hộ, phát biểu cũng như đưa ra lời khuyên, và vào mùa thu năm 2018, ông đã tham gia tích cực vào chiến dịch bầu cử giữa kỳ đến nỗi ông có thể xứng đáng được được ghi công trong việc đảng Dân chủ giành lại Hạ viện.

Khi cuộc đua tổng thống diễn ra trong năm nay, mọi thứ lại như cũ. Ông Obama “mất tích” trước công chúng, đưa ra lời khuyên một cách riêng tư trong các cuộc gặp ở West End, và khiến những người bạn chính trị thân thiết tức giận, chứ không chỉ Biden, người muốn có một cú huých.

Ông Obama đã thiết kế thời kỳ hậu Nhà Trắng của mình vào năm 2016, thời điểm mà ông tin rằng bà Hillary Clinton sẽ giành chiến thắng và ông Biden sẽ rời khỏi chính trường. Với người kế nhiệm được lựa chọn cẩn thận và cựu phó tổng thống của ông vui vẻ nghỉ hưu, ông Obama lên kế hoạch tập trung vào việc thiết lập một quỹ của riêng mình, viết hồi ký và dành tâm sức cho các vấn đề dài hạn như phát triển thế hệ lãnh đạo trẻ trên toàn thế giới.

Thế nhưng, kế hoạch ban đầu về thời kỳ hậu Nhà Trắng thoải mái viết lách, suy nghĩ và cố vấn, một kế hoạch tương đối không bị cản trở bởi chính trị đảng phái, đã bị thổi bay bởi hai bất ngờ: chiến thắng của ông Trump cuối năm 2016 và quyết định tranh cử năm 2020 của ông Biden.

Thay vì tiếp tục đứng ngoài xung đột, ông Obama buộc phải quay trở lại trung tâm chính trường vì cuộc đua Trump – Biden, những người mà, vì những lý do trái ngược, nói về ông và di sản của ông mọi lúc mọi nơi.

“Trong một thế giới hoàn hảo, ông ấy sẽ lui về ở ẩn còn kỹ hơn nữa, giống như cách mà tôi nghĩ George W. Bush đã làm sau nhiệm kỳ tổng thống của mình”, Eric Holder, Bộ trưởng Tư pháp thời Obama, nói. “Ông ấy đã muốn trở thành một chính khách được trọng vọng, dù còn quá trẻ”.

Hậu trường chiến dịch

Trong khoảng một năm cho đến khi ông Obama thể hiện sự ủng hộ công khai với ông Biden, hai người dường như đã tiến hành “giãn cách chính trị”. Trong đó, ông Obama về mặt công khai duy trì quan điểm trung lập đối với bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ, còn ông Biden nói muốn tự mình giành chiến thắng.

Song với khả năng “tàng hình” vi tế, ông Obama đã tham gia nhiều hơn đáng kể vào chặng cuối của cuộc đua bầu cử sơ bộ so với những gì đã được tiết lộ trước đó, ngay cả trước khi ông công bố đoạn video ủng hộ ông Biden.

Theo New York Times, trong nhiều tháng, ông Obama giữ liên lạc chặt chẽ với các quan chức cấp cao của đảng, với hy vọng ngăn chặn cuộc đua sơ bộ kéo dài và khó chịu năm 2016 tái diễn.

Và rồi, vài tuần sau khi có thông tin rõ ràng rằng ông Biden gần như chắc chắn là ứng viên của đảng Dân chủ, ông Obama – nói với một người bạn rằng ông cần “đẩy nhanh cuộc chơi” – đã có ít nhất bốn cuộc trò chuyện dài với đối thủ còn lại cuối cùng của cựu phó tổng thống, Thượng nghị sĩ Sanders.

Những nỗ lực của ông Obama nhằm loại bỏ ông Sanders ra khỏi cuộc đua đóng vai trò quan trọng trong việc ông quyết định chấm dứt chiến dịch và ủng hộ ông Biden, theo những người thân cận với thượng nghị sĩ độc lập bang Vermont. Ông Sanders, nhà lập pháp theo đường lối cấp tiến, thường được mô tả là xung khắc với cựu tổng thống, người không muốn đảng Dân chủ trở nên quá thiên tả.

Từ năm ngoái, ông Obama đã tư vấn cho đội ngũ của ông Biden về chiến lược tranh cử và ông đã động viên ông Biden sau thất bại trong bầu cử sơ bộ ở Iowa. Trong một bữa tối riêng vào mùa thu năm ngoái với các thành viên của Liên minh Dân chủ, ông Obama đã đưa ra những chỉ trích nhẹ nhàng về các chính sách “cách mạng” của ông Sanders và khẳng định rằng cử tri muốn thay đổi chứ không phải để “phá bỏ hệ thống”.

Giống mùa bầu cử tổng thống năm 2016 và bầu cử giữa kỳ năm 2018, ông Obama vốn dự định chỉ tham gia công khai sau Đại hội Toàn quốc đảng Dân chủ, khi đề cử ứng viên tổng thống của đảng này chính thức được công bố. Tuy nhiên, ông ngày càng lo lắng về tình trạng cuộc đua khi ông Sanders tăng điểm và ông Biden sa sút.

Vào cuối tháng 2, ông nói với những người thân cận rằng chiến dịch của ông Biden đang thiếu “cơ sở hạ tầng” một cách đáng báo động và nghi ngờ khả năng ông Biden giành được đề cử sau khi thua ở hai bang Iowa và New Hampshire.

Các quan chức đảng Dân chủ nói ông Obama không có vai trò trực tiếp trong việc tái sắp xếp đội ngũ nhân sự của chiến dịch tranh cử diễn ra ngay sau đó. Song những người hiểu biết về tình hình cho hay ông đã nói rõ ông ủng hộ quyết định của Biden về việc bổ nhiệm quản lý chiến dịch mới, Jennifer O’Malley Dillon, cựu chuyên gia tổ chức chiến dịch của ông Obama, và cho một người cũ khác của cựu tổng thống, cựu giám đốc truyền thông Nhà Trắng Anita Dunn, nắm giữ vai trò quyền lực hơn.

Ông Obama không trực tiếp khuyến khích các đối thủ ủng hộ ông Biden trước các cuộc bầu cử sơ bộ quyết định trong ngày Siêu Thứ Ba. Song ông đã nói với Pete Buttigieg, một ứng viên theo đường lối ôn hòa, rằng thị trưởng trẻ tuổi ở Indiana sẽ không bao giờ có nhiều đòn bẩy hơn so với ngày ông từ bỏ cuộc đua – và ông Buttigieg đã sớm gia nhập lực lượng hùng hậu ủng hộ ông Biden trong số các ứng viên của đảng Dân chủ.

Ông Sanders, người vào năm 2016 cáo buộc lực lượng nòng cốt đảng Dân chủ thông đồng ủng hộ bà Clinton, đã lưu ý đến tất cả những động thái này, nhưng ông không đưa ra cáo buộc nào đối với ông Obama.

Trên thực tế, một trong những cố vấn chiến dịch của ông nói với điều kiện giấu tên rằng thượng nghị sĩ rất biết ơn vì sự trung lập của ông Obama trong suốt chiến dịch. Và ông Sanders, người phủ nhận thông tin rằng ông từng cân nhắc thách thức Obama vào năm 2012, đã đề nghị liên hệ với cựu tổng thống nhiều lần trong những tháng cuối cùng để cập nhật cho ông về diễn biến chiến dịch.

Trước những cuộc trò chuyện đó, hai người có mối quan hệ lịch sự nhưng lạnh nhạt, và một số cuộc trao đổi riêng của họ trong nhiều năm đã biến thành các cuộc tranh luận về chính sách, các cựu trợ lý cho biết. Tuy nhiên, ông Obama coi việc ông Sanders chủ động nói chuyện như một cơ hội để đảm nhận vai trò nhà kiến tạo hòa bình mà ông tin rằng mình là người phù hợp nhất để gánh lấy.

Ông Sanders thân thiết với ông Biden hơn nhiều mặc dù họ có những khác biệt về chính trị, nhưng ông Obama, không giống Biden, vẫn là nhân vật đáng tin cậy đối với nhiều người ủng hộ Sanders, đến nỗi chiến dịch của thượng nghị sĩ Vermont đã phát hành một quảng cáo có nhiều clip ghi lại những lời ca ngợi của ông Obama dành cho ông Sanders.

Ảnh hưởng lâu dài trong đảng Dân chủ

Song ảnh hưởng của ông Obama không chỉ dừng lại trong chiến dịch tranh cử mà còn lâu dài hơn thế, thông qua việc xây dựng cương lĩnh chính trị của đảng Dân chủ. Đây là công việc rất quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp và không rõ ràng.

Tại Mỹ, cương lĩnh chính trị của các đảng không có tính ràng buộc và đôi khi, thậm chí bị chính các ứng viên phớt lờ, khiến nhiều người tự hỏi chúng thực sự quan trọng đến mức nào. Tuy nhiên, như một số người đã chỉ ra, những thay đổi về cương lĩnh thường định hình trước những thay đổi quan trọng về hệ tư tưởng trong một đảng. Một nghiên cứu cho thấy từ năm 1980 đến năm 2004, các nhà lập pháp đã bỏ phiếu phù hợp với cương lĩnh của đảng họ trung bình 82% số lần.

Là chương trình nghị sự của tổng thống (có thể) tiếp theo từ đảng Dân chủ (và cả đảng nói chung), cương lĩnh là kết quả của nhiều giờ tranh luận và thương lượng căng thẳng giữa các phe phái tranh cãi về lợi ích chính trị. Nó cũng thường được viết bởi những người chiến thắng.

Năm nay, những người chiến thắng đó không chỉ là ông Joe Biden và phe ủng hộ thiết chế trong đảng Dân chủ – mà còn là nhánh Obama của phe đó, theo một bài viết trên tạp chí In These Times.

Ông Obama đã bổ nhiệm Bộ trưởng Lao động của ông, Tom Perez, làm chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC) vào tháng 2/2017. Xem xét kỹ các đề cử của ông Perez cho ủy ban cương lĩnh đảng Dân chủ năm 2020, có thể thấy đảng này sẽ tuân thủ tầm nhìn chính trị theo đường lối “thay đổi từng bước” của ông Obama, vốn trái ngược với chủ trương thúc đẩy thay đổi táo bạo của Thượng nghị sĩ Bernie Sanders và những người ủng hộ ông.

Hai đề cử của ông Perez cho vị trí đồng chủ tịch ủy ban cương lĩnh đều là cựu quan chức thời Obama. Người có thể có quyền lực lớn hơn cả là Denis McDo­nough, Chánh văn phòng cuối cùng của tổng thống thứ 44.

Ông Perez và ông McDonough nhiều khả năng sẽ không vấp phải sự phản đối từ một đồng chủ tịch khác của ủy ban cương lĩnh, Julie Chávez Rodríguez, người từng là phó giám đốc quan hệ công chúng trong Nhà Trắng của ông Obama.

Việc chỉ định ông McDo­nough và bà Chávez Rodríguez làm nổi bật nhiều năm nỗ lực của ông Obama nhằm hạn chế ảnh hưởng của ông Sanders trong đảng Dân chủ và đảm bảo đường lối của ông Obama cho đảng này vẫn tiếp tục thống trị.

Vấn đề là ông Obama có thể giúp ông Biden giành lấy chiến thắng cuối cùng vào ngày 3/11 như thế nào.

Là tổng thống da den đầu tiên ở một đất nước đa chủng tộc như Mỹ, ông Obama rốt cuộc vẫn là nhân vật gây tranh cãi. Song ông cũng là đảng viên Dân chủ cuối cùng tập hợp được một liên minh chiến thắng rộng rãi.

Ông đã thúc đẩy một lượng lớn cử tri da đen đi bỏ phiếu, truyền cảm hứng cho thế hệ “millennials” và thuyết phục những người da trắng ở vùng thượng Trung Tây ủng hộ ông, theo nhà sáng lập FiveThirtyEight Nate Silver.

Ở khía cạnh cốt lõi, việc ông Biden tranh cử tạo tiền đề để khôi phục lại thời kỳ Obama êm ả đó – về mặt bầu cử cũng như về mặt chính trị. Đó là lý do tại sao ông Obama có thể là chìa khóa thành công của ông Biden, có lẽ nhiều hơn bất kỳ người đại diện chiến dịch nào khác trong kỷ nguyên hiện đại, theo các nhà phân tích của FiveThirtyEight.

Theo một cách nào đó, ông Biden là một “Obama da trắng” hoàn hảo – phe Dân chủ, nam giới, da trắng đang cố lái chiếc xe “hy vọng và thay đổi” (khẩu hiệu tranh cử của ông Obama), nhưng cũng đưa khuôn mặt nam giới da trắng truyền thống của Mỹ lên vị trí tổng thống.

Tuy nhiên nước Mỹ, vốn đã đi trên con tàu lượn chính trị đầy cảm xúc trong bốn năm qua, dường như chỉ đang tiến gần đến đỉnh một con khác trên hành trình. Không ai nói trước được điều gì có thể xảy ra.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN 

7 đặc điểm của người luôn ‘thu hút’ thành công, tài lộc cũng theo đó mà tự tìm đến: Bạn có điều nào không?

7 đặc điểm của người luôn 'thu hút' thành công, tài lộc cũng theo đó mà tự tìm đến: Bạn có điều nào không?
Vận khí may mắn hay con đường tài lộc đều cần có cái duyên và cả sự tu dưỡng. Người tu dưỡng đủ những đặc điểm này cũng giống như sở hữu “lộc trời cho”, phú quý, thành công là điều tất yếu.

Sau khi phân tích những người thành công với những người không bao giờ đạt được mục tiêu, tôi nhận ra rằng có một lý do chính khiến một số người từ bỏ. 

Và lí do tại sao một số vẫn kiên trì trên hành trình tiến tới thành công này.

7 đặc điểm của người luôn thu hút thành công, tài lộc cũng theo đó mà tự tìm đến: Bạn có điều nào không? - Ảnh 1.

Hầu hết mọi người đều muốn đạt được thành công lớn về mặt tài chính nhưng chỉ có một số ít người trong chúng ta có thể đạt được mục tiêu. 

Trong giai đoạn đầu, mọi người luôn tràn đầy nhiệt huyết và họ chắc chắn rằng họ có thể thực hiện được điều đó.

Tuy nhiên, sau một thời gian dài làm việc vất vả, nhiều người bỏ cuộc vì nhận ra rằng thành công về tài chính rất khó đạt được.

Có nhiều yếu tố góp phần tạo nên thành công. Trong khi những người thành công biết cách nắm bắt các yếu tố này thì những người thất bại lại sớm từ bỏ nó.

1. Sự khiêm tốn

Khiêm tốn là một yếu tố cần thiết trên con đường thành công. Thành công trong hầu hết mọi việc đều đòi hỏi sự khiêm tốn. 

Nhiều doanh nhân tuyên bố rằng họ đã phải tiến hành bán hàng tận nơi trong giai đoạn đầu kinh doanh. 

Bên cạnh đó, một số diễn viên như Emilia Clarke cho biết họ đã phải nhận những vai nhỏ trong giai đoạn đầu của sự nghiệp trước khi được giao những vai chính.

Mặc dù thực tế rằng sự khiêm tốn là điều cần thiết cho giai đoạn đầu của bất kỳ sự nghiệp nào, nhưng trong xã hội ích kỷ này, mọi người cảm thấy xấu hổ khi hành động khiêm tốn, vậy nên họ tránh những tình huống buộc họ phải khiêm tốn bằng mọi giá.

2. Làm việc cật lực

7 đặc điểm của người luôn thu hút thành công, tài lộc cũng theo đó mà tự tìm đến: Bạn có điều nào không? - Ảnh 3.

Thành công đòi hỏi sự chăm chỉ không mệt mỏi. Những người thành công làm việc chăm chỉ hơn những người thất bại. 

Những người như Elon Musk và Bill Gates tiết lộ rằng họ làm việc tới 16 giờ mỗi ngày. 

Rapper giàu có bậc nhất thế giới 50 Cent tiết lộ rằng anh đã làm việc chăm chỉ đến mức không ngủ trong ba ngày liên tục. Anh từng tuyên bố rằng: “Giấc ngủ chỉ dành cho những người nghèo”.

Do đó, làm việc chăm chỉ là chìa khóa thành công. Làm việc chăm chỉ dẫn đến tự chủ, tự tin, góp phần trong việc xây dựng tính cách. 

Những người thành công biết tầm quan trọng của những công việc khó khăn, và họ chấp nhận nó bằng cách tạo dựng thói quen chăm chỉ.

Tuy nhiên, những người bình thường khá lười biếng. Họ chỉ làm việc 8 đến 10 tiếng mỗi ngày nhưng vẫn mong thành công trong cuộc sống. 

Họ bỏ cuộc khi nhận ra rằng để đạt được thành công đòi hỏi họ phải thoát ra khỏi vùng an toàn và làm việc chăm chỉ cả ngày lẫn đêm.

4. Kiên trì

Sự kiên trì là một yếu tố quan trọng trong hành trình vươn tới sự thành công. 

Kiên trì là khả năng giữ vững niềm tin và làm việc chăm chỉ để đạt được mục tiêu của bạn ngay cả khi mọi thứ không diễn ra như bạn mong đợi. Nhiều người đã bỏ cuộc khi gặp phải những thất bại lớn.

Tuy nhiên, chỉ những người dũng cảm và gan dạ mới kiên trì bất chấp mọi trở ngại mà họ gặp phải. Jack Ma đã làm việc cho Alibaba trong giai đoạn đầu mặc dù công ty không đạt được lợi nhuận trong ba năm đầu tiên. 

Ngày nay, Alibaba trở thành một trong những công ty lớn nhất trên thế giới, và Jack Ma là một trong những người giàu nhất thế giới.

5. Kiên nhẫn

Thiếu kiên nhẫn là điều khiến nhiều người từ bỏ việc theo đuổi ước mơ của mình. Các số liệu thống kê tiết lộ rằng phải mất 5 đến 10 năm làm việc cật lực cho một dự án trước khi nó trở nên cực kỳ thành công.

Tuy nhiên, nhiều người bỏ cuộc nếu họ không thấy kết quả to lớn sau một tháng, 3 tháng, 6 tháng, một năm, thậm chí 3 năm. 

Thế giới hiện đại bị chi phối bởi sự hài lòng tức thời: mọi người mong đợi thành công sẽ xuất hiện trước cửa nhà họ chỉ sau vài tháng nỗ lực.

6. Lạc quan

7 đặc điểm của người luôn thu hút thành công, tài lộc cũng theo đó mà tự tìm đến: Bạn có điều nào không? - Ảnh 5.

Gary Vaynerchuk từng nói rằng “Lý do chính khiến mọi người không đạt được thành công là thiếu lạc quan”.

Lạc quan ảnh hưởng trực tiếp đến sự tự tin. Trong những bước đầu của hành trình đi đến thành công, nhiều người luôn lạc quan về việc đạt được mục tiêu của mình. 

Tuy nhiên, sau khi đối mặt với một số trở ngại, mức độ lạc quan ở hầu hết mọi người giảm đi đáng kể, dẫn đến việc họ bỏ cuộc. Chỉ những người lạc quan bất chấp bất cứ điều gì xảy ra mới là những người đạt được thành công.

Những người lạc quan thường không bỏ cuộc vì ngay cả khi họ phải đối mặt với những trở ngại, họ luôn tin rằng thành công đã đến gần.

7. Tự tin

Những người thành công về tài chính thường có niềm tin vào khả năng của họ: họ tin vào kỹ năng của mình và họ biết rằng không gì có thể ngăn cản họ. 

Bên cạnh đó, một người tự tin sẽ dễ dàng đạt được thành công vì họ tin vào khả năng của mình để vượt qua bất kỳ vấn đề nào mà họ có thể gặp phải.

Sự tự tin giúp một cá nhân tiếp tục tiến về phía trước ngay cả khi họ biết rằng sắp tới sẽ có một chặng đường rất gian nan và đầy thử thách về tinh thần. 

Mặt khác, một cá nhân thiếu tự tin rất dễ bỏ cuộc vì họ sẽ nản lòng trước vấn đề nhỏ nhất mà họ có thể gặp phải.

Ngoài ra, một người thiếu tự tin thường không suy nghĩ thấu đáo vì thiếu niềm tin vào bản thân sẽ khiến họ đưa ra các quyết định dựa trên cảm xúc. 

Cuối cùng, một người thiếu tự tin sẽ luôn bỏ cuộc vì họ né tránh những trở ngại, đơn giản bởi vì họ không nghĩ rằng họ có thể vượt qua chúng.

Nguồn: wealthygorilla.com / TrithucTre

Nô lệ Barbary: Những số phận da trắng bi thảm

Cho đến giờ, phương Tây vẫn hổ thẹn vì lịch sử buôn bán và lạm dụng nô lệ châu Phi. Từ thế kỷ XV – XIX, họ đẩy 12,8 triệu người da đen vào thảm cảnh sống không bằng chết khắp Âu – Mỹ.

Đối tượng mua nữ nô da trắng là giới quý tộc châu Phi và Trung Đông.Đối tượng mua nữ nô da trắng là giới quý tộc châu Phi và Trung Đông.

Song trong khoảng thời gian này, 1,25 triệu người da trắng cũng bị hải tặc Bắc Phi bắt bán khắp Lục Địa Đen. Số phận của họ bất hạnh không kém các nô lệ da màu. 

Bắt cóc cả làng

Vào lúc 2 giờ sáng 20/6/1631, Baltimore – ngôi làng ven biển của Ireland (quốc gia ở châu Âu), đang êm ả chìm trong giấc ngủ sâu thì bất ngờ bị đột kích.

Dưới bờ biển, trên 200 thuyền hải tặc Barbary âm thầm đậu san sát. Nhóm cướp biển ôm súng hỏa mai, gậy sắt và đuốc tràn lên. Chúng ngang nhiên phá cửa, xông vào các ngôi nhà.

Toàn bộ 20 đàn ông, 33 phụ nữ, 54 trẻ em của Baltimore bị ép giải lên thuyền, không bao giờ có cơ hội quay trở lại. 

Hải tặc Barbary là những tên cướp biển hoạt động trong khu vực bờ biển và ngoài khơi Bắc Phi. Địa bàn kiếm ăn chủ yếu của chúng là các cảng Salé, Rabat (Marocco), Algiers (Algeria), Tunis (Tunisia) và Tripoli (Libya). Tất cả các cảng này đều này nằm trên Bờ biển Barbary, nên các nhóm hải tặc ở đây được gọi chung là cướp biển Barbary. 

Thuyền của hải tặc Barbary dùng nam nô da trắng làm “mái chèo sống”.

Theo lịch sử Bắc Phi, hải tặc Barbary xuất hiện vào khoảng năm 710. Từ thế kỷ XIV trở về trước, chúng hoành hành ngoài khơi Barbary, tấn công, cướp bóc các thương thuyền.

Vào thế kỷ XV, châu Âu phát hiện ra châu Phi. Văn hóa Lục Địa Đen thời trung đại thịnh hành chế độ nô lệ. Nhiều cộng đồng ở đây trừng phạt thành viên mắc lỗi bằng cách tước đoạt tự do, nhân quyền. Những thương gia phương Tây tham lam lập tức nhìn thấy món hời lớn. Họ thu mua các nô lệ da màu, đưa lên thuyền chở về châu Âu, mở ra kỷ nguyên buôn bán nô lệ châu Phi. 

Vốn dĩ, kỹ thuật đóng tàu thuyền đi biển của hải tặc Barbary rất lạc hậu. Vì thế, chúng chỉ có thể quanh quẩn bờ biển và ngoài khơi Barbary.

Châu Âu đã đem sự tân tiến đến, cải thiện hệ thống tàu thuyền cướp biển Bắc Phi. Bắt đầu từ thế kỷ XVI, hải tặc Barbary cũngdễ dàng chinh phục Đại Tây Dương, cập bến bờ biển Địa Trung Hải (châu Âu). 

Kết cục bất hạnh

Ấu nô da trắng thì bị bán cho Đế chế Ottoman, làm lính.

Trên thực tế, cướp biển Barbary tấn công mọi nạn nhân trong tầm mắt. Chúng không từ người già hay trẻ em, da đen hay da trắng, tín đồ Kito giáo hay Hồi giáo…

Bản thân hải tặc Barbary cũng không chỉ có người da đen, mà hỗn hợp đa chủng tộc, đa quốc gia, đa tôn giáo. Chúng chỉ có một điểm chung là đặt căn cứ ở Barbary. 

Mục tiêu của hải tặc Barbary là cướp bóc. Mỗi khi tấn công thuyền bè, hải cảng hoặc ngôi làng nào, chúng vơ vét sạch sẽ. Giữa kỷ nguyên buôn bán nô lệ, con người cũng là một loại hàng hóa. Cướp biển Barbary bắt tất cả những ai chúng có thể, đem lên bờ biển Barbary bán lấy tiền. Người ta gọi các nạn nhân của chúng là nô lệ Barbary.

Người da trắng chỉ là một phần của nô lệ Barbary. Tuy nhiên, nô lệ Barbary vẫn được gọi là nô lệ da trắng, vì họ nổi bật trong thế giới người da đen.

Bên cạnh đó, tên gọi này còn tương ứng và thể hiện sự đối lập với nô lệ da đen trong thế giới người da trắng. 

Các nạn nhân da trắng của hải tặc Barbary là thương gia, du khách (tới châu Phi bằng thuyền đi biển, cập bến Bắc Phi) và người dân sống trong các làng mạc, thị trấn ven biển Địa Trung Hải.

Ngay từ khi bị đẩy lên thuyền hải tặc, số phận nô lệ Barbary của họ bắt đầu. Đối với 107 cư dân của làng Baltimore, Ireland năm 1631, điểm đến mới là bến cảng Algiers. 

Trên đường tới Barbary, các nô lệ da trắng chỉ được cho ăn uống cầm hơi. Sau thời gian dài bị xích, nhốt, bỏ đói và lênh đênh trên mặt biển, phần lớn họ trở nên hốc hác, ốm yếu. Một số người còn không sống sót hết hải trình, bị hải tặc ném xác xuống biển.

Vừa cập bến Barbary, họ bị lôi ngay lên bờ, lột sạch y phục, xích chân tay và đưa đến chợ nô lệ. 

Tại chợ nô lệ, nam nô da trắng bị rao bán làm lao dịch. Số phận của họ là bị cưỡng bức lao động suốt đời. Thê thảm nhất là những ai bị biến thành “mái chèo sống”. Thuyền của hải tặc thời này chạy nhờ buồm (hứng gió) và chèo (dùng sức người). Các “mái chèo sống” bị xích luôn vào gầm thuyền, phải kéo đẩy các cây chèo cật lực, liên tục. Chưa hết, họ còn phải ăn, ngủ, vệ sinh luôn tại chỗ. 

Nữ nô lệ da trắng thì bị bán cho giới quý tộc châu Phi và Trung Đông làm hầu gái, vợ lẽ hoặc công cụ mua vui giải sầu. Các trẻ em cũng không được tha, bị xung vào “quân đoàn thiếu niên”, chịu muôn vàn huấn luyện quân sự khắc nghiệt để trở thành lính của Đế chế Ottoman (Trung Đông). 

Hành trình 400 năm

Khi lượng du khách châu Âu đến châu Phi ngày càng thấp vì sợ cướp biển Barbary, nhóm hải tặc này điên cuồng tấn công các ngôi làng ven bờ Địa Trung Hải. Dải bờ biển dài từ Tây Ban Nha đến Ý bị đột kích triền miên. Chỉ riêng ở bán đảo Iberia (Tây Nam châu Âu), ước tính có từ 100.000 – 250.000 người da trắng bị chúng bắt cóc.

Thế kỷ XVII – XVIII, hải tặc Barbary lộng hành khắp các bờ biển châu Âu. Ước tính đến năm 1780, chúng đã bắt cóc và biến 1,25 triệu người da trắng thành nô lệ. So với cướp biển từ Bắc Phi, lực lượng hải quân châu Âu áp đảo cả về quân số lẫn vũ khí.

Tuy nhiên khi thực chiến trên biển, họ lại thua nhiều hơn thắng. Cướp biển Barbary rất giỏi hải chiến và nhanh nhẹn. Chúng tấn công chớp nhoáng, rút lui cũng chớp nhoáng, khiến các hạm đội châu Âu bất lực. 

Cuối thế kỷ XVII, các quốc gia châu Âu có chung bờ biển Địa Trung Hải phải hợp tác chống hải tặc Barbary. Họ bảo vệ gắt gao các thương thuyền, không cho cướp biển đến gần. Nhờ đó, hoạt động giao thương giữa Âu – Phi trở nên an toàn hơn.

Lượng người da đen bị buôn bán sang Âu – Mỹ cũng gia tăng chóng mặt. Trái lại, các làng mạc ven Địa Trung Hải vẫn bị bỏ bê, mặc cướp biển Barbary phá phách. Nhiều nơi ở châu Âu, dân biển phải bỏ làng chài, rút sâu vào đất liền lánh nạn. 

Bước sang đầu thế kỷ XIX, hải quân châu Âu mới hợp tác với hải quân Mỹ, đánh đuổi hải tặc Barbary. Hàng loạt các băng nhóm cướp biển Bắc Phi bị xé lẻ, xóa sổ. Dù vậy, những kẻ sống sót vẫn tiếp tục cướp bóc và bắt bán người da trắng.

Phải đến khi chế độ nô lệ được xóa bỏ trên phạm vi toàn thế giới (1911), hoạt động buôn bán người này mới chấm dứt. Khắp châu Phi và Trung Đông, các nô lệ Barbary còn sống được giải phóng. Kỷ nguyên nô lệ da trắng kết thúc cùng lúc với thời đại nô lệ da đen.  

Theo Ancient-origins

Vũ Ninh / GiaoducThoidai

Cựu chiến lược gia của TT Trump gây quỹ nhằm “Phát hiện gian lận bầu cử”

Cựu giám đốc dữ liệu và chiến lược gia cho chiến dịch tranh cử Tổng thống của ông Trump, Matt Braynard, đã khởi động một chiến dịch gây quỹ để “phát hiện gian lận cử tri” ở một số bang.

Trong một loạt tweet vào ngày 5/11, ông Braynard tuyên bố rằng nếu chạy dữ liệu và phát hiện ra kết quả trùng khớp giữa những Cử tri vắng mặt (ABS)/ Người bỏ phiếu sớm (EV) với Chỉ số tử vong An sinh xã hội (SSDI) / Cơ sở dữ liệu thay đổi địa chỉ quốc gia (NCOA) thì sẽ cho thấy sự gian lận trong bầu cử.

“Vì vậy, đây là vấn đề tôi gặp phải vào lúc này: tôi có trong tay dữ liệu về tất cả cư dân ở 7 bang quan trọng, những người đã yêu cầu bỏ phiếu vắng mặt hoặc bỏ phiếu sớm. Đó là các bang AZ, GA, MI, NC, NV, PA, WI. Tôi cũng có khả năng chạy các dữ liệu này dựa trên Chỉ số Tử vong An sinh Xã hội và Cơ sở Dữ liệu Thay đổi Địa chỉ Quốc gia,” ông viết.

“Khi so danh sách ABS / EV với danh sách SSDI / NCOA sẽ cho thấy sự gian lận,” ông nói tiếp, và cho biết mình cần được hỗ trợ cần thiết để chạy phân tích này.

“Tôi có thể tự mình làm điều đó (khoảng 100.000 USD hoặc ít hơn – là chi phí cho các nhà cung cấp dữ liệu) hoặc Trump / Đảng Cộng Hoà/ DataTrust sẽ có thể làm điều này với các dữ liệu mà họ *nên* có trong tay (hoặc họ có thể mua dữ liệu cho việc này ngay bây giờ),” ông nói thêm.

Ông Braynard đã đề nghị mọi người đăng lại bài viết của ông với hy vọng “ai đó có thể giúp đỡ điều này sẽ thấy nó và liên hệ với tôi” và lưu ý rằng chi phí của dữ liệu sẽ chỉ phải trả cho L2Political, nơi cung cấp cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn diện về cử tri, người tiêu dùng, những người không bỏ phiếu, và các hồ sơ người tiêu dùng khác.

“Chỉ cần phát hiện ra một vài kết quả trùng khớp với Danh sách Tử vong sẽ cho thấy vấn đề lớn hơn nhiều vì yêu cầu ABS / EV của những người bỏ phiếu đã chết sẽ tương đương hành vi gian lận lớn,” ông Braynard nói thêm trong một tweet sau đó trước khi chia sẻ một liên kết đến trang 

Theo trang Gofundme, ông Braynard sẽ so sánh hồ sơ cử tri của những người yêu cầu bỏ phiếu sớm / vắng mặt với Chỉ số tử vong An sinh xã hội và Cơ sở dữ liệu thay đổi địa chỉ quốc gia, sau đó cung cấp danh sách tất cả các dữ liệu trùng nhau.

“Thậm chí chỉ một vài trùng lặp thôi cũng là dấu hiệu của hoạt động gian lận cử tri đáng kể,” ông nói.

Tất cả số tiền quyên góp được sẽ được sử dụng để trả cho cuộc điều tra về hành vi gian lận cử tri ở các bang Arizona, Georgia, Michigan, North Carolina, Nevada, Pennsylvania và Wisconsin, và ông Braynard sẽ cung cấp biên lai cho mọi chi phí.

Mục tiêu gây quỹ hiện đã được đặt lên 250.000 đô la sau khi nhanh chóng vượt qua mục tiêu ban đầu là 100.000 đô la. Ông Braynard cho biết số tiền được huy động tăng thêm sẽ được dành cho việc thực hiện các cuộc gọi xác nhận đối với những trường hợp nghi ngờ, ví dụ cử tri đã chuyển khỏi bang nhưng vẫn được đánh dấu là “đã bầu”.

“Chúng tôi sẽ yêu cầu bất kỳ ai nói rằng họ không bỏ phiếu ký vào bản tuyên thệ, sau đó giao cho các quan chức thi hành luật/ công tố viên / FBI / báo chí,” ông nói

Tổng thống Donald Trump, Bộ trưởng Tư pháp William Barr, và một số thành viên Đảng Cộng hòa đã nhiều lần cảnh báo rằng lượng lớn các lá phiếu gửi qua đường bưu điện sẽ gây ra sự chậm trễ trong kiểm phiếu và dễ bị gian lận.

Tổng thống đã đưa ra một tuyên bố vào ngày 5/11, nói rằng: “Nếu kiểm đếm số phiếu hợp pháp, tôi dễ dàng thắng cử! Nếu kiểm phiếu bất hợp pháp và trễ, họ có thể cướp cuộc bầu cử từ chúng ta! ”

Katabella Roberts/ The Epoch Times

Cơ hội nào còn lại cho ông Trump?

Nếu ông Joe Biden được giả định là chiến thắng sau khi một vài bang chiến trường công bố kết quả cho thấy ông đạt được nhiều phiếu phổ thông hơn, liệu có cơ hội nào để ông Trump lật lại thế cờ?

Tổng thống Mỹ không được bầu bởi đa số phiếu phổ thông. Theo Hiến pháp, ứng cử viên nào giành được đa số trong số 538 phiếu đại cử tri, được gọi là Cử tri đoàn, sẽ trở thành Tổng thống tiếp theo. 

Trong trường hợp ông Joe Biden có đủ 270 phiếu đại cử tri trong ngày 6/11, ông sẽ được coi là giả định (projected) chiến thắng.

Tuy vậy, việc xác nhận Tổng thống chưa dừng lại ở đây.

Từ thời điểm này đến ngày 8/12/2020, ông Trump có thể kiện lên Tòa tối cao của các bang và thậm chí Tòa tối cao liên bang về việc kiểm phiếu tại những bang mà ông cho là có thể xảy ra gian lận. Tuy vậy, tất cả mọi khiếu kiện và giải quyết đều phải xong trước ngày 8/12.

Ngày 14/12/2020, các đại cử tri của mỗi bang sẽ nhóm họp để bỏ phiếu lại một lần nữa. Các phiếu bầu này mới chính thức xác nhận chiến thắng cho Tổng thống nhiệm kỳ sau. Thông thường, đại cử tri của bang nào sẽ bỏ phiếu cho người đã giành được đa số phiếu phổ thông của bang đó. Tuy vậy, cũng có những đại cử tri “phản bội”, bao gồm người không đi bỏ phiếu, bỏ phiếu trắng, hoặc bỏ phiếu cho bên kia.

(Mỹ có 23 bang bắt buộc đại cử tri bầu theo số đông phiếu phổ thông, nhưng có 27 bang không có quy định này).

Trong cuộc đua vào Nhà Trắng năm 2016, ông Trump có 2 đại cử tri “phản bội” và bà Hillary có 5 đại cử tri “phản bội”. Tuy vậy, tính tổng số phiếu đại cử tri khi đó thì ông Trump vẫn chiếm đa số.

Sau đó, đến ngày 6/1/2021, Quốc hội sẽ họp để kiểm phiếu và nêu tên người chiến thắng. 

Ai có tối thiểu 270 phiếu đại cử tri sẽ chính thức trở thành ông chủ Nhà Trắng.

Nhưng nếu rất hy hữu xảy ra trường hợp số đại cử tri “phản bội” nhiều và tổng số phiếu đại cử tri trình lên Quốc hội lại cân bằng hoặc không ai đạt được 270 phiếu, thì theo Tu chính án thứ 12 của Hiến pháp, Hạ viện sẽ chọn Tổng thống tiếp theo từ 2 người có số phiếu đại cử tri cao nhất.

Đến lúc này, mỗi phái đoàn tiểu bang trong Hạ viện sẽ chỉ được một phiếu bầu duy nhất. Tính đến thời điểm hiện tại, đảng Cộng hòa kiểm soát 26 trong số 50 phái đoàn tiểu bang, trong khi đảng Dân chủ có 22; 1 phái đoàn có các thành viên Cộng Hoà – Dân chủ chia đều và 1 phái đoàn còn lại có 7 đảng viên Dân chủ, 6 đảng viên Cộng hòa và 1 đảng viên Tự do.

Tối thiểu phải có 2/3 phái đoàn tiểu bang tham gia bỏ phiếu mới được tính là hợp lệ. Ứng viên Tổng thống nào giành được số phiếu bầu nhiều hơn sẽ được xác định là người chiến thắng.

Tranh chấp trong Quốc hội sẽ chỉ được diễn ra cho đến ngày 20/1 khi Hiến pháp quy định nhiệm kỳ của Tổng thống hiện tại kết thúc.

Theo Đạo luật Kế vị Tổng thống, nếu Quốc hội vẫn chưa tuyên bố người chiến thắng Tổng thống hoặc phó tổng thống cho đến lúc đó, Chủ tịch Hạ viện sẽ giữ vai trò quyền Tổng thống.

Lê Xuân / TrithucVn